Giới thiệu chung: Khái quát vấn đề nghị luận thông qua ý nghĩa câu chuyện Câu chuyện về chú đại bàng mang lại bài học sâu sắc về sự tự nhận thức bản thân và niềm tin vào chính mình.. Đại
Trang 1PHÒNG GD&ĐT THANH OAI KỲ THI OLYMPIC LỚP 6, 7, 8
Năm học 2022 – 2023 Môn: Ngữ văn – Lớp 8
ĐỀ CHÍNH THỨC Ngày thi: 12 tháng 4 năm 2023
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề thi có 01 trang)
Câu 1: (8,0 điểm)
Suy nghĩ của em về bài học được rút ra từ câu chuyện sau:
Ngày xưa, bên sườn của một núi lớn có một tổ chim đại bàng Một trận động đất xảy ra làm rung chuyển ngọn núi, một quả trứng đại bàng lăn xuống và rơi vào trại gà dưới chân núi Một con gà mái tình nguyện ấp của trứng lớn ấy Đến ngày kia, trứng nở ra một chú đại bàng con xinh đẹp, nhưng buồn thay chú chim nhỏ được nuôi lớn như một con gà Chẳng bao lâu sau, đại bàng cũng tin nó chỉ là một con gà không hơn không kém Đại bàng yêu gia đình và ngôi nhà đang sống, nhưng tâm hồn
nó vẫn khao khát một điều gì đó cao xa hơn Một ngày, trong khi đang chơi đùa trong sân, đại bàng nhìn lên trời và thấy những chú chim đại bàng đang sải cánh bay cao giữa bầu trời “Ồ - đại bàng kêu lên - Ước gì tôi có thể bay như những con chim đó” Bầy gà cười ầm lên: “Anh không thể bay với những con chim đó được Anh là một con gà và gà không biết bay cao” Đại bàng tiếp tục ngước nhìn gia đình thực sự của nó, mơ ước có thể bay cao cùng họ Mỗi lần đại bàng nói ra mơ ước của mình, bầy gà lại bảo nó điều không thể xảy ra Đó là điều đại bàng cuối cùng đã tin là thật Rồi đại bàng không mơ ước nữa và tiếp tục sống như một con gà Cuối cùng, sau một thời gian dài sống làm gà, đại bàng chết.
(Theo nguồn Internet)
Câu 2: (12,0 điểm)
“Mỗi tác phẩm văn học là một bức thông điệp của người nghệ sĩ gửi đến cho bạn đọc” Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết của em về một bài thơ đã
học trong chương trình Ngữ văn 8, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Hết
Trang 2-HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN – LỚP 8
Câu 1
(8,0đ)
1.Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội Đưa ra được chủ
kiến khi giải quyết vấn đề
- Bố cục bài viết mạch lạc, lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục;
không mắc các lỗi chính tả, diễn đạt,…
(2,0 điểm)
2 Nội dung:
2.1 Giới thiệu chung: Khái quát vấn đề nghị luận thông qua ý
nghĩa câu chuyện
Câu chuyện về chú đại bàng mang lại bài học sâu sắc về sự tự
nhận thức bản thân và niềm tin vào chính mình
2.2 Trình bày suy nghĩ, ý kiến
a Giải thích, nêu ý nghĩa câu chuyện:
- Đại bàng là loại vật biểu trưng cho sức mạnh Chúng thuộc về
trời xanh, thuộc về những điều kỳ vĩ
-Nhưng chú đại bàng này lại rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, đó là khi
chú phải sống lạc vào bầy gà và nhầm tưởng mình cũng là loài vật
nhỏ bé Đại bàng không nhận thức được bản thân mình là ai và
mình có khả năng gì
- Đáng chú ý ở chỗ đại bàng có ước mơ, đại bàng được khao khát
bay lên trời xanh “Ồ- đại bàng kêu lên- Ước gì tôi có thể bay như
những con chim đó” nhưng ước mơ đó nhanh chóng bị đè bẹp,
đập vỡ bởi những người xung quanh
- Bởi không nhận thức được bản thân, không tin tưởng vào khả
năng và dám thực hiện ước mơ của mình nên con chim cao quý ấy
đã phải lãnh nhận một kết cục đau buồn: đại bàng đã sống và chết
như loài gà nhỏ bé
- Chú đại bàng là một ẩn dụ cho một kiểu người trong xã
hội-những con người có ước mơ, có hoài bão xong lại không dám tin
vào chính mình, dễ dàng bị những lời đánh giá của những người
bên cạnh mình làm lung lạc
- Câu chuyện về chú đại bàng mang lại bài học sâu sắc về sự tự
nhận thức bản thân và niềm tin vào chính mình Mỗi con người
đều có khả năng tiềm ẩn và để biến ước mơ thành hiện thực, con
người cần có ý chí vững chắc, niềm tin mạnh mẽ vào khả năng của
mình Có như vậy, con người mới phát huy năng lực thực sự của
bản thân, trở thành những con đại bàng sải cánh trên trời xanh
b Bàn luận
- Tin vào chính mình là tin vào khả năng, tin vào lập trường của
mình Niềm tin này xuất phát từ nhận thức về bản thân (mình là
ai, đến từ đâu, có vị trí như thế nào trong xã hội, mình có thể làm
(6,0 điểm)
Trang 3gì) Nhưng như thế chưa đủ, cần phải trang bị cho mình lòng
dũng cảm, vững vàng vượt qua mọi lời nói xung quanh để thực
hiện ước mơ của chính mình Làm được như vậy, con người sẽ
bước gần hơn đến ước mơ, hoài bão
- Tại sao con người cần phải nhận thức bản thân và tin tưởng vào
chính mình?
- Phê phán: Trong cuộc sống chúng ta bắt gặp người như chú đại
bàng trong câu chuyện, vì không nhận thức bản thân, không dũng
cảm tin vào khả năng của mình mà sống cuộc sống tầm thường,
vô nghĩa Bị những đinh kiến kéo lại, không dám bước trên con
đường ước mơ Dám ước mơ và dũng cảm bước trên con đường
chinh phục ước mơ, con người mới có thể làm được những điều
vĩ đại
c Bài học nhận thức và hành động
- Nhắc nhở vai trò niềm tin trong cuộc sống
- Tin vào chính mình, điều đó không có nghĩa con người trở nên
tự cao, bảo thủ, mù quáng Niềm tin cần gắn liền với nhận thức
đúng đắn, ước mơ cao đẹp
- Liên hệ bản thân: Câu chuyện có tác động như thế nào đối với
cuộc sống hiện tại, tự xem bản thân mình đã nhận thức được bản
thân và tin vào chính mình chưa…
Khẳng đinh lại: Tự tin vào những đều mình mơ ước hay chịu
sống một cuộc đời bình lặng đều phụ thuộc vào mỗi người, do
mỗi người Sống hết hình với những điều ao ước là con người
sống một đời ý nghĩa, cao đẹp
Câu 2
(12,0đ)
1 Về kĩ năng:
Trình bày ý rõ ràng, biết cách làm bài văn nghị luận theo định
hướng, văn viết mạch lạc, có cảm xúc; bố cục chặt chẽ; lập luận
thuyết phục
3,0 điểm
2 Về hình thức:
- Đảm bảo thể thức của một bài văn nghị luận có bố cục ba phần:
Mở bài, Thân bài, Kết bài
- Đảm bảo kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ
năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương để làm bài
- Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải những cách khác nhau,
nhưng phải làm sáng tỏ những nội dung cơ bản sau:
2,0 điểm
2 Nội dung:
- Hiểu yêu cầu đề bài, nắm vững tác phẩm
- Chấp nhận trình tự, cách thức khai triển khác nhau, miễn là học
sinh có ý thức bám sát và làm sáng rõ định hướng sau:
2.1 Giải thích nhận định:
- Khái niệm tác phẩm văn học: Là con đẻ tinh thần của nhà văn,
nhà thơ, nói cách khác nghệ sĩ là ng
ười sáng tạo ra tác phẩm văn học
(7,0
điểm)
Trang 4- Nhà văn, nhà thơ lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống, bằng tài
năng sáng tác văn chương là phản ánh cuộc sống đó trong tác
phẩm của mình
- Bức thông điệp người nghệ sĩ gửi đến cho bạn đọc: là sự phản
ánh không phải sao chép nguyên vẹn lại hiện thực, đó là quá trình
phản ánh có chọn lọc, có cảm xúc, suy ngẫm của người nghệ sĩ
Thông qua bức tranh về hiện thực cuộc sống được phản ánh trong
tác phẩm, nghệ sĩ thể hiện một cách nhìn, một cách nghĩ, một lời
nhắn nhủ đến cho bạn đọc
Vì vậy ý kiến cho rằng mỗi tác phẩm văn học là bức thông
điệp ý nghĩa mà người nghệ sĩ gửi cho bạn đọc là hoàn toàn đúng
đắn, thể hiện sự am hiểu sâu sắc về mối quan hệ giữa tác phẩm với
bạn đọc
2.2 Phân tích, chứng minh bức thông điệp mà nhà thơ gửi
gắm trong một bài thơ lựa chọn (đã học trong chương trình Ngữ
văn 8)
- Giới thiệu khái quát bài thơ
- Khái quát tư tưởng, tình cảm (bức thông điệp) mà nhà thơ muốn
gửi gắm trong thi phẩm Chọn phân tích chi tiết, hình ảnh, hình
tượng đặc sắc… kết hợp lý lẽ, lập luận để thuyết phục người đọc
2.3 Đánh giá khái quát:
- Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ
- Bức thông điệp mà nhà thơ gửi đến người đọc đã được đón nhận
và làm lay động bao trái tim của người đọc như thế nào?
- Khẳng định giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết phải đọc tác phẩm văn
học vì “Mỗi tác phẩm văn học là một bức thông điệp của người
nghệ sĩ gửi đến cho bạn đọc”
)
Trang 5PHÒNG GD&ĐT THANH OAI KỲ THI OLYMPIC LỚP 6, 7, 8
Năm học 2022 – 2023 Môn: Ngữ văn – Lớp 7
ĐỀ CHÍNH THỨC Ngày thi: 12 tháng 4 năm 2023
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề thi có 02 trang)
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu ở bên dưới:
Yêu Tổ quôc từ những giọt mồ hôi tảo tần Mồ hôi rơi trên cánh đồng cho lúa thêm hạt Mồ hôi rơi trên những công trường cho những ngôi nhà thành hình, thành khối Mồ hôi rơi trên những con đường nơi rẻo cao Tổ quốc của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ Mồ hôi rơi trên những thao trường đầy nắng gió của những người lính để giữ mãi yên bình và màu xanh cho Tổ quốc….
( Nguồn http://vietbao.vn ngày 9-5-2014)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn.
Câu 2 Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng
trong đoạn văn trên
Câu 3 Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến chúng ta là gì?
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (16,0 điểm)
Câu 1 (4,0 điểm): Dựa vào đoạn văn trên em hãy viết một đoạn văn ngắn
(khoảng 20 dòng) bày tỏ suy nghĩ của em về lòng biết ơn
Câu 2 (12,0 điểm)
Bàn về nhân vật trong tác phẩm văn học có ý kiến cho rằng: “Nhà văn sáng tạo nhân vật để gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời” Em
hãy phân tích nhân vật “cậu bé Mạnh” trong câu chuyện “Củ khoai nướng” để làm
sáng tỏ nhận định trên
CỦ KHOAI NƯỚNG
Sau trận mưa rào vòm trời như được rửa sạch, trở nên xanh và cao hơn Đã chớm hè nhưng trời vẫn lành lạnh, cái lạnh làm người ta hưng phấn và chóng đói Thường Mạnh đi học về là đi thả trâu Tối mịt cậu rong trâu về, đầu tưởng tượng đến một nồi cơm bốc khói nghi ngút.
Nhưng từ giờ đến tối còn lâu và cậu cần phải tìm được một việc gì đó trong khi con trâu đang mải miết gặm cỏ Cậu bèn ngồi đếm từng con sáo mỏ vàng đang nhảy kiếm ăn trên cánh đồng màu đã thu hoạch Thỉnh thoảng chúng lại nghiêng ngó nhìn cậu, ý chừng muốn dò la xem “anh bạn khổng lồ” kia có thể chơi được không Chợt Mạnh phát hiện ra một đám mầm khoai đỏ au, mập mạp, tua tủa hướng lên trời Kinh nghiệm đủ cho cậu biết bên dưới những chiếc mầm là củ khoai lang sót Với bất
cứ đứa trẻ trâu nào thì điều đó cũng tương đương với một kho báu Nó bị sót lại từ trước Tết và bây giờ nó sẽ rất ngọt Để xem, anh bạn to cỡ nào? Không ít trường hợp bên dưới chỉ là một mẩu khoai Nước miếng đã kịp tứa khắp chân răng khi cậu tưởng tượng đến món khoai nướng Ruột nó trong như thạch Những giọt mật trào ra, gặp lửa tạo một thứ hương thơm chết người, nhất là khi trời lại lành lạnh thế này Thật may là mình đem theo lửa - cậu lẩm bẩm Sợ niềm hy vọng đi veo mất nên cậu rón
Trang 6rén bới lớp đất mềm lên Khi cậu hoàn toàn tin nó là một củ khoai thì cậu thọc sâu tay vào đất, sâu nữa cho đến khi những ngón tay cậu ôm gọn củ khoai khá bự, cậu mới từ từ lôi nó lên Chà, thật tuyệt vời Nó không chỉ đơn thuần là củ khoai sót Nó y như quà tặng, một thứ kho báu trời đất ban riêng cho cậu.
Mạnh đã có việc để làm, mà lại là một việc làm người ta háo hức Trong chốc lát đống cành khô bén lửa và đợi đến khi nó chỉ còn lớp than hồng rực Mạnh mới vùi
củ khoai vào Cậu ngồi im lắng nghe một sự dịch chuyển vô cùng tinh tế dưới lớp than, cùi trắng muốt đang bị sức nóng ủ cho thành mật Từng khoảnh khắc với Mạnh lúc này trở nên vô cùng huyền diệu Rồi có một mùi thơm cứ đậm dần, cứ quánh lại, lan tỏa, xoắn xuýt Cậu nhớ lại có lần bà kể, nhờ đúng một củ khoai nướng mà ông cậu thoát chết đói và sau đó làm nên sự nghiệp Chuyện như cổ tích nhưng lại có thật Nào, để xem sau đây cậu sẽ làm nên công trạng gì.
Chợt cậu thấy có hai người, một lớn, một bé đang đi tới Ông già ôm theo bọc tay nải còn cậu bé thì cứ ngoái cổ lại phía làng Cậu nhận ra hai ông cháu lão ăn mày ở xóm bên Hôm nay, chẳng có phiên chợ sao ông cháu lão cũng ra khỏi nhà nhỉ Vài lần giáp mặt cậu bé và thấy mặt mũi nó khá sáng sủa Bố mẹ nó chết trong một trận lũ quét nên nó chỉ trông cậy vào người ông mù lòa Mạnh lén trút ra tiếng thở dài khi ông cháu lão ăn mày đã đến rất gần Có thể thấy rõ cánh mũi lão phập phồng như hà hít tìm thứ mùi vị gì đó Cậu bé vẫn câm lặng, thỉnh thoảng lén nhìn Mạnh.
- Mùi gì mà thơm thế - ông cậu bé lên tiếng - Hẳn ai đang nướng khoai Ngồi nghỉ một lát để ông xin lửa hút điếu thuốc đã cháu.
Ông lão lần túi lấy gói thuốc lào Thằng bé giúp ông tháo khỏi lưng chiếc điếu nhỏ xíu Mùi khoai nướng vẫn ngào ngạt và Mạnh đành ngồi chết gí, không dám động cựa Chỉ khi ông lão nhờ, cậu mới cúi xuống thổi lửa Chà, ông cháu lão mà ngồi dai là củ khoai cháy mất Đã có mùi vỏ cháy Lửa sẽ lấn dần vào cho đến khi biến củ khoai thành đen thui mới thôi Dường như đoán được nỗi khó xử của Mạnh, ông lão bảo:
- Tôi chỉ xin lửa thôi
Mạnh như bị bắt quả tang đang làm chuyện vụng trộm, mặt đỏ lên Nhưng ông lão mắt lòa không thể nhìn thấy còn cậu bé ý tứ nhìn đi chỗ khác.
- Thôi, chào cậu nhé Ta đi tiếp đi cháu!
Ông lật đật đứng dậy, bám vào vai cậu bé, vội vã bước Cậu bé lặng lẽ nhìn Mạnh như muốn xin lỗi vì đã làm khó cho cậu Cái nhìn đĩnh đạc của một người tự trọng, không muốn bị thương hại khiến Mạnh vội cúi gằm xuống Ôi, giá như có ba củ khoai, chí ít cũng là hai củ Đằng này chỉ có một Mạnh thấy rõ tiếng chân hai ông cháu xa dần Nhưng chính khi ấy, khi củ khoai nóng hổi, lớp vỏ răn lại như từng gợn sóng nằm phơi ra trước mắt Mạnh, thì nỗi chờ đón háo hức lúc trước cũng tiêu tan mất Giờ đây củ khoai như là nhân chứng cho một việc làm đáng hổ thẹn nào đó Dù Mạnh có dối lòng rằng mình chẳng có lỗi gì sất nhưng cậu vẫn không dám chạm vào
củ khoai Hình như đã có người phải quay mặt đi vì không dám ước có được nó Có thể ông nội cậu đã từng nhìn củ khoai nướng cho ông làm nên sự nghiệp bằng cái cách đau đớn như vậy.
Mặc dù rong trâu về từ chiều nhưng mãi tối mịt Mạnh mới vào nhà Giờ đây mới là lúc cậu sống trọn vẹn với cảm giác ngây ngất của người vừa được ban tặng
Trang 7một món quà vô giá Cậu nhắm mắt lại mường tượng giây phút cậu bé kia mở gói giấy báo ra Nửa củ khoai khi đó sẽ khiến cậu ta liên tưởng đến phép lạ, có thể lắm chứ! Và rồi cậu thấy lâng lâng đến mức chính mình tự hỏi liệu đây có phải là giấc mơ?
(Theo truyện ngắn Tạ Duy Anh)
Hết
-(Người coi thi không giải thích gì thêm)
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN - LỚP 7
điểm
Phần I
Câu 2: Chỉ ra biện pháp nghệ thuật và nêu tác dụng:
- Biện pháp nghệ thuật: Điệp ngữ: Mồ hôi rơi
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh những nhọc nhằn, vất vả và sự hi sinh thầm lặng của
người lao động
+ Qua đó bộc lộ thái độ trân trọng, tin yêu với những con người lao
động đồng thờithể hiện tình yêu Tổ quốc của tác giả
2,0 đ
Câu 3: Thông điệp: HS chỉ cần đưa ra một thông điệp: Hãy biết
trân trọng thành quả của người lao động, biết ơn họ…
1,0 đ
Phần II
Câu 1
1.Yêu cầu về kĩ năng:
- Biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội Đưa ra được chủ
kiến khi giải quyết vấn đề
- Bố cục bài viết mạch lạc, lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục;
không mắc các lỗi chính tả, diễn đạt,…
1,0 đ
2 Yêu cầu về nội dung: Đây là một đề bài nghị luận xã hội được
đặt ra theo hướng mở Học sinh được bày tỏ những suy nghĩ, cảm
nhận của mình về lòng biết ơn dựa trên những trải nghiệm và hiểu
biết của bản thân Chấp nhận những suy nghĩ và kiến giải riêng của
người viết nếu suy nghĩ đó được trình bày thuyết phục
- Đoạn văn đảm bảo các ý cơ bản như sau:
+ Nêu vấn đề nghị luận: Lòng biết ơn là một phẩm chất đáng quý
+ Giải thích: Lòng biết ơn chính là sự trân trọng những gì mà
nguời khác đã giúp đỡ mình Nó chính là cách thể hiện tình cảm,
lối ứng xử của con người có văn hóa, lịch sự và biết tôn trọng
những người đã từng giúp đỡ mình
- Chứng minh:
+ Khẳng định ý nghĩa và đưa ra những biểu hiện cũng như vai trò
của lòng biết ơn trong cuộc sống
+ Phê phán những hành động trái với lòng biết ơn
- Rút ra bài học cho bản thân
3,0 đ
Phần II
Câu 2
1 Về kĩ năng:
Vận dụng đúng phương pháp làm văn nghị luận, kĩ năng phân tích
nhân vật và phép lập luận chứng minh để viết bài
3,0 điểm
Trang 82 Về hình thức: Bài viết có bố cục rõ ràng, không mắc lỗi chính tả,
diễn đạt trôi chảy; văn phong trong sáng, có cảm xúc, bài làm có các
ý rõ ràng, biết đánh giá nhân vật
2,0 điểm
3 Yêu cầu nội dung: Đảm bảo một số vấn đề cơ bản sau:
a Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và khái quát được
đặc điểm của nhân vật “cậu bé Mạnh” trong đoạn trích
b Thân bài:
- Giải thích được câu nêu luận điểm
- Diễn biến tâm trạng nhân vật cậu bé Mạnh từ khi phát hiện củ khoai
đến khi hai ông cháu người ăn mày bất ngờ xuất hiện và lúc hai ông
cháu rời đi
- Đánh giá cách cư xử của cậu bé Mạnh với hai ông cháu người ăn
mày, đặc biệt chi tiết cậu tưởng tượng cậu bé kia mở miếng giấy báo
bọc thấy nửa củ khoai xuất hiện
- Nghệ thuật đặc sắc được sử dụng khi xây dựng nhân vật “ cậu bé
Mạnh”
*Đánh giá khái quát:
c Kết bài: Khẳng định thành công trong việc xây dựng nhân vật và
giá trị truyện ngắn
Lưu ý: GV linh hoạt trong quá trình chấm bài trước những sáng
tạo của học sinh.
7,0 điểm
==================================================
-
PHÒNG GD&ĐT THANH OAI KỲ THI OLYMPIC LỚP 6, 7, 8
Năm học 2022 – 2023 Môn: Ngữ văn – Lớp 6
ĐỀ CHÍNH THỨC Ngày thi: 12 tháng 4 năm 2023
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề thi có 01 trang)
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm): Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
Cả nhà đi học
Đưa con đến lớp mỗi ngày Như con mẹ cũng "thưa thầy", "chào cô"
Chiều qua bố đón tình cờ Con nghe bố cũng "chào cô", "thưa thầy"
Cả nhà đi học, vui thay!
Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà Hèn chi mười điểm hôm qua Nhà mình như thể được ba điểm mười
(Cao Xuân Sơn)
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? (1,0 điểm)
Câu 2: Tìm và ghi lại câu cảm thán có trong bài thơ? (1,0 điểm)
Trang 9Câu 3: Trong bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy
nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó? (2,0 điểm)
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (16,0 điểm)
Câu 1 (4,0 điểm): Em hãy viết đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy thi) chia sẻ cảm
xúc của mình về bài thơ “Cả nhà đi học”
Câu 2 (12,0 điểm) Con bướm trắng
Con bướm trắng Lượn cành hồng Gặp con ong Đang bay vội Bướm liền gọi
Rủ đi chơi Ong trả lời:
– Tôi còn bận
Mẹ tôi dặn:
Việc chưa xong
Đi chơi rong
Mẹ không thích
( Nhược Thủy)
Dựa vào nội dung bài thơ “Con bướm trắng” của Nhược Thủy, em hãy tưởng
tượng và xây dựng một câu chuyện về thế giới các loài vật (có sử dụng yếu tố miêu tả)
Hết
-(Người coi thi không giải thích gì thêm)
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN – LỚP 6
điểm
Phần I
Câu 2: Câu cảm thán: Cả nhà đi học, vui thay! 1,0
Câu 3: - Biện pháp tu từ: Điệp từ, điệp cấu trúc. 1,0
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho câu thơ
+ Nhấn mạnh nội dung tác giả cần diễn đạt: niềm vui của
nhân vật khi biết cả nhà đều đến trường
1,0
Phần II
Câu 1
1.Yêu cầu về kĩ năng: HS biết viết một đoạn văn đáp ứng yêu cầu
của đề: có mở đoạn, kết đoạn hoàn chỉnh Văn viết trong sáng, diễn
đạt trôi chảy
1,0
2 Yêu cầu về nội dung:
- Nêu khái quát ấn tượng, cảm xúc về bài thơ
- Nêu ấn tượng, cảm xúc của em về các chi tiết miêu tả có trong bài
thơ (gợi ý: chi tiết mẹ cũng "thưa thầy", "chào cô"; bố cũng "chào
cô", "thưa thầy"; cả nhà vui thay …ba điểm mười, điểm xấu buồn
3,0
Trang 10lây”…; sự hồn nhiên, tiếng reo vui của người con).
- Làm rõ vai trò của các yếu tố nghệ thuật được sử dụng trong bài
thơ
- Nêu khái quát điều em tâm đắc về bài thơ
Phần II
Câu 2
1 Về kĩ năng:
Vận dụng đúng phương pháp làm văn tự sự kết hợp với yếu tố
miêu tả để viết bài
2,0
2 Về hình thức:
- Bài văn có bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài
- Chữ viết đúng chính tả
- Trình bày sạch sẽ
2,0
3 Về nội dung:
HS cần tưởng tượng và xây dựng nội dung bài thơ thành một câu
chuyện với đầy đủ các yếu tố: Ngôi kể, ngôn ngữ kể, sự việc, tình
hương,…
*Ngôi kể:
- HS có thể kể theo các ngôi một cách linh hoạt (ngôi 1 hoặc ngôi
3)
+ Hs có thể hóa thân vào một trong các nhân vật để kể (bướm
trắng, ong, ong mẹ, chim hoặc cây cối,…) theo ngôi 1 – xưng
“tôi”
+ Hoặc kể theo ngôi 3 (không xưng “tôi”)
*Ngôn ngữ kể:
Bài viết cần có ngôn ngữ xen kẽ phối hợp nhau Đó là ngôn ngữ
kể, ngôn ngữ tả, ngôn ngữ nhân vật (đối thoại hoặc độc thoại)
*Các yếu tố khác:
- Cần lựa chọn xây dựng các sự việc chi tiết, tình huống hấp dẫn,
tiêu biểu, có ý nghĩa
- Từ ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm …phù hợp với nhân vật
- Câu chuyện xây dựng cần có các nhân vật:
+ Nhân vật bắt buộc: ong, bướm trắng, ong mẹ
+ Ngoài ra học sinh có thể xây dựng thêm các nhân vật khác
(Xây dựng các nhân vật cần phải có tính cách, lời nói, hoạt động,
…)
- Xây dựng được chuỗi những sự việc logic Các sự việc phải được
sắp xếp theo trật tự hợp lí
- Cần phải bám sát vào bài thơ để kể lại hoạt động của các sự vật
trong khoảng thời gian cụ thể (có thể là buổi sáng hoặc buổi chiều,
…), trong không gian cụ thể (vườn cây, ao, hồ)
HS có thể tưởng tượng thêm các sự vật, sự việc, tình tiết khác song
phải phù hợp với nội dung bài thơ
8,0