https tailieuluatkinhte com ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 2023 (LÝ THUYẾT, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG) Câu 1 Phân tích các đặc điểm của vụ án hành chính Vì sao đối tượng tranh chấp trực tiếp trong vụ án h.https tailieuluatkinhte com ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 2023 (LÝ THUYẾT, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG) Câu 1 Phân tích các đặc điểm của vụ án hành chính Vì sao đối tượng tranh chấp trực tiếp trong vụ án h.
Trang 1ÔN THI LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 2023
(LÝ THUYẾT, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG)
Câu 1: Phân tích các đặc điểm của vụ án hành chính Vì sao đối tượng tranh chấp trực tiếp trong vụ án hành chính là tính hợp pháp của Quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, danh sách cử tri, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ vịêc cạnh tranh?
Vụ án hành chính là vụ án phát sinh khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiệnyêu cầuTòa án xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính vàđược Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thủ tục Tố tụng hành chính
Ví dụ:
Anh A là sinh viên tại chức ở Cần Thơ, dựng ô tô ngoài lề đường bị Chánh thanh tra
sở Giao Thông vận tải ra quyết định xử phạt 200.000 đồng Không đồng ý với quyếtđịnh xử phạt trên anh A khiếu nại, sau khi khiếu nại Chánh thanh tra Sở GTVT giữnguyên QĐ khiếu nại Không đồng ý anh A khởi kiện ra Tòa án nhân dân TP CầnThơ, Tòa án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện giữ nguyên QĐ xử phạt Không đồng ýanh A kháng cáo lên Tòa phúc thẩm TAND Tối cao TP.HCM Tòa phúc thẩm TANDtối cao TP.HCM đã sửa bản án sơ thẩm, hủy quyết định xử phạt hành chính
Ta thấy đối tượng tranh chấp trên là Quyết định xử lý Vi phạm hành chính
Người bị kiện là Chánh thanh tra Sơ giao thông vận tải- là người có thẩm quyềntrong cơ quan nhà nước
Người khởi kiện là anh A- là cá nhân bị tác động bởi quyết định xử phạt hành chính
Trang 2Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp có nghĩa là Tòa án chỉ tuyên quyết định hành chính
đó là đúng hay sai, tuyên giữ nguyên hoặc hủy bỏ chứ mà không can thiệp vào nộidung của Quyết định hành chính, không sửa đổi, ban hành … Bởi vì đây là hoạt độngquản lý nhà nước và xuất phát từ nguyên tắc phân công phối hợp giữa các cơ quanquyền lực nhà nước; Tòa án chức năng là xét xử nên chỉ xem xét tính hợp pháp, chỉ
cơ quan quản lý nhà nước mới có thẩm quyền ban hành, sửa đổi các quyết định domình đặt ra Tòa án can thiệp vào sẽ lấn sân sang thẩm quyền của các cơ quan nhànước khác Vì vậy Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp của QĐHC
Ví dụ: A và B tranh chấp 300m2 đất, UBND Quận 4 đã cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho A, B không đồng ý với Quyết định cấp giấy chứng nhân quyền sửdụng đất mà UBND Quận đã cấp cho A vì trong 300m2 đất đó có 100m2 đất của B.Sau khi khiếu nại không được giải quyết, B kiện ra tòa Tòa án chỉ có quyền tuyêngiấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND Quận cấp cho ai là trái pháp luật,tuyên hủy hoặc giữ nguyên Quyết định hành chính chứ Tòa án không can thiệp vàonội dung của Quyết định hành chính
Câu 2: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Cơ sở pháp lý: Đìêu 130 Hiến pháp 1992 : “Khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm độclập và chỉ tuân theo pháp luật”
Điều 5 Luật tổ chức TAND
Điều 14 Luật tố tụng hành chính quy định: “ Khi xét xử vụ án hành chính, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ”
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện tính ưu việc khi xét xử vụ án hành chính tạiphiên tòa so với vụ án hành chính được giải quyết tại cơ quan hành chính bằng conđường hành chính
Thứ nhất, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập:
Độc lập ở đây có thể hiểu gồm:
+ Độc lập với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
Có quy định này bởi vì Thẩm phán và HTND là thành viên của Hội đồng xét xử,những người này đưa ra những phán quyết có tính chất bắt buộc thi hành đối với cácbên có liên quan
Độc lập có nghĩa là không có cá nhân hoặc tổ chức nào có thể ép buộc, gây ảnhhưởng đối với Thẩm phán và HTND để họ xét xử trái pháp luật;
Thẩm phán và Hội thẩm không lệ thuộc ý kiến của Chánh án hoặc TAND cấp trên;mặc dù có thể trao đổi ý kiến để tham khảo; không lệ thuộc vào ý kiến của VKS nhândân
Trang 3Không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến tác động của các cơ quan nhà nước liên quan.Độc lập với các tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp
+ Độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử : Các Thẩm phán và HTND
không bị phụ thuộc lẫn nhau, Hội thẩm nhân dân sẽ không bị chi phối bởi quan điểmcủa Thẩm phán Bởi vì khi nghị án Thẩm phán và HTND mỗi người 1 lá phiếu vàquyết theo đa số, ý kiến thiểu số được bảo lưu
Thứ 2 Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật khi xét xử : có nghĩa là khi
xét xử phải căn cứ trên các quy định của pháp luật hiện hành trong việc đưa ra cácphán quyết của mình Thẩm phán phải quyết định việc giải quyết vụ án trên cơ sởhiểu biết pháp luật, trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, và nhất là niềm tin nộitâm khi đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật Chỉ có pháp luật mới là căn cứ đểThẩm phán và Hội thẩm nhân dân quyết định và bảo đảm để Thẩm phán và Hội thẩmnhân dân độc lập Độc lập và tuân theo pháp luật có mối quan hệ hữu cơ Độc lậpphải tuân theo pháp luật đế tránh tùy tiện, trên cơ sở pháp luật mới độc lập được vìtrên cơ sở pháp luật thì không bị chi phối bởi ý kiến các cá nhân, cơ quan, tổ chứckhác
Tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm là biểu hiện tính độc lập của Tòa án, quyền
tư pháp
Đây là 1 trong những nguyên tắc quan trọng nhất thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của
tư pháp hành chính, góp phần bảo đảm họat động giải quyết vụ án hành chính kháchquan, đúng pháp luật Đảm bảo tính tôn nghiêm của các bản án, quyết định của Tòaán
à Để đảm bảo nguyên tắc ngày được thực hiện trên thực tế thì cần thườngxuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Hội thẩmnhân dân, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng
Hệ thống pháp luật hòan chình, không mâu thuẫn, chồng chéo
Đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn cao,
có trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp
Câu 3: Phân tích các đặc điểm của Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Vì sao quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ
án hành chính phải là quyết định cá biệt ?
* Quyết định hành chính: là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan,
tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (Khoản 1 Điều 3)
Như vậy, để có thể là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quyết định hành chính phải thỏa mãn các đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất , về hình thức, quyết định hành chính phải thể hiện bằng văn bản
Trang 4Quyết định hành chính được hiểu là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện dưới những hình thức nhất định tác động đến các đối tượng nhất định trong quá trình hành pháp.
Vì thế, quyết định hành chính được ban hành có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như quyết định bằng miệng, bằng tín hiệm, ám lệnh, văn bản… Nhưng chỉ có những quyết định hành chính được ban hành dưới hình thức văn bản mới là đối tượng xét xử của Toà án Đây là hình thức thể hiện có nhiều ưu thế về tính chính xác và tính ổn định cao so với các hình thức khác.
- Thứ hai, quyết định đó phải là quyết định hành chính cá biệt
Căn cứ vào tính chất pháp lý, quyết định hành chính gồm 3 loại: Quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt, trong đó, chỉ có quyết định hành chính cá biệt mới là đối tượng xét xử của Toà án.
Quyết định cá biệt hay còn gọi là quyết định áp dụng quy phạm pháp luật là quyết định được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo và quy phạm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có những trường hợp được ban hành trên
cơ sở quyết định cá biệt của cơ quan cấp trên.
Quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm chứa đựng những quy tắc xử sự chung, tác động đến đối tượng rộng lớn Quyết định cá biệt là những quyết định chỉ áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể để giải quyết các trường hợp các biệt, cụ thể và có hiệu lực đối với các đối tượng cụ thể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì thế quyết định cá biệt trực tiếp xâm hại đến lợi ích của cá nhân, tổ chức.
Các quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm thường không đụng chạm trực tiếp đến các quyền lợi của người dân Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước ban hành quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm nhằm giải quyết những vấn đề chung theo yêu cầu quản lý Nhà nước và vì lợi ích chung của cộng đồng Nếu cho phép khiếu kiện cả văn bản pháp quy sẽ dẫn đến nguy cơ làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Do đó, theo quy định của pháp luật , chỉ quyết định cá biệt mới thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án.
Ví dụ: Ngày 4/3/2009, doanh nghiệp tư nhân Tam Đảo bị Đội Quản lý thị trường 6B bắt giữ lô hàng không xuất đủ hóa đơn chứng từ đủ hóa đơn chứng từ nên bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 6 xử phạt 70 triệu đồng theo Thông tư liên tịch số 12/2007/TTLT-BCT-BTC-BCA ), trong vòng 24 giờ sau khi kiểm tra hàng hóa, doanh nghiệp không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hàng hóa, nên số hàng trên bị coi là hàng lậu.
Giám đốc doanh nghiệp không đồng ý cho rằng những quy định trong TT 12/2007
là không hợp lý nên ngày 13/8/2009 đã nộp đơn ra Tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh kiện Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, yêu cầu Tòa án hủy Thông tư 12/2007.
Trang 5Ngày 19/8, Tòa án nhân dân TP HCM đã ra thông báo bác đơn kiện của doanh nghiệp này với lý do yêu cầu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Thứ ba, trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006, quyết định hành chính là đối tượng xét xử của Toà án phải là quyết định hành chính lần đầu.
Quyết định hành chính lần đầu là quyết định hành chính được cơ quan nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành lần đầu trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình.
Việc quy định quyết định hành chính lần đầu nhằm phân biệt với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và quyết định giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo Chỉ các quyết định hành chính lần đầu mới thuộc thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án.
Ví dụ: ….
Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về đặc điểm này, trên thực tế có trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại chứa đứng nội dung giải quyết vụ việc và cá nhân, tổ chức không đồng ý với nội dung này, thì có khởi kiện được hay không? Thứ tư, quyết định hành chính không thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định
và các quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
- Để đảm bảo bí mật nhà nước trong lĩnh vực phòng, an ninh, ngoại giao, các quyết định hành chính liên quan đến bí mật nhà nước trong những lĩnh vực này
sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Chính phủ sẽ quy định danh mục các quyết định hành chính này.
- Nhằm điều hành hoạt động trong các cơ quan nhà nước, các chủ thể quản lý nhà nước ban hành các quyết định mang tính chất nội bộ Các quyết định hành chính này có đặc điểm là đối tượng bị áp dụng và chủ thể ra quyết định có mối quan hệ về mặt công tác, được dùng nhằm duy trì hoạt động nội bộ trong bộ máy nhà nước Để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các quyết định hành chính này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Ví dụ: quyết định điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, quyết định chuyển công tác, quyết định bổ nhiệm cán bộ, công chức…
Thứ năm, quyết định hành chính phải là quyết định trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án có thể do cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp ban hành) hoặc các cơ quan nhà nước khác không phải là cơ quan hành chính nhà nước (Tòa án
Trang 6nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Bảo hiểm xã hội…), nhưng phải là quyết định trong hoạt động quản lý hành chính, tức là quyết định trong hoạt động chấp hành – điều hành.
àLưu ý: Tên gọi của quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC, quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong
cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng 1 lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng
cụ thể…Với quy định này đã dẫn đến sự tranh luận không thống nhất về tên gọi
của quyết định hành chính. Chỉ có những quyết định nào được ban hành dưới hình thức là “quyết định” mới là đối tượng khởi kiện hành chính, những văn bản có nội dung là quyết định nhưng ban hành dưới hình thức khác (thông báo, công văn…) thì không là đối tượng khởi kiện. Hiện nay, theo quy định của Luật
tố tụng hành chính về quyết định hành chính đã giải quyết vấn đề trên: Quyết định hành chính “là văn bản…” Như vậy, không phân biệt tên gọi, nếu 1 văn bản thỏa mãn những đặc điểm trên đều có thể là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện hành chính.
Câu 4: Phân tích quyết định kỷ luật buộc thôi việc là đối tượng khởi kiện của vụ
án hành chính Nhận xét của anh (chị) về quy định này của Luật tố tụng hành chính?
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc thực chất là quyết định hành chính mang tính chất nội bộ của cơ quan, tổ chức áp dụng đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức mình Tuy nhiên do tính chất đặc biệt của quyết định này:
là hình thức kỷ luật cao nhất cao đối với công chức và ảnh hưởng đến quyền có việc làm – quyền được Hiến pháp bảo vệ - của công dân nên quyết định này là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Để có thể là đối tượng khởi kiện hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, về hình thức của quyết định: phải bằng văn bản.
Thứ hai, tên gọi của quyết định kỷ luật buộc thôi việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: phải là quyết định.
Theo quy định của pháp luật cán bộ, công chức, khi kỷ luật buộc thôi việc, phải thể hiện dưới hình thức là quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức Thứ ba, người bị kỷ luật: công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.
+ Người bị kỷ luật phải là công chức
Trang 7Công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4) Ngoài ra, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định 06/2010/NĐ-CP
về những người là công chức, công chức có thể là những người làm việc trong cơ quan Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Bộ, cơ quan ngang bộ, các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập, cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, huyện… Khi những người này bị kỷ luật buộc thôi việc, có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.
Trước đây, theo quy định của PLTTGQCVAHC và PL cán bộ, công chức năm
2002, cán bộ và viên chức đều thuộc phạm vi điều chỉnh của PL cán bộ, công chức Khi bị kỷ luật dưới hình thức buộc thôi việc, cán bộ, công chức, viên chức
có thể khởi kiện ra Tòa án.Hiện nay, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2010, có 4 hình thức kỷ luật đối với cán bộ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm, không áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với cán
bộ Tuy nhiên, theo quy định của Luật Viên chức năm 2011, có 4 hình thức kỷ luật đối với viên chức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc (Khoản 1 Điều 52).
àNhư vậy, nếu viên chức bị kỷ luật buộc thôi việc, sẽ không thể khởi kiện ra Tòa
án theo thủ tục tố tụng hành chính Ví dụ: Giảng viên trường Đại học Luật bị kỷ luật buộc thôi việc, giáo viên trường THPT bị hiệu trưởng ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc…
+ Đối với công chức giữ chức vụ : Công chức bị kỷ luật buộc thôi việc phải giữ
chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống.
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định 06/2010/NĐ-CP, công chức có thể giữ các chức vụ trong các cơ quan khác nhau từ trung ương đến địa phương như Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước, Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Giám đốc Sở.
Trang 8Những công chức trên đều có thể bị kỷ luật với hình thức buộc thôi việc, tuy nhiên chỉ có công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống khi bị kỷ luật buộc thôi việc mới có thể khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục
tố tụng hành chính Như vậy, nếu thứ trưởng bị kỷ luật buộc thôi việc sẽ không thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn những chức danh tương đương với Tổng cục Trưởng.
Theo quy định của Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 của Chính phủ, các tổ chức của Bộ gồm có: Vụ, Văn Phòng, Thanh tra, Cục, Tổng cục và tương đương, cơ quan địa diện của Bộ ở địa phương và ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 15) Trong đó, Cục, Tổng cục và tương đương, và cơ quan đại diện không nhất thiết phải có Như vậy, tương đương tổng cục trưởng có thể là các chức danh: Chánh Văn phòng Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Cục trưởng, Vụ trưởng.
Tổng cục và tổ chức tương đương thuộc Bộ gồm: Vụ, Văn phòng, Thanh tra, tổ chức nhà nước trực thuộc Có những Bộ trong cơ cấu tổ chức không có Tổng cục chỉ có Cục (Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ - Cục văn thư và Lưu trữ, Bộ Công thương…)cũng có những Bộ Tổng Cục Ở những Bộ trong cơ cấu tổ chức có Tổng Cục và Cục (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn- Tổng cục lâm nghiệp, Tổng Cục Thủy Sản, Tổng Cục Thủy Lợi; Cục Thú y, Cục Chăn Nuôi, Cục Bảo vệ thực vật; Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục thống kê; Bộ Tài chính – Tổng cục thuế, Tổng Cục Hải quan…).
Thứ tư, hình thức kỷ luật: buộc thôi việc
Theo quy định của pháp luật cán bộ công chức, có 6 hình thức kỷ luật hành chính đối với cán bộ, công chức trong quá trình thi hành công vụ: cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc. Chỉ khi quyết định kỷ luật với hình thức buộc thôi việc mới là đối tượng khiếu kiện hành chính. Đối với các hình thức kỷ luật khác như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, công chức chỉ có quyền khiếu nại mà không được quyền khởi kiện ra Toà án đối với các quyết định kỷ luật trên.
à Kết luận:
Với quy định này công chức được kiện là rất ít vì chỉ công chức bị kỷ luật buộc thôiviệc mới kiện được. Trong số các loại hình thức kỷ luật mà Luật Cán bộ, công chức(Luật CBCC) quy định thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc là chế tài nặng nề nhất,ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sự nghiệp của người bị kỷ luật, do đó cầnđược quyền khởi kiện đến Tòa án nếu cho rằng việc kỷ luật đó là trái pháp luật Theoquy định của Luật CBCC, việc buộc một người thôi việc không chỉ duy nhất bằnghình thức kỷ luật do có hành vi vi phạm kỷ luật mà còn có nhiều căn cứ khác nữa.Chẳng hạn như tại khoản 3 Điều 58 của Luật CBCC thì "Công chức 02 năm liên tiếpkhông hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyếtbuộc thôi việc" Hoặc là, tại khoản 1 Điều 59 Luật CBCC còn quy định: công chứcthôi việc "do sắp xếp tổ chức" Trên thực tế còn xảy ra nhiều hình thức buộc thôi việckhác nữa
Trang 9Như vậy, quyết định kỷ luật cho thôi việc chỉ là một dạng của hình thức buộc thôiviệc Quyết định buộc thôi việc dù ở trong trường hợp nào cũng có ảnh hưởngnghiêm trọng đến đời sống, sự nghiệp của người phải thôi việc Do đó, nếu họ chorằng việc cơ quan, tổ chức buộc họ thôi việc là trái pháp luật thì đều phải được quyềnkhởi kiện đến Tòa án.
Luật CBCC hiện nay chỉ điều chỉnh đối tượng là "cán bộ, công chức" còn đối tượng
là "viên chức" sẽ được điều chỉnh bởi Luật Viên chức quy định như Luật TTHC thìviên chức bị buộc thôi việc trái pháp luật họ sẽ khởi kiện theo thủ tục tố tụng nào (vìđối tượng này không thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động nên không thể giảiquyết theo thủ tục tố tụng dân sự)? Rõ ràng là đã có sự bỏ lọt chủ thể cần được phápluật bảo vệ
Từ những lý do nêu trên, khoản 3 Điều 25 Dự thảo Luật TTHC nên sửa lại là: "Khiếukiện quyết định buộc thôi việc công chức, viên chức "
Câu 5: Trình bày thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của TAND cấp tỉnh theo thủ tục sơ thẩm Nhận xét của anh chị về quy định này của Luật TTHC?
(Điều 30)
a) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; trường hợp người khởi kiện không có nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;
- Đây là những quan nhà nước ở trung ương Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa
án, Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, vì thế, các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện khi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước ở trung ương, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú hoặc làm việc nếu người khởi kiện là cá nhân, hoặc nơi người khởi kiện có trụ sở (nếu người khởi kiện là tổ chức)
+ Cơ quan ngang Bộ:
· Thanh tra Chính phủ
· Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 10· Ủy ban dân tộc
· Văn phòng Chính phủ
+ Cơ quan thuộc Chính phủ
· Ban Quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
· Bảo hiểm xã hội Việt Nam
· Thông tấn xã Việt Nam
· Đài tiếng nói Việt Nam
· Đài truyền hình Việt Nam
· Học viện Chính trị - hành chính quốc gia HCM
· Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam
· Viện khoa học xã hội Viện Nam
+ Văn phòng Chủ tịch nước
+ Văn phòng Quốc hội
Ví dụ: Công ty TNHH B có trụ sở tại tỉnh Ninh Bình làm hồ sơ đề nghị Bộ Kế hoạch
và Đầu tư (trụ sở tại Thủ đô Hà Nội) cấp giấy phép đầu tư dự án có vốn đầu tư 700
tỷ đồng nhưng không được phê duyệt đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình
b) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;
Đối với những quyết định hành chính, hành vi hành chính của những cơ quan chức năng thuộc các cơ quan nhà nước ở trung ương tại Khoản a và những người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó, thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện có cư trú, làm việc hoặc trụ sở.
Theo quy định tại Theo quy định của Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007
của Chính phủ, các tổ chức của Bộ gồm có: Vụ, Văn Phòng, Thanh tra, Cục, Tổng cục và tương đương, cơ quan địa diện của Bộ ở địa phương và ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 15), như vậy, cơ quan chức năng thuộc Bộ gồm: Thanh tra, Cục, Tổng Cục Tổng cục hải quan.
Ví dụ:
Trang 11- Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ra quyết định xử phạt công ty
cổ phần V có trụ sở chính tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh về hành vi phân phối chứng khoán không đúng quy định với mức tiền phạt là 70.000.000 đồng Không đồng ý, công ty V khởi kiện Ủy ban Chứng Khoán có trụ sở tại thủ đô Hà Nội Tòa
án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
à Như vậy, các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở Trung ương sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết.
Trong trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính;
Ví dụ: bà M Việt kiều Pháp, kiện giấy chứng nhận quyền tác giả của Cục Sở hữu trí tuệ ở Hà Nội Tòa án nhân dân Hà Nội giải quyết
c) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó;
- Các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh và
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó, ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức của Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở, chuyên viên của Sở, Cục thuế, Cục Hải quan, Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục thú y, Cục trưởng cụa hải quan, Sở Công thương…sẽ do Tòa án nhân dân cấp
tỉnh giải quyết
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người cóthẩm quyền trong cơ quan nhà nước tỉnh nào sẽ do Tòa án nhân dân tỉnh đó giảiquyết
có nơi cư trú tại Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền là Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh;
Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật Tố tụng hành chính Cơ quan đại diệnthực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ vớiquốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế tiếp nhận và thống nhất quản lý hoạt động
Trang 12đối ngoại phù hợp với quy định của pháp luật Cơ quan đại diện ngoại giao theo Luật
Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đượcQuốc hội thông qua ngày 18/6/2009 là đại sứ quán (Khoản 1 Điều 4)
Khi khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoạigiao hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan này (đại sứ đặc mệnh toàn quyền, đại
sứ, công sứ, tham tán công sứ, tham tán, bí thư thứ nhất, bí thư thứ hai, bí thư thứ ba,tùy viên)
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gồm: cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quanđại diện lãnh sự và cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế Như vậy, chỉ có quyết địnhhành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao (là đại sứ quán) vàngười có thẩm quyền trong cơ quan này mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
đ) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án;
- Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ giải quyếttheo thủ tục sơ thẩm quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương
Ví dụ:+ Cấp tỉnh: quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, Giám đốc Sở, Cục trưởng cục thuế…
+ Bộ: Bộ trưởng
+ Ngành trung ương:
- Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kỷ luật buộc thôi việc làm việc sẽ có thẩm quyền giảiquyết
Ví dụ: + Quyết định kỷ luật buộc thôi việc của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với
chuyên viên D là công chức Vụ Pháp chế Bộ Công thương tại thủ đô Hà Nội sẽ thuộcthẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thủ đô Hà Nội
à Chỉ căn cứ vào Tòa án cấp tỉnh nơi người bị kỷ luật buộc thôi việc làm việc, khôngquan tâm cơ quan người ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc ở đâu
Trang 13e) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm
vi địa giới hành chính với Toà án
Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh làkhiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương và Hộiđồng Cạnh tranh Đây là cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ởtrung ương, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người khởi kiện cư trú, làm việc (cá nhân)hoặc có trụ sở (tổ chức) sẽ giải quyết
Ví dụ:
Công ty H có trụ sở tại thành phố Hải Phong bị Cục trưởng Cục Quản lý Cạnh tranh
xử phạt 50.000.000 về hành vi bán hàng đa cấp bất chính và, không đồng ý, Công ty
H khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Công thương yêu cầu hủy quyết định trên, Bộ trưởng
Bộ Công thương ra quyết định bác yêu cầu khiếu nại Công ty H khởi kiện Tòa án cóthẩm quyền giải quyết làTòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
g) Trong trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện.
Tòa án nhân dân tối cao sẽ hướng dẫn vấn đề này.
ØThẩm quyền xét xử hành chínhtheo cấp và theo lãnh thổ có thể được xác định theo
nguyên tắc sau:
- Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết quyết định hành chính, hành vi hànhchính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyềntrong cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống cùng phạm vi địa giới hành chínhcủa Tòa án
+ Danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri thuộc huyện mình
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ giải quyết:
+ Quyết định hành chính, hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ở trung ương: Tòa án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.
+ Quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan nhà nước cấp tỉnh, Bộ, ngành trung ương: Tòa án nơi người bị kỷ luật làm việc.
+ Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh: Tòa
án nơi người khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.
à Ví dụ: Vụ việc ông Cù Huy Hà Vũ kiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ,
vì sao Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trả lại đơn khởi kiện?
Kết luận:
à Luật TTHC quy định về loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theophương pháp loại trừ, điều này không chỉ đáp ứng được nhu cầu mở rộng thẩm quyền
Trang 14giải quyết khiếu kiện hành chính mà còn thể hiện tính khoa học, tính hợp lý của kỹthuật lập pháp mới, tiến bộ so với cách quy định liệt kê như Pháp lệnhTTGQCVAHC hiện hành Điều đó sẽ làm cho "tuổi thọ" của luật cao hơn và giúp chongười thực thi pháp luật dễ áp dụng.
Câu 6: Trình bày các trường hợp thay đổi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân : Đìêu 41: Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đồi người tiến hành tố tụng:
Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong nhữngtrường hợp sau:
1. Đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự
2. Đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó
3. Đã tham gia vào việc ra quyết định hành chính hoặc có liên quan đến hành vi hànhchính bị khởi kiện
4. Đã tham gia vào việc ra quýêt định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hànhchính hành vi hành chính bị khởi kiện
5. Đã tham gia vào việc ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức hoặc đã thamgia vào việc quyết định giải quýêt khiếu nại đối với quyết định buộc kỷ luật côngchức bị khởi kiện
6. Đã tham gia vào việc ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quýêtkhiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khởi kiện
7. Đã tham gia vào việc lập danh sách cử tri bầu cửa đại biểu Quốc hội, danh sách cửtri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân bị khởi kiện
8. Có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Điều 42: Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân:
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trongnhững trường hợp sau đây:
1. Thuộc 1 trong những trường hợp quy định tại đìêu 41 của Luật này
2. Là người thân thích với các thành viên khác trong hội đồng xét xử;
3. Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừtrường hợp là thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy banThẩm phán Tòa án cấp tỉnh được tham gia xét xử nhiều lần cùng 1 vụ án theo thủ tụcgiám đốc thẩm, tái thẩm;
4. Đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư kýTòa án
Trang 15Ví dụ: Trong hội đồng xét xử Thẩm phán A và Hội thẩm nhân dân B là anh em ruộtvới nhau thì trong trường hợp này Hội thẩm nhân dân phải là người từ chối hoặc bịthay đổi.
Câu 7: Phân tích đặc điểm của người khởi kiện, người bị kiện trong vụ án hành chính:
Người khởi kiện : Điều 50
Khái niệm:
Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối vớiquyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyếtđịnh giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách
cử tri ( Khỏan 6 điều 3)
Từ khái niệm trên:
Ta thấy người khởi kiện có thể là cá nhân, cơ qua, tổ chức
Người khởi kiện là người bị xâm hại bởi quyết định hành chính hoặc hành vi hànhchính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc
Quyền và nghĩa vụ người khởi kiện : Điều 50 Luật TTHC
1.Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 49 của luật này
2.Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thay đổi, bổ sung nội dung yêucầu khởi kiện nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn
Như vậy, người bị kiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính có thể là cánhân, cơ quan hoặc tổ chức
Người bị kiện :
Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hànhchính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh, việc lập danh sách cử tri bị khởi kiện
Quyền và nghĩa vụ của người bị kiện : ( Điều 51)
1.Các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Đìêu 49 của Luật này ;2.Được Tòa án thông báo về việc bị kiện
3 Sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luậtbuộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnhtranh, việc lập danh sách cử tri bị khởi kiện
Ví dụ: Ông T là chuyên viên phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyệnphước Sơn, bị chủ tịch UBND huyện ra quyết định kỷ luậyt buộc thôi việc vì không
đủ uy tín để đảm bảo nhiệm vụ Sau khi ông T khiếu nại chủ tịch UBND huyện đãgiữ nguyên quyết định ban đầu, không đồng ý Ông T khởi kiện ra Tòa
Trang 16à người khởi kiện là cá nhân ông T, là người trực tiếp bị xâm hại bởi QĐKLBTV Chỉông T mới kiện được, bà B là vợ ông T cũng không kiện được bởi vợ ông T khôngphải là người bị xâm hại bởi QĐ trên.
Người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn nếu ông là người ký quyết định.Trong quá trình xét xử thẩm phán sẽ là người xác định tư cách của những người thamgia tố tụng : xác định người bị kiện và người khởi kiện
Câu 8 : So sánh người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập ? Cho ví dụ minh họa ?
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức tuy không khởikiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyềnlợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa ánchấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan ( Khoản 8 Điều 3)
Người có quyền lợi và nghĩa cụ liên quan tùy theo quyền lợi và nghĩa vụ của mình cóthể tham gia cùng với bên người khởi kiện, người bị kiện khi không có yêu cầu độclập hoặc tham gia độc lập khi họ có yêu cầu độc lập
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
Là những người tham gia tố tụng sau khi vụ án đã phát sinh ; họ có quyền và lợi íchđộc lập với quyền và lợi ích của người khởi kiện và của người bị kiện, do đó họ cóthể đưa ra yêu cầu độc lập
Ví dụ :
A và B là hàng xóm, A mượn xe của B bảo là chở người nhà đi khám bệnh nhưngdùng xe của B để đua xe trái phép bị trưởng phòng CSGT đường bộ xử phạt 15 triệuđồng và tịch thu xe Không đồng ý A khởi kiện
A là người khởi kiện
Người bị kiện là trưởng phòng CSGT đường bộ
Yêu cầu hủy quyết định xử phạt mà trong đó có cả tịch thu xe
B tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nếu B có yêucầu xin lại xe thì B chính là người có yêu cầu độc lập
Là những người tham gia tố tụng sau khi vụ án đã phát sinh : Quyền và nghĩa vụ của
họ gắn liền và phụ thuộc 1 phía người khởi kiện hoặc người bị kiện nên họ không cóquyền đưa ra yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Ví dụ : Công ty TNHH A được cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ cho nhãn hàng M của mình.Công ty B cho rằng nhãn hiệu M gây nhầm lẫn với nhãn hiệu mà cụa Sở hữu trí tuệcấp cho mình
Trang 17Chủ thể liên quan đến vụ án : Công ty Aà Công ty A không bị kiện cũng không khởikiện việc công ty B không ảnh hưởng đến công ty A.
Công ty A không có yêu cầu độc lập vì quyền và nghĩa vụ của công ty A gắn liền vớicục Sở hữu trí tuệ Nếu cục SHTT thắng kiện thì công ty A được bảo hộ, ngược lạinếu phán quyết cục SHTT ban hành trái quy định của pháp luật và hủy QĐ này thìcông ty A sẽ không được bảo hộ nhãn hàng M nữa
Câu 9 : Trình bày điều kiện khởi kiện vụ án hành chính ( quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, danh sách cử tri) Cho ví dụ minh họa
Khởi kiện vụ án hành chính là hành vi tố tụng của cá nhân, cơ quan tổ chức yêu cầuTòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng quyền vàlợi ích hợp pháp đó đang bị xâm phạm bởi các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án
Điều kiện khởi kiện : đủ 4 điều kiện :
1.Đối tượng khởi kiện :
Đối với Quyết định hành chính, Hành vi hành chính, Quyết định kỷ luật buộc thôiviệc cá nhân, cơ quan tổ chức được khởi kiện khi không đồng ý với quyết định hành
vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy địnhcủa pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc được giải quyết nhưng khôngđồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó
+ Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh : cá nhân ,
cơ quan tố chức được khởi kiện trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.+ Danh sách cử tri bầu cử đại biểu quốc hội, danh sách cử tri bầu cử hội đồng nhândân cá nhân được quyền khởi kiệntrong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩmquyền giải quýêt khiếu nại nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật
mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ývới cách giải quyết khiếu nại
1.Thời hiệu khởi kiện : Khỏan 1 Điều 104
Là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ ánhành chính bảo vệ quyền và lợi ích bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mấtquyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Thời hiệu khởi kiện : 1 năm
Trang 18Đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luậtbuộc thôi việc thời hiệu khởi kiện là 1 năm tính kể từ ngày nhận được hoặc biết được
có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định bị kỷ luật buộc thôi việc
Ví dụ :
Ngày 11/05/2011 hộ gia đình ông A bị UBND Quận 9 ra QĐ số 120/QĐ-UBND vềviệc bồi thường 2000m2 đất bị thu hồi là 35 triệu đồng, ông A nhận được quyết địnhvào ngày 30/05/2011 Hộ gia đình ông A không đồng ý, khởi kiện Ngày khởi kiện là
Thời hiệu khởi kiện là từ ngày 08/03/2011 à07/04/2011
Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân: 5
ngày trước ngày bầu cử
Ví dụ : A không thấy tên mình trong danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân đã khiếu nại lên UBND phường X quận Y ( nơi lập danh sách cử tri).Ngày 10/05/2011 UBND phường X ra quyết định bác đơn yêu cầu của Ông A Biếtngày bầu cử là 22/05/2011
Ông A được quyền khởi kiện từ ngày 10/05/2011à hết ngày 17/05/2011
1.Vụ việc chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án.
Ví dụ : Ông H và bà C có 1 căn nhà đã có giấy tờ hợp pháp Năm 2006, ông A bán ½căn nhà cho bà K, được UBND Phường và Quận xác nhận Đến 3/2008 ông bà A bántiếp ½ căn nhà cho ông C thì được cơ quan chức năng cho biết tòan bộ căn nhà trên
đã được UBND tỉnh cấp cho bà K bằng QĐ số 195/QD-UBND Ông A khởi kiện raTòa án sơ thẩm Tòa án sơ thẩm hủy QĐ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà vàquyền sử dụng đất trên của UBND tỉnh Căn cứ vào bản án trên UBND tỉnh ra QĐ110/QĐ-UBND thu hồi QĐ 195/QĐ-UBND được ban hành trên cơ sở bản án đã cóhiệu lựccủa pháp luật. à bà K không thể khởi kiện được
Hình thức khởi kiện : Khỏan 1 đìêu 105
Câu 10 : Phân tích thời điểm, hình thức Tòa án thụ lý vụ án hành chính ?
Thụ lý vụ án là hành vi tố tụng của Tòa án nhân dân chấp nhận việc giải quyết khiếukiện, việc khởi tố ; được xác định bằng hành vi ghi vào sổ thụ lý án sau khi đã xemxét điều kiện khởi kiện, khởi tố và điều kiện thụ lý vụ án
Trang 19Sau khi nhận được đơn khởi kiện, tòa án sẽ xem xét xem có đủ các điều kiện khởikiện : chủ thể, đối tượng, thời hiệu, bản án đã có hiệu lực, hình thức đơn khởi kiệntheo Khỏan 1 đìêu 105 nếu không đủ đìêu kiện thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.Tòa án xem xét vụ việc có thuộc thẩm quyền của mình hay không, thẩm quyền theocấp, thẩm quyền theo lãnh thổ, Khi xem xét những điều kiện trên đầy đủ Tòa án sẽnhận đơn, việc Tòa án vào sổ thụ lý vụ án chính thức là thời đỉêm giải quyết vụ án.
Thời điểm, thủ tục thụ lý vụ án hành chính : Điều 111 Luật TTHC
1.Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm phán đượcphân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyềngiải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng ánphí ; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì thôngbáo cho người khởi kiện biết về thụ lý vụ án Trong thời hạn 10 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phảinộp tiền tạm ứng án phí
2.Tòa án thụ lý vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng
án phí.Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thìngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việcthụ lý
Hết thời hạn quy định tại khỏan 1 điều 111 của luật này mà người khởi kiện khôngxuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trừơng hợp có lý do chínhđáng ( Điểm i khỏan 1 đìêu 109)à Tòa án trả lại đơn khởi kiện
Câu 11 : Trình bày sự khác nhau giữa trả lại đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ án ?
Trả lại đơn khởi kiện :
Thời điểm : Trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Căn cứ vào điều 109 Luật Tố tụng hành chính
Khỏan 1 Điều 109 : Trả lại đơn khởi kiện :
1.Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây :
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
b) Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính
c) Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng
d) Chưa có đủ đìêu kiện khởi kiện vụ án hành chính
đ) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật
e) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
g) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trongtrường hợp quy định tại Đìêu 31 của Luật này
Trang 20h) Đơn khởi kiện không có đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Đìêu 105 của Luậtnày mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Đìêu 108 củaLuật này.
i) Hết thời hạn quy định tại khỏan 1 điều 111 của luật này mà người khởi kiện khôngxuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trừơng hợp có lý do chínhđáng
Đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án có thẩm quyền sau khi thụ lý vụ án phát hiện những căn cứ theo quy định của pháp luật đã ra quyết định chấm dứt việc giải quyết vụ án.
Thời điểm : Sau khi tòa án thụ lý vụ án
Khỏan 1 Điều 120 : Đình chỉ giải quyết vụ án :
1.Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong các trường hợp sau :a) Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa
kế ; cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân , cơ quan, tổ chức kế thừaquyền và nghĩa vụ tố tụng
b) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp nhận
c) Ngừơi khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt
d) Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính , quyết định kỷ luật buộc thôi việc,quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứthành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu
đ) Các trường hợp quy định tại khỏan 1 Điều 109 của Luật này mà Tòa án đã thụ lý.àCăn cứ theo Khỏan 1 điều 120 thì Tòa án phát hiện có những sai lầm sau khi Tòa ánthụ lý đơn, vì tòa án thụ lý sai sẽ đình chỉ giải quyết vụ án sau đó trả lại đơn khởikiện
Căn cứ theo khỏan 1 điều 109 thì Tòa án phát hiện ra những sai sót trước khi thụ lý
vụ án nên trả lại đơn khởi kiện
Câu 12 : So sánh giữa quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính và quyết định hõan phiên tòa.
Giống : Thời điểm : Sau khi Tòa án thụ lý vụ án
Khác
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Quyết định hoãn phiên tòa.
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án có thẩm quyền sau khi thụ lý vụ án vàphát hiện những căn cứ theo quy định của pháp luật đã ra quyết định tạm dừng việcgiải quýêt vụ án
Trang 21Điều 118 : Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính :
1. Tòa án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính trong các trườnghợp sau đây :
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan tổ chức đã giải thể mà chưa có cá nhân, cơquan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng ;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được ngườiđại diện theo pháp luật ;
c) Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý
do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt các đương sự
d) Cần đợi kết quả giải quyết của các cơ quan khác hoặc vụ án khác có liên quan
1.Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án hành chính khi lý do của việc tạm đình chỉkhông còn
2.Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có thể kháng cao, khángnghị theo thủ tục phúc thẩm
Thời hạn tạm đình chỉ không có căn cứ xác định thời gian bao lâu, phụ thuộc vào căn
cứ tạm đình chỉ
Hoãn phiên tòa : Điều 136
1 Các trường hợp phải hoãn phiên tòa :
a) Các trường hợp quy định tại khoản 3 và khỏan 4 điều 129, khoản 1 Điều 131,khỏan 2 Điều 135 của Luật này
Khỏan 1 điều 130 : Vắng mặt Viện Kiểm sát
Khoản 1 điều 131 : Tòa án triệu tập lần thứ nhất, đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt
Khoản 2 Điều 135 :
- Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế
b) Thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên , Thư ký Tòa án, người phiên dịch
bị thay đổi mà không có người thay thế ngay
- Người giám định bị thay đổi
- Cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà không thể thực hiệnđược ngay tại phiên tòa
Trang 22- Trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại khoản 2 Điều 133 và Khỏan 2 điều
134 của Luật này
Khoản 2 Điều 133 :
Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiêntòa hoặc vẫn tiến hành xét xử Trường hợp nguời làm chứng vắng mặt tại phiên tòakhông có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì
có thể bị dẫn giải đến phiên tòa theo quy định của Hội đồng xét xử
Đình chỉ giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm: Khỏan 1 Đìêu 198 :
Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong cáctrường hợp sau đây :
a) Các trường hợp quy định tại điểm a khỏan 1 điều 120 của Luật này
Điểm a K1 Đ120 :Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ
không được thừa kế ; cơ quan, tổ chức đã giải thể mà không có cá nhân , cơ quan, tổchức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện Kiểm sát rút toàn bộ khángnghị
c) Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt
d) Các trường hợp mà pháp luật có quy định
Khỏan 1 Điều 203 :
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử sơ thẩm màngười khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bikiện có đồng ý hay không và tùy vào từng trường hợp mà giải quyết như sau :
a) Người khởi kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện củangười khởi kiện
b) Người bị kiện đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện.Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án Trong trường hợp này, các đương sự này vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo
Trang 23quýêt định của Tòa án cấp sơ thẩm và chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy địnhcủa pháp luật.
2. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thìngười khởi kiện có quỳên khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật này quy định nếuthời hiệu khởi kiện vẫn còn
Khỏan 4,5 Điều 205 :
4.Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm
có một trong những trường hợp quy định tại khỏan 1 đìêu 120 của Luật này
5 Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm nếu việc xét xử phúc thẩm
vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập đến lần thứ 2 mà vẫnvắng mặt
Trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
Câu 14 : So sánh đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong giai đọan xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
án đang xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thì Hội đồng xét xử đình chỉ và chuyển hồ
sơ cho Tòa án có thẩm quyền
Khỏan 1 Điều 203 :
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử sơ thẩm màngười khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi người bikiện có đồng ý hay không và tùy vào từng trường hợp mà giải quyết như sau :
a) Người khởi kiện không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện củangười khởi kiện
b) Người bị kiện đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của người khởi kiện.Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án Trong trường hợp này, các đương sự này vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo
Trang 24quýêt định của Tòa án cấp sơ thẩm và chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy địnhcủa pháp luật.
3. Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thìngười khởi kiện có quỳên khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Luật này quy định nếuthời hiệu khởi kiện vẫn còn
Khỏan 4,5 Điều 205 :
4.Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm
có một trong những trường hợp quy định tại khỏan 1 đìêu 120 của Luật này
5 Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm nếu việc xét xử phúc thẩm
vụ án cần phải có mặt người kháng cáo và họ đã được triệu tập đến lần thứ 2 mà vẫnvắng mặt
Trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
Điều 228 :Hủy bản án,quyết định của tòa đã giải quyết vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án :
Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án , quyết định của tòa án đã giải quyết
vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án , nếu trong quá trình xét xử sơ thẩm, xét xửphúc thẩm có 1 trong những trường hợp quy định tại khoản 1 điều 120 của Luật này.Tòa án cấp giám đốc thẩm giao hồ sơ vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để trả lạiđơn khởi kiện cùng tài liệu , chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, nếu có yêu cầu
Điều 237 : thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm :
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục
do Luật này quy đinh5
3. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử và đình chỉ giải quyết vụ án
Câu 15 : Phân biệt thủ tục phúc thẩm với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm ( đối tượng, phạm vi, đìêu kiện phát sinh, thẩm quyền của Hội đồng xét xử ?) Phúc thẩm
Giám đốc thẩm
Tái thẩm
Đối tượng kháng cáo, kháng nghị :
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ( gồm Bản án sơ thẩm của TAND cấphuyện và bản án sơ thẩm của TAND cấp tỉnh)
Quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ( gồm quyết định tạm đình chỉ giảiquyết vụ án và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án)
Phạm vi xét xử phúc thẩm : Điều 190
Trang 25Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án , quyết định của Tòa án cấp sơthẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, khángnghị.
Điều kiện phát sinh :
Thẩm quyền
PHÂN BIỆT TẠM NGƯNG PHIÊN TOÀ VÀ HOÃN PHIÊN TOÀ:
1. Hoãn phiên toà sơ thẩm
Trong tiếng Việt “hoãn là chuyển thời điểm đã định để làm việc gì đó sang thời điểmkhác muộn hơn”(1) Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên toà là việc chuyển thờiđiểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn Việc hoãnphiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định
1.1 Căn cứ hoãn phiên tòa
1.2 Thời hạn hoãn phiên tòa
1.3 Hình thức hoãn phiên tòa
1.4 Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa
2. Tạm ngừng phiên toà sơ thẩm
Tạm ngừng là không tiếp tục hoạt động mà phải dừng lại trong thời gian ngắn (8).Như vậy, tạm ngừng phiên tòa có thể hiểu là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động
tố tụng trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định1.1 Căn cứ tạm ngừng phiên toà
1.2.Thời hạn tạm ngừng phiên toà
1.3 Hình thức tạm ngừng phiên toà
1.4 Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định
Theo quan điểm của anh/chị, các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại Điều 123 Luật TTHC 2015 nên bổ sung trường hợp: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” không? Vì sao?
Theo quan điểm của em, theo điều 123 LTTHC 2015 quy định các trường hợp trả lại
đơn khởi kiện, trong đó không có căn cứ “Thời hiệu khởi kiện đã hết” như vậy là hợp lý.
Việc bổ sung thêm căn cứ này vào điều 123 LTTHC 2015 là không cần thiết
Quy định “Thời hiệu khởi kiện đã hết” trước đây trong Luật TTHC 2010 tạo cơ sở pháp
lý cho Tòa án trong việc trả lại đơn khởi kiện, giúp hạn chế việc khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND, Chủ tịch UBND đã hết thời hiệu khởi kiện Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đa số các trường hợp trả lại đơn khởi kiện là do hết thời hiệu khởi kiện Không phải trong mọi trường hợp người khởi kiện đều có thể nhận biết được quyền khởi kiện của mình đã hết để không nộp đơn khởi kiện và đặc thù trong TTHC, người khởi kiện được coi là “người yếu thế” trong việc “dân kiện quan”, thời hiệu khởi kiện càng cần được xem xét thấu đáo.
Trang 26So với Luật TTHC 2010 trước đây thì Luật TTHC 2015 đã có những sự sửa đổi, bổ sung về vấn đề trả lại đơn khởi kiện Đặc biệt, trong Luật TTHC không còn quy định căn cứ thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện như trước Có thể hiểu, không tự nhiên
mà Luật TTHC 2015 lại sửa đổi, bổ sung theo hướng như vậy Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Về cơ sở lý luận
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 116 Luật TTHC, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ
quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện Trong khi đó điểm a Khoản 1 Điều 123 quy định trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện có trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện (là những người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 115)
Không có quyền khởi kiện không đồng nhất với việc bị mất quyền khởi kiện Việc mất quyền khởi kiện ở đây được hiểu là trường hợp mà người khởi kiện có quyền khởi kiện nhưng đã không thực hiện quyền của mình trong thời hạn do pháp luật quy định và từ đó mất quyền khởi kiện Khi mà họ mất quyền khởi kiện của mình rồi thì đương nhiên không được khởi kiện nữa Do vậy không cần quy định hết thời hiệu khởi kiện thì sẽ trả lại đơn Khi đó thì Tòa án có thể sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều
143 Luật tố tụng hành chính 2015.
Thứ hai, Điều 123 Luật TTHC 2015 đã quy định các căn cứ trả lại đơn khởi kiện mà
không có căn cứ “Thời hiệu khởi kiện đã hết” Có thể hiểu rằng Tòa án sẽ thụ lý tất cả vụ
án hành chính theo thủ tục chung để giải quyết mà không từ chối bất kì vụ án nào mặc dù những vụ án đó có thể đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật Do đó, Tòa án
sẽ không có căn cứ để trả lại đơn khởi kiện, mà phải tiếp tục thụ lý vụ án hành chính
Thứ ba, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 LTTHC 2015 về việc đình chỉ giải
quyết vụ án, Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp “…Thời hiệu khởi kiện đã hết” Do vậy, quy định tại Điều 123, 143 LTTHC 2015 có nghĩa là việc thời
hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án vẫn sẽ thụ lý theo thủ tục chung và sau đó ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Có thể thấy rằng việc không bổ sung trường hợp: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” theo Luật TTHC 2015 dẫn đến việc khi nhận các đơn khởi kiện vụ án hành chính đã hết thời hiệu Tòa án vẫn phải tiến hành thụ lý, sau đó xác định thời hiệu khởi kiện đã hết, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy sẽ tránh trường hợp Tòa án bỏ lọt các vụ án khi có căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện hoặc nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu
vụ án
Trang 27 Về cơ sở thực tiễn
Về mặt thực tiễn cho thấy, nếu điều 123 LTHHC 2015 tiếp tục quy định căn cứ hết thời hiệu khởi kiện để trở lại đơn khởi kiện thì sẽ khiến cho Thẩm phán khi nhận được đơn khởi kiện mà thấy hết thời hiệu khởi kiện họ sẽ lập tức trả ngay lại đơn khởi kiện đó Điều này chưa thể hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của họ đối với việc thụ lý các vụ án hành chính, công việc của Thẩm phán lại được giảm đi một cách đáng kể Từ đó, không thể trau dồi được khả năng giải quyết các vụ án hành chính của Thẩm phán Bởi chỉ khi giải quyết được nhiều vụ án hành chính thì Thẩm phán mới rút ra những kinh nghiệm cho bản thân, nâng cao kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ của mình
Bên cạnh đó, việc quy định như vậy là để bảo vệ quyền con người, quyền công dân hơn Bởi xuất phát từ tính chất đặc thù của quan hệ pháp luật TTHC, đó là quan hệ giữa một bên là bên khởi kiện (cá nhân, tổ chức) và một bên là bị kiện (cơ quan hành chính nhà nước) Điều này, đã thấy rõ sự yếu thế thuộc về người khởi kiện (người dân) Trong khi đó, mục đích cuối cùng mà luật TTHC 2015 hướng tới là xây dựng được một nền hành chính hiệu quả, hiệu lực, phục vụ, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của những người dân Vì vậy, nếu quy định thêm trường hợp trả lại đơn khởi kiện khi hết thời hạn khởi kiện, vô tình làm cho quyền lợi của người khởi kiện không được xem xét một cách cẩn trọng, thấu đáo
Mặt khác, chỉ nên coi thời hiệu khởi kiện là điều kiện để giải quyết vụ án chứ không nên xác định thời hiệu khởi kiện là điều kiện thụ lý vụ án Nếu bổ sung trường hợp: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” vào các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại Điều 123 Luật TTHC 2015 thì xem xét thời hiệu khởi kiện phải đặt ra trước khi thụ lý vụ án Trong thực tiễn, vào thời điểm này Tòa án chưa tiến hành nghiên cứu, xem xét toàn bộ nội dung liên quan đến vụ án trong đó có nội dung về xác định thời hiệu khởi kiện nên sẽ chưa thể xem xét thụ lý vụ án hay không Ngoài ra, luật quy định các trường hợp đình chỉ giải quyết
vụ án trong từng giai đoạn khi hết thời hiệu khởi kiện nên bãi bỏ trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện là hợp lý.
Như vậy, theo quan điểm của em, Điều 123 LTTHC 2015 quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện, trong đó không có căn cứ “Thời hiệu khởi kiện đã hết” là hợp lý.
Theo quan điểm của anh chị, quyết định hành chính quy phạm có nên được quy định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại Điều 30 Luật TTHC 2015 hay không?
Điều 30 Luật TTHC năm 2015 có quy định về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo đó, đối tượng khởi kiện hành chính bao gồm QĐHC, HVHC, quyết định
kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lí vụ việc cạnh tranh,
Trang 28việc lập danh sách cử tri.
Khoa học luật hành chính chia QĐHC thành ba loại là QĐHC quy phạm, QĐHC chủ đạo và QĐHC cá biệt Tuy nhiên, theo quy định Luật TTHC hiện hành, chỉ QĐHC cá biệt mới có thể trở thành đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Đó là những văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn
đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một
số đối tượng cụ thể mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Vậy, câu hỏi được đặt ra là QĐHC quy phạm có nên được quy định bổ sung là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại Điều 30 Luật TTHC năm 2015 hay không?
Ban hành quyết định quy phạm là hoạt động mang tính đặc trưng của các chủ thể được trao quyền hành pháp bởi một trong những biểu hiện của quyền hành pháp là hoạt động lập quy Trên cơ sở luật, pháp lệnh, các chủ thể trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước sẽ ban hành những quy phạm chủ yếu nhằm cụ thể hóa luật, pháp lệnh để quản lí xã hội trong từng lĩnh vực Do đó, quyết định quy phạm có ý nghĩa và vai trò rất đặc biệt trong
hệ thống văn bản pháp luật nói chung, văn bản hành chính nói riêng Với nội dung là những quy tắc xử sự, xác định các quyền và nghĩa vụ cho các đối tượng liên quan, quyết định quy phạm tạo ra một khuôn khổ pháp lí, trong đó các chủ thể của pháp luật hành chính sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Quyết định quy phạm được nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành với những hình thức, nội dung và mục đích khác nhau Theo quy định của pháp luật, Chính phủ ra các quyết định quy phạm dưới hình thức là những nghị định; Thủ tướng Chính phủ ra quyết định quy phạm với hình thức là những quyết định, chỉ thị; Bộ trưởng ra quyết đinh, chỉ thị; UBND các cấp ra quyết định, chỉ thị; v.v.
Theo quan điểm của em, không nên bổ sung QĐHC quy phạm là đối tượng khởi kiện
vụ án hành chính vì những lý do sau:
Thứ nhất, quyền khởi kiện vụ án hành chính là khả năng của cơ quan, tổ chức, cá
nhân được yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết yêu cầu của mình đối với QĐHC, hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với QĐHC, hành vi hành chính đó Cho nên, phải là những quyết định trực tiếp tác động đến quyền và lợi ích của người khởi kiện mới làm phát sinh quyền khởi kiện của họ Trong khi, các QĐHC quy phạm được ban hành chủ yếu nhằm cụ thể hóa luật, pháp lệnh để quản lý xã hội trong từng lĩnh vực Tức là, các QĐHC quy phạm tác động chung đến tất cả đối tượng quản lý chứ không riêng với một hay
Trang 29một số cá nhân Nếu quy định QĐHC quy phạm cũng là đối tượng khởi kiện thì việc xác định người khởi kiện gần như không thể thực hiện, do không có chủ thể nào chịu sự tác động trực tiếp của những quyết định này
Thứ hai, những QĐHC bị kiện phải là QĐHC được cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Ngược lại, QĐHC quy phạm không được ban hành trong khi cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, xử lý các việc cụ thể trong hoạt động hành chính mà thường được ban hanh hành trước để giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hoặc ban hành sau để giải quyết những vướng mắc, bất cập mà cơ quan có thẩm quyền gặp phải khi áp dụng luật, pháp lệnh vào thực tiễn quản lý hành chính nhà nước.
Thứ ba, trên thực tế nếu có quy định QĐHC quy phạm là đối tượng khởi kiện thì việc
này sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc xem xét, thụ lý vụ án hành chínhQĐHC quy phạm là cơ sở ban hành quyết định cá biệt QĐHC cá biệt được ban hành sai không đồng nghĩa với QĐHC quy phạm mà nó dựa vào là không đúng Tuy nhiên, nhận thức pháp luật của người dân nói chung còn chưa cao Việc quy định bổ sung đối tượng khởi kiện dễ dẫn đến tình trạng hiểu lầm về nguồn gốc phát sinh sự xâm phạm quyền và lợi ích của người khởi kiện Nhiều người sẽ nảy sinh tâm lý là vì quyết định hành chính cá biệt được áp dụng với mình không hợp pháp nên căn cứ, cơ sở của nó cũng không phù hợp Từ đó dẫn đến tình trạng công tác, hoạt động của Tòa án giảm về chất lượng nhưng tăng về số lượng do quá tải về yêu cầu khởi kiện cũng như các đối tượng khởi kiện bị chồng chéo (nhiều QĐHC
cá biệt cùng dựa trên một QĐHC quy phạm).
Trong khi đó, quyết định cá biệt là quyết định được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo và quy phạm của các cơ quan cấp trên hoặc của bản thân cơ quan ban hành quyết định đó nhằm giải quyết những việc cá biệt, cụ thể, chỉ có hiệu lực đối với các đối tượng cụ thể và chỉ được áp dụng một lần Vì thế quyết định cá biệt trực tiếp xâm hại đến lợi ích của
cá nhân, tổ chức Do đó, theo quy định của Luật TTHC 2015, chỉ quyết định cá biệt mới là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính Từ đó, giúp cho việc quản lý hành chính đạt được hiệu quả, dễ dàng và nhanh chóng hơn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân khởi kiện.
Vì những lý do nêu trên, quyết định hành chính quy phạm không nên được quy định bổ sung là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại Điều 30 Luật TTHC năm 2015.
Theo quan điểm của anh/chị, việc áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính có cần thiết không? Vì sao?
Trang 30Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau, có những qua điểm về lập pháp, hành pháp và tư pháp riêng Việt Nam là một quốc gia có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc điểm của hệ thống Civil Law Mặc dù vậy, Việt Nam không thừa nhận rằng mình thuộc cụ thể một hệ thống pháp luật nào trên thế giới Khác với hệ thống pháp luật Common Law, Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật như BLTTDS,
BLTTHS, Luật TTHC hiện nay của nước ta đều quy định về nguyên tắc “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Trong đó “pháp luật” được hiểu là
các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành và các cơ quan chức năng hướng dẫn, hay nói cách khác chúng ta vẫn đang theo tố tụng thành văn Như vậy có thể hiểu rằng, việc xét xử, áp dụng pháp luật vào các vụ án, vụ việc cụ thể phải dựa trên luật đã được ban hành có hiệu lực, chứ không hẳn dựa trên án lệ
Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận việc tồn tại của án lệ trong thực tiễn xét xử, được thể hiện tại Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND quy định về “Quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng thẩm phán
TAND tối cao”: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau”.
Đồng thời, tại khoản 3 Điều 191 Luật TTHC 2015 quy định: “3 Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định…”
Có thể thấy rằng, việc quy định về áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết vụ án đã góp phần cho thấy vai trò của án lệ đối với các vụ án nói chung, vụ án hành chính nói riêng Xét
về vai trò của án lệ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
Về mặt lý luận
Thứ nhất, việc áp dụng án lệ góp phần học tập, phát triển, tiếp thu kinh nghiệm về lập
pháp, hành pháp và tư pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển thuộc hệ thống pháp luật Common Law.
Thứ hai, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cơ sở hạ tầng luôn đi trước kiến
trúc thượng tầng Xã hội phát triển thì hệ thống pháp luật cũng phải phát triển theo để đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội hầu như nhanh hơn sự phát triển của các quy định pháp luật, quyết định đến việc ban hành quy định pháp luật Vì vậy có những vụ
án xảy ra mà pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu để giải quyết, chưa có những quy định phù hợp thì việc tạo ra án lệ và áp dụng án lệ có vai trò quan trọng để giải quyết vụ án được đúng đắn, kịp thời
Trang 31Thứ ba, án lệ dù đã hoàn thiện hay đang trong quá trình phát triển thì vẫn tồn tại bên
cạnh hệ thống Luật thành văn để bổ sung, hoàn thiện những lỗ hổng trong pháp luật hoặc bổ khuyết những quy định chưa rõ ràng mà pháp luật thành văn chưa kịp thời hoàn thiện, chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hoặc những vấn đề đã được pháp luật điều chỉnh nhưng thực tiễn còn nhiều cách hiểu khác nhau Thông qua hệ thống án lệ, Thẩm phán có thể tham khảo trong khi xét xử để đưa ra những phán quyết chính xác, đúng đắn, khách quan, trung thực, đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật.
Thứ tư, việc quy định áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án hành chính sẽ góp phần giúp
cho TA đảm bảo nguyên tắc “không được lấy lý do chưa có điều luật áp dụng để từ chối thụ
lý vụ án”.
Về mặt thực tiễn
Thực tế cho thấy, mặc dù pháp luật nước ta đang ngày một hoàn thiện những vẫn tồn tại những quy định còn chưa rõ ràng, dẫn đến những cách hiểu khác nhau khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng PL Vì vậy, việc áp dụng án lệ góp phần tạo ra những cách hiểu thống nhất giữa các chủ thể áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, góp phần giải quyết vụ án được khách quan, minh bạch, công bằng Ví dụ, ở hai địa phương đều xảy ra vụ việc có những tình tiết tương tự như nhau, tính chất giống nhau nhưng tòa án ở hai địa phương đó lại đưa ra những bản án, quyết định khác nhau thì sẽ gây ra sự thiếu công bằng, thiệt thòi cho người bị kiện hoặc người khởi kiện Hơn nữa, đối với những vụ án chưa được quy định cụ thể trong PL hiện hành, các cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải sử dụng án lệ để giải quyết vụ án, tránh việc trốn tránh trách nhiệm hay giải quyết thiếu chính xác.
Ngoài ra, ở Việt Nam, kể từ khi chưa có án lệ song các Tòa án vẫn luôn có xu hướng tham khảo những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; tham khảo tính đúng đắn về chuyên môn nghiệp vụ cũng như thể hiện sự tôn trọng, phán quyết mẫu mực của Tòa án; căn cứ vào bản án tiền lệ để đưa ra quyết định cho vụ án cụ thể có nội dung tương tự vụ án của mình Các phán quyết của Tòa án được tham khảo là các phán quyết có hiệu lực pháp luật đã tuyên trước đó, nhất là các phán quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Việc phát triển án lệ và tạo điều kiện cho các Thẩm phán chủ động nghiên cứu, áp dụng án lệ vào thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án hành chính, làm nâng cao trình độ cho các Thẩm phán cũng như cơ quan, người tiến hành tố tụng khác.
Bên cạnh đó, án lệ góp phần công khai hóa, minh bạch hóa và phổ biến rộng rãi đường lối xét xử các bản án và quyết định của Tòa án các cấp, là sự thể hiện tính đúng đắn, chuẩn mực trong các bản án, quyết định của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án được công
bố công khai, rộng rãi để tất cả mọi người cùng biết, cùng nghiên cứu, có tác dụng nâng cao
Trang 32ý thức, hiểu biết pháp luật trong cộng đồng và áp dụng chính xác, đúng đắn vào thực tế khi những sự kiện pháp lý đã xảy ra.
Tiếp nữa, việc quy định áp dụng án lệ của nước ta là quy định mới, và chỉ áp dụng án lệ khi nó đáp ứng được các điều kiện nhất định vì vậy, án lệ về các vụ án hành chính ở nước ta không nhiều Chính vì số lượng ít nên khi cần áp dụng án lệ để giải quyết vụ án hành chính thì cũng không khó để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tìm hiểu.
Từ những phân tích về mặt lý luận và thực tiễn ở trên, có thể thấy rằng:
- Án lệ góp phần hoàn thiện pháp luật quốc gia;
- Án lệ thúc đẩy Tòa án phát huy vai trò trong việc giải thích pháp luật;
- Án lệ góp phần thực hiện nguyên tắc thống nhất trong áp dụng pháp luật và bảo đảm
sự bình đẳng trước pháp luật;
- Án lệ góp phần nâng cao năng lực và tính xét xử độc lập của Thẩm phán;
- Án lệ còn góp phần đảm bảo khả năng dự đoán của người dân và sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Tóm lại, bởi án lệ có vai trò quan trọng không chỉ về mặt lý luận và còn cả trong thực tiễn vì thế, việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án là hết sức cần thiết Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ là quy định mới nên không tránh khỏi việc hiểu sai, sự bỡ ngỡ khi áp dụng Chính vì lẽ đó, khi áp dụng án lệ để giải quyết vụ án cần phải tuân theo đúng quy định của pháp luật, không lệ thuộc quá nhiều vào án lệ, áp dụng án lệ phải khách quan, công bằng chính xác Đặc biệt, không ngừng sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung, quy định về áp dụng án lệ trong vụ án hành chính nói riêng để có một cơ sở pháp lý chính thống khi giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp, từ đó nâng cao kỹ năng áp dụng án lệ cho cơ quan, người có thẩm quyền.
Theo quan điểm của anh/chị, quy định về áp dụng thủ tục rút gọn giải quyết một
số vụ án hành chính có cần thiết không? Vì sao?
Để bảo đảm việc giải quyết vụ án được nhanh gọn, kịp thời, nhất là đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng, nhiều nước trên thế giới quy định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết vụ án hành chính Ở nước ta, Luật TTHC năm 2015 đã quy định vấn đề này tại chương XIV “Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Tòa án”, gồm 9 điều, từ Điều 245 đến Điều 253 Đây là những quy định hoàn toàn mới được bổ sung để cụ thể hóa quy định của khoản 1 Điều 103 Hiến pháp 2013 cũng như Điều 8 Luật tổ chức TAND, bảo đảm giải quyết nhanh gọn, kịp thời những vụ án đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng, tránh việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tốn kém thời gian, công sức, chi phí của đương
sự và của Toà án trong việc giải quyết vụ án Do đó, việc áp dụng dụng thủ tục rút gọn giải
Trang 33quyết một số VAHC là rất cần thiết, được thể hiện qua các khía cạnh sau:
- Vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm đủ căn cứ giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
- Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
- Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Như vậy, để rút ngắn thời hạn giải quyết vụ án hành chính, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cần đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đề Qua đánh giá nếu thấy vụ án có đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ra quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định
Thứ hai, về hình thức, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn ban hành
đúng theo Mẫu số 17-HC ban hành kèm theo Nghị quyết ban hành về một số biểu mẫu trong TTHC số 02/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ngày 13 tháng
01 năm 2017.
Thứ ba, về nội dung, cần đáp ứng đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều
247
Trình tự giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn
Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 249 Luật TTHC 2015, việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do 01 Thẩm phán thực hiện Trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vẫn phải được tiến hành đầy đủ các thủ tục như xét xử các vụ án hành chính thông thường Chỉ khác
ở chỗ, sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán phải tiến hành đối thoại, nếu đương sự thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán lập biên bản đối thoại thành và
ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành Nếu đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử Trình tự, thủ tục xét xử được tiến hành đầy đủ các bước như vụ án thông thường Nếu tại phiên tòa phát sinh tình tiết mới làm cho vụ án không đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn, Thẩm phán xem xét,