KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Khái niệm
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là văn bản thỏa thuận giữa Tổ chức tín dụng (bên cho vay) và các tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình vay tiền, sử dụng vốn vay và thanh toán nợ Hợp đồng này xác định các điều khoản quan trọng như số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, và các điều kiện thanh toán, đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên Việc ký kết hợp đồng tín dụng giúp thúc đẩy quá trình vay vốn an toàn, minh bạch và tuân thủ quy định pháp luật Đây là bước quan trọng trong hoạt động tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay và đảm bảo trách nhiệm của các bên liên quan.
Phân loại
Tùy vào từng tính chất mà HĐ tín dụng (HĐTD) có cách phân loại riêng theo từng loại tín dụng:
Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn cho vay, HĐTD chia thành 3 loại:
Hợp đồng tín dụng ngắn hạn là loại hợp đồng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động hoặc tài trợ cho việc sửa chữa lớn tài sản cố định của doanh nghiệp Đây là hình thức cho vay phổ biến tại các ngân hàng thương mại, đồng thời cũng được sử dụng trong các quan hệ cấp vốn ngắn hạn và tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước.
Hợp đồng tín dụng trung hạn (HĐTD trung hạn) có thời gian từ 1 đến 3 năm, phù hợp để vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới hệ thống kỹ thuật, cũng như mở rộng quy mô và xây dựng các công trình nhỏ Loại hình tín dụng này giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn, tối ưu hóa dòng tiền và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Hợp đồng tín dụng dài hạn là loại hợp đồng có thời gian trên 3 năm, thường được sử dụng để đầu tư vào xây dựng các xí nghiệp mới, nâng cấp và mở rộng cơ sở sản xuất quy mô lớn, cũng như phát triển các công trình hạ tầng như sân bay, đường sá, bến cảng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Thứ hai, căn cứ vào đối tượng cho vay, HĐTD chia làm 2 loại:
Hội đồng tín dụng vốn cố định là loại hình tín dụng dùng để hình thành vốn cố định cho các tổ chức kinh tế, nhằm mục đích mua sắm máy móc, thiết bị mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất.
1 Giáo trình Luật Ngân hàng (2022), Nxb Hồng Đức, tr317
HĐTD vốn lưu động là hình thức tín dụng nhằm hình thành và duy trì vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế Nó bao gồm các khoản vay dự trữ hàng hóa, vay chi phí sản xuất và hỗ trợ thanh toán các khoản nợ nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục và ổn định.
Thứ ba, căn cứ vào mức độ tín nhiệm các TCTD, HĐTD chia thành 2 loại:
(i) HĐTD không có bảo đảm: Biểu hiện dưới hình thức đảm bảo bằng tín chấp, được
TCTD áp dụng đối với những khách hàng đáng tin cậy
Hình thức HĐTD có bảo đảm áp dụng cho khách hàng có năng lực tài chính hạn chế, hiệu quả kinh doanh thấp hoặc ít có quan hệ tín dụng với ngân hàng, đồng nghĩa với rủi ro cao Ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp tài sản thế chấp phù hợp như động sản, bất động sản, giấy tờ có giá trị hoặc yêu cầu sự bảo lãnh từ một chủ thể pháp lý khác để giảm thiểu rủi ro.
Đặc trưng cơ bản của HĐTD
Có thể thấy những dấu hiệu chung của một loại HĐ (HĐ), HĐTD còn có một số đặc trưng sau đây:
Chủ thể trong hoạt động cho vay tại Việt Nam gồm có hai bên chính: bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc ngân hàng nước ngoài đã thành lập và hoạt động hợp pháp theo Luật Các TCTD năm 2010 cùng các quy định liên quan, còn bên vay có thể là pháp nhân hoặc cá nhân đáp ứng các điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
Hai là đối tượng: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là vốn tiền tệ (bao gồm tiền đồng
Trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, việc xác định đối tượng cho vay là tiền mặt hoặc ngoại tệ rất quan trọng, vì chúng có thể tồn tại dưới dạng vật hiện hữu như tiền mặt hoặc tiền gửi có kỳ hạn Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến tính chất của hoạt động cho vay; nếu đối tượng không phải là vốn tiền tệ thì không phải hoạt động cho vay mà là hoạt động cho thuê tài chính Do đó, việc phân biệt rõ ràng giữa cho vay tiền tệ và cho thuê tài chính là yếu tố then chốt để đảm bảo tính chính xác và tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động tài chính ngân hàng tại Việt Nam.
Hợp đồng tín dụng ngân hàng bắt buộc phải được ký kết dưới hình thức văn bản để đảm bảo tính pháp lý và rõ ràng trong các quyền và nghĩa vụ của các bên Pháp luật quy định các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng phải thỏa thuận bằng văn bản nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi bên Việc ký kết hợp đồng bằng văn bản còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.
2 Giáo trình Luật Ngân hàng, 2022, Nxb Hồng Đức, tr318-tr321
3 Bút tệ là loại tiền tệ phi vật chất, không tồn tại dưới dạng hữu hình như tiền giấy hay tiền xu Đó chính là các con số hiển thị trên tài khoản ngân hàng khi người dùng gửi hoặc chuyển tiền Giao dịch ngân hàng được xác nhận thông qua các hợp đồng pháp lý dạng văn bản, bao gồm cả giấy viết tay và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu, phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 119 Bộ luật Dân sự 2015.
11, 12, 13, 14 Luật GDĐT 2005) HĐTD là HĐ mẫu do chính TCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của chính TCTD
Bốn là nhằm mục đích sinh lợi, thể hiện qua tỷ lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của tổ chức tín dụng, không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố Vận mệnh của tổ chức tín dụng luôn phụ thuộc vào khả năng tạo ra giá trị thặng dư từ đồng tiền thông qua hoạt động huy động vốn và ký kết các hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng thường là hợp đồng ưng thuận, do Tổ chức tín dụng xây dựng mẫu hợp đồng với các điều khoản đã soạn sẵn, bên vay chỉ cần chấp thuận hoặc từ chối Hiệu lực của hợp đồng này có thể bắt đầu tại thời điểm giao kết, phụ thuộc vào việc bên vay thực hiện đầy đủ các điều kiện do Tổ chức tín dụng quy định, hoặc theo thỏa thuận của các bên về thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật.
Quy định về HĐTD
- Chủ thể cho vay trong quan hệ HĐTD: TCTD hoặc Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
- Chủ thể đi vay trong quan hệ HĐTD: cá nhân và pháp nhân
❖ Các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp
- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết HĐTD với khách hàng
Những điều kiện này xác định rõ liệu một Tổ chức tín dụng (TCTD) có đủ tư cách pháp lý để thực hiện hợp đồng tín dụng hay không Quy định này nhằm hạn chế rủi ro cho nền kinh tế, thúc đẩy quan hệ tín dụng lành mạnh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
❖ Các điều kiện chủ thể đối với bên đi vay 4
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật:
+ Đối với khách hàng vay là cá nhân, pháp nhân Việt Nam phải có đủ điều kiện
(i) Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân, pháp nhân phải có năng lực hành vi dân sự;
(ii) Đại diện hộ gia đình, tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
(iii) Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
+ Đối với khách hàng vay là cá nhân, pháp nhân nước ngoài
Pháp nhân hoặc cá nhân cần có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với quy định của quốc gia nơi họ có quốc tịch hoặc cư trú Trong đó, các quy định này được áp dụng dựa trên Bộ luật Dân sự 2015, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, hoặc theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia Việc đảm bảo năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự là điều kiện cần thiết để thực hiện các hành vi pháp lý hợp pháp.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết
Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu về pháp lý Các dự án này phải phù hợp với quy định của pháp luật và nhằm phục vụ đời sống, đảm bảo tính khả thi và mang lại hiệu quả kinh tế rõ ràng.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam
4 Giáo trình Luật Ngân hàng (2022), Nxb Hồng Đức, tr324
Các điều kiện vay vốn giúp các TCTD dựa trên năng lực của tổ chức, cá nhân để quyết định có cho vay hay không, đảm bảo an toàn nguồn vốn của ngân hàng Quy định này không chỉ giữ vững sự an toàn của các khoản vay mà còn bảo vệ tiền gửi của khách hàng tại TCTD, góp phần duy trì hệ thống tài chính ổn định và tin cậy.
Hợp đồng thương mại điện tử (HĐTD) bao gồm các điều khoản cụ thể do các bên thỏa thuận, phản ánh quyền và nghĩa vụ rõ ràng của từng chủ thể tham gia ký kết Các điều khoản trong HĐTD được chia thành hai loại chính, đảm bảo rõ ràng và phù hợp với quy định pháp luật Việc soạn thảo các điều khoản này giúp các bên nắm rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình trong quá trình hợp tác thương mại điện tử.
Những điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng là yếu tố quyết định hiệu lực pháp lý của hợp đồng đó Nếu các bên không thỏa thuận hoặc bỏ qua bất kỳ điều khoản nào quan trọng này, hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý hoặc không thể thực thi Việc đảm bảo đầy đủ các điều khoản cốt lõi giúp bảo vệ quyền lợi của các bên và thúc đẩy mối quan hệ hợp tác minh bạch, rõ ràng Đây là những nội dung không thể thiếu để đảm bảo hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp lý và đạt được mục đích đã đề ra.
Điều khoản về điều kiện vay vốn là phần quan trọng trong hợp đồng, nêu rõ các tiêu chuẩn mà bên vay phải đáp ứng để được cấp vốn Tùy vào từng loại hợp đồng, các tiêu chuẩn cụ thể có thể khác nhau, nhưng điều kiện về năng lực chủ thể luôn là yếu tố không thể thiếu trong mọi loại hợp đồng vay vốn.
Điều khoản về đối tượng của hợp đồng vay là phần quan trọng xác định hình thức vay, số tiền vay và lãi suất mà các bên thỏa thuận Đây là yếu tố quyết định giá trị hợp đồng, thể hiện rõ tổng số tiền vay và số tiền mà bên vay phải trả trong một khoảng thời gian nhất định Việc xác định rõ ràng các điều khoản này giúp đảm bảo quyền lợi và tránh tranh chấp giữa các bên liên quan.
Điều khoản về thời hạn sử dụng tiền vay xác định trách nhiệm trả nợ của bên vay theo quy định pháp luật, dựa trên thời gian thỏa thuận giữa các bên Nếu không có thỏa thuận khác, thời hạn vay bắt đầu tính từ ngày hai bên ký kết hợp đồng Điều khoản này cũng quy định khoảng thời gian mà tổ chức tín dụng (TCTD) được phép áp dụng các biện pháp thu hồi nợ khi khoản vay đến hạn, nếu không có các thỏa thuận khác.
Điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay giúp Tổ chức tín dụng (TCTD) giám sát quá trình sử dụng vốn của bên vay Đây là cam kết của khách hàng về việc sử dụng khoản vay đúng mục đích, đảm bảo quản lý rủi ro và tuân thủ các quy định của ngân hàng Khi đã xác định rõ mục đích sử dụng vốn vay, bên vay có trách nhiệm sử dụng vốn đúng theo cam kết để đảm bảo hiệu quả và an toàn tài chính.
Trong quá trình vay vốn ngân hàng, khách hàng cần tuân thủ mục đích sử dụng vốn đã xác định trong hợp đồng Nếu có ý định thay đổi mục đích sử dụng, phải làm đơn trình bày bằng văn bản gửi đến ngân hàng và nhận được sự đồng ý từ phía ngân hàng Việc này đảm bảo tính minh bạch và hợp lệ trong quá trình vay vốn, tránh các rủi ro pháp lý không mong muốn.
Điều khoản về đảm bảo tiền vay quy định các bên thống nhất về phương thức đảm bảo khoản vay, có thể bằng tài sản hoặc không bằng tài sản Trường hợp Tổ chức tín dụng cho vay dựa trên đảm bảo bằng tài sản, cần kiểm tra kỹ các điều kiện liên quan đến tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các bên.
Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay quy định rõ ràng cách thức trả nợ của bên vay, bao gồm trả một lần hoặc nhiều lần Trong trường hợp trả nhiều lần, các bên cần thỏa thuận chính xác về số tiền phải trả cho mỗi lần và thời gian thanh toán cụ thể, đảm bảo quá trình trả nợ diễn ra đúng hạn và minh bạch.
Các điều khoản không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng được phép thêm hoặc bỏ tùy theo thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên nếu đã đồng ý thì bắt buộc tuân thủ đúng cam kết Những điều khoản thông thường trong hợp đồng tín dụng bao gồm: gia hạn nợ, miễn giảm lãi suất vay, và giải quyết tranh chấp Việc thỏa thuận rõ ràng về những điều khoản này góp phần đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng.
Để việc ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng (HĐTD) được diễn ra một cách chặt chẽ, pháp luật ngân hàng quy định rõ các bước cần thiết Cụ thể, quá trình này bao gồm ba bước quan trọng: tiến hành ký kết hợp đồng, thực hiện các thủ tục liên quan đến hợp đồng, và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật trong suốt quá trình thực hiện Việc tuân thủ đúng các bước này giúp nâng cao tính minh bạch, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hiệu lực của HĐTD
Hiệu lực của hợp đồng tín dụng bắt đầu khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản và bên ký tên, đóng dấu (nếu có) Việc giải ngân tiền vay là nghĩa vụ của bên cho vay, và nếu họ không thực hiện đúng nghĩa vụ này gây thiệt hại cho bên vay thì sẽ bị phạt vi phạm hợp đồng và buộc bồi thường thiệt hại.
HĐTD vô hiệu
Hợp đồng dân sự (HĐTD) bị coi là vô hiệu toàn bộ khi mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, gây phương hại đến lợi ích chung theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 Trong trường hợp này, bất kỳ ai có lợi ích hợp pháp đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Thời hạn để thực hiện quyền yêu cầu này là không hạn chế theo quy định của pháp luật.
Hợp đồng dân sự (HĐTD) bị coi là vô hiệu từng phần nếu chủ thể tham gia không có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng không có sự tự nguyện, đồng thuận giữa các bên ký kết Ngoài ra, hợp đồng cũng có thể bị coi là vô hiệu phần nào khi hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật dân sự.
2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Phân biệt HĐ vay tài sản và HĐTD
Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng tín dụng (HĐTD) đều là các loại hợp đồng cho vay tiền đối với cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay để phục vụ sinh hoạt hoặc kinh doanh Tuy nhiên, hai loại hợp đồng này có điểm khác nhau rõ rệt, có thể phân biệt dựa trên các tiêu chí như mục đích vay vốn, hình thức thực hiện và phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Việc hiểu rõ đặc điểm của từng loại hợp đồng giúp người vay và người cho vay thiết lập các thỏa thuận rõ ràng, phù hợp với quy định pháp luật.
Tiêu chí HĐ vay tài sản HĐTD
Hợp đồng vay tài sản là thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay Khi đến hạn thanh toán, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đúng loại và số lượng tài sản đã vay Contract vay tài sản đảm bảo quyền lợi của cả hai bên, thể hiện sự cam kết trong việc chuyển giao tài sản theo điều khoản đã thoả thuận.
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng thương mại cổ phần (TCTD) – bên cho vay, và các tổ chức, cá nhân (bên đi vay), nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ cụ thể của hai bên trong quan hệ vay vốn Trong đó, hợp đồng xác định rõ các điều khoản về khoản vay, lãi suất, thời hạn vay, và các nghĩa vụ của bên vay để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên Việc ký kết HĐTD là bước quan trọng giúp đảm bảo tính minh bạch, pháp lý rõ ràng, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay.
8 https://thuvienphapluat.vn/banan/tin-tuc/phan-biet-hop-dong-vay-tai-san-va-hop-dong-tin-dung-4741
Hợp đồng vay tài sản được hình thành dựa trên những tiêu chí rõ ràng, trong đó lượng vay và quyền trả lãi chỉ được xác định khi có thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật Quá trình vay tiền bao gồm các bước từ nhận khoản vay, sử dụng tài sản vay và thực hiện thành toán khoản vay theo các điều khoản đã cam kết.
Hình thức Hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Hình thức bắt buộc bằng văn bản
Chủ thể Tổ chức, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Bên cho vay là TCTD và CN NHNN tại VN, bên vay là pháp nhân, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện quy định
Phân loại - HĐ vay không kỳ hạn: có lãi suất, không có lãi suất
- HĐ vay có kỳ hạn: có lãi suất, không có lãi suất
- Thời hạn cho vay: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Đối tượng cho vay: HĐTD vốn cố định và HĐTD vốn lưu động
- Mức độ tín nhiệm của TCTD: không cần bảo đảm và có bảo đảm
Lãi suất Lãi suất vay do các bên thỏa thuận (có thể có lãi hoăc không có lãi)
Trong các trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất vay, lãi suất này không được vượt quá 20%/năm của khoản vay Tuy nhiên, Điều này không áp dụng nếu có quy định khác của luật liên quan Việc giới hạn lãi suất giúp đảm bảo quyền lợi của các bên và tuân thủ pháp luật.
Tất cả các khoản vay TCTD và khách hàng thỏa thuận về lãi suất dựa trên cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định lãi suất cho vay tối đa nhằm đảm bảo sự phù hợp và an toàn trong cho vay.
Tiêu chí HĐ vay tài sản HĐTD
Quyền và nghĩa vụ của các bên
Bên cho vay và bên đi vay thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình song song và bình đẳng với nhau
Nghĩa vụ chuyển giao tiền của bên cho vay được thực hiện trước để tạo nền tảng cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bên đi vay Điều này đảm bảo quá trình giao dịch diễn ra suôn sẻ, minh bạch và đúng quy định pháp luật Việc chuyển giao tiền đúng thời điểm là yếu tố quan trọng giúp xác định trách nhiệm của các bên liên quan trong hợp đồng vay vốn.
Cơ sở pháp lý Điều 463 BLDS 2015 Luật Các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016
Giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng
Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là tình trạng pháp lý phản ánh sự xung đột hoặc bất đồng ý chí giữa các bên liên quan đến quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Điều này xảy ra khi các bên không đồng thuận hoặc có mâu thuẩn về các điều khoản trong hợp đồng, dẫn đến tranh chấp pháp lý cần được giải quyết Hiểu rõ về nguyên nhân và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng giúp các bên có thể phòng tránh và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh trong quan hệ hợp đồng.
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế thương lượng giữa các bên
- Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán
+ Trọng tài thương mại: nếu giữa TCTD và khách hàng có thỏa thuận yêu cầu cơ quan trọng tài giải quyết
+ Tòa án: nếu giữa TCTD và khách hàng có thỏa thuận yêu cầu toàn án giái quyết hoặc không có thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp.
PHÂN TÍCH BẢN ÁN THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Bản án số: 314/2023/DS-PT ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân TP HCM V/v tranh chấp HĐTD
Tóm tắt vụ án như sau: Ngân hàng TMCP A (P1) cho ông Diệp Minh J vay theo các
Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV–200800073 ngày 25/04/2008 và hợp đồng kiêm khế ước nhận nợ số 1403 – LDS – 200800088 ngày 26/4/2008 cùng các hồ sơ liên quan xác định khoản vay trị giá 1.580 chỉ vàng SJC, với thời hạn đến 31/03/2013 Lãi suất vay được thỏa thuận là 7% mỗi năm, có rõ ràng về việc sau năm cố định đầu tiên, lãi suất sẽ được điều chỉnh Tài sản đảm bảo cho khoản vay bao gồm quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số 71, tầng 1 và tầng 2, Đường T, phường L, Quận E, Thành phố.
Hồ Chí Minh đứng tên ông Diệp Minh J và bà Lê Thị Thu S theo hợp đồng thế chấp tài sản số 38/EIBQ7-TDTH/TSTC/08 Thông tin này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM vào ngày 25/04/2008, đảm bảo quyền sở hữu và pháp lý của các bên liên quan. -Nâng tầm bài viết về pháp lý bất động sản cùng công cụ tối ưu SEO hiệu quả, khám phá ngay [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha)
Hợp đồng tín dụng số 1403-LAV–201101012 ngày 11/11/2011, gồm cả hợp đồng kiêm khế ước nhận nợ số 1403-LDS-201101704 cùng các hồ sơ đi kèm, thể hiện khoản vay trị giá 1.200.000.000 đồng để góp vốn vào Công ty TNHH DV-ĐT Kinh doanh địa ốc Quận 1 Thời hạn vay dự kiến đến ngày 31/3/2013, với lãi suất là 22.3% mỗi năm, có thỏa thuận điều chỉnh lãi suất sau thời gian cố định Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại số 288/29 Khu phố R1, Thị trấn S1, huyện T1 (nay là Phường F1, Quận B1), đứng tên ông Nguyễn Xuân U và bà Hoàng Thị V, được đăng ký theo Hợp đồng thế chấp số 146/11/EIBQ7-KHCN/TSTC và giao dịch đảm bảo đã hoàn tất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận B1 ngày 11/11/2011.
Ông Diệp Minh J vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi chỉ thanh toán được 770,53 chỉ vàng SJC (gốc 448,8 chỉ vàng SJC và lãi 321,73 chỉ vàng SJC) cùng với 4.272.638.470 đồng (gốc 100.000.000 đồng và lãi 172.638.470 đồng) Các khoản vay đã quá hạn từ ngày 01/04/2013 với số tiền lên đến 14.863.003.417 đồng (quy đổi theo vàng), và tiền lãi vẫn tiếp tục tính từ ngày 12/8/2022 đến nay.
Khi ông J hoàn tất việc trả nợ cho P1 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký, quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo thuộc về P1 nếu ông J không trả nợ đúng hạn hoặc trả không đủ Trong trường hợp này, P1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ; nếu giá trị từ việc phát mãi không đủ thanh toán nợ, ông J còn có nghĩa vụ thanh toán số còn thiếu Ông Nguyễn Xuân U trình bày về tài sản tại địa chỉ 289/29 (cũ là 504/30) Đường X1, Phường F1, Quận B1, TP.HCM, do ông và bà Hoàng Thị V làm chủ, đã thế chấp tại P1 để đảm bảo khoản vay của ông Diệp Minh J Theo trao đổi, ông J đang thu xếp tiền để tất toán khoản vay và ông U đề nghị Tòa án tạo điều kiện để ông J sớm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, rút tài sản thế chấp để trả vợ chồng ông.
Dựa trên Luật TCTD năm 2010, Ngân hàng áp dụng mức lãi suất cho vay công bố tại thời điểm điều chỉnh, đồng thời lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay phù hợp với quy định Hợp đồng thế chấp đã được các bên xác lập hợp lệ với hình thức, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật pháp Ông Nguyễn Xuân U đã sử dụng tài sản thế chấp thuộc sở hữu riêng để đảm bảo nghĩa vụ cho người có lợi ích là ông J, qua đó giao dịch dân sự này có hiệu lực pháp luật.
Bình luận bản án
Thứ nhất, về căn cứ xác định cách tính khoản tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 10
Bản án sơ thẩm xác định mức lãi quá hạn là 150% lãi suất cho vay của ngân hàng trên phần dư nợ, và kể từ ngày 12/8 (sau ngày bản án có hiệu lực) tiếp tục tính lãi quá hạn cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ (gốc + lãi) Theo kết luận của Hội đồng xét xử phúc thẩm, vấn đề này của bản án sơ thẩm được đồng ý, dựa trên Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn rõ ràng về cách xác định mức lãi suất, thời điểm tính lãi, và số tiền tính lãi, cụ thể là kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho tới khi thi hành án xong, bên phải thi hành án vẫn phải chịu khoản lãi theo mức thỏa thuận của các bên nhưng phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo quy định pháp luật, nếu không có thỏa thuận rõ ràng về mức lãi suất, thì lãi suất sẽ được xác định theo mức quy định tại khoản 2 Điều của luật hiện hành Điều này đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên và tránh tranh chấp về lãi suất vay Tham khảo thêm thông tin chi tiết tại các nguồn như [Quảng Trị Toaán](https://quangtri.toaan.gov.vn/webcenter/portal/quangtri/chitiettin?dDocName=TAND170347) và [Luật sư và vụ án](https://lsvn.vn/tuyen-an-nhu-the-nao-cho-dung1637773055.html).
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015” (điểm a, khoản 1 Điều 13 NQ 01)” HĐXX đã đưa ra kết luận về việc tính lãi phù hợp với quy định trên
Thứ hai, về số tiền vay theo HĐTD
Hợp đồng thế chấp (HĐTC) của ông U dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ vay của bên J với số tiền 1,2 tỷ đồng Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu HĐTC có thể hiện rõ việc ông U đồng ý sử dụng tài sản làm bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là 1,2 tỷ hay không Vì theo trình bày của ông U, ông chỉ đồng ý dùng tài sản để bảo đảm khoản vay 1,1 tỷ của J, và do không cung cấp đủ chứng cứ chứng minh bảo đảm cho khoản vay 1,1 tỷ này, nên Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông U Từ đó, HĐXX kết luận việc ông U chỉ đồng ý bảo đảm cho khoản vay 1,1 tỷ là chưa có căn cứ, và căn cứ vào HĐTD cùng hồ sơ nhận nợ, xác định khoản vay là 1,2 tỷ đồng là hợp lý.
Thứ ba, về xác định thời hiệu khởi kiện 11
Mặc dù Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chung về thời hiệu khởi kiện để giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nhưng thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều vấn đề cần lưu ý Theo khoản, thời hiệu này có thể có những quy định đặc thù hoặc ngoại lệ phù hợp với từng loại tranh chấp hợp đồng cụ thể Do đó, việc xác định thời hiệu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng cần tuân thủ các quy định pháp luật cụ thể và hướng dẫn của các cơ quan tố tụng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên.
Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ khi có quy định khác của luật P1 có quyền khởi kiện để đòi lại tài sản hoặc nợ gốc, và Tòa án tiếp tục thụ lý, giải quyết vụ án bất kể các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không, miễn là yêu cầu này được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc theo khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Trong vụ án này, nếu bị đơn J đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, thì Tòa án phải đình chỉ vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do yêu cầu của bị đơn này.
11 https://vneconomy.vn/tranh-chap-hop-dong-tin-dung-hon-10-nam-co-khoi-kien-duoc- khong.htm#:~:text=Theo%20quy%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20c%E1%BB%A7a%20Ph%C3%A1p,th%E1%BB
Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định rõ rằng thời hiệu yêu cầu khởi kiện đã hết sau 3 năm kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ, và J không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện Do đó, bản án sơ thẩm đã kết luận J phải có nghĩa vụ trả nợ cả gốc lẫn lãi cho P1.
Thứ tư, bên thứ ba bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản 13
Theo khoản 2, Điều 29 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định về quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ, khi các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, thì hợp đồng bảo đảm không chấm dứt, và bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ Theo Điều 301 Bộ luật Dân sự 2015, người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý trong các trường hợp quy định, trừ khi luật có quy định khác Trong vụ việc liên quan đến hợp đồng tín dụng của ông U, Tòa án đã xác định nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nếu bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Khoản nợ của J đối với P1 gồm gốc 1,1 tỷ đồng, lãi trong hạn 153.101.667 đồng và lãi quá hạn hơn 2,02 tỷ đồng Nếu hợp đồng tín dụng chỉ thỏa thuận dùng tài sản bảo đảm cho khoản vay 1,2 tỷ đồng, thì việc xử lý nợ sẽ liên quan đến số tiền này; còn nếu không có thỏa thuận khác, tổng số nợ (gốc + lãi) theo kết luận của Tòa là hơn 3,2 tỷ đồng.
P1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định pháp luật Việc thỏa thuận và phạm vi mà người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản phải được thể hiện rõ trong hợp đồng tín dụng (HĐTC), vì phạm vi bảo đảm khác nhau sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau Điều này làm tăng tính minh bạch và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.
Thứ năm, cho thuê tài sản đang thế chấp
12 https://tapchitoaan.vn/ngan-hang-yeu-cau-tra-no-theo-hop-dong-khi-da-het-thoi-hieu-khoi-kien-thi-toa-an-co-dinh- chi-hay-khong
Ông J đã thế chấp tài sản chính của mình theo hợp đồng thế chấp (2013) và cho thuê tài sản này cho H1 vào năm 2014, tuy nhiên không thông báo cho bên thuê về việc tài sản đang được thế chấp tại P1, gây thiệt hại nếu ông J không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ Theo quy định tại Điều 23 Nghị định 163/2006/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, ông J có trách nhiệm thông báo cho H1 về việc tài sản bị thế chấp để tránh thiệt hại và phải bồi thường nếu gây thiệt hại cho H1 Đồng thời, hợp đồng thuê giữa H1 và J sẽ chấm dứt khi tài sản bị xử lý để thi hành nghĩa vụ trả nợ cho P1, trừ khi có thỏa thuận khác giữa ba bên.
NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ
Những bất cập pháp luật quy định HĐTD
Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định chính thức về khái niệm hợp đồng thương mại (HĐTD), chỉ mới liệt kê các nội dung chủ yếu liên quan đến HĐTD.
3.1.2 Về Quy định lãi suất giữa BLDS 2015 và luật chuyên ngành Điều 468 BLDS 2015 quy định về lãi suất, có nội dung như sau: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất ” Điều 468 BLDS 2015 đã quy định loại trừ việc áp dụng mức trần lãi suất vay 20% trong “trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” Theo quy định tại Điều 12 LNHNN
Trong Điều 91 của Luật Các TCTD 2010 và Khoản 2, 3, quy định rằng trong điều kiện bình thường, lãi suất hoạt động ngân hàng được điều chỉnh theo cơ chế tự thỏa thuận mà không có trần lãi suất cố định Chỉ trong các điều kiện đặc biệt cần sự can thiệp của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước mới đặt ra cơ chế xác định lãi suất, bao gồm các quy định về trần lãi suất cho vay trong quan hệ tín dụng giữa TCTD và khách hàng Tuy nhiên, theo BLDS 2015, mức trần lãi suất vay 20%/năm đã bị loại bỏ, cho phép các bên trong quan hệ tín dụng, bao gồm TCTD và khách hàng, tự do thỏa thuận về lãi suất, phù hợp với quy định mới về tín dụng ngân hàng.
Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định rằng "TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật," cho thấy việc xác định lãi suất trong hoạt động cấp tín dụng dựa trên nguyên tắc thỏa thuận Tuy nhiên, cụm từ "theo quy định của pháp luật" đi kèm làm rõ ràng vẫn còn mập mờ, gây khó khăn cho các TCTD, khách hàng và cơ quan chức năng trong việc áp dụng đúng quy định về trần lãi suất vay Do đó, cần có các quy định cụ thể và rõ ràng hơn về việc áp dụng lãi suất để đảm bảo minh bạch và tuân thủ pháp luật chính xác trong hoạt động ngân hàng.
3.1.3 Xác định HĐ vô hiệu trong trường hợp đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch
Khoản 1, Điều 129 BLDS 2015 quy định rằng giao dịch dân sự vi phạm quy định về hình thức sẽ bị vô hiệu trừ khi đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản chưa đúng quy định của luật và một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch Trong trường hợp này, Tòa án có thể ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch theo yêu cầu của các bên.
Theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015, việc Hợp đồng có bị tuyên vô hiệu hay không phụ thuộc vào việc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch hay chưa Do đó, cần xác định rõ nghĩa vụ của các bên trong giao dịch là gì và định lượng ra sao để xác Định hai phần ba nghĩa vụ đã thực hiện Việc này không phải là dễ dàng, đặc biệt trong các trường hợp nghĩa vụ tổng hợp bao gồm nhiều hành vi của mỗi bên hoặc mang tính chất định tính, làm cho việc xác định hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch trở nên phức tạp và khó khăn.
Trong một giao dịch mua bán nhà, việc xác định đã thực hiện được bao nhiêu phần nghĩa vụ phụ thuộc vào việc bên bán đã giao nhà và giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu như thế nào Nếu bên bán đã giao nhà nhưng chưa giao giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, hoặc đã giao giấy tờ nhưng chưa bàn giao nhà, thì mức độ hoàn thành nghĩa vụ sẽ khác nhau Ngoài ra, vấn đề về áp dụng tỷ lệ hai phần ba cho từng phần nghĩa vụ hay toàn bộ nghĩa vụ của một bên còn chưa rõ ràng theo quy định tại Điều 129, đòi hỏi phải có hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch.
3.1.4 Về việc xử lý tài sản thế chấp
Hợp đồng thế chấp thường bao gồm nhiều điều khoản phức tạp, do các tổ chức tín dụng (TCTD) đưa ra nhằm bảo vệ quyền lợi của mình, trong khi bên bảo đảm thường ít cơ hội thương lượng Hiện tại, Bộ luật Dân sự chưa quy định rõ về việc bảo vệ bên bảo đảm, đặc biệt khi họ đưa tài sản của mình làm bảo đảm cho khoản vay của người khác Nhiều bên bảo đảm tham gia vào quan hệ tín dụng mà không có đủ kiến thức hoặc hiểu biết, thường do tin tưởng hoặc cho mượn tài sản của bạn bè, người thân khi tài sản còn dư thừa Chỉ tới khi tài sản bảo đảm bị xử lý vì bên vay không trả nợ, các bên bảo đảm mới nhận thức được hậu quả pháp lý nghiêm trọng của việc ký kết hợp đồng thế chấp.
Giải pháp pháp luật quy định HĐTD
Cần có một khái niệm chính thức về HĐTD ngân hàng để có cách hiểu thống nhất khi áp dụng
3.2.2 Về quy định lãi suất giữa BLDS 2015 và luật chuyên ngành
Có quy định cụ thể và rõ ràng hơn về việc áp dụng lãi suất, yêu cầu các văn bản pháp lý phải giải thích rõ việc các tổ chức tín dụng được phép áp dụng mức trần lãi suất cao hơn 20% Cụ thể, thứ nhất là Quốc hội sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng 2010 hoặc Bộ luật Dân sự 2015 để cho phép vượt trần lãi suất chung, hoặc thứ hai là Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích luật theo thẩm quyền.
3.2.3 Về việc xử lý tài sản thế chấp
Hướng dẫn cụ thể các quyền tài sản thông thường được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm cả hướng dẫn về tài sản hình thành trong tương lai, như tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu sau thời điểm giao dịch Đồng thời, nội dung còn hướng dẫn các cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm và tổ chức công chứng về quy trình áp dụng khi nghĩa vụ tương lai được hình thành theo quy định tại Khoản 2 Điều 294 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó các bên không cần ký kết lại các thoả thuận liên quan.
Hợp đồng bảo đảm cần được công chứng hoặc chứng thực, đồng thời đăng ký biện pháp bảo đảm để đảm bảo quyền lợi của bên bảo đảm Luật dân sự nên quy định rõ hơn về quyền của bên bảo đảm, như việc yêu cầu bên vay thực hiện hoàn trả trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm đã xử lý, hoặc hoàn trả số tiền đã trả cho ngân hàng khi bên đảm bảo nộp tiền rút lại tài sản bảo đảm Việc này giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cá nhân bên bảo đảm trong các giao dịch bảo đảm tài chính.
3.2.4 Xác định HĐ vô hiệu trong trường hợp đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch
Các hướng dẫn xác định hai phần ba nghĩa vụ của từng chủ thể có thể áp dụng cho toàn bộ nghĩa vụ hoặc từng nghĩa vụ riêng lẻ phù hợp với ý chí các bên tại thời điểm giao kết, nhằm đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch Tùy từng trường hợp cụ thể, nếu việc áp dụng hai phần ba của mỗi loại nghĩa vụ giúp giao dịch có hiệu lực thì sẽ được áp dụng, còn nếu việc áp dụng toàn bộ nghĩa vụ mới đảm bảo hiệu lực thì hai phần ba sẽ được áp dụng đối với toàn bộ nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch.
Hợp đồng vi phạm hình thức bắt buộc là điều kiện có hiệu lực liên quan đến nhà đất, trong đó việc xác định rõ nghĩa vụ của các bên gặp nhiều khó khăn Do đó, việc xây dựng án lệ trở thành giải pháp hiệu quả để tạo ra tiến trình điều chỉnh thống nhất và đảm bảo tính công bằng trong các tranh chấp liên quan.