ĐỀ BÀI SỐ 02: A 22 tuổi, mới chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) được 06 tháng. B 17 tuổi. Hai người yêu nhau được khoảng 6 tháng. Trong thời gian yêu nhau, hai người nhiều lần quan hệ tình dục với nhau. Mỗi lần quan hệ tình dục, A thường dùng điện thoại chụp ảnh, quay video làm kỷ niệm, B biết nhưng không phản đối. Khi chia tay nhau, B yêu cầu A xoá bỏ toàn bộ phim, ảnh liên quan đến kỷ niệm của hai người. Khoảng 01 tháng sau ngày chia tay, A hẹn gặp B để nói chuyện. Khi gặp nhau, A đòi B cho quan hệ tình dục, B không đồng ý liền bị A đánh, doạ giết nên B không dám phản kháng mà để A quan hệ tình dục. Sau đó, B báo công an và A bị bắt.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
Câu 1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A 2
Câu 2 Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? .4
Câu 3 Sau khi chia tay nhau, A nhiều lần gọi điện cho B yêu cầu gặp nhau nhưng B từ chối Một lần A chặn đường B và yêu cầu B vào nhà nghỉ với hắn B không đồng ý liền bị A đánh đập và giật túi xách của B rồi bỏ đi Trong túi xách của B có 500.000 đồng Hành vi này của A có phạm tội không, nếu có thì là tội gì? Tại sao? 6
Câu 4 Trường hợp, A dọa đưa video “nhạy cảm” của B lên mạng internet và yêu cầu B phải gửi vào tài khoản cho hắn 30 triệu đồng B báo công an và A bị bắt Hành vi của A có cấu thành tội phạm không? Tội gì? Tại sao? 7
KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÍ CỦA BLHS 2015 11
Trang 2ĐỀ BÀI SỐ 02: A 22 tuổi, mới chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội
cướp giật tài sản (khoản 1 Điều 171 BLHS) được 06 tháng B 17 tuổi Hai người yêu nhau được khoảng 6 tháng Trong thời gian yêu nhau, hai người nhiều lần quan
hệ tình dục với nhau Mỗi lần quan hệ tình dục, A thường dùng điện thoại chụp ảnh, quay video làm kỷ niệm, B biết nhưng không phản đối Khi chia tay nhau, B yêu cầu A xoá bỏ toàn bộ phim, ảnh liên quan đến kỷ niệm của hai người Khoảng
01 tháng sau ngày chia tay, A hẹn gặp B để nói chuyện Khi gặp nhau, A đòi B cho quan hệ tình dục, B không đồng ý liền bị A đánh, doạ giết nên B không dám phản kháng mà để A quan hệ tình dục Sau đó, B báo công an và A bị bắt
MỞ ĐẦU
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự Mỗi hành vi phạm tội trong từng trường hợp cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Để làm rõ hơn nữa một số vấn đề được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 Việt Nam, em xin được chọn và phân tích tình huống cụ thể ở đề bài số 02 Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất mong các thầy cô có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thiện tốt hơn về nhận thức của mình đối với môn Luật hình sự Việt Nam Em xin chân thành cảm ơn
NỘI DUNG Câu 1 Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A
A phạm tội hiếp dâm theo Khoản 4 Điều 141 BLHS 2015 vì:
Căn cứ pháp lý: Khoản 4 Điều 141 BLHS 2015 quy định“Phạm tội đối với người
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.”
Trang 3Căn cứ lí luận:
a Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể thường có năng lực
trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo Bộ luật hình sự quy định
b Khách thể của tội phạm: Tội hiếp dâm xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của
người khác
c Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội này là hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác Nhưng không đòi hỏi hành vi giao cấu phải đã kết thúc về mặt sinh lí Hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác là trái với ý muốn của nạn nhân
Các hành vi trên đây được thực hiện bằng một trong những thủ đoạn sau: Thủ đoạn dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại hành vi của người phạm tội như xô ngã, vật, giữ, bóp cổ nạn nhân … Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực: là thủ đoạn làm ý chí của nạn nhân bị tê liệt không chống lại hành vi của người phạm tội như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhân Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân Thủ đoạn khác là những thủ đoạn (ngoài ba thủ đoạn trên) giúp cho người phạm tội có thể thực hiện được hành vi của mình
d Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Người phạm tội
biết hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục của mình là trái ý muốn nạn nhân nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên
Áp dụng trong trường hợp trên:
Trang 4a Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm (A) là người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo Bộ luật hình sự quy định
Đối tượng tác động: Nạn nhân là B 17 tuổi, đây là trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Nên không thuộc Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Trong trường hợp này, không thể là Tội cưỡng dâm vì nạn nhân của tội cưỡng dâm là người bị lệ thuộc hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách, ở đây B đều không thuộc hai trường hợp trên Mà ở đây, hành vi A dọa giết B đã làm tê liệt ý chí phản kháng của B
b Mặt khách quan của tội phạm: A đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái với ý
muốn của B Hành vi đó được thực hiện bằng thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực: Khi
A đòi B cho quan hệ tình dục, B không đồng ý liền bị A đánh, doạ giết nên B không dám phản kháng mà để A quan hệ tình dục
c Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội (A) là lỗi cố ý trực tiếp A
biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi gây ra hậu quả
Như vậy, A phạm tội hiếp dâm theo Điều 141 BLHS 2015 Ở trường hợp này, B 17 tuổi, thuộc trường hợp nạn nhân từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Căn cứ Điều 141, khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A là khoản 4 Điều 141 BLHS 2015
Câu 2 Trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Trường hợp phạm tội của A trong tình huống nêu trên là tái phạm
Căn cứ pháp lí:
Điều 9 BLHS 2015 Phân loại tội phạm
Trang 5 Điều 53 BLHS 2015 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Điều 69 BLHS 2015 Xóa án tích
Điều 70 BLHS 2015 Đương nhiên được xóa án tích
Khoản 1 Điều 171 BLHS 2015 Tội cướp giật tài sản
Căn cứ lí luận:
A từng bị xét xử về tội cướp giật tài sản (Khoản 1 Điều 171) Dựa vào mức cao
nhất của khung hình phạt là 05 năm đối với tội phạm quy định tại Khoản 1 Điều
171 BLHS 2015 và căn cứ vào Khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 cho thấy hành vi phạm tội trước của A là tội phạm nghiêm trọng
Vì A đã bị kết án 02 năm tù nên A đương nhiên được xóa án tích sau 02 năm (Điều
69, 70 BLHS 2015) Trong khi A chưa chấp hành xong khoảng thời hạn 02 năm
đó, chưa được xóa án tích mà A lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý như tình huống trên
Hành vi phạm tội trước của A bị kết án tội phạm nghiêm trọng Trong khi đó, trường hợp được coi là Tái phạm nguy hiểm nếu như đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý Vì vậy, trường hợp phạm tội của A không được coi là tái phạm nguy hiểm
Theo khoản 1 Điều 53, tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích
mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý
Trang 6 Từ những căn cứ đó, áp dụng cho tình huống trên, ta thấy A đã bị kết án tội phạm nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do
cố ý bởi vậy, trường hợp phạm tội của A là tái phạm
Như vậy, trường hợp phạm tội của A trong tình huống trên là tái phạm
Câu 3 Sau khi chia tay nhau, A nhiều lần gọi điện cho B yêu cầu gặp nhau nhưng B từ chối Một lần A chặn đường B và yêu cầu B vào nhà nghỉ với hắn.
B không đồng ý liền bị A đánh đập và giật túi xách của B rồi bỏ đi Trong túi xách của B có 500.000 đồng Hành vi này của A có phạm tội không, nếu có thì
là tội gì? Tại sao?
Căn cứ pháp lý: Điều 168 BLHS 2015
Điều 172 BLHS 2015
Căn cứ thực tiễn:
a Chủ thể của tội phạm: A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ
tuổi theo Bộ luật hình sự quy định
b Khách thể của tội phạm: xâm phạm đến hai quan hệ xã hội là quan hệ sở hữu và
quan hệ nhân thân
Xác định tội danh:
TH1: Hành vi của A cấu thành Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS 2015 nếu:
Mặt chủ quan tội phạm: Nếu trước khi thực hiện hành vi đánh đập B, A đã có mục
đích là nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi của A cấu thành Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS 2015 Vì ở tội cướp tài sản, người phạm tội phát sinh ý thức chiếm đoạt tài sản trước khi có hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
Trang 7hoặc hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được
Mặt khách quan của tội phạm: A đã thực hiện hành vi dùng vũ lực: đánh đập B và
hành vi đó đã làm B bị tê liệt về ý chí, không dám kháng cự
Như vậy, nếu hành vi đánh đập B là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, nói cách khác, mục đích chiếm đoạt tài sản hình thành từ trước khi A thực hiện hành vi đánh đập B thì sẽ cấu thành Tội cướp tài sản theo Điều 168 BLHS 2015
TH2: Hành vi này của A cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều
172 BLHS 2015 nếu:
Mặt chủ quan của tội phạm: nếu A sau khi thực hiện hành vi đánh đập B, làm cho
B không còn khả năng bảo vệ tài sản của mình Lúc đó, A mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 BLHS 2015 1
Mặt khách quan của tội phạm: A có hành vi chiếm đoạt tài sản của B một cách
công khai, hành vi này xảy ra trong hoàn cảnh người chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản Do A biết B không còn khả năng để ngăn chặn hành vi chiếm đoạt tài sản đó
Như vậy, nếu hành vi đánh đập B không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, nói cách khác, mục đích chiếm đoạt tài sản hình thành sau khi A thực hiện hành vi đánh đập B thì sẽ cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 BLHS 2015
1 Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Diệp (2018), Phương pháp định tội danh với 538 tội danh trong Bộ luật Hình sự năm
2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, Nxb Lao Động.
Trang 8Câu 4 Trường hợp, A dọa đưa video “nhạy cảm” của B lên mạng internet và yêu cầu B phải gửi vào tài khoản cho hắn 30 triệu đồng B báo công an và A bị bắt Hành vi của A có cấu thành tội phạm không? Tội gì? Tại sao?
Hành vi của A cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 BLHS 2015 vì:
Căn cứ pháp lí: Điều 170 BLHS 2015
Căn cứ lí luận:
a Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm
hình sự bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội
b Mặt khách quan của tội phạm :
Hành vi phạm tội của tội cưỡng đoạt tài sản được quy định là:
- Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực: là hành vi dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ nếu không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội
- Hành vi (khác) uy hiếp tinh thần; là hành vi dọa gây thiệt hại về tài sản, danh
dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội Hành vị uy hiếp tinh thần có thể được thực hiện bằng một số thủ đoạn sau: Đe dọa huỷ hoại tài sản của người bị
đe dọa Đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc hành vi vi phạm đạo đức của người bị đe dọa Đe dọa loan những tin thuộc về đời tư (mà người bị đe dọa muốn giữ kín)…
Điều luật không giới hạn những thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần trong tội cưỡng đoạt tài sản Bất cứ thủ đoạn nào có thể uy hiếp, khống chế được ý chí
Trang 9của người khác đều được coi là thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần trong tội cưỡng đoạt tài sản
c Mặt chủ quan của tội phạm: Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy
hiếp tinh thần đã thể hiện lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý Mục đích phạm tội
là mục đích chiếm đoạt tài sản
Áp dụng trong trường hợp trên:
a Chủ thể của tội phạm: A là người năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi
theo Bộ luật hình sự quy định
b Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi phạm tội của A là hành vi uy hiếp tinh
thần của B, được thực hiện bằng thủ đoạn đe dọa loan những tin thuộc về đời tư
cụ thể ở đây là A đã dọa đưa video “nhạy cảm” của B lên mạng internet
Trong trường hợp này, không thể là Tội cướp tài sản vì tội cướp tài sản gồm 03 dạng hành vi khách quan sau: hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Ở đây, hành vi của A đều không thuộc 03 hành vi trên
c Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội (A) là lỗi cố ý trực tiếp A
biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi Mục đích phạm tội của A là mục đích chiếm đoạt tài sản
Như vậy, hành vi uy hiếp tinh thần B nhằm chiếm đoạt tài sản của A đã cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS 2015 Khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A là khoản 1 Điều 170 BLHS 2015
Trang 10KẾT LUẬN
Qua tình huống trên ta có thể thấy Luật hình sự Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung và một số tội phạm cụ thể nói riêng Bởi chỉ có Luật hình sự mới quy định hành vi bị coi là tội phạm và hình phạt áp dụng đối với người đã gây ra tội phạm đó Bằng những biện pháp và phương tiện đặc thù, riêng biệt của mình, Luật hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng này khỏi sự xâm hại của các hành vi phạm tội Các chế tài hình sự là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất không chỉ nhằm mục đích trừng trị đối với người phạm tội mà còn răn đe, phòng ngừa tội phạm khác một cách hiệu quả
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
2 Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, (2019), Nghị quyết
06/2019/NQ-HĐTP, Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144,
145, 146, 147 của bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.
3 Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an Nhân dân
Trang 114 Nguyễn Ngọc Hòa (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm
quyển 1, Nxb.Công an Nhân dân, Hà Nội.
5 Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Diệp (2018), Phương pháp định tội danh với
538 tội danh trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Nxb Lao Động
6 Nguyễn Lệ Thủy (2016), Tội hiếp dâm trong pháp luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội
7 Nguyễn Thị Ánh Sao (2019), Tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự
2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
8 Đỗ Văn Chung (2016), Tội cưỡng đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
9 Trần Văn Luyện (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.
10.Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được
sửa đổi, bổ sung năm 2017 Phần các tội phạm, Quyển 1, Nxb Tư Pháp.
CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÍ CỦA BLHS 2015
Điều 53 BLHS 2015 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: