1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập tình huống môn Luật sở hữu trí tuệ

18 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập tình huống môn Luật sở hữu trí tuệ
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật sở hữu trí tuệ
Thể loại Bài tập tình huống
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 48,46 KB
File đính kèm Luật sở hữu trí tuệ.rar (45 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 (6 điểm) Phân tích quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành về vấn đề bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này. Câu 2 (4 điểm) Một câu lạc bộ các bạn yêu thích truyện kiếm hiệp tại Hà Nội đã tự lập một trang web “truyenkiemhiep.vn” để chia sẻ các tác phẩm truyện hay mới được sáng tác và xuất bản, có kèm theo những giới thiệu, bình luận của các thành viên trong nhóm. Các thành viên câu lạc bộ này đã đăng rất nhiều truyện kiếm hiệp được giới trẻ yêu thích lên trang web, phần lớn truyện do các thành viên của câu lạc bộ tự sưu tầm (chủ yếu tải từ các trang web truyện khác). Trang web hoạt động hoàn toàn không có mục đích thương mại, không quảng cáo. Sau một thời gian hoạt động, Câu lạc bộ này bị các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của các tác phẩm truyện tố cáo đến các cơ quan chức năng là xâm phạm quyền tác giả và yêu cầu Câu lạc bộ phải chấm dứt đăng tải các tác phẩm và phải bồi thường thiệt hại. a. Anhchị hãy tư vấn xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả của các thành viên Câu lạc bộ. b. Anhchị hãy tư vấn các cách thức để chủ thể quyền tác giả bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.

Trang 1

MÔN: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

ĐỀ BÀI

Câu 1 (6 điểm)

Phân tích quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành về vấn đề bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.

Câu 2 (4 điểm)

Một câu lạc bộ các bạn yêu thích truyện kiếm hiệp tại Hà Nội đã tự lập một trang web

“truyenkiemhiep.vn” để chia sẻ các tác phẩm truyện hay mới được sáng tác và xuất bản, có kèm theo những giới thiệu, bình luận của các thành viên trong nhóm Các thành viên câu lạc

bộ này đã đăng rất nhiều truyện kiếm hiệp được giới trẻ yêu thích lên trang web, phần lớn truyện do các thành viên của câu lạc bộ tự sưu tầm (chủ yếu tải từ các trang web truyện khác) Trang web hoạt động hoàn toàn không có mục đích thương mại, không quảng cáo Sau một thời gian hoạt động, Câu lạc bộ này bị các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của các tác phẩm truyện tố cáo đến các cơ quan chức năng là xâm phạm quyền tác giả và yêu cầu Câu lạc bộ phải chấm dứt đăng tải các tác phẩm và phải bồi thường thiệt hại

a Anh/chị hãy tư vấn xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả của các thành viên Câu lạc bộ.

b Anh/chị hãy tư vấn các cách thức để chủ thể quyền tác giả bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

CÂU 1: 1

I KHÁI NIỆM BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ 1

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ 1

1 Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế 1

2 Điều kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc 1

3 Thẩm quyền bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế 2

4 Thủ tục bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế 2

5 Yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc 3

III MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 3

IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 3

CÂU 2: 4

a Anh/chị hãy tư vấn xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả của các thành viên Câu lạc bộ 4

b Anh/chị hãy tư vấn các cách thức để chủ thể quyền tác giả bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình 5

KẾT LUẬN 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7

CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÝ 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

BBCGQSDSC Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

LSHTT Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019)

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội Để làm rõ hơn một số vấn đề quy định trong LSHTT, em xin được phân tích đề bài cụ thể nêu trên

NỘI DUNG CÂU 1:

I KHÁI NIỆM BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ.

Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia – trên cơ sở quy định của pháp luật, ra quyết định cưỡng chế, buộc người nắm độc quyền phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho Chính phủ hoặc cá nhân, tổ chức khác sử dụng thông qua hợp đồng bằng văn bản với những điều kiện cơ bản đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền, với mục đích ngăn chặn sự lạm dụng độc quyền được xác lập bởi Bằng độc quyền sáng chế hoặc

vì mục đích cộng đồng, phi thương mại 1

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẮT BUỘC CHUYỂN GIAO

QUYỀN SỬ DỤNG SÁNG CHẾ.

1 Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

Khoản 1 Điều 145 LSHTT ghi nhận 04 căn cứ mà bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có đủ điều kiện theo luật định cũng có thể nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp phép sử dụng sáng chế bắt buộc:

Thứ nhất, việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ

quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội Đây là những nội dung cơ bản thuộc chức năng đối nội của một nhà nước Do đó, để khai thác sáng chế với mục đích bảo vệ cộng đồng như vậy, các cơ quan nhà nước sẽ trực tiếp là bên nhận chuyển giao quyền sử dụng sáng chế bắt buộc thuộc lĩnh vực mình quản lý

Thứ hai, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng

sáng chế quy định tại khoản 1 Điều 136 và khoản 5 Điều 142 của Luật SHTT sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế

Thứ ba, người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với người nắm

độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thỏa đáng Điều này có nghĩa rằng, trước khi được cấp phép sử dụng sáng chế bắt buộc, người có nhu cầu

đã cố gắng thiết lập hợp đồng với chủ sở hữu nhưng không thành công

Thứ tư, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh

tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh

1 Lê Thị Nam Giang, Đoàn Công Yên (2006), Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo Luật sở hữu trí tuệ Việt

Nam, Nghiên cứu lập pháp (11), tr 49 – 54.

1

Trang 5

2 Điều kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc.

2

Trang 6

Quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải phù hợp với các điều kiện được quy định tại Điều 146 LSHTT:

Thứ nhất, quyền sử dụng được chuyển giao thuộc dạng không độc quyền: Sự

ràng buộc hình thức chuyển giao không độc quyền vừa hợp căn cứ BBCGQSDSC, vừa đảm bảo lợi ích chủ sở hữu

Thứ hai, quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được giới hạn trong phạm vi và

thời hạn đủ để đáp ứng mục tiêu chuyển giao và chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 145 của Luật này Đối với sáng chế trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn thì việc chuyển giao quyền sử dụng chỉ nhằm mục đích công cộng, phi thương mại hoặc nhằm xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh Đây là khoảng thời gian và phạm vi sử dụng cần thiết để bên nhận chuyển giao thực hiện những hành vi cụ thể nhằm đạt được mục đích của mình

Thứ ba, người được chuyển giao quyền sử dụng không được chuyển nhượng

quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của mình và không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác

Thứ tư, người được chuyển giao quyền sử dụng phải trả cho người nắm độc

quyền sử dụng sáng chế một khoản tiền đền bù thỏa đáng tùy thuộc vào giá trị kinh tế của quyền sử dụng đó trong từng trường hợp cụ thể phù hợp với khung giá đền bù do Chính phủ quy định

Ngoài các điều kiện trên, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 137 của Luật này còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế cơ bản cũng được chuyển giao quyền

sử dụng sáng chế phụ thuộc với những điều kiện hợp lý; (ii) Người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản không được chuyển nhượng quyền đó, trừ trường hợp

chuyển nhượng cùng với toàn bộ quyền đối với sáng chế phụ thuộc Quy định này

nhằm mục đích đảm bảo khả năng tiếp cận với các sáng chế được bảo hộ trong việc tạo

ra sáng chế mới dựa trên sáng chế hiện có

3 Thẩm quyền bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

Theo Khoản 1 Điều 147 LSHTT, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định BBCGQSDSC bao gồm: Bộ Khoa học và Công nghệ; các Bộ và cơ quan ngang bộ Trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao quyền sử dụng đối với trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 145 LSHTT Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình khi xảy ra trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 145 LSHTT trên cơ sở tham khảo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ

4 Thủ tục bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

Hồ sơ yêu cầu cấp quyết định BBCGQSDSC phải đáp ứng các quy định trong Mục 2 Chương 2 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, ngoài ra, phụ thuộc vào lí do yêu cầu thì sẽ cần có những tài liệu tương ứng Quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

3

Trang 7

phải ấn định phạm vi và các điều kiện sử dụng phù hợp với quy định tại Điều 146 của Luật này

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phải thông báo ngay cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về quyết định đó Quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế hoặc từ chối chuyển giao quyền sử dụng sáng chế có thể bị khiếu nại, bị khởi kiện theo quy định của pháp luật

5 Yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc.

Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy định tại khoản 1 Điều 145 không còn tồn tại và không

có khả năng tái xuất hiện với điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

III MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.

Thứ nhất, căn cứ bắt buộc chuyển giao: nhà lập pháp đã không thừa nhận việc

thực hiện không đầy đủ sáng chế là căn cứ bắt buộc chuyển giao Tuy nhiên, thiệt hại trong trường hợp không thực hiện sáng chế đầy đủ cũng không kém hơn so với việc không thực hiện sáng chế Như trong trường hợp sử dụng sáng chế phụ thuộc, nếu không thực hiện đầy đủ thì sự thiếu hụt thông tin từ sáng chế phụ thuộc có thể dẫn đến

hệ quả vô hiệu hóa sáng chế phụ thuộc

Thứ hai, hiện nay Điều 147 LSHTT vẫn chưa xác định rõ vai trò, địa vị pháp lý

của cơ quan quản lý cạnh tranh khi BBCGQSDSC nhằm ngăn chặn sự lạm dụng của Chủ sở hữu

Thứ ba, pháp luật Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế trong quy định về lý do

BBCGQSDSC, về thẩm quyền xem xét, mối quan hệ giữa pháp luật SHTT và pháp luật cạnh tranh nói chung và BBCGQSDSC nói riêng chưa được quy định rõ ràng Bên cạnh đó, việc sử dụng BBCGQSDSC còn tồn tại một số khó khăn như: thiếu kinh nghiệm thực tế, nhận thức của người dân về BBCGQSDSC còn hạn chế 2

Thứ tư, theo quy định tại chương II mục 2 thông tư 01/2007/TT-BKHCN, trong

trường hợp yêu cầu BBCGQSDSC căn cứ tại điểm a Khoản 1 Điều 145 thì bắt buộc phải thỏa mãn 02 điều kiện Với quy định này, dường như pháp luật Việt Nam đã trói buộc chặt chẽ hơn điều kiện để cấp li-xăng cưỡng bức so với quy định khá linh hoạt của Điều 31 Hiệp định TRIPs

IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP

LUẬT.

Thứ nhất, việc mở rộng căn cứ để BBCGQSDSC là việc làm hết sức cần thiết.

So với giới hạn cho phép của Công ước Paris và Hiệp định TRIPs, chúng ta hoàn toàn

có thể ghi nhận thêm căn cứ BBCGQSDSC như không thực hiện đầy đủ sáng chế

Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về BBCGQSDSC,

bổ sung vai trò, địa vị pháp lý của Cơ quan quản lý cạnh tranh khi BBCGQSDSC tạo

cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng trên thực tế

2 Lê Thị Nam Giang (2013), Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế và vấn đề bảo vệ sức khỏe cộng đồng, Trường

Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

4

Trang 8

Thứ ba, nghiên cứu, tham khảo học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước về

BBCGQSDSC và vận dụng phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của cơ quan có

thẩm quyền trong BBCGQSDSC, bên cạnh đó, cũng cần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật SHTT, pháp luật cạnh tranh và nhận thức về BBCGQSDSC

CÂU 2:

a Anh/chị hãy tư vấn xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả của các thành viên Câu lạc bộ.

Căn cứ điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ dựa vào các căn cứ như sau:

Thứ nhất, đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ

 Đối tượng bảo hộ: những tác phẩm truyện kiếm hiệp là tác phẩm được bảo hộ QTG bởi (i) truyện kiếm hiệp là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học (Khoản 7 Điều 4 LSHTT); (ii) các tác phẩm truyện kiếm hiệp mang tính sáng tạo nguyên gốc (Khoản 3 Điều 14); (iii) truyện kiếm hiệp được thể hiện dưới hình thức nhất định (Khoản 1 Điều 6), (iv) có nội dung, hình thức không trái đạo đức xã hội, trật

tự công cộng, có hại quốc phòng an ninh (Khoản 1 Điều 8) và (v) không thuộc các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả (Điều 15)

 Phạm vi bảo hộ: tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam

 Thời hạn bảo hộ: Quyền nhân thân của của các tác giả như đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 LSHTT thì được bảo hộ vô thời hạn Đối với quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và quyền tài sản thì căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 27 LSHTT, tác phẩm trên có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết Như vậy, các tác phẩm truyện kiếm hiệp trong tình huống trên vẫn còn thời hạn bảo hộ

 Nội dung bảo hộ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định tại Điều 19,

20 LSHTT

Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét Câu lạc bộ đã có yếu

tố xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 7 Nghị định số 105/2006/NĐ- CP khi đã

có hành vi sao chép trái phép tác phẩm và tạo ra bản sao một cách trái phép Tuy nhiên,

để xác định một bản sao có phải là yếu tố xâm phạm quyền tác giả không thì cần so sánh bản sao đó với bản gốc tác phẩm

Thứ ba, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu

trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định Căn cứ tại Điều 13 LSHTT, các bạn trẻ trong câu lạc bộ không phải người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hay chủ sở hữu quyền tác giả và không thuộc trường hợp là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng

Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam Câu lạc bộ các bạn yêu thích

truyện kiếm hiệp tại Hà Nội đã tự lập một trang web để chia sẻ các tác phẩm truyện hay mới được sáng tác và xuất bản, hành vi này xảy ra tại Hà Nội trên đất nước Việt Nam

5

Trang 9

Như vậy, từ những căn cứ nêu trên và quy định tại Điều 28 LSHTT, các bạn trẻ

ở câu lạc bộ truyện kiếm hiệp đã có hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Khoản 6, 8, và hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả tại Khoản 10 Điều 28 LSHTT mà không thuộc các trường hợp ngoại lệ

b Anh/chị hãy tư vấn các cách thức để chủ thể quyền tác giả bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.

Thứ nhất, chủ thể quyền tác giả có thể áp dụng biện pháp tự bảo vệ như: (i) Áp

dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Yêu cầu câu lạc bộ truyện kiếm hiệp đó phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại qua việc gửi thư khuyến cáo hay đàm phán, thương lượng trực tiếp,…(iii) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; (iv) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Có thể nói rằng biện pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện cao nhất

sự tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật Các chủ thể có thể chủ động hòa giải, thương lượng với nhau để chấm dứt tranh chấp vào bất kì thời điểm nào Bên cạnh đó, đây cũng là một biện pháp nhanh gọn, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, biện pháp này không mang tính ràng buộc mà dựa trên sự tự nguyện chấm dứt của bên vi phạm nên không mang tính chất ép buộc thi hành

Thứ hai, bên cạnh biện pháp tự bảo vệ, chủ thể quyền tác giả có thể bảo vệ

quyền lợi của mình bằng cách áp dụng các biện pháp cứng rắn hơn bao gồm các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự Trong trường hợp trên, đối với các biện pháp dân sự, Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019) quy định tòa án

áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:(i) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; (ii) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; (iii) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; (iv) Buộc bồi thường thiệt hại Trong trường hợp chủ sở hữu chứng minh được rằng hành vi xâm phạm của các bạn trẻ đã đã gây thiệt hại về vật chất hay tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường tùy thuộc vào mức độ thiệt hại theo quy định của pháp luật Ưu điểm đối với các biện pháp dân sự là sẽ giải quyết được triệt để các hành vi xâm phạm, khắc phục được những tổn thất, thiệt hại tuy nhiên, trình tự, thủ tục giải quyết sẽ phức tạp vì

có sự can thiệp của cơ quan nhà nước, sẽ tốn thời gian và chi phí hơn so với biện pháp

tự bảo vệ

Thứ ba, theo quy định của pháp luật, nếu như các bạn trẻ không chấm dứt hành

vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó thì câu lạc bộ truyện kiếm hiệp đó sẽ bị

xử phạt hành chính, Chính phủ quy định cụ thể về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính, hình thức, mức phạt và thủ tục xử phạt các hành vi đó Các bạn trẻ trong câu lạc bộ truyện kiếm hiệp bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và

bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt hành chính như cảnh cáo; phạt tiền Việc áp

6

Trang 10

dụng biện pháp hành chính sẽ đơn giản, tiết kiệm thời gian, chi phí nhưng chủ thể quyền tác giả sẽ không được bồi thường thiệt hại nếu hành vi xâm phạm gây ra thiệt hại

và biện pháp hành chính chỉ có tác dụng giáo dục, răn đe ở quy mô nhỏ

Thứ tư, pháp luật đã quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu

trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Tuy nhiên, trang web trên hoạt động hoàn toàn không có mục đích thương mại, không quảng cáo nên trong tình huống này, biện pháp hình sự sẽ

không được áp dụng

KẾT LUẬN

Hiện nay, trước yêu cầu quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, thúc đẩy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

7

Ngày đăng: 04/09/2023, 15:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w