Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện theo phương pháp phân tích VEN .... Để khắc phục tình trạng đó, tại các đơn vị Y tế có giường bệnh Hội đồng thuốc và điều trị có vai trò
TỔNG QUAN
Một số văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
Luật Dược số 105/2016/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 06/4/2016 quy định các hoạt động liên quan đến thuốc và có một số điều quy định việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước để thay thế thuốc nhập khẩu.
Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08 tháng 05 năm 2017 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật dược [4]
Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của Khoa Dược Bệnh viện [6]
Thông tư số 23/2011/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 10/6/2011 Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh [8]
Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện [7]
Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và các vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế, nhằm xác định rõ danh mục được chi trả và chuẩn hóa cơ chế thanh toán các sản phẩm Đông y trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Việt Nam.
Công văn số 3794/BHXH-DVT của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thống nhất tỷ lệ sử dụng Biệt Dược gốc tại các tuyến điều trị theo chỉ đạo của Chính phủ, nhằm chuẩn hóa quy trình kê đơn và quản lý chi phí thuốc trên toàn hệ thống y tế Văn bản yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh duy trì tỉ lệ sử dụng thuốc Biệt Dược gốc ở từng tuyến điều trị phù hợp với phác đồ điều trị được nhà nước ban hành, đồng thời đảm bảo chất lượng điều trị cho người bệnh Việc áp dụng tỷ lệ này giúp tăng cường kiểm soát chi phí thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị, gắn với các mục tiêu y tế công và hướng dẫn của Chính phủ.
Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 quy định danh mục và tỷ lệ thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế, kèm theo điều kiện thanh toán và nguyên tắc áp dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh tham gia bảo hiểm y tế; mục tiêu là xác định rõ mức chi trả, phạm vi thanh toán và quyền lợi của người tham gia khi tiếp cận các thuốc, sinh phẩm và vật tư y tế thiết yếu.
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [10]
Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ Y tế quy định về việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [5].
Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề
4 sử dụng thuốc tại bệnh viện mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là:
Thu thập thông tin ở mức độ cá thể từ người không kê đơn giúp xác định các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là dữ liệu thu thập được thường không đầy đủ để có thể điều chỉnh thuốc sao cho phù hợp với từng chẩn đoán.
Trong nội dung định tính, các phương pháp như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và bộ câu hỏi được xem là công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc Tập trung thảo luận nhóm giúp thu thập quan điểm và động lực của nhóm người liên quan, từ đó làm rõ các yếu tố xã hội và môi trường tác động đến hành vi dùng thuốc Phỏng vấn sâu cho phép khai thác chi tiết trải nghiệm cá nhân, nhận thức và rào cản mà người tham gia gặp phải Bộ câu hỏi thiết kế linh hoạt, nhắm tới các khía cạnh then chốt như thói quen, nhận thức về rủi ro và quyết định sử dụng thuốc, nhằm cung cấp dữ liệu chất lượng cho phân tích và xác định nguyên nhân Sự kết hợp của các phương pháp định tính này giúp hình thành cái nhìn toàn diện, từ đó hỗ trợ đề xuất biện pháp can thiệp hiệu quả và tối ưu hóa chiến lược can thiệp dựa trên bằng chứng.
Các phương pháp tổng hợp dữ liệu tập trung vào dữ liệu tổng hợp thay vì từng cá nhân, giúp thu thập thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng Trong nhóm này, việc xác định liều DDD, phân tích ABC và phân tích VEN được áp dụng để đánh giá mức độ sử dụng thuốc và nhận diện các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc Việc triển khai các phương pháp này cho phép nhìn nhận tổng quan về mẫu thuốc được kê và tiêu thụ, từ đó hỗ trợ quản lý thuốc, tối ưu hóa an toàn dược và nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.
Trong số các phương pháp phân tích danh mục thuốc, phân tích ABC và phân tích VEN được xem là giải pháp hữu ích để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc và chúng sẽ là công cụ hỗ trợ cho HĐT&ĐT quản lý danh mục thuốc [1][7] Để phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện, các phương pháp phân tích phổ biến thường được áp dụng nhằm đánh giá, kiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng thuốc.
1.2.1 Phương pháp phân tích ABC
- Khái niệm phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những loại thuốc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi phí mua thuốc bệnh viện Phương pháp này phân loại thuốc thành các nhóm A, B, C dựa trên mức độ tiêu thụ và chi phí, từ đó hỗ trợ quản lý danh mục dược và tối ưu hóa ngân sách mua thuốc Nhóm thuốc A, là những thuốc có tác động lớn đến tổng chi phí, được ưu tiên kiểm soát tồn kho, đàm phán giá và lên kế hoạch mua sắm hiệu quả Nhóm B và C cũng được xem xét nhằm đảm bảo phân bổ nguồn lực hợp lý và duy trì cân đối giữa nhu cầu điều trị và chi phí dược phẩm.
Phân tích ABC là phương pháp quản lý thuốc hiệu quả dựa trên nguyên lý Pareto "số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa" Theo nguyên lý Pareto, nhóm A gồm 10% chủng loại thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc, cho phép tập trung nguồn lực, quản lý chất lượng và giám sát đặc biệt cho các loại thuốc này Nhóm B chiếm 20% chủng loại và sử dụng 20% ngân sách, cần được giám sát ở mức độ trung bình để tối ưu hóa chi phí và hiệu quả điều trị Nhóm C chiếm 70% chủng loại còn lại nhưng chỉ dùng 10% ngân sách, vì vậy cần tối ưu hóa tồn kho và chu trình đặt hàng để giảm lãng phí Phân tích ABC giúp ưu tiên lựa chọn thuốc, tối ưu hóa ngân sách và nâng cao hiệu quả quản lý thuốc.
5 còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ sử dụng 10% ngân sách
- Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC
Phân tích ABC giúp nhận diện thuốc nhóm A có chi phí cao và gợi ý thay thế bằng thuốc rẻ hơn, từ đó xác định tần suất mua hàng: mua thuốc nhóm A với tần suất phù hợp và số lượng nhỏ hơn để giảm hàng tồn kho Các đợt giảm giá của thuốc nhóm A có thể mang lại tiết kiệm ngân sách đáng kể Vì nhóm A chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách, việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm này, chẳng hạn tối ưu dạng liều hoặc chọn nhà cung cấp rẻ hơn, là yếu tố then chốt để tối ưu chi phí thuốc trong danh mục.
Phân tích ABC nhằm định lượng mức độ tiêu thụ thuốc, phản отраж nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện các bất cập, chưa hợp lý trong sử dụng thuốc Quá trình so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật giúp nhận diện những điểm cần điều chỉnh, từ đó đề xuất giải pháp tối ưu hóa việc cung ứng và sử dụng thuốc cho người dân.
Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện
- Ưu nhược điểm chính Ưu điểm: giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào
Nhược điểm: không cung cấp được đầy đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau
1.2.2 Phương pháp phân tích VEN
- Khái niệm phân tích VEN
Phân tích VEN là phương pháp xác định mức độ ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc tại bệnh viện khi nguồn kinh phí hạn chế, giúp sắp xếp danh mục thuốc theo tính cấp thiết và ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh Khi ngân sách không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc mong muốn, VEN phân loại thuốc thành Vital (thiết yếu cho sự sống và điều trị cơ bản), Essential (cần thiết cho chăm sóc hàng ngày) và Non-essential (không thiết yếu), từ đó ưu tiên phân bổ nguồn lực cho nhóm thuốc thiết yếu và quản lý tồn trữ một cách hiệu quả Việc áp dụng VEN hỗ trợ quản trị dược và tối ưu hóa chi phí, đảm bảo sự liên tục của điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc tại bệnh viện.
Trong phân tích VEN, thuốc được phân chia thành 03 nhóm cụ thể Nhóm V (Vital drugs) là những thuốc sống còn được dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc là những thuốc quan trọng, thiết yếu để phục vụ công tác khám chữa bệnh của bệnh viện.
+ Thuốc E (Essential drugs): Là dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật
Thuốc N (Non-Essential drugs) là nhóm thuốc được dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc có thể tự khỏi, và có thể bao gồm những thuốc mà hiệu quả điều trị chưa được khẳng định rõ ràng hoặc có giá thành không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
Tài liệu do Tổ chức Quản lý Khoa học trong lĩnh vực sức khỏe (Management Sciences for Health – MSH) công bố trình bày cách phân loại thuốc theo ba nhóm V, E và N, với chi tiết được tóm lược trong bảng 1.1 Tài liệu này cung cấp khung chuẩn hóa để đánh giá và phân loại thuốc dựa trên tiêu chí an toàn, hiệu quả và mục đích sử dụng, nhằm hỗ trợ các cơ sở y tế xây dựng danh mục thuốc và quản lý dược phẩm một cách hiệu quả Bảng 1.1 minh họa rõ ràng các tiêu chí và quy tắc áp dụng cho từng nhóm, giúp nâng cao chất lượng kê đơn, kiểm soát tồn kho và tối ưu hóa quy trình mua sắm thuốc trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Bảng 1 1 Hướng dẫn phân loại thuốc nhóm V, E, N
Tính chất của thuốc cần phân loại Nhóm V Nhóm E Nhóm N Tần suất bệnh
% bệnh nhân mắc trong dân số
Số bệnh nhân trung bình mỗi ngày tại một cơ sở y tế trung bình
1 Độ nặng của bệnh Đe dọa tính mạng
Tác dụng điều trị của thuốc
Chữa bệnh nhẹ/ triệu chứng tự hồi phục được
Chứng minh được về hiệu lực tác dụng
Chưa chứng minh về hiệu lực tác dụng
Luôn luôn Không bao giờ
- Ý nghĩa của phương pháp phân tích VEN
Phân tích VEN là một phương pháp đặc biệt giúp cho nhà quản lý bệnh viện đưa ra ưu tiên mua sắm và dự trữ thuốc
Phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, đồng thời hướng dẫn hoạt động quản lý tồn kho và quyết định giá thuốc phù hợp Việc áp dụng VEN giúp xác định các nhóm thuốc cần ưu tiên nhằm tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo sự có mặt của thuốc thiết yếu cho người dùng Trong quá trình lựa chọn thuốc, VEN phân loại thành thuốc tối cần và thuốc thiết yếu, và ưu tiên lựa chọn các thuốc này, nhất là khi ngân sách thuốc hạn hẹp.
- Ưu nhược điểm chính Ưu điểm: Cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau
Nhược điểm: Việc xếp loại các thuốc thuộc vào nhóm N thường dễ dàng nhưng lại khó khăn khi phân biệt các thuốc nhóm V và E
1.2.3 Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích ABC kết hợp với phân tích VEN được áp dụng để xác định mối quan hệ giữa những thuốc có chi phí cao nhưng độ ưu tiên thấp, từ đó đề xuất hạn chế hoặc xóa bỏ các thuốc thuộc nhóm không ưu tiên Quá trình này kết hợp đánh giá mức tiêu thụ và chi phí của từng thuốc (phân loại ABC) với mức độ thiết yếu của thuốc trong điều trị (phân loại VEN: Vital, Essential, Non-essential) Khi các thuốc có chi phí cao nhưng ưu tiên thấp được phát hiện, chúng sẽ được cân nhắc giảm bớt hoặc loại bỏ nhằm tối ưu ngân sách và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho thuốc thiết yếu Kết quả là danh mục thuốc được tối ưu hóa, đảm bảo thuốc thiết yếu vẫn có mặt đồng thời giảm lãng phí và chi phí thuốc ở mức cao.
“N” nhưng chi phí thuộc nhóm A Sự kết hợp phân tích ABC, VEN tạo thành ma trận ABC/VEN
Trong ma trận ABC/VEN, thuốc không thiết yếu nhưng có chi phí cao (AN) cần hạn chế hoặc xóa bỏ khỏi danh mục thuốc [7]
1.2.4 Phương pháp phân tích nhóm điều trị
- Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [7]
- Ý nghĩa của phương pháp phân tích nhóm điều trị:
Đoạn này giúp xác định rõ các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ và chi phí cao nhất, từ đó hỗ trợ quản lý dược và ngân sách y tế hiệu quả hơn Đồng thời nêu bật các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý dựa trên thông tin sức khỏe và tình hình bệnh tật của cộng đồng, nhằm nâng cao tính hợp lý của kê đơn, tối ưu hóa liệu trình và giảm thiểu lãng phí thuốc.
Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện tuyến huyện ở Việt Nam
1.3.1 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Bộ Y tế ban hành Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm,
Trong danh mục thuốc được hưởng bảo hiểm y tế, có 8 loại thuốc phóng xạ và chất đánh dấu Các DMT được sắp xếp vào 27 nhóm lớn theo tác dụng dược lý (TDDL) theo tham khảo [10], nhằm chuẩn hóa phạm vi chi trả và hỗ trợ quản lý điều trị bằng các chất phóng xạ và chất đánh dấu.
Trong các nhóm thuốc được phân loại theo TDDL, các nhóm chiếm tỷ lệ lớn nhất là thuốc tim mạch, hormone và các thuốc tác động đến hệ thống nội tiết; tiếp theo là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và nhóm chống nhiễm khuẩn Đặc biệt, nhóm điều trị ký sinh trùng và nhóm chống nhiễm khuẩn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất về số khoản mục và giá trị sử dụng tại các bệnh viện đa khoa Tình hình sử dụng thuốc hóa dược theo nhóm tác dụng dược lý tại một số trung tâm y tế được thể hiện ở bảng 1.2.
Bảng 1.2 Cơ cấu DMT theo một số nhóm TDDL
Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên năm 2019
Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Trung tâm Y tế Kim Bảng tỉnh
%KM % GT %KM % GT %KM % GT
Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
1.3.2 Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
Sau 10 năm triển khai cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và 07 năm triển khai đề án “Người Việt nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” bằng nhiều hoạt động, giải pháp đồng bộ, kết quả là tỷ lệ giá trị và số lượng thuốc sản xuất trong nước được sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã tăng dần qua từng năm Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tính theo giá trị tiền thuốc năm 2018 của các bệnh viện Trung ương là 9,35%, của các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn Tỉnh/Thành phố do Sở Y tế
9 báo cáo cho thấy tỷ lệ đạt được ở các tuyến là: tuyến Trung ương 63,53%, tuyến tỉnh 57,03% và tuyến huyện 76,62% Theo chiến lược phát triển ngành Dược đến năm 2030, thuốc sản xuất trong nước sẽ chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30% [20].
Bảng 1.3 Cơ cấu DMT sử dụng theo thuốc SXTN và NK tại một số bệnh viện
Thuốc nhập khẩu Thuốc SXTN
1.3.3 Tình hình sử dụng theo thuốc BDG và thuốc Genenric
Thuốc biệt dược gốc (BDG) là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành dựa trên đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng và dạng bào chế với BDG và thường được dùng làm thay thế BDG Các thuốc BDG tham gia đấu thầu theo gói BDG hoặc các gói điều trị tương đương, nên không có sự cạnh tranh trong đấu thầu và hầu hết trúng thầu với giá cao Một số thuốc BDG đã hết thời hạn bảo hộ có giá chênh lệch khá nhiều so với các thuốc Generic nhóm 1 cùng hoạt chất, hàm lượng và dạng bào chế Thông tư 21/2013/TT-BYT cũng đã quy định: Ưu tiên lựa chọn thuốc.
Việc sử dụng thuốc tại các trung tâm y tế được ưu tiên theo tên chung quốc tế (INN) và thuốc generic (BDG), hạn chế dùng các tên BDG hoặc NSX cụ thể để tăng tính chuẩn hóa và tối ưu chi phí điều trị Cơ cấu sử dụng thuốc BDG/Generic tại một số cơ sở y tế được trình bày chi tiết trong Bảng 1.4.
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc BDG/Generic tại một số Trung tâm y tế
Trung tâm Y tế TP Hưng
Trung tâm Y tế Lý Nhân tỉnh Hà Nam
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc đơn – đa thành phần
Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định ưu tiên sử dụng thuốc ở dạng đơn chất Tổng hợp về việc sử dụng thuốc đơn – đa thành phần cho thấy vẫn còn thực trạng sử dụng thuốc đa thành phần với tỉ lệ cao về GTSD tại một số trung tâm y tế và tỷ lệ này khác nhau giữa các trung tâm y tế.
Bảng 1.5 Tổng hợp sử dụng thuốc đơn – đa thành phần tại một số trung tâm Y tế
STT Bệnh viện Năm Đơn thành phần Đa thành phần
Trung tâm Y tế TP Hưng
Trung tâm Y tế Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Trung tâm Y tế Kim Bảng tỉnh Hà Nam
1.3.5 Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng
Thông tư 23/2011/TT-BYT quy định bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được thuốc hoặc khi đường uống không đáp ứng nhu cầu điều trị [8] Tuy nhiên, thực tế tại một số Trung tâm Y tế cho thấy thuốc đường uống vẫn chiếm ưu thế, tiếp theo là đường tiêm và các đường dùng khác.
Bảng 1.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đường tiêm – tiêm tuyền tại một số
STT Bệnh viện Năm % GTSD đường tiêm
1.3.7 Thực trạng áp dụng các phương pháp phân tích danh mục thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhiều bệnh viện tại Việt Nam đã áp dụng các phương pháp phân tích danh mục thuốc như ABC, VEN hoặc kết hợp ABC/VEN để tối ưu hóa quản lý thuốc ở cơ sở Phân tích ABC được sử dụng rộng rãi nhất, còn phân tích VEN ít được áp dụng hơn do tốn nhiều thời gian và khó sắp xếp thuốc vào các nhóm V, E, N; hiện tại ở Việt Nam mới chỉ đưa ra định nghĩa nhóm thuốc.
V, E, N chứ chưa có tiêu chí xếp loại chính xác Hơn nữa, phân tích VEN còn tùy thuộc vào mô hình bệnh tật, đặc thù của bệnh viện, cần có sự đồng thuận của HĐT&ĐT trong việc phân loại các thuốc V, E, N Kết quả phân tích DMT theo ABC tại một số bệnh viện được thể hiện ở bảng 1.7
Bảng 1.7 Cơ cấu DMT theo phân tích ABC tại một số Trung tâm Y tế
Bệnh viện/ năm nghiên cứu
%KM %GT %KM %GT %KM %GT
Kết quả trên cho thấy cơ cấu danh mục thuốc tại cả 3 Trung tâm y tế đều không hợp lý ở cả hạng A và B khi %KM hạng A và B đều trên 20%
Kết quả phân tích VEN tại một số bệnh viện được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.8 Cơ cấu DMT theo phân tích VEN tại một số Trung tâm Y tế
Bệnh viện/ năm nghiên cứu
%KM %GT %KM %GT %KM %GT
Vài nét về Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên
1.4.1 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
Trung tâm Y tế Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên có 90 giường theo kế hoạch nhưng giường thực kê là 120; trung tâm gồm 12 khoa, phòng và đội ngũ nhân lực 98 biên chế, trong đó bác sĩ CKI, CKII 07 người; bác sĩ đa khoa 13 người; điều dưỡng, nữ hộ sinh, KTV 46 người; dược sĩ 07 người; cán bộ khác 25 người.
Trung tâm Y tế Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên có nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân và các đối tượng chính sách, tham gia bảo hiểm y tế theo quy định của Nhà nước Đồng thời, Trung tâm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ theo sự chỉ đạo của Sở Y tế và Bộ Y tế.
Chức năng cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh:
Chúng tôi tiếp nhận mọi trường hợp người bệnh là người dân địa phương và khu vực lân cận đến cấp cứu, khám, chữa bệnh nội trú và ngoại trú, đảm bảo chăm sóc toàn diện từ lúc tiếp nhận Đồng thời tiếp nhận người bệnh tại địa bàn đến cấp cứu, điều trị và tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của Nhà nước.
Cần thành lập và tổ chức các đội cấp cứu được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật và thuốc chữa bệnh để phục vụ nhanh chóng mọi yêu cầu cấp cứu, điều trị và phòng chống dịch bệnh Ưu tiên triển khai tại những khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hoả hoạn hoặc chiến sự để bảo đảm lực lượng ứng cứu có thể hoạt động kịp thời và hiệu quả.
Quản lý, tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của
Bộ Y tế Tổ chức khám sức khoẻ tuyển sinh, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ nhân viên Y tế
Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng chuyên môn của Bệnh viện
Đào tạo cán bộ y tế
Bệnh viện là cơ sở thực hành cho các trường, lớp y tế theo quy định
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho các thành viên trong Bệnh
15 viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn
Nghiên cứu khoa học về y tế:
Chúng tôi tổ chức thực hiện các đề tài và hội thảo nghiên cứu về y học cấp cơ sở nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu Đồng thời hợp tác với các bệnh viện trong tỉnh và trung ương để tham gia học tập trực tuyến và các khóa đào tạo chuyên khoa đầu ngành, từ đó phát triển khoa học kỹ thuật của bệnh viện Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng, chống dịch Covid-19, nhằm tăng cường hiệu quả phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo các đơn vị y tế cơ sở, gồm trạm Y tế xã và Y tế thôn, nhằm phát triển kỹ thuật chuyên môn và nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn Nội dung chính tập trung vào tăng cường năng lực chuyên môn, cập nhật quy trình chăm sóc sức khỏe, đào tạo liên tục và phối hợp giữa các cấp để bảo đảm chẩn đoán sớm, điều trị đúng kỹ thuật và tiếp cận dịch vụ y tế tại cộng đồng Đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý hồ sơ sức khỏe nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng và phát triển y tế cơ sở tại địa bàn.
Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho nhân dân và cộng đồng
Phối hợp chặt chẽ với các trạm Y tế xã và y tế thôn để thực hiện thường xuyên các nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch và phòng chống các bệnh xã hội, đặc biệt là dịch Covid-19 cho nhân dân, nhằm bảo đảm sức khỏe và an toàn cho cộng đồng, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó dịch bệnh.
1.4.2 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện
Bảng 1.9 Cơ cấu nhân lực Trung Tâm Y tế Yên Mỹ
Nghề nghiệp Trình độ Số lượng
Thạc sỹ/CKI; CKII 7 7,14% Đa khoa 13 13,27%
Thạc sỹ/CKI/Đại học 4 4,08%
Tổng 7 7,14% Điều dưỡng (Y sĩ), Nữ Thạc sỹ/CKI/Đại học 17 17,35%
Nghề nghiệp Trình độ Số lượng
Ghi chú hộ sinh, kỹ thuật viên Y sĩ 11 11,22%
Cán bộ khác Đại học 21 21,43%
Sơ đồ tổ chức Trung tâm Y tế Yên Mỹ được trình bày dưới hình sau:
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm Y tế Yên Mỹ
GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN Các Phó Giám đốc Hội đồng thuốc và điều trị
Phòng chức năng Khoa Lâm sàng Khoa Cận lâm sàng
Khoa Hồi sức cấp cứu
Khoa Ngoại và liên chuyên khoa
Cơ cấu các bệnh điều trị ngoại trú chủ yếu tại Trung tâm năm 2020 được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 1.10 Mô hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên năm 2020 được phân loại theo mã quốc tế ICD10
Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hoá diseases E00-E90 22.414 26,70%
2 Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn I00-I99 21.873 26,05%
3 Chương X: Bệnh của hệ hô hấp J00-J99 9.546 11,37%
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện bất thường lâm sàng, xét nghiệm
5 Chương VIII: Bệnh của tai và xương chũm H60-H95 4.110 4,90%
6 Chương VII: Bệnh của mắt và phần phụ H00-H59 4.011 4,78%
7 Chương XIII: Bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết M00-M99 3.825 4,56%
8 Chương XI: Bệnh của hệ tiêu hoá K00-K93 3.450 4,11%
Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ người khám nghiệm và điều tra
Chương XIV: Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục N00-N99 1.568 1,87%
Chương XIX: Vết thương, ngộ độc và kết quả của các nguyên nhân bên ngoài S00-T 98 1.343 1,60%
Chương XII: Bệnh của da và tổ chức dưới da L00-L99 816 0,97%
Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật A00-B99 793 0,94%
Chương XVII: Dị dạng bẩm sinh, biến dạng của cromosom Q00-Q99 321 0,38%
16 Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi F00- F99 275 0,33%
Chương VI: Bệnh của hệ thống thần kinh G00-G99 244 0,29%
18 Chương XV: Chửa,đẻ và sau đẻ O00-O99 129 0,15%
Chương III: Bệnh của máu , cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch D50-D89 101 0,12%
Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong V01-Y98 9 0,01%
Chương XVI: Một số bệnh trong thời kì chu sinh P00-P96 6 0,01%
Tổng số: 21 chương bệnh chính 83.952 100,00
1.4.4 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược bệnh viện
Khoa Dược là đơn vị chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện, có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện Nhiệm vụ chính của Khoa Dược là đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời thuốc có chất lượng, đồng thời tư vấn và giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý để nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh.
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu
19 yêu cầu về điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng các yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác, bao gồm phòng chống dịch bệnh, ứng phó thiên tai và thảm họa.
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong trung tâm
Chúng tôi thực hiện công tác dược lâm sàng, cung cấp thông tin và tư vấn về sử dụng thuốc cho người bệnh Đồng thời tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi và báo cáo các thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc nhằm đảm bảo an toàn thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong trung tâm
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường - đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
Chúng tôi phối hợp chặt chẽ giữa khoa cận lâm sàng và lâm sàng để theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, đặc biệt là kháng sinh, đồng thời giám sát tình hình kháng kháng sinh trong trung tâm Quy trình này giúp quản lý việc cấp phát thuốc một cách có hệ thống, nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro liên quan đến thuốc và kháng kháng sinh.
- Tham gia chỉ đạo tuyến
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
- Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
Chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ cung ứng và quản lý vật tư y tế tiêu hao, bao gồm bông, băng, cồn, gạc và các hóa chất xét nghiệm; đồng thời theo dõi, giám sát, kiểm tra chất lượng và tình trạng tồn kho để bảo đảm nguồn cung kịp thời phục vụ chăm sóc sức khỏe Việc báo cáo đầy đủ về tình hình vật tư y tế tiêu hao và hóa chất xét nghiệm được thực hiện định kỳ, chi tiết, nhằm tối ưu hóa quy trình nhập – xuất, quản lý kho và phân phối vật tư cho các đơn vị y tế.
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Danh mục thuốc được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020 bao gồm:
- Danh mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu
- Danh mục thuốc hóa dược đã sử dụng
- Danh mục thuốc trúng thầu tại Sở Y tế Hưng Yên năm 2020
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020
- Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu: 03/01/2022 đến 03/05/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định các biến số nghiên cứu
TT Tên biến Định nghĩa – Giá trị biến Loại biến Cách thu thập
Nhóm các biến số mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng
1 Thuốc hóa dược – thuốc cổ truyền, thuốc từ dược liệu
Phân loại thuốc theo nhóm hóa dược và cổ truyền + Hóa dược: nếu là gói thầu
2 Nhóm tác dụng dược lý của thuốc
- Thuốc hóa dược, nhóm tác dụng dược lý của thuốc được xác định theo 27 nhóm như
(27 nhóm tác dụng dược lý
Trong danh mục thuốc (DMT), các biến định nghĩa, giá trị biến và loại biến được thu thập và áp dụng để xác định phạm vi thanh toán của quỹ BHYT theo Thông tư 30/2018/TT-BYT, với thuốc hóa dược và thuốc thành phẩm được phân loại theo 11 nhóm y lý Thuốc thành phẩm được xác định theo 11 nhóm này trong DMT, đồng thời thuốc Đông y và thuốc từ dược liệu được quy định riêng biệt theo Thông tư 05/2015/TT-BYT Việc chuẩn hoá phân loại 11 nhóm giúp tối ưu hoá quy trình thanh toán, quản lý chi phí và nâng cao tính minh bạch của danh mục thuốc trong hệ thống BHYT.
3 Phân loại thuốc trong nhóm
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Thuốc sử dụng trong nhóm Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết đã sử dụng được quy định tại TT 30/2018/TT-BYT
Biến phân loại (Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết…)
4 Phân loại thuốc trong nhóm thuốc tim mạch
Thuốc sử dụng trong nhóm thuốc tim mạch đã sử dụng được quy định tại TT 30/2018/TT-BYT
Biến phân loại (thuốc điều trị tăng huyết áp…)
5 Phân loại thuốc trong nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn và ký
Thuốc sử dụng trong nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn và ký sinh trùng đã sử dụng được quy định tại TT 30/2018/TT-BYT
TT Tên biến Định nghĩa – Giá trị biến Loại biến Cách thu thập sinh trùng
6 Nguồn gốc xuất xứ của thuốc
+ Nguồn gốc xuất xứ của được căn cứ vào thông tin nước sản xuất:
1 Thuốc sản xuất trong nước
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
7 Cơ cấu theo thành phần hoạt chất
Phân loại thuốc thành 2 nhóm:
- Thuốc đơn thành phần: trong công thức chỉ có 1 hoạt chất có hoạt tính;
- Thuốc đa thành phần: trong công thức có nhiều hơn một hoạt chất có hoạt tính
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
8 Cơ cấu theo đường dùng của thuốc
Thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu được phân loại theo đường dùng:
3 Đường dùng khác (tất cả đường dùng còn lại ngoài hai đường dùng trên)
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
Là SKM và GTSD của từng nhóm thuốc BDG và thuốc generic
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
BDG, hay dược gốc, là thuốc được xếp vào gói biệt dược trong danh mục trúng thầu tại bệnh viện Trong bảng biến dữ liệu, các mục như TT, Tên biến, Định nghĩa – Giá trị biến, Loại biến và Cách thu thập dược gốc được dùng để mô tả và thu thập thông tin liên quan đến thuốc BDG một cách có hệ thống, từ đó hỗ trợ quản lý danh mục thuốc và quyết định lựa chọn biệt dược trong hoạt động trúng thầu tại bệnh viện.
- Thuốc Generic: là thuốc được xếp vào gói thuốc Generic trong danh mục trúng thầu tại bệnh viện
Nhóm biến số phân tích ABC, VEN, ma trận ABC/VEN
Là giá trị của nhóm thuốc trong danh mục thuốc sử dụng
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
Thuốc được phân thành các nhóm:
- Thuốc nhóm V: thuốc sống còn
- Thuốc nhóm E: thuốc thiết yếu
- Thuốc nhóm N: thuốc không thiết yếu
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa trên dữ liệu hồi cứu về thuốc đã được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020 Nghiên cứu nhằm xác định danh mục thuốc, tần suất sử dụng và các đặc điểm liên quan để làm rõ thực hành kê đơn và quản lý thuốc tại cơ sở này Kết quả cung cấp cái nhìn tổng quan về mẫu thuốc sử dụng trong năm 2020 và có thể hỗ trợ hoạch định chiến lược thuốc cũng như cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe.
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Kỹ thuật thu thập số liệu và công cụ thu thập số liệu
* Kỹ thuật thu thập số liệu:
Sử dụng tài liệu sẵn có, nguồn thu thập là hồ sơ lưu trữ trên phần mềm HIS của Bệnh viện và file Excel lưu trữ tại khoa Dược
* Công cụ thu thập số liệu:
- Báo cáo xuất nhập tồn thuốc từ 01/01/2020 đến 31/12/2020
- Biểu mẫu thu thập số liệu: Phụ lục 1, 2
2.2.3.2 Quá trình thu thập số liệu
- Bước 1: Tổng hợp toàn bộ dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2020 vào cùng một bảng tính excel theo biểu mẫu thu thập
- Bước 2: Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
Xếp theo nhóm y lý YHCT của TT 05/2015/TT-BYT [ ]
Căn cứ theo TT 05/2015/TT-BYT ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc dược liệu và vị thuốc cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT [ ]
TT 30/2018/TT-BYT ban hành danh mục và phân nhóm theo tác dụng dược lý cùng với các mức tỷ lệ thanh toán và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu, thuộc phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế cho người tham gia.
Xếp theo nguồn gốc, xuất xứ
Phân loại căn cứ vào nguồn gốc, xuất xứ (thuốc nội/ thuốc ngoại)
Xếp theo các thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Căn cứ vào số lượng thành phần hoạt chất có hoạt tính của thuốc
Xếp theo thuốc Generic/ biệt dược gốc
Căn cứ vào kết quả trúng thầu tại bệnh viện
Xếp theo đường dùng của thuốc (uống/tiêm/đường dùng khác)
- Bước 3: Tính tổng số lượng danh mục, giá trị của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)
Toàn bộ 415 khoản mục thuốc bao gồm 378 khoản mục thuốc hóa dược,
37 khoản mục thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu đã được sử dụng tại Trung tâm
Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020 với tổng giá trị 15.895.848.914 đồng
2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.2.5.1 Phương pháp xử lý số liệu
Đây là bản tổng hợp toàn diện dữ liệu của 415 khoản mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, trong năm 2020, được gộp lại trên một bảng tính Excel duy nhất Mẫu dữ liệu tập trung đầy đủ thông tin liên quan đến từng loại thuốc, giúp quản lý tồn kho, theo dõi sử dụng và chuẩn bị báo cáo ngân sách tại cơ sở y tế địa phương.
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm gồm 415 khoản mục
Trong bước 2, điền đầy đủ thông tin cho mỗi sản phẩm gồm: tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng đã sử dụng, giá trị sử dụng, nguồn gốc xuất xứ, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, nhóm kỹ thuật, nhóm thuốc Generic và mã BDG (nếu có) Việc điền đầy đủ các trường này giúp quản lý dữ liệu thuốc chính xác, hỗ trợ công tác quản lý tồn kho và chăm sóc sức khỏe hiệu quả, đồng thời tối ưu hóa khả năng tìm kiếm và tiếp cận người dùng với các từ khóa liên quan như tên thuốc, hoạt chất, nồng độ, đơn giá, nguồn gốc xuất xứ, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, nhóm kỹ thuật, Generic và BDG.
Bước 3: Tính số tiền (giá trị sử dụng) cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm: Ci = gi x qi
Trong đó: Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i = 1,2,3…633)
Số lượng sử dụng của sản phẩm: qi Tổng giá trị tiêu thụ sẽ bằng tổng lượng tiền (giá trị sử dụng) cho mỗi sản phẩm: C= ∑Ci
2.2.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phân tích cơ cấu DMT sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020:
* Dùng các hàm Sum, If, Count, Subtotal, Autofilter, Sort để tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
+ Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
Thuốc được phân loại theo nguồn gốc và xuất xứ (thuốc sản xuất trong nước hoặc thuốc nhập khẩu), theo số lượng thành phần (đơn thành phần hoặc đa thành phần), và theo tên gọi (tên gốc hoạt chất hoặc tên biệt dược).
+ Xếp theo đường dùng của thuốc: đường tiêm, truyền, đường uống, đường dùng khác (dùng ngoài, xịt mũi, nhỏ mắt, đặt hậu môn)
- Tính tổng số khoản mục, trị giá tiêu thụ của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu theo công thức sau:
Tỷ lệ % SKM = SKM từng biến số / Tổng SKM x 100%
Tỷ lệ % GTSD = GTSD từng biến số / Tổng GTSD x 100%
* Phương pháp so sánh: So sánh tỷ trọng trong phân tích cơ cấu nhóm tác dụng dược lý, kinh phí mua thuốc, cơ cấu DMT
* Phương pháp phân tích ABC:
Phân tích ABC được tiến hành theo 7 bước sau:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
Bước 2: Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc
- Đơn giá của mỗi sản phẩm (Sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá trị thay đổi theo thời gian)
- Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
Bước 3: Tính tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm, tổng số sẽ bằng tổng tiền của mỗi sản phẩm: pi = ci x 100/C
Bước 4: Tính % giá trị của mỗi sản phẩm bằng cách lấy của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
Đối với bước 5, sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần để làm nổi bật những mặt hàng có giá trị cao nhất trong danh sách Ở bước 6, tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho từng sản phẩm, bắt đầu với sản phẩm đầu tiên và cộng dồn với các sản phẩm tiếp theo trong danh sách để tạo một chuỗi giá trị tích lũy dễ theo dõi.
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
- Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 79,95% tổng giá trị tiền;
- Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 14,96% tổng giá trị tiền;
- Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5,04 % tổng giá trị tiền;
Bước 8: Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 - 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 - 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80%
Kết quả thu được có thể trình bày dưới dạng đồ thị bằng cách vẽ trục tung biểu diễn phần trăm của tổng giá trị tích lũy và trục hoành biểu diễn số sản phẩm tương ứng với giá trị tích lũy đó.
* Phương pháp phân tích VEN:
Tham khảo từ danh mục VEN được xây dựng từ hội đồng thuốc và điều trị tại trung tâm y tế huyện Yên Mỹ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020
DMT sử dụng tại trung tâm Y tế Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020 có
415 khoản mục thuốc, gồm các nhóm thuốc hóa dược và thuốc thành phẩm y học cổ truyền Đây là danh mục chính thức được luận văn sử dụng để phân tích cơ cấu, và tính hợp lý của danh mục thuốc sử dụng
3.1.1 Cơ cấu DMT theo nhóm thuốc hóa dược – chế phẩm YHCT
Bảng 3.1 Cơ cấu DMT theo nhóm thuốc hóa dược – Chế phẩm YHCT
Khoản mục Giá trị sử dụng (VNĐ)
Nhận xét: Danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế Yên Mỹ năm
2020 gồm 2 nhóm chính: thuốc hóa dược và chế phẩm y học cổ truyền với 415KM và GTSD 15.895.848.914 đồng Trong đó, đa số là thuốc hóa dược với 378KM chiếm 91,08% SKM và giá trị sử dụng 13.549.034.372 đồng chiếm 85,24% GTSD Chế phẩm y học cổ truyền chiếm ít hơn cả về số lượng và giá trị sử dụng với 37KM chiếm 8,92% SKM và giá trị sử dụng 2.346.814.542 đồng chiếm 14,76% GTSD
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo tác dụng dược lý
Bảng 3.2 Cơ cấu DMT hóa dược theo nhóm tác dụng dược lý
STT Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
6 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 26 6,27 179.574.583 1,13
Thuốc chống rối loạn tâm thần và thuốc tác động lên hệ thần kinh
II Nhóm thuốc chế phẩm YHCT 37 8,92 2.346.814.542 14,76
STT Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
1 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 12 2,89 1.439.325.199 9,05
Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy
3 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 4 0,96 181.639.500 1,14
Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về
Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
6 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 4 0,96 26.287.788 0,17
7 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 1 0,24 20.358.000 0,13
Nhận xét: DMT hóa dược được phân loại theo tác dụng dược lý vào 07 nhóm chính và 01 nhóm khác Trong số đó, nhóm thuốc Hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết có GTSD cao nhất, chiếm 9,64% SKM và tương ứng với 40,42% GTSD Nhóm thuốc tim mạch có tổng GTSD cao thứ hai, đạt 29,32% GTSD và 14,94% SKM Nhóm thứ ba về GTSD là thuốc điều trị ký sinh trùng và thuốc chống nhiễm khuẩn, với 7,68% GTSD và 22,17% SKM.
Các nhóm thuốc (03 nhóm): Nhóm thuốc đường tiêu hóa, nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt chống viêm không steroid, nhóm thuốc tác dụng trên đường
31 hô hấp, thuốc chống rối loạn tâm thần và tác động lên hệ thống thần kinh chiếm khoảng từ 0,85-2,14% GTSD
Các nhóm còn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tổng GTSD chỉ 2,06% Trong DMT thuốc chế phẩm YHCT, nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm chiếm vị trí lớn nhất cả về số khoản mục và giá trị sử dụng, với 12 khoản mục (2,89% SKM) và giá trị sử dụng 1.439.325.199 đồng (9,05% GTSD) Đứng thứ hai là thuốc thanh nhiệt giải độc, tiêu ban, lợi thủy với 9 khoản mục (2,17% SKM) và giá trị sử dụng 517.946.110 đồng (3,26% GTSD) Đứng thứ ba là thuốc chữa các bệnh về phế với 4 khoản mục (0,96% SKM) và giá trị sử dụng 181.639.500 đồng (1,14% GTSD) Các nhóm còn lại có giá trị thấp như thuốc chữa các bệnh về âm, về huyết; thuốc nhuận tràng, tả hạ tiêu thực; bình vị, kiện tì; thuốc chữa bệnh về ngũ quan; thuốc khu trừ phong thấp.
3.1.3 Cơ cấu nhóm thuốc Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Bảng 3.3 Cơ cấu nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
STT Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết
Hocmon thượng thận và những chất tổng hợp thay thế
Các chế phẩm androgen, estrogen và progesteron
Trong nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động đến hệ thống nội tiết, nhóm Insulin và các thuốc hạ đường huyết chiếm vị trí cao nhất về số khoản mục và giá trị sử dụng với 29KM chiếm 72,50% SKM và giá trị sử dụng 6.321.573.483 đồng chiếm 98,3% GTSD Đứng thứ hai là nhóm hormon thượng thận và những chất tổng hợp thay thế với 9KM chiếm 22,50% SKM, giá trị sử dụng 98.083.294 đồng chiếm 1,53% GTSD Nhóm các chế phẩm androgen, estrogen và progesteron có số KM thấp nhất với 2KM (5% SKM) và giá trị sử dụng 6.175.400 đồng chiếm 0,10% GTSD.
Bảng 3.4 Cơ cấu nhóm thuốc Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết theo nhóm TCKT
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Trong nhóm thuốc Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết, nhóm 1 chiếm tỷ lệ lớn nhất cả về KM và GTSD, với 75,86% KM và 68,82% GTSD Tiếp theo là nhóm 4 (thuốc sản xuất trong nước) với 14,11% GTSD, đứng thứ hai là nhóm 2 với 9,88% GTSD, và nhóm BDG đứng cuối với 7,19% GTSD.
3.1.4 Cơ cấu nhóm thuốc tim mạch
Bảng 3.5 Cơ cấu nhóm thuốc tim mạch
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
1 Thuốc điều trị tăng huyết áp 32 51,61 3.666.187.088 78,65
3 Thuốc chống đau thắt ngực 11 17,74 388.025.831 8,32
6 Thuốc điều trị suy tim 3 4,84 23.514.186 0,50
Trong nhóm thuốc tim mạch, nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp chiếm cao nhất về cả số lượng khoản mục và giá trị sử dụng, với 32 khoản mục (51,61% SKM) và giá trị sử dụng 3.666.187.088 đồng (78,65% GTSD) Tiếp theo là nhóm hạ lipid máu với 8 khoản mục (12,90% SKM) và giá trị sử dụng 511.067.213 đồng (10,96% GTSD) Nhóm thuốc chống đau thắt ngực xếp thứ ba với 11 khoản mục (17,74% SKM) và giá trị sử dụng 388.025.831 đồng (8,32% GTSD) Còn lại các nhóm chiếm tỷ lệ thấp dưới 1% về GTSD là nhóm thuốc chống loạn nhịp, thuốc chống huyết khối, thuốc điều trị suy tim.
Bảng 3.6 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp theo nhóm TCKT
STT Nhóm TCKT Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Trong nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp, nhóm 1 chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị sử dụng và số khoản mục, với 68,85% GTSD và 62,50% KM Nhóm BDG đứng thứ hai về GTSD với 21,25%, tiếp đến là nhóm 2 với 5,80% GTSD, và nhóm 4 (thuốc sản xuất trong nước) ở vị trí cuối cùng với 3,00% GTSD.
3.1.5 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Bảng 3.7 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
STT Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, nhóm beta-lactam chiếm tỷ lệ cao nhất cả về số khoản mục và giá trị sử dụng: 40 KM chiếm 43,48% SKM và giá trị sử dụng 1.076.200.390 đồng chiếm 88,10% GTSD Xếp thứ hai là nhóm Quinolon với 18 KM chiếm 19,57% SKM, giá trị sử dụng 49.639.608 đồng chiếm 4,06% GTSD Nhóm aminoglycosid có tỉ lệ thấp chiếm 8 KM (8,70% SKM) và giá trị sử dụng 33.011.729 đồng chiếm 2,70% GTSD Nhóm nitroimidazol gồm 7 KM chiếm 7,61% SKM và giá trị sử dụng 31.207.530 đồng chiếm 2,55% GTSD Các nhóm macrolid và nhóm thuốc khác chiếm tỷ lệ thấp cả về số khoản mục và GTSD Đề tài tiếp tục phân tích nhóm kháng sinh beta-lactam, kết quả thu được theo bảng 3.8.
Bảng 3.8 Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm Beta-lactam
TT Nhóm thuốc Số lượng mặt hàng Giá trị sử dụng
Số lượng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
Trong nhóm thuốc kháng sinh Beta-lactam được sử dụng tại TTYT, chủ yếu là thuốc nhóm Cephalosporin với GTSD là 851.269.836 đồng, chiếm tỷ lệ
36 nhiều nhất 79,10% trong tổng GTSD nhóm thuốc kháng sinh Beta-lactam tại TTYT năm 2020
Cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng sử dụng nhiều nhất tại TTYT trong các thuốc kháng sinh Cephalosporin với 20,00% SKM và 60,14% GTSD
Cephalosporin thế hệ 2 được sử dụng sử dụng với 35,00% số KM và 15,25% GTSD
Cephalosporin thế hệ 1 được sử dụng sử dụng với 5,00% số KM và 3,71% GTSD
3.1.6 Cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ
Bảng 3.9 Cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
1 Thuốc sản xuất trong nước 191 46,02 3.146.734.476 19,80
II Thuốc chế phẩm YHCT 37 8,92 2.346.814.542 14,76
1 Thuốc sản xuất trong nước 37 8,92 2.346.814.542 14,76
Thuốc hóa dược sản xuất trong nước được sử dụng năm 2020 là 191 KM (46,02%) với tổng kinh phí 3.146.734.476 đồng (19,80%); Thuốc nhập khẩu
187 KM (45,06%) tổng kinh phí 10.402.299.896 đồng (65,44%)
Thuốc chế phẩm YHCT đều là các thuốc sản xuất trong nước với 37KM
(8,92%) và giá trị sử dụng 2.346.814.542 đồng chiếm 14,76% GTSD
Mặc dù SKM thuốc và vật tư y tế (GTSD) vẫn chủ yếu là nhập khẩu, đề án Chính phủ mang tên “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cho thấy tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước ở mức thấp, vì vậy cần cân nhắc thay thế một số thuốc nhập khẩu bằng thuốc sản xuất trong nước để tăng tỷ lệ thuốc nội địa và củng cố chuỗi cung ứng y tế Việt Nam.
3.1.7 Cơ cấu DMT hóa dược theo thuốc đơn thành phần, đa thành phần Bảng 3.10 DMT hóa dược theo thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Nhận xét: Cơ cấu DMT hóa dược có 378 khoản mục thì 311KM (74,94%
SKM) là thuốc đơn thành phần tương ứng 53,77% GTSD và có 67KM (16,14% SKM) thuốc đa thành phần tương ứng 31,47% GTSD
Như vậy Bệnh viện đã thực hiện tốt khuyến cáo của Bộ y tế ưu tiên sử dụng thuốc đơn chất trong điều trị
3.1.8 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược theo đường dùng
Bảng 3.11 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược theo đường dùng
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Theo bảng trên, số lượng thuốc được sử dụng theo đường uống là nhiều nhất, với 273 KM (65,78%), và giá trị sử dụng đạt 12.773.819.320 đồng, chiếm 80,36% GTSD Như vậy, sự phân bổ này cho thấy thuốc đường uống có vai trò chiếm ưu thế cả về số lượng lẫn giá trị sử dụng so với các đường dùng khác.
3.1.9 Cơ cấu thuốc Generic và BDG trong danh mục thuốc hóa dược sử dụng năm 2020
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc generic và thuốc biệt dược gốc trong danh mục thuốc hóa dược sử dụng năm 2020 được trình bày theo bảng sau:
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc Generic, biệt dược gốc
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
2 Thuốc biệt dược gốc 21 5,56 1.476.795.188 10,90 Tổng 378 100,00 13.549.034.372 100,00
Kết quả từ bảng 3.12 cho thấy thuốc Generic với 357 KM chiếm 94,44% SKM, có giá trị sử dụng 12.072.239.184 đồng chiếm 89,10% GTSD; thuốc biệt dược gốc có 21 KM (5,56% SKM), chiếm 10,90% GTSD Việc sử dụng thuốc biệt dược gốc tốn nhiều chi phí do giá trị đắt, vì vậy bệnh viện dùng thuốc generic với tỷ lệ lớn để giảm chi phí tiền thuốc trong điều trị.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng năm 2020 bằng phân tích ABC/VEN
3.2.1 Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp phân tích ABC
Phân tích giá trị tiêu thụ thuốc theo phương pháp ABC cho thấy mối quan hệ giữa lượng thuốc tiêu thụ và chi phí, từ đó phân định những thuốc chiếm nhiều kinh phí và đề xuất các thuốc thay thế có chi phí đầu vào thấp hơn Quy trình này giúp xây dựng các liệu pháp điều trị tối ưu và bổ sung, đồng thời thương lượng với nhà cung cấp để mua thuốc với mức giá phù hợp Việc đánh giá mức độ tiêu thụ thuốc hàng năm cho phép nhận diện các bất hợp lý trong sử dụng và quản lý thuốc, từ đó đề xuất phương thức mua thuốc hợp lý và phù hợp với DMT bệnh viện.
Bảng 3.13 Cơ cấu DMT thuốc theo phân tích ABC
Giá trị sử dụng Khoản mục Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
Nhận xét: Kết quả phân tích abc cho thấy cơ cấu mua sắm thuốc tịa bv là hợp lý ở ba nhóm cụ thể như sau:
Thuốc nhóm A gồm 51 KM chiếm 12,29% tổng DMT với giá trị sử dụng
12.715.961.239 đồng (79,95%), nhóm này có số lượng KM ít nhưng chiếm gần như toàn bộ giá trị sử dụng thuốc của năm
Thuốc nhóm B gồm 78 KM (18,80%) với giá trị sử dụng 2.378.029.428 đồng (14,96%)
Thuốc nhóm C gồm 286 KM (68,92%) với giá trị sử dụng 801.858.247 đồng (5,04%), tuy tổng số KM chiếm hơn 50% nhưng giá trị sử dụng rất khiêm tốn
Dựa trên kết quả phân tích, có thể nhận định ở mức ban đầu rằng cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc tại trung tâm được đánh giá là hợp lý cho cả hai nhóm A và B Quá trình quản lý dược phẩm từ mua sắm đến phân phối và dùng thuốc cho hai nhóm cho thấy mức độ phù hợp với nhu cầu điều trị, đồng thời giúp tối ưu chi phí và đảm bảo an toàn cùng hiệu quả sử dụng thuốc.
3.2.2 Cơ cấu thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý
Các thuốc hạng A chiếm phần lớn trong tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện Đề tài tiến hành phân tích sâu hơn về các thuốc hạng A
Bảng 3.14 Cơ cấu DMT hạng A theo tác dụng dược lý
Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
KM Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Trong cơ cấu thuốc được phân tích, nhóm thuốc tác động đến hệ nội tiết gồm hormone và các thuốc liên quan có 18 mặt hàng, doanh thu 6.068.043.616 đồng và chiếm 47,72% thị phần; nhóm thuốc tim mạch có 19 mặt hàng, doanh thu 4.038.564.769 đồng và thị phần 31,76%; nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có 4 mặt hàng, doanh thu 576.299.478 đồng và thị phần 4,53%; nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid, thuốc điều trị gout và các bệnh xương khớp được liệt kê nhưng dữ liệu về số lượng mặt hàng và doanh thu cho nhóm này chưa được cung cấp đầy đủ trong nguồn dữ liệu hiện có.
Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
KM Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 5 9,80 1.351.798.776 10,63
Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 1 1,96 339.546.000 2,67 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 1 1,96 90.712.500 0,71
Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 1 1,96 73.159.800 0,58
Trong danh mục 51 thuốc hạng A có, 43 thuốc là thuốc hóa dược chiếm 84,31% SKM và giá trị 10.860.744.163 đồng chiếm 85,41% GTSD thuốc hạng
A Thuốc chế phẩm Y học cổ truyền gồm 8KM (15,69% SKM) và giá trị 1.855.217.076 đồng chiếm 14,59 % GTSD thuốc hạng A
Trong DMT hạng A của thuốc hóa dược, nhóm hormone và các thuốc tác động lên hệ nội tiết chiếm tỷ lệ cao nhất: 47,72% GTSD với 18 KM (35,29%) Nhóm tim mạch đứng thứ hai với 19 KM (37,25% SKM) và chiếm 31,76% GTSD Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có 4 KM (7,84% SKM) và giá trị sử dụng chiếm 4,53% Đặc biệt, nhóm khoáng chất và vitamin có 1 KM (1,96% SKM) và giá trị sử dụng chiếm 0,65%.
Trong nhóm chế phẩm y học cổ truyền, nhóm thuốc an thần, định chí và dưỡng tâm chiếm tỷ lệ lớn cả về SKM lẫn GTSD, với 5KM chiếm 9,80% SKM và 10,63% GTSD Các nhóm còn lại có tỉ lệ thấp về cả SKM lẫn GTSD.
3.2.3 Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện theo phương pháp phân tích VEN
Kết quả phân tích cơ cấu thuốc sử dụng theo phương pháp VEN của bệnh viện dựa vào các nhóm V, E, N được trình bày trong bảng tóm tắt sau:
Bảng 3.15 Cơ cấu DMT theo phân tích VEN
STT Nhóm thuốc Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ % Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ %
Tỷ lệ thuốc sống còn (V) có 67 KM chiếm 16,14% SKM và GTSD 3.123.381.074 đồng (19,65%),
Thuốc thiết yếu (E) có 300 KM (72,29 SKM%) với GTSD 10.240.117.712 đồng chiếm 64,42% về giá trị sử dụng
Thuốc không thiết yếu (N) với 48 KM chiếm 11,57% về SKM và GTSD 2.532.350.128 đồng (15,93%) về giá trị sử dụng
3.2.4 Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp kết hợp ABC/ VEN
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.16 Cơ cấu DMT theo phân tích kết hợp ABC/VEN
Khoản mục Giá trị sử dụng
Số lượng Tỉ lệ (%) Giá trị (VNĐ) Tỉ lệ
Trong nghiên cứu này, nhóm AV có 13 thuốc (3,13%) với tổng giá trị sử dụng 2.690.943.476 đồng, tương đương 16,93% GTSD Tại cả ba nhóm A, B, C, thuốc E là loại có tỉ lệ sử dụng cao nhất: nhóm A có AE chiếm 29/51 thuốc (12,29% số thuốc sử dụng) và chiếm 80,0% GTSD; nhóm B có thuốc E chiếm 52/78 thuốc (18,80% số thuốc sử dụng) và chiếm 14,96% GTSD; nhóm AN có 9 thuốc (2,17%) với giá trị 1.937.783.936 đồng, chiếm 12,19% GTSD Đề tài phân tích kỹ hơn tính bất hợp lý của nhóm thuốc AN.
3.2.5 Phân tích cơ cấu các thuốc trong phân nhóm AN
Bảng 3.17 Danh sách thuốc AN
TT Tên thuốc Đường dùng Nước SX Giá trị sử dụng (VNĐ) Tỷ lệ
1 Hoạt huyết dưỡng não BDF Uống Việt Nam 526.970.760 27,19
TT Tên thuốc Đường dùng Nước SX Giá trị sử dụng (VNĐ) Tỷ lệ
4 Tuần hoàn não Thái Dương Uống Việt Nam 237.064.968 12,23
5 Hoạt huyết Phúc Hưng Uống Việt Nam 189.379.200 9,77
7 Siro trị ho Slaska Uống Việt Nam 90.712.500 4,68
Có 09 thuốc nhóm N trong danh mục thuốc hạng A gồm chủ yếu là các thuốc chế phẩm YHCT gồm hoạt huyết dưỡng não BDF, thanh nhiệt tiêu độc Livergood, bổ huyết ích não BDF, tuần hoàn não thái dương, hoạt huyết Phúc Hưng, Dilagin, siro trị ho Slaska, Cholestin và 1 thuốc hóa dược là vitamin 3B (Setblood) Đây là các thuốc không cần thiết nhưng lại có giá trị sử dụng cao, bệnh viện cần xem xét cụ thể các thuốc này
3.2.6 Phân tích cơ cấu các thuốc trong phân nhóm BN
Bảng 3.18 Danh sách thuốc BN
TT Tên thuốc Đường dùng Nước SX Giá trị sử dụng (VNĐ) Tỷ lệ
1 Thuốc ho P/H Uống Việt Nam 58.960.000 12,02%
3 Bổ gan P/H Uống Việt Nam 51.922.080 10,58%
5 Bài thạch- BVP Uống Việt Nam 41.183.000 8,40%
6 Dưỡng tâm an thần Uống Việt Nam 37.818.900 7,71%
8 Thuốc ho bổ phế chỉ khái lộ Uống Việt Nam 31.702.000 6,46%
10 Bài thạch Uống Việt Nam 25.065.180 5,11%
14 Chè trĩ BTIKG Uống Việt Nam 14.808.345 3,02%
Có 14 thuốc nhóm N trong danh mục thuốc hạng B gồm chủ yếu là các thuốc chế phẩm YHCT gồm Thuốc ho P/H, Bổ gan P/H, Đại tràng hoàn P/H, Bài thạch- BVP, … và 02 thuốc hóa dược là Piracetam Egis 400mg và Cinnarizin 25mg (Stugeron) Đây là các thuốc không cần thiết nhưng lại có giá trị sử dụng cao, bệnh viện cần xem xét cụ thể các thuốc này.
BÀN LUẬN
Về cơ cấu danh mục thuốc đã được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020
4.1.1 Về cơ cấu danh mục thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
DMT được sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ năm 2020 với tổng số 415 khoản mục thuốc, trong đó thuốc hóa dược chiếm 378 khoản mục (91,08% SKM) và 85,24% GTSD; thuốc đông y, thuốc từ dược liệu có 37 khoản mục (8,92% SKM) và 14,76% GTSD Việc sử dụng nhóm thuốc đông y và từ dược liệu như Hoạt huyết dưỡng não BDF, Thanh nhiệt tiêu độc LiverGood, Bổ huyết ích não BDF trong kê đơn ngoại trú cho các bệnh thông thường và người cao tuổi nhằm đáp ứng nhu cầu của người bệnh, tuy nhiên một số mặt hàng có giá thành cao dẫn đến tăng chi phí khám chữa bệnh tại Trung tâm Giá trị sử dụng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu của Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ thấp hơn 15,93% về GTSD so với Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 [21], thấp hơn 22,45% so với GTSD của Trung tâm Y tế huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 [27], và thấp hơn 15,50% so với GTSD của Trung tâm Y tế huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình năm 2019 [26], trong khi kết quả này cao hơn tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 là 9,50% [22] Vì vậy, bệnh viện cần quan tâm điều chỉnh, giảm bớt giá trị sử dụng không cần thiết và hạn chế trong thực hành kê đơn.
4.1.2 Về cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý
Cơ cấu nhóm thuốc điều trị gồm: 8 nhóm thuốc hóa dược, 07 nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết chiếm tỷ lệ cao nhất với 40 KM (9,64%), có giá trị sử dụng 6.425.832.177 đồng và chiếm 40,42% GTSD; mức tiêu thụ của nhóm này cho thấy vai trò lớn trong cơ cấu chi tiêu dược phẩm Tỷ lệ này còn cao hơn nhiều so với một số trung tâm hệ khu vực, như Trung tâm Y tế Thành Phố Hưng Yên năm 2019 với 18 KM.
(12,68%) chiếm 31,37% về GTSD [22]; Trung tâm Y tế Huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2016 có 22,74% về GTSD [25]; Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 với 19,24 % GTSD [21]
Nhóm thuốc tim mạch chiếm 62 KM (14,94%), có giá trị sử dụng 4.661.233.701 đồng, chiếm 29,32% GTSD; Tỷ lệ nhóm thuốc tim mạch này tương đồng với TTYT TP Hưng Yên năm 2019 đạt 29,6% GTSD [22] và cao hơn nhiều so với một số TTYT khu vực như Trung tâm Y tế Huyện Kim Động năm 2017 với 24,18% GTSD [23], Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 có 8,72% GTSD [21], Trung tâm Y tế huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm …
Hai nhóm thuốc này phản ánh đúng mô hình bệnh tật tại TTYT Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, nơi phần lớn bệnh nhân được điều trị các bệnh nội tiết và bệnh lý tuần hoàn Việc nhận diện sự phân bổ thuốc cho thấy hai nhóm thuốc này phù hợp với nhu cầu điều trị nội tiết và tim mạch của người dân địa phương Hiểu rõ mối liên hệ giữa thuốc và đặc điểm bệnh tật địa phương giúp tối ưu phác đồ và nâng cao chất lượng chăm sóc tại TTYT Yên Mỹ.
Sử dụng kháng sinh luôn là một vấn đề được quan tâm đặc biệt tại các bệnh viện So với các nghiên cứu khác về tỷ lệ sử dụng kháng sinh tại các cơ sở y tế, tỷ lệ tại Trung tâm Y tế Yên Mỹ thấp hơn nhiều với 92 KM (22,17%) chiếm 7,68% về GTSD Kết quả sử dụng kháng sinh tại Trung tâm Y tế Huyện Văn Lâm năm 2016 có 80 KM (21%) chiếm 29,16% về GTSD [25]; Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2019 với 20KM (14,08%) chiếm 11,57% về GTSD [22]; Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm chưa được công bố đầy đủ dữ liệu.
Dựa trên dữ liệu, mô hình bệnh tật của các Trung tâm y tế thuộc từng khu vực có sự khác biệt đáng kể: năm 2017, một cơ sở ở Hà Nam (Trung tâm y tế huyện Lý Nhân) ghi nhận 32 km (17.11%) và 14.75% về GTSD [23], và năm 2019, Trung tâm y tế huyện Lý Nhân, Hà Nam có 47 km (16.91%) chiếm 33.6% về GTSD [21] Vấn đề này cho thấy sự khác biệt tương đối lớn về bệnh cảnh giữa các khu vực, trong khi công tác phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm trùng và bệnh đường hô hấp trên tại địa bàn thành phố Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên được thực hiện rất tốt.
Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu có 37 KM (8,92%) giá trị tiêu thụ 2.346.814.542 đồng (14,76%) Trong đó, có 2 nhóm chiếm lỉ lệ sử dụng nhiều
49 nhất là: Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm chiếm 12 KM (2,89%) và đóng góp 9,05% GTSD; nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có 9 KM (2,17% SKM) và 3,26% GTSD Kết quả này cao hơn so với Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 với 19 KM và kinh phí sử dụng 9,5%, nhưng thấp hơn Trung tâm y tế huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam năm 2019 với 22 KM và giá trị sử dụng 15,93% [21]; Trung tâm y tế huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam có dữ liệu tương tự nhưng các số liệu năm 2019 chưa được công bố.
26 KM cho thấy giá trị sử dụng 22,45% [27], và số KM trong DMT của Trung tâm là nhiều nên giá trị sử dụng cũng cao; tuy nhiên, việc sử dụng nhóm thuốc này được cho là chưa hợp lý vì nhóm thuốc Đông y và thuốc từ dược liệu chỉ đóng vai trò hỗ trợ điều trị chứ không có tác dụng điều trị chính Nguyên nhân là thói quen kê đơn của bác sĩ đối với bệnh nhân cao tuổi, thường bổ sung thêm thuốc có nguồn gốc thảo dược vào phác đồ điều trị.
Các nhóm thuốc có số lượng KM lớn đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân tiếp cận điều trị và hỗ trợ bác sĩ trong việc lựa chọn thuốc phù hợp Tuy nhiên, sự đa dạng của các nhóm thuốc này cũng gây khó khăn cho Khoa dược khi phải cung ứng nhiều mặt hàng cùng lúc, kèm theo các vấn đề liên quan đến mua sắm, thủ tục hồ sơ, theo dõi, bảo quản và cấp phát.
4.1.3 Về cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, nhóm Beta-lactam chiếm số lượng lớn nhất với 40 KM (43,48%), và GTSD của nhóm này chiếm 88,10% tổng kinh phí sử dụng kháng sinh Các nhóm kháng sinh khác chiếm tỷ lệ không đáng kể.
Trong nhóm Kháng sinh Beta-lactam, cephalosporin chiếm tỷ lệ lớn với 79,10% GTSD nhóm Beta-lactam, và cephalosporin thế hệ 3 chiếm phần lớn với 60,14% GTSD của nhóm Beta-lactam Đây là kháng sinh phổ rộng, nhiều thuốc vẫn có nhạy cảm với vi khuẩn nên đáp ứng hiệu quả điều trị trong thực hành lâm sàng Thói quen kê đơn của bác sĩ và sự tác động của dược trình viên được xem là nguyên nhân chính khiến nhóm này được ưu tiên lựa chọn Tuy nhiên, việc sử dụng ngày càng nhiều thuốc kháng sinh cephalosporin như hiện nay đang là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng kháng thuốc.
Có khoảng 50 yếu tố góp phần làm gia tăng vi khuẩn kháng thuốc, cho thấy mức độ phức tạp của hiện tượng này Kết quả cho thấy cơ cấu sử dụng thuốc tại Trung tâm đang dồn nhiều vào nhóm kháng sinh cephalosporin thế hệ 3, làm tăng áp lực chọn lọc lên vi khuẩn kháng thuốc Những phát hiện này nhấn mạnh nhu cầu kiểm soát chặt chẽ việc kê đơn, giám sát kháng sinh và tối ưu hóa phác đồ điều trị để giảm thiểu sự gia tăng kháng thuốc tại cơ sở y tế này Việc chuyển hướng sang các lựa chọn kháng sinh hợp lý và tăng cường giáo dục người dùng là các biện pháp cần triển khai nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và an toàn cho cộng đồng.
Y tế tuyến huyện là chưa hợp lý Trung tâm cần xem xét điều chỉnh giảm số lượng ở nhóm này
4.1.4 Về cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc và vật tư y tế (DMT) dùng trong bệnh viện, ưu tiên thuốc sản xuất trong nước Đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 50% tỷ lệ thuốc sản xuất tại Việt Nam trong tổng số tiền mua thuốc tại các bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố, với mức tăng 2-4% mỗi năm Theo chiến lược phát triển ngành Dược đến năm 2030, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm khoảng 30%.
Ở Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ, thuốc sản xuất trong nước thuộc nhóm hóa dược chiếm 191 loại (46,02%) và kinh phí sử dụng chiếm 19,80%; thuốc nhập khẩu chiếm 187 loại (45,06%) với kinh phí sử dụng 65,44%; thuốc đông y và thuốc từ dược liệu đều là thuốc sản xuất trong nước, chiếm 37 loại (8,92%) với GTSD 14,76% Kết quả sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại đơn vị này thấp hơn nhiều so với kết quả tại Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019, nơi thuốc SXTN chiếm 51,29% GTSD; Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2019 là 40,4% GTSD; Trung tâm Y tế huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam năm 2019 là 53,17% GTSD.
Việc tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước ở mức thấp cho thấy Trung tâm chưa thực hiện đầy đủ chính sách quốc gia về thuốc Khi xây dựng DMT, Hội đồng thuốc và điều trị dường như chưa ưu tiên các thuốc có nguồn gốc sản xuất trong nước nhằm tiết kiệm chi phí cho thuốc, giảm giá thành điều trị và giảm gánh nặng cho bệnh nhân Tỷ lệ dùng thuốc nội địa như hiện nay phản ánh hạn chế trong việc thúc đẩy sản phẩm nội địa và tối ưu hóa nguồn lực của Trung tâm.
51 chưa thực hiện tốt khuyến cáo của Bộ Y tế và mục tiêu của Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”
4.1.5 Về cơ cấu thuốc sử dụng theo đơn thành phần – đa thành phần
Thuốc đơn thành phần được sử dụng Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ chiếm tỷ lệ khá lớn về số lượng mặt hàng gồm 311KM thuốc hóa dược (74,94%), với
Phân tích ABC/VEN của Danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm
Y tế huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên năm 2020
4.2.1 Phân tích ABC của danh mục thuốc Trung tâm đã sử dụng năm 2020
Thông thường theo phân tích ABC, các sản phẩm của nhóm A chiếm 10 -
20% tổng sản phẩm, nhóm B chiếm 10 - 20%, nhóm C chiếm 60 - 80%
Cơ cấu mua sắm của Trung tâm năm 2020 được đánh giá là hợp lý ở cả nhóm A và nhóm B Kết quả phân tích ABC cho thấy nhóm A có 51 thuốc, chiếm 12,29% tổng số lượng KM; nhóm B có 78 thuốc, chiếm 18,80% tổng số lượng KM; nhóm C vẫn chưa được công bố đầy đủ trong dữ liệu hiện có.
286 thuốc, chiếm 68,92% số lượng KM; 80,00% kinh phí được phân bổ cho nhóm A, 14,96% kinh phí được phân bổ cho nhóm B; thuốc nhóm C chỉ chiếm tỷ lệ 5,04% về kinh phí
Trong nhóm A, tổng số 51 KM với giá trị sử dụng 12.715.961.239 đồng cho thấy nhóm thuốc hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết chiếm 47,72% GTSD, cao nhất trong nhóm Đứng thứ hai là nhóm thuốc tim mạch với 31,76% GTSD Những con số này cho thấy các bệnh nội tiết và tim mạch chiếm phần lớn gánh nặng điều trị và phù hợp với mô hình bệnh tật tại trung tâm.
Phân tích cho thấy nhóm thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu và nhóm khoáng chất và vitamin không nên nằm trong nhóm A, vì phân bổ cho các thuốc này chưa hợp lý dẫn tới lạm dụng thuốc không thực sự cần thiết Số lượng mặt hàng thuộc ba nhóm này chiếm đến 9 trên 51 mặt hàng của nhóm A, do mức sử dụng lớn và trung tâm dàn trải nên nhóm này xuất hiện nhiều trong nhóm A Các thuốc thuộc nhóm này chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị, vì vậy trung tâm cần hạn chế sử dụng các loại thuốc thuộc nhóm này.
Phân tích ABC cho phép xác định những thuốc có giá trị tiêu thụ cao trong DMT, từ đó xây dựng chính sách sử dụng thuốc hợp lý Phương pháp này là công cụ hữu hiệu trong quá trình lựa chọn, mua sắm, quản lý và phân phối thuốc, giúp tối ưu hoá nguồn lực y tế và nâng cao hiệu quả cung ứng thuốc; đồng thời thúc đẩy việc sử dụng thuốc theo nguyên tắc hợp lý dựa trên dữ liệu tiêu thụ thực tế.
4.2.2 Phân tích VEN của danh mục thuốc Trung tâm đã sử dụng năm 2020
Theo TT 21/2013/TT-BYT, quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và ĐT (HĐT&ĐT) trong bệnh viện Văn bản này hướng dẫn HĐT&ĐT trước khi lựa chọn thuốc cho DMT của bệnh viện, bắt buộc phải phân tích VEN nhằm đảm bảo tính khách quan Phân loại thuốc theo VEN giúp xác định đâu là thuốc thiết yếu và đâu là thuốc không thực sự cần thiết Từ kết quả phân tích VEN, HĐT&ĐT có căn cứ để đưa ra một DMT phù hợp và tối ưu cho cơ sở y tế.
54 phù hợp với MHBT của bệnh viện và sát thực hơn với nhu cầu thực tế của bệnh viện [7]
Năm 2020, và những năm trước đó, HĐT&ĐT của Trung tâm Y tế huyện Yên Mỹ chưa tiến hành phân tích VEN trước khi đưa thuốc vào danh mục thuốc Trong đề tài này, nhằm làm rõ cơ cấu DMT sử dụng tại Trung tâm, chúng tôi đã thực hiện phân tích VEN để xem xét sự phân bổ các thuốc sống còn (V), thuốc thiết yếu (E) và thuốc không thiết yếu (N) Kết quả phân tích VEN mang tính chất chủ quan của người thực hiện đề tài, nhằm đánh giá mức độ hợp lý của cấu trúc V–E–N trong danh mục thuốc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ cấu sử dụng thuốc chưa hợp lý khi thuốc không thiết yếu chiếm tỷ lệ lớn Trong đó, nhóm E có số loại thuốc cao nhất với 300 loại, chiếm 72,29% về số lượng và 64,42% về giá trị sử dụng Nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao thứ hai là nhóm V, chiếm 19,65% giá trị tiêu thụ và 16,14% về số lượng khoản mục Nhóm N có 48 loại thuốc, chiếm 11,57% số lượng và 15,93% tổng giá trị sử dụng.
So với TTYT huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam năm 2019, thứ tự các nhóm thuốc tương tự: thuốc E chiếm tỷ trọng lớn nhất ở cả khoản mục và giá trị (72,3% và 73,22%), nhóm N ở vị trí thứ hai (14,39% và 20,95%), còn nhóm V có tỷ lệ thấp nhất (13,31% và 5,82%) [21] Tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên, thuốc E tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất ở cả hai thước đo (68,31% và 85,84%), nhóm N (18,31% và 10,92%), và nhóm V thấp nhất (13,38% và 3,24%) [22].
4.2.3 Phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy kinh phí sử dụng thuốc tại Trung tâm Y tế Tập trung chủ yếu dành cho hai nhóm thuốc: thiết yếu và không thiết yếu Điều này cho thấy sự ưu tiên trong quản lý thuốc dựa trên vai trò thiết yếu của thuốc và nhu cầu điều trị thực tế tại cơ sở Nhận diện hai nhóm thuốc chủ đạo này giúp tối ưu hóa chi phí và cải thiện hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy tỷ lệ nhóm I (AV, AE,
AN, BV, CV) là nhóm quan trọng nhất chiếm 23,30% về chủng loại và chiếm 82,72% về giá trị sử dụng
Tỷ lệ nhóm II (gồm BE, BN,CE) là nhóm quan trọng ít hơn nhóm I, chiếm 68,67% về chủng loại và chiếm 13,53% giá trị sử dụng
Tỷ lệ nhóm III là nhóm ít quan trọng nhất chỉ có CN chiến 6,02% về chủng loại và chiếm 0,65% về giá trị sử dụng
Nhóm thuốc AN có 09 thuốc chiếm 12,19% GTSD, nhóm thuốc BN có
Trong danh mục thuốc, 14 loại thuốc thuộc nhóm khoáng chất và vitamin, thuốc Đông y và thuốc từ dược liệu chiếm 3,09% GTSD Những thuốc này chủ yếu có chức năng hỗ trợ và hiệu quả điều trị chưa được làm rõ, do đó cần cân nhắc kỹ lưỡng và đánh giá cụ thể trước khi sử dụng từng loại thuốc.
So sánh với các bệnh viện tuyến huyện khác, Trung tâm y tế huyện thành phố Hưng Yên năm 2019 nhóm AN có 5 thuốc (3.52% KM) và 5,89% GTSD
[22], Trung tâm y tế huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam năm 2019 có 12 thuốc AN (4,32% KM) và 17,34% GTSD [21]
Có 14 thuốc BN gồm chủ yếu là các thuốc chế phẩm YHCT gồm Thuốc ho P/H, Bổ gan P/H, Đại tràng hoàn P/H, Bài thạch- BVP, … và 02 thuốc hóa dược là Piracetam Egis 400mg và Cinnarizin 25mg (Stugeron) Đây là các thuốc không cần thiết nhưng lại có giá trị sử dụng cao, bệnh viện cần xem xét cụ thể các thuốc này