MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án hành chính 1 1 Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính 1 2 Quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật 2 3 Đ.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án hành chính 1
1 Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính 1
2 Quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật 2
3 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính 3
II Đánh giá quy định của pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền khởi kiện 6
1 Về chủ thể có quyền khởi kiện 6
2 Về đối tượng khởi kiện 7
3 Về thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện 8
KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2MỞ ĐẦU
Sự ra đời Luật Tố tụng hành chính đầu tiện vào năm 2010 và đến nay là Luật
Tố tụng hành chính 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp hành chính Bên cạnh đó, Tòa hành chính thuộc hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) được thành lập và thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án hành chính, hoạt động xét xử các vụ án hành chính của TAND đã góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động hành chính của chính quyền địa phương và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc Một trong những nguyen nhân dẫn đến tình trạng này là do tính thiếu minh bạch, cụ thể trong các quy định của pháp luật , trong đó có quy định về quyền khởi kiện vụ án hành chính, nhiều tranh chấp phát sinh ảnh hưởng trực tiếp tới quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân không được giải quyết Trên cơ sở kiến thức đã học
em xin triển khai đề bài: “ Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quyền khởi kiện vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay”
Do hạn chế về mặt nhận thức nên bài làm của em vẫn còn những thiếu sót nhất định, kính mong thầy/ cô có thể góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn !
NỘI DUNG
I Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án hành chính.
1 Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính.
Khởi kiện là hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hành vi khởi kiện được hiện thực hóa bằng quyền khởi kiện Theo đó, quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền tự định đoạt của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính chính thức yêu cầu Tòa án thu lý vụ án, xem xét lại tính hợp pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại bởi của các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật, buộc thôi việc công chức
Ngoài ra, khởi kiện vụ án hành chính còn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nội dung cơ bản của khởi kiện vụ án hành chính là yêu cầu Tòa án
thụ lý, giải quyết vụ án Chủ thể khởi kiện vụ án hành chính khi họ nhận thấn thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại trực tiếp vì vậy chỉ khi có yêu cầu
Trang 3khởi kiện thì Tòa án mới có cơ xở để xem xét tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện Mặt khác Tòa án cũng chỉ xem xét và giải quyết vụ án hành chính trong phạm vi có liên quan tới nội dung yêu cầu khởi kiện
Thứ hai, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ có được thực hiện khi có đủ các
điều kiện do pháp luật quy định: Việc khời kiện vụ án hành chính không tuân theo quy định của pháp luật không chỉ là hành vi trái pháp luật mà còn ảnh hưởng tới tính thống nhất của cơ chế giải quyêt vụ án hành chính Chính vì vậy Tòa án có trách nhiệm từ chối vụ án hành chính được khởi kiện không đúng điều kiện do pháp luật quy định
Thứ ba, việc khởi kiện vụ án hành chính phải được thực hiện theo nội dung,
hình thức do pháp luật quy đinh: Để đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính hiệu quả thống nhất cũng như tạo điều kiện để các chủ thể khởi kiện biểu đạt một cách đày
đủ, chính xác ý chí của mình, nội dung và hình thức khởi kiện phải tuân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính
2 Quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật
Điều 115 Luật Tố tụng hành chính quy định về quyền khởi kiện vụ án hành chính như sau:
1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại
về quyết định, hành vi đó.
2 Tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
3 Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.
Việc khởi kiện vụ án hành chính hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể khởi kiện, không ai có quyền bắt buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực
Trang 4hiện quyền khởi kiện của họ Qua đó có thể thấy quyền khởi kiện vụ án hành chính có các đặc điểm cơ bản sau:
- Quyền khởi kiện chỉ phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích của họ bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật;
- Quyền khởi kiện có thể phái sinh từ quyền khiếu nại
- Cơ sở để xác định quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức là nhằm để đảm bảo quyền và lợi ích của người khởi kiện không bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính;
- Quyền khởi kiện chỉ thực hiện được khi đảm bảo các điều kiện khởi kiện
3 Điều kiện thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính
Quyền khởi kiện là quyền mà pháp luật tố tụng hành chính quy định cho cá nhân,
cơ quan, tổ chức được hưởng Tuy nhiên khi thực hiện quyền này, cá nhân, cơ quan,
tổ chức phải tuân thủ các điều kiện khởi kiện do pháp luật tố tụng hành chính quy định , cụ thể:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính:
Chủ thể thực hiện phải có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng hành chính và năng lực hành vi tố tụng hành chính, cụ thể Năng lực pháp luật tố tụng hành chính: là khả năng cá nhân hưởng quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính do pháp luật tố tụng hành chính quy định Năng lực hành vi tố tụng hành chính: là khả năng bằng chính hành vi của mình, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính trên thực tế được pháp luật tố tụng hành chính thừa nhận
Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện có thể là chính người khởi kiện, có thể là người đại diện hợp pháp cho người khởi kiện Cụ thể Theo quy định tại Điều 54 Luật
tố tụng hành chính 2015:
+ Người khởi kiện người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác thì tự mình quyết định việc khởi kiện
+Người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
Trang 5hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật
+Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật
Bên cạnh đó, người khởi kiện phải là người bị xâm phạm trực tiếp về quyền và lợi ích bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính Khi cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính toà án có thẩm quyền phải xác định xem quyết định hành chính, hành vi hành chính có thực sự ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của
họ không để quyết định có thụ lí vụ án hay không thụ lí vụ án hành chính
Thứ hai, đối tượng khởi kiện: Không phải trong mọi trường hợp, nhười khởi
kiện đù có thể thực hiện quyền khởi kiện mà pháp luật chỉ giới hạn các đối tượng được khởi kiện bao gồm
+ Quyết định hành chính (QĐHC): QĐHC phải là quyết định cá biệt, đồng thời phải
là quyết định hành chính lần đầu QĐHC cá biệt được ban hành dưới hình thức là tên gọi là quyết định như quyết định xử phạt, quyết định tháo dỡ công trình xây dựng trái phép,, QĐHC còn được ban hành dưới dạng công văn, thông báo, kết luận
+ Hành vi hành chính (HVHC): HVHC là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước
hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật
+ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức: Quyết định kỷ luật buộc thôi
việc cán bộ, công chức ảnh hưởng tiếp đến quyền lợi của họ, việc khởi kiện trong trường hợp này là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên theo quy định của khoản 2 Điều 30 Luật tố tụng hành chính chỉ có thể khởi kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công cức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng hoặc tương trở xuống
+ Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý cạnh tranh: Quyết định xử lý
vụ việc việc cạnh tranh có bản chất không phải là quyết định hành chính, pháp luât cạnh tranh đã tạo ra một cơ chế quản lý các hành vi cạnh tranh nhằm xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh bằng con đường khiếu nại Theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004, quyết định đó bao gồm Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định của vụ việc xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành
Trang 6vi hạn chế cạnh tranh; Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết định của Thủ tướng về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
+ Danh sách cử tri: Đây là quyền của cá nhân khi thấy tên mình không có trong danh
sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND Tại Điều 33 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, quy định “Khiếu nại về danh
sách cử tri” như sau: “Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu phát hiện có sai sót thì trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính
Thứ ba, phương thức khởi kiện: Căn cứ vào quy định tại Điều 115 Luật Tố
tụng hành chính, việc khởi kiện được tiến hành theo các phương thức quy định tương ứng với mỗi đối tượng khởi kiện:
+ Đối với QĐHC, HVHC và quyết định kỷ luật buộc thôi việc: Người khởi kiện có thể khởi kiện mà không khiếu nại hoặc khởi kiện khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại hay sau khi nhận quyết định giải quyết khiếu nại
+ Đối với quyết định giải quyết khiếu nại về xử lý vụ việc cạnh tranh: Người khởi kiện chỉ được khởi kiện mà không được khiếu nại
+ Đối với danh sách cử tri: Người khởi kiện chỉ được khởi kiện sau khi khiếu nại
Thứ tư, Việc khởi kiện vụ án hành chính phải được tiến hành trong thời hiệu do
pháp luật quy định Thời hiệu khởi kiện được quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh;
Trang 7c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử
05 ngày.
Thứ năm,việc khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền về loại việc của
toà án theo quy định tại Điều 30,31 của Luật Tố tụng hành chính 2015
Thứ sáu, Người khởi kiện không đồng thời khiếu nại: Để tòa án có thể thụ lý
vụ án thì đây là điều kiện bắt buộc phải tuân thủ Trường hợp người khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền lại đồng thời gửi đơn khiếu nại tới người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì người khởi kiện phải chọn một trong hai cơ quan giải quyết
Khi đã đảm bảo các điều kiện trên thì quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức được thực hiện trên thực tế
II Đánh giá quy định của pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền khởi kiện.
1 Về chủ thể có quyền khởi kiện
Quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 : “Người khởi kiện là
cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).”dễ gây hiểu nhầm giữ người khởi kiện và người đại diện của người có quyền khởi kiện
Người khởi kiện phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nên đã
khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp Nếu theo quy định khoản 8 Điều 3 ở trên thì trong trường hợp việc khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền hoặc theo pháp luật thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức , tòa án sẽ xác định người khởi kiện là người làm đơn chứ không phải là người đại diện theo pháp luật
Người có quyền khởi kiện là người bị tác động, xâm phạm bởi QĐHC, HVHC của
các chủ thể quản lý nhà nước Người có quyền khởi kiện chỉ trở thành người khởi kiện khi họ tiến hành làm đơn khởi kiện vụ án trên thực tế
Trang 8Chính vì vậy, khoản 8 Điều 3 nên được quy định theo hướng cụ thể hơn để tránh
sự nhầm lẫn giữa hai chủ thể trên như sau : “Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ
chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án hành chính chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách
cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).” Quy định
như vậy sẽ đầy đủ, dễ phân biệt và thống nhất hơn với Điều 54 của Luật
2 Về đối tượng khởi kiện
Đối tượng khởi kiện vụ án án hành chính hiện nay đang được quy định theo hướng liệt kê và lọai trừ Tuy nhiên, về việc liệt kê các đối tượng được phép khởi kiện tại Điều 30 Luật tố tụng vẫn chưa thực sự đầy đủ Theo đó, pháp luật chỉ quy định việc khiếu kiện quyết định kỷ luật, buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng hoặc tương đương trở xuống mà không quy định việc khởi kiện quyết định kỷ luật, buộc thôi đối với viên chức Theo quy định của Luật Viên chức năm 2010, viên chức chỉ có thể thực hiện việc khiếu nại đối với các quyết định của người đứng đầu cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập hoặc cấp có thẩm quyền liên quan tới quản lý viên chức (Điều 49) Mặt khác theo Điều 52 Luật Viên chức, viên chức có thể bị kỷ luật dưới hình thức buộc thôi việc do vi phạm quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công vụ, nhiệm vụ
Trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì họ không có
cơ sở để tiến hành khởi kiện vì pháp luật không quy định rằng họ có quyền Vì vậy sẽ làm mất đi quyền lợi của các viên chức làm việc trong cơ quan nhà nước
Ngoài ra, quy định về các trường hợp không được phép khởi kiện cũng chưa thực sự thuyết phục, thiếu cụ thể Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định về các trường hợp QĐHC, HVHC không được khởi kiện gồm:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử
lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
Trên thực tế, các Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí
mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao vốn đã có tính bí
Trang 9mật , việc quy định gần như không có ý nghĩa áp dụng Bên cạnh đó, khoản 6 Điều 3 giải thích về các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ như
sau: “Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức là những quyết định, hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm
vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan,
tổ chức” Tuy nhiên, có nhiều cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đã lợi dụng quy định này để biến các quyết định hành chính gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích trực tiếp của công dân thành quyết định hành chính mang tính mang tính nội bộ để trốn tránh trách nhiệm
Qua phân tích ở trên, pháp luật cần mở rộng đối tượng được quyền khởi kiện là quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với viên chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đồng thời việc loại trừ các QĐHC, HVHC cần phải được minh bạch, cụ thể và thực tế hơn
3 Về thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện
Quy định thời hiệu khởi kiện còn ngắn, đôi khi chưa bảo đảm để người khởi kiện lựa chọn thực hiện quyền khởi kiện của mình Mặt khác, trong nhiều trường hợp việc nhận định như thế nào là “biết được” quyết định hành chính là rất khó khăn Bởi lẽ, chỉ cần nghe người khác thông tin có một quyết định hành chính như thế này, như thế kia cũng là “biết được” về quyết định hành chính đó rồi Nhưng để quyết định khởi kiện hay không khởi kiện thì người khởi kiện phải biết rõ về quyết định đó như thế nào, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình đến đâu Thực tế, để xác định được quyết định hành chính có xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay không cần phải xem xét đến hình thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của quyết định hành chính, từ đó mới có thể quyết định khởi kiện hay không khởi kiện
Theo quy định tại Điều 118 Luật Tố tụng hành chính, trong đơn khởi kiện, người khởi kiện phải trình bày rõ các thông tin liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện và phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính kèm theo đơn khởi kiện Nếu trong đơn khởi kiện chỉ nêu chung chung thì Tòa án cũng không chấp nhận đơn khởi kiện
đó Vì vậy, để khởi kiện quyết định hành chính thì người khởi kiện phải có được quyết định hành chính trong tay Điều này cho thấy, quy định tại Điều 116 về việc người
Trang 10khởi kiện “biết được” quyết định hành chính là chưa phù hợp với thực tiễn Hơn nữa, với trình độ hiểu biết pháp luật của đại đa số người dân còn thấp như hiện nay thì không phải ai cũng có thể biết được quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 116 Luật
tố tụng hành chính để thực hiện quyền khởi kiện của mình; còn thuê luật sư thì không phải người dân nào cũng có điều kiện kinh tế để thực hiện
Trên cơ sở đó, cần đưa ra thời hiệu hợp lý theo hướng dài hơn Đồng thời thời hạn này cần được xác định từ thời điểm nhận được hoặc “biết rõ” quyết định Khi tránh được việc thay đổi nhiều lần thời hiệu sẽ khắc phục tình trạng không kịp thời nắm bắt được quy định của pháp luật mới ban hành mà người dân đánh mất quyền khởi kiện của mình
KẾT LUẬN Pháp luật chỉ có thể đi vào thực tế khi đảm bảo được tính hợp lý và khách quan, phù hợp với xã hội Các quy định của pháp luật thiếu thực tê, không bảo vệ được lợi ích của công dân thì không có tính khả thi khi áp dụng Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong mối quan hệ mang tính chất mệnh lệnh- phục tùng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Tuy nhiên để đảm bảo phát huy hơn nữa hiệu quả thi hành và áp dụng pháp luật thì cần có những điều chỉnh phù hợp để hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật, bảo về tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước