1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009

88 585 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Khả Năng Sinh Trưởng Và Phát Triển Của Một Số Dòng Đậu Tương Nhập Nội Tại Huyện Lục Yên Tỉnh Yên Bái Năm 2008 - 2009
Tác giả Phạm Hải Thoại
Người hướng dẫn PGS.TS. Luân Thị Đẹp, Th.S. Trần Văn Điền
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa Học Nông Nghiệp
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 832,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của cây đậu tương, cũng như nhu cầu sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một gi

Trang 1

PHẠM HẢI THOẠI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƯƠNG NHẬP NỘI TẠI HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã được ghi

rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 9 năm 2009

Người viết cam đoan

Phạm Hải Thoại

Trang 3

1 Cô giáo PGS TS Luân Thị Đẹp Trưởng khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Cô đã trực tiếp hướng dẫn, dành cho tôi sự giúp

đỡ tận tình và sâu sắc trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

2 Thầy giáo Thạc Sỹ Trần Văn Điền thầy đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình thực tập và hoàn chỉnh luận văn

3 Các thầy cô giáo trong khoa sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

4 Các bạn đồng nghiệp, gia đình và chính quyền địa phương xã Mai sơn

huyện Lục Yên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 9 năm 2009

Tác giả

Phạm Hải Thoại

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

TGST Thời gian sinh trưởng

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây 5

Bảng1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ 5 năm gần đây 7

Bảng1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil 5 năm gần đây 8

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina 5 năm gần đây 9

Bảng 1.5 Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây 10

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây 21

Bảng 1.7 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Yên Bái từ năm 2004- 2008 31

Bảng 1.8 Tình hình sản xuất đậu tương của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái từ năm 2005- 2008 32

Bảng 3.1 Các giai đoạn sinh trưởng của các dòng đậu tương thí nghiệm 40

Bảng 3.2: Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thí nghiệm 44

Bảng 3.3 Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm năm 2008 47

Bảng 3.4 Một số loài sâu hại chính và khả năng chống đổ của các dòng đậu tương tham gia thí nghiệm 51

Bảng 3.5 Hàm lượng Protein, Lipit của các dòng đậu tương thí nghiệm 54

Bảng 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết của các dòng đậu tương năm 2008 56

Bảng 3.7 Năng suất thực thu của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm năm 2008 60

Bảng 3.8 Năng suất thực thu của các dòng đậu tương thử nghiệm tại mô hình không chủ động nước( đất đồi thấp) 62

Bảng 3.9 Kết quả đánh giá của người dân đối với 3 dòng đậu tương trong mô hình trình diễn ở vụ xuân năm 2009 63

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam 5

1.2.2 Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam 19

Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 33

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 33

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3 Mô hình trình diễn 37

2.4 Đánh giá lựa chọn dòng 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu tương thí nghiệm 39

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu tương 39 3.1.2 Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thí nghiệm năm 2008 43

3.1.3 Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương thí nghiệm vụ xuân và vụ đông năm 2008 46

Trang 7

3.1.4 Khả năng chống chịu của các dòng đậu tương thí nghiệm ở vụ xuân và vụ đông năm 2008 503.2 Một số chỉ tiêu sinh hoá của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm 543.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng đậu tương thí nghiệm 553.3.1 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các dòng đậu tương thí nghiệm 553.3.2 Năng suất thực thu của các dòng đậu tương tham gia thí nghiệm năm 2008 593.4 Mô hình trình diễn đậu tương tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 613.4.1 Năng suất thực thu của các dòng đậu tương trình diễn tại xã Mai sơn, huyện Lục Yên, vụ xuân 2009 613.4.2 Đánh giá của người dân đối với các dòng đậu tương trình diễn ở

vụ xuân năm 2009 63KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ngành nông nghiệp Việt Nam có nhiều vận hội mới đồng thời cũng có nhiều thách thức lớn Ngành nông nghiệp nước ta phải cạnh tranh với những nước có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới, đặc biệt là khi rào cản thuế quan không còn giá trị, thì sự cạnh tranh diễn ra càng khốc liệt hơn Tăng năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng là đòi hỏi cấp thiết của nông nghiệp nước ta, đồng thời chúng ta phải xây dựng cho được chiến lược phát triển nền nông nghiệp hiện đại có tính bền vững cao

Cây đậu tương của Việt Nam đứng sau cây lúa , ngô, khoai Khi nhu cầu lương thực được thoả mãn thì đậu tương trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước

Cây đậu tương (tên khoa học Glycine max L) thuộc cây họ đậu, là cây

công nghiệp ngắn ngày Nó được xem là “cây thần diệu”, còn được ví là

“vàng mọc từ đất” sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do giá trị kinh tế của nó Giá trị kinh tế chủ yếu của cây đậu tương được quyết định bởi các thành phần dinh dưỡng quan trọng chứa trong hạt đậu tương bao gồm Protein chiếm khoảng 40%, lipít 18- 25%, gluxit 10-15% Trong hạt đậu tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axít amin, đặc biệt là các axit amin không thể thay thế cần thiết cho cơ thể con người như Triptophan, leuxin, Izolơxin, valin, lizin, methiomin Ngoài ra còn có các muối khoáng như: Ca,

Fe, Mg, Na, P, K…, các vitamin B1, B2, D, K, E… Protein của đậu tương có phẩm chất rất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người, vì nó chứa một lượng đáng kể các amino acid không thay thế cần thiết cho cơ thể Đậu tương còn được chế biến thành 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành tới các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại như:

Trang 9

Kẹo, bánh đậu tương, bacon đậu tương, hotdogs đậu tương, đậu hũ cheese, các loại thịt nhân tạo (Trần Đình Long, 2000) [20] tất cả các loại sản phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao

Kết quả nghiên cứu của Bùi Tường Hạnh -1997 [11] cho thấy trong hạt

đậu tương có chất IZOFLAVONE có tác dụng làm giảm đáng kể lượng

Cholesterol trong máu khi sử dụng sản phẩm làm từ đậu tương

Trong công nghiệp dầu đậu tương được sử dụng làm si, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CS 1996) [21] đậu tương còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm dược, ngành công nghiệp ép dầu

Trong điều kiện nhiệt đới nóng, ẩm như nước ta thì đậu tương dễ đưa vào hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ với cây trồng khác góp phần nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất Vấn đề này rất có ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hoá cây trồng ở nước

ta hiện nay, đặc biệt là chiến lược thâm canh tăng vụ

Một tác dụng có ý nghĩa và đóng vai trò quan trọng của cây đậu tương trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đó là khả năng cố định đạm do vi khuẩn

nốt sần Rhizobium Japonicum sống cộng sinh ở rễ cho nên đậu tương là một

trong những cây trồng có khả năng cải tạo đất rất tốt

Các nốt sần ở bộ rễ cây đậu tương được coi như những “nhà máy phân đạm tí hon”, bởi những vi khuẩn trong nốt sần hoạt động rất cần mẫn tổng hợp đạm khí trời, làm giàu đạm cho đất, không gây ô nhiễm môi trường, mặt khác nó còn làm sạch bầu khí quyển giúp không khí trong lành hơn

Sau một vụ thu hoạch cây đậu tương đã trả lại cho đất một lượng đạm đáng

kể khoảng 50-80 kg đạm/ha, ngoài lượng đạm rễ cây cung cấp cho đất thì thân lá của cây đậu tương cũng là nguồn đạm có tác dụng tốt làm tăng thêm độ xốp, màu mỡ cho đất Cây đậu tương có vai trò quan trọng trong việc luân canh , cải tạo đất, tăng độ phì cho đất (Lê Hoàng Độ và cộng sự-1997) [7]

Trang 10

Sản phẩm đậu tương không chỉ có giá trị trong xuất khẩu thu đổi ngoại

tệ, mà nó còn là động lực thúc đẩy nghành chăn nuôi trong nước phát triển Trước những lợi ích lớn lao do cây đậu tương mang lại, hơn nữa nhu cầu sử dụng sản phẩm từ đậu tương trong nước ngày càng tăng Cho nên, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc phát triển cây đậu tương theo hướng tăng

cả về diện tích và năng suất Trong đó tăng năng suất là vấn đề cốt lõi, năng suất có tăng thì mới giảm được chi phí và hạ giá thành sản phẩm Vì vậy, cần nhanh chóng đi sâu nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác giống, nhằm tạo ra các giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng thích ứng rộng

Hiện nay ở huyện Lục Yên đang gieo trồng rất nhiều giống đậu tương khác nhau kể cả giống có nguồn gốc từ Trung Quốc song vẫn chưa có được những giống cho năng suất cao như mong muốn của người sản xuất

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái năm 2008- 2009”

2 Mục đích của đề tài

Tìm ra được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với vụ xuân và vụ đông nhằm bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Lục Yên nói riêng

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Để đáp ứng nguồn lương thực, thực phẩm cho nhân loại toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trường sống ngày càng nhiều biến đổi phức tạp, chúng

ta cần xây dựng cho được một nền sản xuất tiên tiến Sản xuất dựa trên cơ sở

áp dụng một cách khoa học giữa các yếu tố giống, phân bón, nước, kỹ thuật thâm canh, đồng thời bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu, bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao

Đậu tương được sản xuất với các mục tiêu khác nhau Cho nên công tác chọn tạo giống cần tập trung vào một số mục tiêu:

- Giống cho năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng

- Giống cho chất lượng hạt tốt phục vụ ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu

- Giống có hàm lượng dầu cao phục vụ chương trình sản xuất dầu thực vật Điều kiện khí hậu, đất đai của Việt Nam rất thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của các loài sâu, bệnh hại Bởi vậy, khi sản xuất cần phải

áp dụng các biện pháp canh tác thích hợp, nhằm phát huy, khai thác tối đa tiềm năng năng suất của giống Đồng thời tiến hành nghiên cứu chọn tạo cho được những giống thích hợp cho từng vùng sinh thái

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng, diện tích đất hoang hoá còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở

Trang 12

những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng

trọt một số loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp

Do đó, việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hoá đất, nâng cao thu nhập cho nông

dân, cải thiện đời sống cộng đồng

1.2 Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam

Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh

tế, dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất Xuất phát từ giá trị đó mà cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất, nên diện tích, năng suất và sản lượng cũng đựơc tăng dần qua các năm Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong nhữmg năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây

Năm diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn: FAOSTAT Database,2009

Số liệu của bảng 1.1 cho thấy sản xuất đậu tương trên thế giới hàng năm được tăng lên cả về diện tích lẫn sản lượng Năm 2007 diện tích tăng khoảng

11 triệu ha so với năm 2003, tương tự thì sản lượng cũng tăng trên 25,3 triệu tấn vào năm 2007 Điều này càng khẳng định vị trí vai trò của cây đậu tương trong sản xuất nông nghiệp Các nước sản xuất đậu tương lớn gồm có Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc…

Trang 13

Tuy cây đậu tương có xuất xứ từ vùng Mãn Châu-Trung Quốc, sau đó được đưa sang trồng ở Triều Tiên, Nhật Bản và được đưa sang trồng ở Mỹ năm 1954, nhưng do có sự thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu và đất đai, mà cây đậu tương đã được phát triển rất nhanh và Mỹ đã trở thành một trong những nước sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới, cả về diện tích lẫn sản lượng

Năm 2000, Mỹ đã sản xuất được 75 triệu tấn hạt Phần lớn sản lượng đậu tương được dùng cho chăn nuôi và xuất khẩu, mặc dù nhu cầu tiêu thụ đậu tương đang tăng lên, tại Mỹ lượng dầu ăn có tới 80% được chế biến từ hạt đậu tương Hiện nay, đậu tương đã được trồng ở nhiều quốc gia và các khu vực trên thế giới, qua khảo sát cho thấy sản xuất đậu tương ở khu vực Bắc Mỹ đã vượt xa vùng Viễn Đông nơi khởi nguồn của cây đậu tương

Cây đậu tương là một trong 5 cây thực phẩm quan trọng ở Hoa Kỳ, công nghệ sinh học đang tập trung vào cây đậu tương, theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ thì năm 2008 diện tích trồng cây đậu tương chuyển gen của nước này chiếm 92% tổng diện tích trồng cây đậu tương cả nước

Hiện nay, Mỹ là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất đậu tương, diện tích trung bình đạt khoảng 30 triệu ha với sản lượng khoảng 87 triệu tấn, vào năm 2006, chiếm 32 % diện tích và chiếm khoảng 40% sản lượng đậu tương trên thế giới Hiện tại, diện tích trồng đậu tương ở Mỹ đứng thứ 3 sau lúa mỳ, ngô Đậu tương được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu đổi ngoại tệ

Nguyên nhân cơ bản để đậu tương có năng suất cao và phát triển ổn định qua các năm là do trong sản xuất Mỹ đã áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, thâm canh nhằm tăng năng suất Đồng thời, Mỹ còn tập trung đi sâu vào công tác giống mà đặc biệt là các giống ứng dụng công nghệ cấy, chuyển gen Nhiệm vụ trọng tâm của các nhà nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương tại

Mỹ là:

- Khai thác tối đa những giống cho năng suất hạt cao

Trang 14

- Cải tiến nâng cao tỷ lệ dầu và Protein trong hạt

- Nâng cao khả năng chống chịu sâu, bệnh

- Hạn chế sự tách hạt khi quả chín

- Tạo giống có chiều cao cây thích hợp

- Tăng khả năng chống đổ của cây

- Tạo các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau

Tình hình sản xuất đậu tương của Mỹ được trình bày ở bảng 1.2

Bảng1.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ 5 năm gần đây

Năm diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Tiếp sau Mỹ phải nói đến Brazil, nước đứng thứ 2 trên thế giới về tổng diện tích, sản lượng Diện tích trồng chiếm khoảng 20%, sản lượng chiếm 25% so với sản lượng đậu tương trên thế giới Tình hình sản xuất đậu tương của Brazil trong 5 năm gần đây được trình bày ở 1.3

Trang 15

Bảng1.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil 5 năm gần đây

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Năm 2007, diện tích trồng đậu tương của Brazil giảm khoảng 2 triệu ha

so với năm 2005 và 2006 Tuy nhiên năng suất lại tăng khoảng 5 tạ so với 2 năm này và sản lượng đạt trên 58 triệu tấn tăng khoảng 6 triệu tấn so với năm

2005 và 2006

Brazil đang tiếp tục đẩy mạnh công tác giống, sử dụng giống mới như giống chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen…, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm nâng cao sản lượng đậu tương hàng năm Tại Brazil, đậu tương chủ yếu được dùng làm bột và ép dầu Chính phủ khuyến khích đẩy mạnh nền công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu khô dầu, bột đậu

Quốc gia đứng thứ ba sau Mỹ và Brazil về sản xuất đậu tương là Achentina Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa

mì Từ năm 1961- 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương, nên cây đậu tương được phát triển khá mạnh Cũng nhờ vào chính sách hỗ trợ mà diện tích trồng và sản lượng được tăng đều hàng năm

Trang 16

Hiện nay diện tích trồng đậu tương đang được chính phủ mở rộng, diện tích trồng mới sẽ được lấy từ đất canh tác ngũ cốc, đặc biệt là đất ở các vùng Zona Nucleo, trung tâm Achentina ( WAP, Tune 2005)

Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina 5 năm gần đây

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Diện tích trồng đậu tương của Trung Quốc đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ, Brazil và Argentina và đứng thứ nhất châu Á Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc được trình bày ở bảng 1.5

Trang 17

Bảng 1.5 Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới

Nhận thức được tầm quan trọng của cây đậu tương, cũng như nhu cầu sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một gia tăng mà nhiều Quốc gia trên thế giới đã đầu tư lớn cho việc chọn tạo giống, và thâm canh tăng năng suất Diện tích gieo trồng không phải là vô hạn, do vậy đòi hỏi các nhà khoa học trong lĩnh vực chọn tạo giống đậu tương là bằng các kỹ thuật như lai tạo, nhập nội, chọn lọc hoặc dùng các tác nhân vật lý, hoá học để tạo giống mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt khả năng thích ứng rộng

để thường xuyên bổ sung giống mới cho sản xuất

Thông qua con đường nhập nội, chọn lọc, lai tạo và gây đột biến mà quốc gia sản xuất đậu tương hàng đầu thế giới là Mỹ đã tạo ra được nhiều giống đậu tương mới Các dòng nhập nội có năng suất cao đều được sử dụng làm dòng, giống gốc trong các chương trình lai tạo và chọn lọc Vào năm

1804, Mỹ đã tiến hành thí nghiệm đầu tiên tại bang Pelecibuahina đến năm

Trang 18

1893 thì Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nơi trên thế giới Từ năm 1928- 1932 tính trung bình hàng năm nước Mỹ nhập nội trên 1.190 dòng, giống đậu tương từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Hiện

đã có trên 100 dòng đậu tương khác nhau được Mỹ đưa vào sản xuất, và đã chọn ra được một số giống có khả năng chống chịu với bệnh Phytopthora và

có khả năng thích ứng rộng như: Amsoy 71, Lec 36, Clark 63, Harky 63 Hướng chính trong công tác nghiên cứu chọn giống là sử dụng các tổ hợp lai cũng như nhập nội, từ đó thuần hoá để trở thành giống thích nghi với từng vùng sinh thái, đặc biệt chú trọng công tác nhập nội để bổ sung vào nguồn quỹ gen Việc chọn ra các giống có khả năng thâm canh cao, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, phản ứng yếu với quang chu kỳ, hàm lượng Protein cao, dễ bảo quản và chế biến là mục tiêu của công tác chọn giống tại Mỹ (Johnson H.W, Bernard, 1967) [39]

Công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương bằng phương pháp gây đột biến tại nước Mỹ cũng đạt được nhiều kết quả Bằng phương pháp này một số giống đậu tương có năng suất cao, chất lượng tốt lần lượt được ra đời bởi Williams L.F 1950, Williams 1961 Đặc biệt vào những năm 1988- 1990 thì Tulman- netto, Nazim qua đột biến đã tạo ra được giống chống chịu bệnh gỉ sắt

và bệnh virut (Cơ cấu mùa vụ đậu tương đồng bằng trung du Bắc Bộ) [4]

Trong nghiên cứu chọn tạo ra giống đậu tương tốt cần xem xét một số mối tương quan như:

- Nghiên cứu hệ số tương quan và biến dị di truyền của các tính trạng số lượng ở đậu tương

- Xác định mức độ biến dị và di truyền của các tính trạng số lượng là cơ

sở đầu tiên để đánh giá giá trị của nguồn gen và xây dựng chương trình chọn giống thích hợp

Khi nghiên cứu sự biến dị di truyền do môi trường của hai quần thể các dòng đậu tương ở nhiều nơi và qua nhiều năm, Johnson và cộng tác viên (1955) cho thấy, phần lớn biến dị của năng suất hạt ở quần thể II ở hai trong

Trang 19

ba môi trường nghiên cứu, thì phương sai di truyền được xác định là cao hơn

so với phương sai môi trường

Theo Plaznic (1987) [43] các yếu tố di truyền và sinh thái có ảnh hưởng

rõ rệt đến chiều cao cây, độ cao đóng quả thấp, số đốt hữu hiệu, chiều dài đốt,

số quả và số hạt trên cây

Một trong những hướng cơ bản của việc nghiên cứu sự biến dị và di truyền ở đậu tương là xác định hệ số di truyền của các tính trạng khác nhau Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã dùng các phương pháp xác định hệ số di truyền khác nhau, các đối tượng nghiên cứu khác nhau và thực hiện ở các điều kiện gieo trồng khác nhau nên kết quả thu được không đồng nhất

Bằng phương pháp hồi qui của giá trị trung bình các dòng F3 trên sự biểu hiện của từng cá thể F2 đã xác định được hệ số di truyền về năng suất và ngày chín tương ứng là 15,66% và 85%

Khi nghiên cứu về hệ số di truyền Liu.X.H (1990) [41] cho rằng năng suất hạt có hệ số di truyền thấp nhất và kích thước hạt có hệ số di truyền cao nhất Còn Dencescu (1983) [33] lại cho rằng cả hai tính trạng về năng suất và kích thước hạt đều có hệ số di truyền thấp nhất

Theo Alams và cộng tác viên (1983) [29] đã xác định được hệ số di truyền có giá trị cao đối với số hạt/quả và thời gian sinh trưởng

Đánh giá hệ số tương quan di truyền và kiểu hình trên cây đậu tương của tất cả các dạng kết hợp có thể của bảy tính trạng ở ba quần thể đậu tương thế

hệ F2, cho thấy năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn với thời gian sinh trưởng và khối lượng hạt Khi nghiên cứu hệ số tương quan kiểu hình và di truyền của mười một tính trạng số lượng ở ba tổ hợp lai đậu tương cũng cho thấy, năng suất hạt có mối quan hệ với thời gian sinh trưởng, số cành/cây, số quả/cây, số hạt/quả và hàm lượng dầu trong hạt, số đốt/cây có hệ

số tương quan di truyền thuận với năng suất hạt Ở kết quả nghiên cứu khác, năng suất có tương quan thuận với số quả/cây (0,72); Khối lượng 1000 hạt (0,255) và thời gian sinh trưởng (0,16) –Banadjanegara và Umar (1998) [30]

Trang 20

Hiện nay, công tác nghiên cứu về giống đậu tương trên thế giới đã được tiến hành với qui mô rộng lớn Nhiều tập đoàn giống đậu tương đã được tổ chức quốc tế khảo nghiệm ở rất nhiều vùng sinh thái khác nhau nhằm thực hiện một số nội dung chính: thử nghiệm tính thích nghi của giống ở từng điều kiện, môi trường khác nhau nhằm so sánh ưu thế của giống địa phương và giống nhập nội, đánh giá phản ứng của các giống trong những điều kiện môi trường khác nhau

Hiện đã có nhiều thành công trong việc xác định các dòng, giống tốt có tính ổn định và khả năng thích ứng khác nhau với các điều kiện môi trường khác nhau Buitrago và CS – 1971 [31] đã xác định được một số giống có khả năng thích ứng rộng với tất cả các môi trường nghiên cứu, song có một số giống lại chỉ thích ứng với môi trường riêng rẽ khi nghiên cứu 14 dòng, giống qua bốn vụ

Tại Braxin các kết quả nghiên cứu của Silva và CS (1970) [46] cho thấy

có những giống chỉ cho năng suất cao ở môi trường thuận lợi và ngược lại Qua thực nghiệm Santos và Vieira đã xác định được bốn giống đậu tương có năng suất cao và ít nhạy cảm với sự thay đổi của điều kiện môi trường, và ba giống có tính ổn định trung bình ở tất cả các điều kiện môi trường nhưng có năng suất thấp hơn trung bình

Khi nghiên cứu sáu giống đậu tương, Rohwal (1970) [44] đã tìm được giống Bragg và giống Lee thích hợp cho vùng có năng suất cao, giống Punjabl

và giống Pelican thích hợp cho vùng có năng suất thấp ở Ấn Độ Tuy nhiên, ông không tìm được giống lý tưởng phù hợp với mọi môi trường

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng đậu tương trong nước mà không lệ thuộc vào việc nhập khẩu, nhiều quốc gia tại châu Âu đã quan tâm tới việc nghiên cứu và phát triển sản xuất cây đậu tương trong nước Ở Liên Xô cũ, từ năm

1945 thì A Kosenco đã xác định được hiệu quả đột biến cao nhất của các liều lượng chiếu xạ đối với hạt đậu tương khô là 5 kr, còn với mầm non và cây đang nở hoa là 2 kr Enken, 1957 bằng gây đột biến phóng xạ đã tạo ra được

Trang 21

các dạng chín sớm, năng suất cao, có hàm lượng Protein cao, chịu rét khá Theo nghiên cứu của Masenco (1955- 1956) khi tiến hành xử lý tia gamma và hoá chất Ethylenimin (EI), Diethylsunphat (DES) sẽ tạo ra các giống chín sớm hơn giống khởi đầu từ 8- 12 ngày, một số giống khác lại có năng suất vượt giống khởi đầu từ 23- 24%, (Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở đồng bằng trung du bắc bộ) [4]

Từ năm 1984- 1986 tại Bungari khi xử lý tia gamma ở liều lượng 5- 30

kv cùng với hoá chất EMS (nồng độ 0,1- 0,4%) trên các giống đậu tương tác giả C.Nikolov đã thu được các dạng đột biến chín sớm hơn từ 10- 20 ngày so với giống ban đầu, hơn nữa số lượng nốt sần lại nhiều hơn Tác giả Goranova lai tạo được các dòng có hàm lượng dầu vượt giống ban đầu từ 6- 13%, (Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở đồng bằng trung du Bắc Bộ) [4]

Như vậy, việc nghiên cứu nhằm đánh giá sự ổn định và khả năng thích ứng có ý nghĩa to lớn trong công tác chọn tạo giống đậu tương, cho phép chọn

ra những dòng, giống đậu tương có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau

Ngoài nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt, thì việc nghiên cứu, chọn tạo được các giống có sức đề kháng đa hiệu, kháng được nhiều loại sâu , bệnh hại và các điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng là một vấn đề rất quan trọng được các nhà chọn tạo giống trên thế giới đặc biệt quan tâm Nhất là vấn đề tạo giống kháng bệnh , ở một số nước có nền khoa học nông nghiệp phát triển như: Mỹ, Úc đã sử dụng công nghệ tế bào phân tử để xác định các gen kiểm soát về sâu, bệnh hại, tuyến trùng, phản ứng thuốc, vi khuẩn và nốt sần , mặt khác còn chuyển ghép gen tạo vật liệu khởi đầu mới, áp dụng công nghệ tế bào để phân lập được gen chịu hạn thành công (Hội thảo đậu tương quốc gia - 2003) [17]

Đậu tương, vốn là cây trồng tự thụ nên phương pháp tạo giống và chọn lọc giống cũng tương tự như những cây tự thụ khác, song nó cũng có nét đặc thù riêng của nó

Trang 22

Để tạo ra được giống đậu tương có chất lượng hạt cao, người ta thường dùng hai phương pháp chính là gây giống đột biến và lai tạo Tạo giống bằng phương pháp gây đột biến thường cho kết quả mong muốn nhanh, rút ngắn thời gian lai tạo Nhưng có nhược điểm là thường tốn kém, các thế hệ sau biến dị ngày càng lớn, do đó mà chất lượng giống bị giảm dần qua các năm gieo trồng Lai hữu tính để tạo giống có chất lượng cao, người ta thường dùng phương pháp lai lại Con lai trở lại với bố mẹ đã thích ứng để hoà nhập các gien mong muốn từ gen nhập, mức độ trở lại phụ thuộc vào độ khác biệt giữa hai bố mẹ, phương pháp này cho ra giống ổn định, lâu bền nhưng đòi hỏi mất nhiều thời gian lai tạo

Trong những năm gần đây bằng gây đột biến mà Trung Quốc đã tạo được một số giống như: giống Tiefeng 18 ( xử lý bằng tia gamma) có khả năng chịu được phèn cao, chống đổ tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt, giống Heinou No

16 ( cũng được xử lý bằng tia gamma) có hệ rễ tốt, nhiều cành, gióng thân ngắn, khả năng thích ứng rộng ( Trần Đình Đông, 1994) [9] Trung Quốc là nước đứng thứ tư thế giới về sản xuất đậu tương Năm

2004 diện tích đậu tương của Trung Quốc là 9.581.835 ha với sản lượng 17.404.280 tấn Sở dĩ có được kết quả trên là bởi Trung Quốc đã đầu tư cho công tác ứng dụng các tiến bộ khoa học trong lai tạo và nhập nội giống Bên cạnh đó còn tổ chức hàng loạt các chương trình cải tiến giống từ dạng cũ sang dạng mới có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và cỏ dại, phù hợp với các tiểu vùng khí hậu, các giống điển hình như: CN001, CN002, HTF 18, YAT 12 đều cho năng suất bình quân đạt 34- 42 tạ/ha ở diện tích sản xuất đại trà tại nhiều tỉnh (FAO, 2003)

Tại viện hàn lâm khoa học Tilin– Trung Quốc, Liu X.H (1990) [41] khi phân tích khả năng kết hợp và di truyền của hàm lượng Protein, dầu và thành phần của chúng ở F2 Ông thấy có 3 giống từ Trung Quốc và 5 giống từ Mỹ

đã được nghiên cứu sử dụng cho 11 đặc tính gồm: năng suất hạt và Protein tổng số/đơn vị diện tích và sản lượng dầu tổng số , với các giống Trung

Trang 23

Quốc và trong 5 đặc tính cho các giống của Mỹ như: Protein, axit oleic và axit Linolenic bởi giá trị khả năng kết hợp chung và giá trị di truyền cho Protein, dầu, axit oleic và axit Linolenic, Protein tổng số và sản lượng dầu tổng số/đơn

vị diện tích là cao, chọn những điểm đó sẽ đạt được ở thế hệ F2

Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống từ năm 1961 và đưa vào sản xuất các giống Kaohsing 3, Tainung 3, Tai nung 4 các giống được xử lý Nơron và tia X cho các giống đột biến Tainung Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ quả không bị nứt Các giống này (đặc biệt là Tainung 4) đã được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau như Trạm thí nghiệm Marjo (Thái Lan), Trường đại học Philippin (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1995) [15]

Hiện nay, vùng Đông Nam Á cũng là một vùng trọng điể m của công tác phát triển giống đậu tương và được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống nông nghiệp

Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70- 80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có hạt dạng thon dài 13 giống có năng suất cao đã được tạo ra và được khuyến cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis được trồng phổ biến nhất, giống này

có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng suất bình quân đạt 25 tạ/ha Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất đạt 25 tạ/ha, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với môi trường không thuận lợi (đất không cày bừa; đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được tăng lên, tăng khả năng chống đổ (Sumarno and T.Adisan wanto, 1991[48] Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra được một số giống trồng được trên đất ướt sau vụ thu hoạch lúa với việc làm đất hoặc không làm đất trong mùa khô mà vẫn cho năng suất 14,7- 16,8 tạ/ha như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani, (Buitrago G,L.A; Orzcos, S.H.and Camacho M.L.H, 1971) [31]

Trang 24

Các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu cây trồng Thái Lan đang nghiên cứu việc sử dụng DNA marker để xác định gen kháng bệnh gỉ sắt đậu tương Hiện tại phần lớn các nghiên cứu về việc kiểm soát bệnh gỉ sắt đậu tương đều tập trung vào việc xây dựng tính kháng cho cây chủ Các nghiên cứu sơ bộ cho thấy có 3 DNA marker có liên quan đến tính chống chịu gỉ sắt

ở đậu tương

Johnson và cộng tác viên, 1955 b [37] khi nghiên cứu hiệu quả chọn lọc theo chỉ số gồm một hoặc nhiều tính trạng cho thấy chọn lọc theo các tính trạng gián tiếp như thời gian đậu quả, tính chín muộn, hạt to, tính chống đổ, hàm lượng Protein thấp có thể cải lương về năng suất hạt, song mức độ hiệu quả có khác nhau giữa các tính trạng Trong đó các tính trạng như thời gian sinh trưởng ở quần thể I và khối lượng nghìn hạt ở quần thể II có thể thực sự

là các tính trạng khác nhau, các kết quả cho thấy chọn lọc chỉ dựa trên chỉ số gồm thời gian đậu quả và khối lượng hạt cho hiệu quả tương đương như là chọn lọc trực tiếp Còn khi đưa thêm tính trạng chống đổ, hàm lượng dầu và đạm vào chỉ số trên thì hiệu quả chọn lọc tăng lên tương đối rõ rệt Hiệu quả chọn lọc tương đối theo chỉ số gồm năng suất, thời gian đậu quả, khối lượng nghìn hạt, tính chống đổ, hàm lượng dầu và hàm lượng đạm đạt 140,8% ở quần thể I và 126,1% ở quần thể II

Sự tương tác giữa giống và môi trường có vai trò quan trọng trong quá trình cải lương giống cây trồng nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói riêng Đối với cây đậu tương đã có một số kết quả nghiên cứu về sự tương tác giữa các giống với môi trường khác nhau

Jonson và cộng tác viên(1995 a)[38]; Byth và Weber (1968) [32] cho thấy có sự tương tác cao giữa các giống với môi trường cho năng suất hạt và

sự tương tác rất thấp cho chiều cao cây, còn tương tác trung bình cho kích thước hạt, sự đổ sớm, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu

Sự tương tác giữa giống và môi trường còn được một số tác giả phân tích thành các thành phần tương tác tuyến tính và phi tuyến tính Rohwal (1970)

Trang 25

[44]; Gopani và cộng tác viên, (1972) [34] đã xác định sự tương tác phi tuyến tính có ý nghĩa với hầu hết các tính trạng nghiên cứu và điều đó có thể là nguyên nhân của sự thích ứng có giới hạn của cây đậu tương

Qua nghiên cứu Sanbuchi và Gotok, (1969)[45] đã xác định được hệ số hồi qui cho 5 giống đậu tương ở Hohkaido – Nhật Bản từ số liệu lấy ở 7 nơi trong sáu năm Kết quả nghiên cứu cho thấy với giống có tính thích ứng rộng

về không gian thì lại nhạy cảm về mặt thời gian; còn một số giống có thích ứng rộng cho thời vụ gieo trồng trong năm thì lại thích ứng hẹp cho nơi trồng Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính ổn định của các thành phần khác nhau, một số kết quả cho thấy rằng sự thích ứng hạn chế của cây đậu tương

về năng suất chủ yếu là do yêu cầu về quang chu kỳ và cũng có thể là do cảm ôn- Leng (1968) [40] Còn Smith và cộng tác viên (1967) [47] đã xác định được tính ổn định của cành cấp một, chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, số quả/cây và sự nhạy cảm của giai đoạn từ ra hoa đến chín là nhân tố chính của tính ổn định về năng suất hạt của đậu tương

Khi tiến hành nghiên cứu khả năng cho năng suất của đậu tương với những cặp bố mẹ khác nhau về hàm lượng Protein tại Mỹ, Hartwig E.E và KilenT.C (1992) [36] cho rằng năng suất đậu tương thường không kết hợp gì với Protein thô Mục đích việc nghiên cứu nhằm xác định sự kết hợp sẽ xảy ra rất ít bằng sự tạp giao của những dòng có hàm lượng Protein cao và bình thường còn năng suất hạt như nhau Thế hệ F2 của 1.000 cây đã trưởng thành, cây được thu hoạch riêng và xác định hàm lượng dầu sử dụng kỹ thuật cộng hưởng sức hút hạt nhân Hai phần quần thể được phát triển: một phần gồm 8% hàm lượng dầu cao nhất và phần kia 8% hàm lượng dầu thấp nhất Với sự tương quan nghịch giữa Protein thô và dầu, thì quần thể có hàm lượng dầu thấp chắc chắn sẽ cung cấp những dòng tập trung Protein cao Lấy 200 cây từ hai quần thể trên, tiếp tục như vậy làm với F6, F7 thu được mười tám dòng có hàm lượng đạm cao nhất và tiếp tục dùng mười tám dòng này để đánh giá trong năm môi trường cho năng suất hạt, dầu và Protein, thì thấy năng suất hạt

Trang 26

trung bình giảm 6% ở hầu hết các dòng có hàm lượng Protein cao so với dòng có hàm lượng dầu cao Mặc dù, khi so sánh năng suất hạt của hai dòng

có hàm lượng dầu và Protein cao nhất trong cùng môi trường, cho thấy những dòng có hàm lượng Protein cao cho năng suất tăng 1%, 18% Protein thô và giảm 20% dầu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tiềm năng cho năng suất ở những dòng đậu tương có hàm lượng dầu cao và Protein cao là tương đương Bằng việc ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống cây trồng người ta đã tạo ra được các giống cây đậu tương vượt trội về năng suất Hiện nay, hầu hết các giống đậu tương được trồng ở Mỹ là cây biến đổi gen Giống đậu tương oleic axit là giống chuyển gen có hàm lượng axit oleic tới 80%, đây

là giống có triển vọng thoả mãn nhu cầu dầu ăn của con người Các giống này hiện đang được trồng ở Australia, Canada, Nhật Bản, Mỹ …

Công tác nghiên cứu đậu tương trên thế giới hiện nay được tiến hành với quy mô rộng lớn và nhằm đáp ứng được những mục đích sau:

-Nhập nội sau đó chọn lọc, thử nghiệm tính thích nghi ở các vùng sinh thái khác nhau

- Dùng các tác nhân vật lý, hoá học gây đột biến và ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại để tạo ra những giống đậu tương tốt đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu dùng

1.2.2 Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam là Quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời và là chủ yếu, cho nên cây đậu tương cũng được trồng từ rất sớm Trong thư tích ở thế kỷ VI cho biết cây đậu tương đã được trồng ở Bắc Bộ Sách “Vân đài loại ngữ” của

Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII cho rằng cây đậu tương được trồng từ ngàn năm nay nhưng với diện tích còn ít Hiện nay, ở Việt Nam cây đậu tương có vị trí , vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng nông thôn nghèo, có nền kinh tế chưa phát triển Ngoài việc cung cấp nguyên liệu chế biến làm thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho xuất khẩu , cây

Trang 27

đậu tương còn là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi rất tốt Có thể khẳng định rằng cây đậu tương là một trong những cây đang phát triển rất mạnh ở Việt Nam và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đối với đất bạc màu và khô hạn thì cây đậu tương cho hiệu quả kinh tế cao nhất Đồng thời nó cũng đóng góp rất lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo đất đai, cải tạo môi trường

Hiện nay, cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương chính , đó là vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất 26,2%, miền núi Bắc Bộ 24,7%, đồng bằng Sông Hồng 17,5%, đồng bằng sông Cửu Long 12,4% Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 80% diện tích trồng đậu tương của cả nước Đậu tương trồng ở vụ xuân chiếm 14,2%, vụ hè thu 31,6%, vụ hè 2,68%, vụ thu đông 22,1%, vụ đông xuân 29,7% Về sản lượng, riêng 3 vùng đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 63,8% sản lượng đậu tương của cả nước Đặc biệt, đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm 12,4% diện tích nhưng lại chiếm 20,9% sản lượng đậu tương của cả nước và năng suất bình quân cao nhất nước 16 tạ/ha (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [5] Tốc độ phát triển sản xuất đậu tương ở Việt Nam cũng được đánh giá là khá và là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh so với nhiều quốc gia khác trên thế giới Kết quả này có được là do có sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển cây đậu tương Văn kiện Đại hội V Đảng Cộng Sản Việt Nam, [28] , tập 2, trang 37 đã ghi:

“Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, cho gia súc, cho đất đai và trở thành một loại hàng xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”

Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày trong bảng 1.6

Trang 28

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam

Cây đậu tương được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc và được trồng từ rất lâu đời

Sau năm 1945, nước ta đã tiến hành xây dựng nhiều Trạm, Trại nghiên cứu thí nghiệm về đậu đỗ nói chung và đậu tương nói riêng ở nhiều vùng, miền trong cả nước như: Định Tường (Thanh Hoá), Mai Nham (Vĩnh Phú), Thất Khê (Lạng Sơn), Pú Nhung (Lai Châu) Trong đó, Trại đậu đỗ Định Tường (Thanh Hoá) vào những năm 1957-1965, đã tiến hành thí nghiệm với

52 giống đỗ địa phương và một số giống nhập nội (chủ yếu từ Trung Quốc), kết quả đã chọn ra được 2 giống tốt đưa ra sản xuất đại trà đó là:

Trang 29

- Giống V70, gốc là giống “Hoa Tuyển” của Trung Quốc, thích hợp cho

vụ xuân- hè ở Miền Bắc Việt Nam

- Giống V74, gốc là giống “Cáp quả địa” của Trung Quốc, thích hợp cho

vụ đông ở Miền Bắc Việt Nam

Ở Miền Nam, đã tiến hành thu thập được một tập đoàn giống đậu tương nhập nội từ những năm 1961-1972 ở Trung tâm Ealmat - Đắc Lắc, Hưng Lộc, Long Khánh - Đồng Nai với các giống nhập nội từ Mỹ, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản… và đã chọn tạo được một số giống tốt đưa ra sản xuất đại trà Theo số liệu của Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ (Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam) thì cây đậu tương được trồng ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước với diện tích khoảng 130 nghàn ha Có ba vùng chính diện tích chiếm trên 72% tổng diện tích trồng đậu tương cả nước, đó là: Miền Núi và trung du Bắc Bộ, vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ

Theo dự báo Quốc gia thì tới năm 2010 sản lượng đậu tương phải đạt một triệu tấn mới đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng sản phẩm đậu tương cho thị trường trong nước và xuất khẩu (Trần Đình Đông, 1994) [9]

Nhu cầu từ sản phẩm đậu tương của các nghành thương mại, chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm ngày càng tăng Do đó, vị trí vai trò quan trọng của cây đậu tương ngày càng được khẳng định trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta Xuất phát từ thực tế trên mà trong những năm gần đây cây đậu tương

đã được các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học đầu tư nghiên cứu và đã tuyển chọn được nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng được nhiều vụ trong năm ( K.S Vũ Danh Ca, 2004) [3]

Công tác chọn tạo giống đậu tương được tập trung vào một số hướng chính: (Ngô Thế Dân và CS, 1995) [5]

- Xác định các bộ giống thích hợp cho các vùng sinh thái khác nhau

Trang 30

- Chọn tạo giống thích hợp cho từng thời vụ gieo trồng khác nhau: chọn giống gieo trồng trong mùa mưa và mùa khô ở Miền Nam; còn ở các tỉnh phía Bắc tập trung chọn được bộ giống thích hợp cho vụ xuân, vụ hè và vụ đông

- Chọn tạo giống đậu tương thích hợp cho vụ đông ở các tỉnh phía Bắc nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng, có thời gian sinh trưởng từ 80- 90 ngày

- Chọn giống đậu tương thích hợp cho vùng đất bãi và vùng Trung du các tỉnh phía Bắc, năng suất đạt từ 20- 25 tạ/ha, thời gian sinh trưởng từ 90-

100 ngày, chống chịu với bệnh gỉ sắt

- Chọn tạo giống đậu tương hè thích hợp cho các tỉnh miền Núi phía Bắc, có thời gian sinh trưởng 85- 90 ngày, năng suất từ 15-20 tạ/ha, ít nhiễm virut, chịu hạn

- Chọn giống đậu tương cho vùng Tây Nguyên có tiềm năng năng suất từ 25- 27 tạ/ha trong vụ xuân- hè , đậu tương hè cho vùng Đông Nam bộ gieo từ tháng tư, đậu tương xuân- hè cho vùng đồng bằng sông Cửu Long

- Chọn giống đậu tương có hàm lượng dầu cao từ 25- 27% phục vụ cho nghành công nghiệp chế biến dầu

- Chọn giống đậu tương hạt to, chất lượng cao phục vụ cho chế biến thực phẩm và làm rau

- Chọn tạo giống đậu tương có khả năng thích ứng rộng có thể trồng được cả ba vụ trong năm, đồng thời có khả năng cố định đạm cao

Mười năm trở lại đây, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã công nhận và đồng thời cho phép khu vực hoá hàng chục giống có tiềm năng triển vọng trong khảo nghiệm Quốc gia Các giống này cho năng suất cao, chất lượng hạt tốt, có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày, hàm lượng Protein có thể đạt 47%, hạt to tròn đạt tiêu chuẩn Quốc tế Hàng năm Viện Di truyền nông nghiệp đã áp dụng phương pháp di truyền học hiện đại, kết hợp giữa phương pháp lai hữu tính và đột biến thực nghiệm để tạo ra nhiều giống đậu tương mới theo tiêu chuẩn và có khả năng thích ứng rộng, trồng được nhiều

Trang 31

vụ trong năm, cho năng suất cao, ổn định, chất lượng hạt tốt ( Đậu nành, 1996) [10]

Các phương pháp tạo giống như lai xa, xử lý đột biến, nhập nội tuyển chọn đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu, ứng dụng

Như vậy, qua khảo cứu về lịch sử phát triển của cây đậu đỗ nói chung và cây đậu tương nói riêng cho thấy ở nước ta từ những năm 1975 trở về trước còn rất nhiều hạn chế Tuy nhiên, từ những năm 1980 trở lại đây, các cơ sở nghiên cứu khoa học như: Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Viện cây lương thực - thực phẩm, Viện nghiên cứu ngô, Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ-Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam và các trường Đại học nông nghiệp… cùng nhiều cơ

sở nghiên cứu khoa học khác đã tập trung, đi sâu nghiên cứu theo hai hướng

cơ bản trong sản xuất đậu đỗ nói chung và cây đậu tương nói riêng, đó là:

- Chọn tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với từng vùng sinh thái, từng mùa vụ khác nhau

- Đưa cây đậu tương vào hệ thống sản xuất nông nghiệp, nhằm cải tiến

hệ thống trồng trọt phá thế độc canh và cải tạo vùng đất thoái hoá

Xuất phát từ những mục tiêu cơ bản nêu trên nhiệm vụ hàng đầu của các nhà chọn tạo giống đậu tương là phải nhanh chóng chọn tạo ra bộ giống mớiphong phú, có năng suất, phẩm chất tốt, có tính thích nghi cao, khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng từng mùa vụ khác nhau, để bổ sung vào tập đoàn giống địa phương đã bị lẫn tạp, thoái hoá, năng suất chất lượng và phẩm chất giảm, tức là công tác giống cần được ưu tiên, quan tâm và đi trước một bước

Bằng phương pháp lai hữu tính đậu tương cho thấy các tính trạng khác nhau có hệ số biến dị và di truyền khác nhau Một số tính trạng như số quả chắc/cây, số lượng hạt/cây có hệ số biến dị cao Chiều cao cây và đốt/thân chính có hệ số di truyền thấp Một số tính trạng có hệ số tương quan thuận khá cao ở các quần thể lai cũng dựa vào các tính trạng như: số lượng hạt/cây,

Trang 32

số quả chắc/cây và khối lượng 1.000 hạt Tuy nhiên, ở các thế hệ đầu khi chọn lọc cần chú ý đến tính trạng có hệ số di truyền cao và mối quan hệ với năng suất hạt như chiều cao cây và số đốt trên thân chính- Vũ Tuyên Hoàng

và cộng sự (1993) [13]

Khi đánh giá khả năng thích ứng của một số dòng đậu tương đột biến qua các thời vụ Trần Đình Đông và cộng tác viên, (1994) [8] đã xác định được một số dòng: S13,, S25, S31, S52 ít nhậy cảm với điều kiện môi trường

và có năng suất ổn định qua các thời vụ, các tác giả cho rằng những giống này

có thể gieo trồng được cả ba vụ trong năm

Nguyễn Huy Hoàng, (1992)[16] khi nghiên cứu khả năng chịu hạn của 1.004 mẫu giống đậu tương nhập nội ở Miền Bắc Việt Nam, ông đã xây dựng được phương trình biểu diễn tương quan phụ thuộc giữa khả năng chịu hạn với một số đặc tính khác của cây đậu tương như: mật độ lông phủ và mật độ khí khổng/đơn vị diện tích lá, thời gian sinh trưởng ở nhóm giống chín sớm

và cực sớm hàm lượng Protein, hàm lượng dầu và hệ số vi phân có tương quan rất yếu với khả năng chịu hạn của giống Những kết quả phân tích sự biểu hiện của tính chịu hạn ở con lai F1 nhìn chung di truyền theo quy luật trung gian

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng hạt với các giai đoạn sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất và đặc điểm hạt ở đậu tương, Phạm Thị Đào (1998)[6] thấy: chất lượng hạt giống hoặc khả năng bảo quản hạt không

bị ảnh hưởng bởi các giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng của cây Còn chất lượng hạt sau thu hoạch có tương quan thuận với khối lượng riêng của hạt, độ nhăn vỏ hạt nhưng lại tương quan nghịch với kích thước hạt, nếp nhăn/vỏ hạt Đồng thời, tác giả còn cho biết thêm rằng năng suất hạt có tương quan thuận với chiều cao cây, số quả/cây và số đốt/thân chính

Trần Đình Long và CS, (1995) [19] đã chọn lọc được giống Việt- Xô

9-2 (VX 9-9-2) bằng phương pháp “chọn lọc phả hệ (Pedigree)”, giống này có ưu điểm là cho năng suất cao, ổn định , hạt to đẹp, màu sáng, hàm lượng dầu và

Trang 33

Protein tương đối cao, có khả năng chống chịu khá , thời gian sinh trưởng trung bình

Còn khi tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng kháng bệnh gỉ sắt với một số tính trạng ở đậu tương để phục vụ cho công tác tạo giống chống bệnh (Nguyễn Thị Bình, 1990) [1] đã cho thấy mật độ lông phủ/cm2

mặt dưới lá có quan hệ chặt với khả năng chống bệnh gỉ sắt của cây Đối với các tính trạng khác như chiều cao cây, thời gian sinh trưởng và mật độ khí khổng lại có tương quan không chặt chẽ

Theo các kết quả nghiên cứu của Đào Thế Tuấn và Trần Văn Lài -1989 cho thấy, trong điều kiện ngoại cảnh mà có biến động cao, thì năng suất hạt có tương quan mạnh nhất đến các yếu tố như diện tích lá, sản lượng quang hợp,

số quả và hạt Bằng phương pháp phân tích thành phần đã xác định được 4 thành phần chính, trong đó có thành phần I và II (đại diện cho các yếu tố nguồn), chiếm 13,6% biến động năng suất chung cho 3 vụ và tương ứng cho

vụ xuân hè là 55,8% và vụ đông 23,6% Theo nhận xét của các tác giả khi năng suất đậu tương còn thấp thì vai trò cải tiến sức chứa (tăng diện tích lá, tăng yếu tố quyết định số lượng hạt) là vấn đề quan trọng Còn khi năng xuất

đã đạt tới ngưỡng thì việc cải tiến nguồn (tức hiệu suất quang hợp sau nở hoa, khối lượng 1.000 hạt) trở nên quan trọng hơn

Khi tiến hành nghiên cứu các tính trạng ở con lai đậu tương qua các thế

hệ từ F1 đến F3 về sự biểu hiện mang đặc tính di truyền của bố và mẹ Các tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Tấn Hinh và CS (1993) [13] và Nguyễn Ngọc Thành (1996) [23] có chung kết luận: ở con lai F1 các tính trạng thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, P.1000 hạt thường biểu hiện tính di truyền trung gian, còn các tính trạng như số lá, số cành, số quả/cây có biểu hiện tính siêu trội Ở thế hệ F2 sự phân ly các tính trạng như chiều cao cây, số lá/thân

và số quả/cây có hệ số di truyền từ trung bình đến lớn Do vậy, ở các thế hệ đầu việc chọn lọc các cá thể, có thể dựa vào các tính trạng này Còn khi nghiên cứu về sự di truyền và khả năng kết hợp của một số tính trạng số

Trang 34

lượng ở đậu tương, tác giả Nguyễn Tấn Hinh (1990) [12] đã kết luận: sự di truyền của các tính trạng nghiên cứu đều được truyền qua gen có tác động cộng gộp trội Trong đó, sự di truyền của P.1000 hạt chủ yếu là do gen với tác động cộng gộp, còn số quả chắc/cây lại do gen với tác động không cộng gộp quyết định Như vậy, chọn lọc theo kiểu hình có thể cho hiệu quả rất cao đối với P.1000 hạt và khá cao đối với năng suất hạt

Khi nghiên cứu sự biến động của một số tính trạng số lượng ở các giống đậu ăn hạt qua các đợt gieo trồng ở đồng bằng Sông Hồng-Vũ Tuyên Hoàng

và Đào Quang Vinh (1984) [14] cho biết sự biến động theo giống thấp hơn sự biến động theo thời vụ trồng Một số tính trạng như số đốt/thân, số đốt mang quả có hệ số biến động theo thời vụ trồng Các tác giả còn cho biết giữa năng suất hạt với các tính trạng số lượng có mối quan hệ với nhau, xác định được mối quan hệ giữa năng suất với các tính trạng số lượng, từ phạm vi biến động giữa các tính trạng đó sẽ có định hướng tác động hợp lý để nâng cao năng suất, những biến động theo điều kiện trồng trọt thì nghiên cứu các biện pháp

kỹ thuật tác động, những tính trạng tương đối ổn định (hệ số biến động thấp)

có thể căn cứ trong khi chọn giống

Trong những năm qua công tác nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam đã và đang được tiến hành ở một số Trạm, Trại, Viện nghiên cứu, trường Đại học và đã thu được một số thành tựu nhất định

Bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: xử lý đột biến, phương pháp lai hữu tính, chọn lọc cá thể hay con đường nhập nội, cho đến nay tập đoàn các giống đậu tương ở Việt Nam khá phong phú

Xét về cơ bản đậu tương ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm: nhóm chín sớm, nhóm chín trung bình và nhóm chín muộn Nhóm chín sớm: có thời gian sinh trưởng ngắn từ 75-80 ngày

Một số giống chín sớm thuộc các giống cũ, địa phương như: Cúc Lục Ngạn, Lơ Hà Bắc được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng và Trung du miền

Trang 35

núi phía Bắc có đặc điểm là khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, nhưng năng suất thấp, hiện nay vẫn được trồng ở Miền Bắc nhưng với diện tích nhỏ

Theo Trần Văn Lài và cộng sự (1987) [18], giống đậu tương AK02, AGS314, V74, DT90, là những giống ngắn ngày, cho năng suất cao và được trồng phổ biến ở cả 3 vụ trong năm (đông, xuân, hè)

Nhóm chín trung bình: thời gian sinh trưởng từ 81-100 ngày, năng suất cũng khá cao đạt 15- 18 tạ/ha

Các giống địa phương như Vàng Mường Khương, Xanh Hà Bắc là những giống được trồng phổ biến ở miền Bắc, còn giống Nam Vang trồng phổ biến ở Miền Nam

Các giống mới như: MTD6, VL1, V48, TL57… là các giống phù hợp với hướng thâm canh tăng năng suất ở các vùng đất nương bãi ở Trung du, Miền Núi, những nơi khó có điều kiện tăng vụ do khô hạn

Nhóm chín muộn: có thời gian sinh trưởng dài, trên 100 ngày, năng suất cao đạt trên 18 tạ/ha Chủ yếu là các giống đậu địa phương như các giống Lạng Sơn, đậu Trùng Khánh ( Cao Bằng), giống Cúc Kim Quan ( Lào Cai, Yên Bái), Nông Tiến (Tuyên Quang)

Giống AK05 được chọn ra từ dạng hình phân ly của G-2216 nhập từ AVRGC, là giống chịu rét khá, thích hợp cho vụ xuân hè và vụ đông

Khi đánh giá kết quả nghiên cứu của Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua với nhiệm vụ đặt ra là chọn tạo ra một bộ giống đậu tương có thời gian sinh trưởng ngắn (74-100 ngày), năng suất cao từ 15-

35 tạ/ha, chất lượng tốt, chống chịu sâu, bệnh và thích ứng với các hệ thống cây trồng đa dạng và các vùng sinh thái nông nghiệp trong cả nước Bùi Chí Bửu và cộng sự (2005) [2], đã đề xuất tập trung vào các hướng lai tạo và đột biến các giống địa phương, các giống chọn tạo trong nước và nhập nội, sử dụng các tác nhân đột biến, nghiên cứu các liều lượng, nồng độ, phương pháp

xử lý thích hợp để sửa chữa, cải thiện các nhược điểm giống, phân lập các

Trang 36

đột biến, tác nhân đột biến phục vụ cho công tác chọn tạo ra giống đậu tương mới Đồng thời kết hợp lai hữu tính giữa các giống, dòng nhập nội với giống đại trà để chuyển các gen quý (giống chịu sâu, bệnh, giống kháng thuốc diệt cỏ…) từ nhập nội sang giống đại trà trong nước Kết quả giai đoạn I (1984-1990) đã chọn ra được một số giống: DT90, DT83, DT84 và dòng có triển vọng, giai đoạn II (1991-1995) chọn ra được 4 giống khu vực hoá có triển vọng qua khảo nghiệm Quốc gia giai đoạn sau, giai đoạn III (1996-2000) từ phương pháp đột biến sửa chữa chọn tạo được giống DT98, từ xử lý đột biến chọn tạo được giống DT99; lai 5 tổ hợp tạo sự đa dạng sinh học trong quần thể để tiến hành chọn lọc có bốn giống được công nhận là: (DT94, DT95, DT99 và AK06) lai các dòng, giống đột biến tạo ra các giống đã được kết luận trong khảo nghiệm quốc gia: DT 2001 và DT 2002; chọn thành công giống đậu tương DAĐ01 từ nhóm đậu tương chịu hạn, giống đậu tương rau DAĐ02 trong tập đoàn nhập nội từ Trung Quốc…

Giống DT84 được chọn bằng phương pháp xử lý đột biến bằng tia Gama trên dòng lai 8- 33 (DT80 x ĐH4) Đây là giống ngắn ngày có khả năng thích ứng rộng, có tiềm năng năng suất cao, chống chịu với sâu bệnh khá, chất lượng hạt tốt, dễ để giống (Mai Quang Vinh và CS, 1995) [26]

Năm 1999- 2002, Andrew James, GS.VS Trần Đình Long và CS [27]

đã tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống đậu tương có nguồn gốc từ nhiều quốc gia khác nhau, và đã chọn được một số mẫu dòng có triển vọng, năng suất ổn định như: dòng 95389 cho năng suất từ 14- 26 tạ/ha, thời gian sinh trưởng 90- 96 ngày; dòng CM60 đạt 13- 29 tạ/ha, dòng MSBR20 đạt 23,87 tạ/ha thích hợp với vùng chuyên canh đậu tương ở Miền Bắc trong vụ đông- xuân và vụ xuân

Trong năm 2001 và 2002, PGS.TS Đoàn Thị Thanh Nhàn [22] đã so sánh một số dòng, giống đậu tương nhập nội từ Australia trong vụ hè và vụ

Trang 37

xuân tại Gia Lâm (Hà Nội) Kết quả thu được như sau: giống 96031411 cho năng suất từ 29,2- 34,67 tạ/ha ở vụ đông và vụ xuân 2001, 2002, trong vụ hè cho năng suất 18,1 tạ/ha; giống OCEPAR9 và MSBR20 cho năng suất 27- 30 tạ/ha ở vụ đông và vụ xuân; giống CM60 đạt 19,1-32,07 tạ/ha, giống MSBR222 đạt 20- 28 tạ/ha, giống SJ14 đạt 17,5- 32,11 tạ/ha trong vụ hè và

vụ xuân; còn giống BR14 đạt 20- 28,15 tạ/ha, giống TN12 đạt 21,34 tạ/ha trong vụ xuân

Với tập đoàn nhập nội giống đậu tương phong phú như trên và cùng với

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đến nay đậu tương ở Việt Nam được trồng rất nhiều vụ trong năm với nhiều công thức luân canh khác nhau

Các tỉnh miền núi phía Bắc có thể trồng các vụ đậu tương kế tiếp nhau Các tỉnh vùng Trung Du, đồng bằng Bắc Bộ có thể trồng được 3 vụ đậu tương trong năm đó là vụ xuân, vụ hè và vụ đông

Các tỉnh Miền Trung trồng một vụ đậu tương xuân chính vụ gieo từ 15/01-10/02 và thu hoạch vào tháng 4- 5 Vụ hè thu từ 15/5-15/10, vụ đông gieo từ 15/9-20/10

Các tỉnh Miền Đông Nam Bộ: vụ 1 gieo cuối tháng 4 (đầu mùa mưa) và thu hoạch vào tháng 8 Vụ 2 gieo từ 12/5-31/5 và thu hoạch trong tháng 8 Như vậy, xét trong phạm vi toàn quốc, thì thời điểm nào trong năm chúng ta cũng có đậu tương thu hoạch Đây là một ưu thế để tổ chức xây dựng công nghiệp chế biến sản phẩm đậu tương của nước ta phát triển một cách cân đối

Có nhiều phương pháp chọn, tạo giống khác nhau: tuyển chọn giống thông qua tập đoàn nhập nội, lai hữu tính hoặc gây đột biến Hiện tại, bộ giống đậu tương đưa ra sản xuất đại trà ở nước ta là rất phong phú, song giống đột phá về năng suất thì chưa có nhiều

Trang 38

Nước ta phấn đấu tới năm 2010 tăng diện tích đậu tương toàn quốc lên con số khoảng 500.000- 600.000 ha, năng suất đạt trung bình 20-22 tạ/ha, sản lượng đạt 1,0- 1,5 triệu tấn Để đạt được mục tiêu trên thì chúng ta cần đặc biệt chú ý đến công tác giống, đồng thời kết hợp với các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến ở các địa phương nhất là các tỉnh Trung Du và Miền Núi

1.2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương tại Yên Bái

Yên Bái là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Diện tích trồng cây hàng năm khoảng 17.000 ha (năm 2008) Song diện tích dành cho cây đậu tương còn thấp Hàng năm tỉnh cũng có chính sách hỗ trợ giống cho các xã nghèo, nhưng nhìn chung chính sách đầu tư chưa nhiều

Bảng 1.7 Tình hình sản xuất đậu tương của tỉnh Yên Bái từ năm 2004- 2008

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

ha vào năm 2008, năng suất đậu tương thì tăng không đáng kể từ 11,2 tạ/ha lên 11,6 tạ/ha năm 2006 Như vậy năng suất đậu tương của Yên Bái còn rất thấp chưa tương xứng với tiềm năng của giống

Huyện Lục Yên rất quan tâm tới việc phát triển cây đậu tương, hàng năm huyện giao chỉ tiêu kế hoạch sản xuất cho các xã Tuy nhiên việc hỗ trợ

về giống thì vẫn chưa có nhiều mà chỉ chú trọng công tác khuyến cáo, tập huấn kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc cây đậu tương

Trang 39

Bảng 1.8 Tình hình sản xuất đậu tương của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh năm 2008

Huyện Lục Yên là một trong những huyện thị dẫn đầu về diện tích trồng cây đậu tương Diện tích trồng cây đậu tương trên 900 ha, năm 2007 diện tích sản xuất đạt 1.005, cao nhất trong vòng 4 năm qua chiếm gần 30% diện tích trồng đậu tương toàn tỉnh

Năng suất đậu tương tăng từ 13,94 tạ/ha năm 2005 lên 15,98 tạ/ha năm

2008, cao hơn năng suất bình quân chung của tỉnh từ 2- 4 tạ/ha, và chiếm gần 40% sản lượng đậu tương toàn tỉnh

Trang 40

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Vật liệu nghiên cứu

Gồm 9 dòng đậu tương nhập nội từ Australia và giống DT84 làm đối chứng

9 E089- 10 Nhập nội từ Australia

10 DT84 (Đ/C) Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam

- Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm tiến hành đề tài:

+ Xã Mai Sơn, huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái

+ Xây dựng mô hình: tại xã Mai Sơn- huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái

- Thời gian nghiên cứu: từ vụ xuân năm 2008 đến vụ xuân năm 2009

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu tương thí nghiệm

Ngày đăng: 04/06/2014, 19:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Nguyễn Thị Bình (1990), Nghiên cứu và đánh giá khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của tập đoàn giống đậu tương ở Miền Bắc Việt Nam, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của tập đoàn giống đậu tương ở Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1990
2- Bùi chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiện Lương, Trịnh Khắc Quang, (2005) Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng giai đoạn 1986- 2005, Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, tập I- Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng giai đoạn 1986- 2005
Tác giả: Bùi chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiện Lương, Trịnh Khắc Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2005
3- Vũ Danh Ca, Cao thanh Huyền (2004)Khảo nghiệm tập đoàn giống đậu tương có triển vọng trong hai vụ hè thu và thu đông năm 2003 tại Hải Phòng, Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng, Tr 3- 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm tập đoàn giống đậu tương có triển vọng trong hai vụ hè thu và thu đông năm 2003 tại Hải Phòng
Tác giả: Vũ Danh Ca, Cao thanh Huyền
Nhà XB: Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng
Năm: 2004
5- Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999), Cây đậu tương, NXB Nông nghiệp Hà Nội Tr 3, 158- 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu tương
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội Tr 3
Năm: 1999
6- Phạm Thị Đào( 9/ 1998), Quan hệ giữa chất lượng hạt giống với các giai đoạn sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và đặc điểm hạt ở đậu tương, Tạp chí NN và CNTP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa chất lượng hạt giống với các giai đoạn sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và đặc điểm hạt ở đậu tương
7- Lê Hoàng Độ, Đặng Trần Phú, Nguyễn Uyển Tâm, Nguyễn Xuân, (1997), Tài liệu về cây đậu tương, NXB KHKT Hà Nội, Tr 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về cây đậu tương
Tác giả: Lê Hoàng Độ, Đặng Trần Phú, Nguyễn Uyển Tâm, Nguyễn Xuân
Nhà XB: NXB KHKT Hà Nội
Năm: 1997
8- Trần Đình Đông, Mai Quang Vinh, Trần Tú Ngà (1994), Khả năng thích ứng với các thời vụ khác nhau của các dòng giống đậu tương đột biến, Tuyển tập “ Kết quả nghiên cứu khoa học của khoa sau đại học”NXBNN, Tr 28- 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng thích ứng với các thời vụ khác nhau của các dòng giống đậu tương đột biến", Tuyển tập “ Kết quả nghiên cứu khoa học của khoa sau đại học
Tác giả: Trần Đình Đông, Mai Quang Vinh, Trần Tú Ngà
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1994
9- Trần Đình Đông (8/ 1994), Ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn giống đậu tương, Tạp chí hoạt động khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn giống đậu tương
10- Đậu nành (29- 31/1/1996), Hội thảo tổ chức tại Biên Hoà, Việt Nam, NXBNN, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đậu nành
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1996
11- Bùi Tường Hạnh (9/1997), “Đỗ tương với phụ nữ lớn tuổi”, Báo khoa học và đời sống số 51 (1199), ngày 16-22/12/ 1997, Theo “The Family doctor” Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ tương với phụ nữ lớn tuổi”", Báo khoa học và đời sống số 51 (1199), ngày 16-22/12/ 1997, Theo “The Family doctor
12- Nguyễn Tấn Hinh (1990), Nghiên cứu sự khác biệt di truyền đậu tương, Thông tin khoa học Nông nghiệp, Viện cây Lương thực và Thực phẩm, NXBNN, Tr 64- 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự khác biệt di truyền đậu tương
Tác giả: Nguyễn Tấn Hinh
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1990
13- Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Tấn Hinh, Trần Thanh Cuông, Ngyễn Thị Định (4/ 1994), Chọn giống đậu tương bằng phương pháp lai hữu tính, Tạp chí khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống đậu tương bằng phương pháp lai hữu tính
14- Vũ Tuyên Hoàng, Đào Quang Vinh (1984), Biến động của một số tính trạng số lượng ở các giống đậu tương ăn hạt qua các đợt gieo trồng tại đồng bằng Sông Hồng, Tuyển tập kết quả nghiên cứu về Cây lương thực và cây thực phẩm, tập I (1978- 1983), NXBNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động của một số tính trạng số lượng ở các giống đậu tương ăn hạt qua các đợt gieo trồng tại đồng bằng Sông Hồng
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng, Đào Quang Vinh
Nhà XB: NXBNN Hà Nội
Năm: 1984
15- Vũ Tuyên Hoàng và Cộng sự (1995), "Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới", Tập san tổng kết KHKT Nông – Lâm nghiệp, Tr. 90 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng và Cộng sự
Năm: 1995
16- Nguyễn Huy Hoàng (1992), Nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của các mẫu giống đậu tương nhập nội ở Miền Bắc Việt Nam, Tóm tắt luận án PTS khoa học Nông nghiệp, hà Nội, Tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu hạn của các mẫu giống đậu tương nhập nội ở Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Tóm tắt luận án PTS khoa học Nông nghiệp
Năm: 1992
18- Trần Văn Lài, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Thị Chinh (12/ 1987), Giống đậu tương AK02, Tạp chí KHKTNN, Tr 534- 538 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương AK02
19- Trần Đình Long và cộng sự (1995), Giống đậu tương VX 9- 2, Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991- 1995, Viện KHKTNN Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ, Hà Nội, Tr 52- 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu tương VX 9- 2, Kết quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991- 1995
Tác giả: Trần Đình Long và cộng sự
Năm: 1995
21- Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự và Bùi Xuân Sửu(1996), Giáo trình cây công nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, NXBNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự và Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1996
22- Đoàn Thị Thanh Nhàn, So sánh một số dòng, giống đậu tương Australia nhập nội trong vụ hè và xuân tại Gia Lâm- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh một số dòng, giống đậu tương Australia nhập nội trong vụ hè và xuân tại Gia Lâm- Hà Nội
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn
23- Nguyễn ngọc Thành (1996), Cơ sở sinh lí, hình thái để chọn tạo giống đậu tương ở miền bắc Việt Nam, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, viện KHKTNNVN, Bộ GD và ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lí, hình thái để chọn tạo giống đậu tương ở miền bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn ngọc Thành
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5  năm gần đây. - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Quốc 5 năm gần đây (Trang 17)
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây (Trang 28)
Bảng 3.1. Các giai đoạn sinh trưởng của các dòng đậu tương thí nghiệm - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.1. Các giai đoạn sinh trưởng của các dòng đậu tương thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.2: Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thí nghiệm - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.2 Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thí nghiệm (Trang 51)
Bảng 3.4. Một số loài sâu hại chính và khả năng chống đổ của các dòng - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.4. Một số loài sâu hại chính và khả năng chống đổ của các dòng (Trang 58)
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết của các  dòng đậu tương năm 2008 - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết của các dòng đậu tương năm 2008 (Trang 63)
Bảng 3.7. Năng suất thực thu của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm năm 2008. - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.7. Năng suất thực thu của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm năm 2008 (Trang 67)
Bảng 3.8. Năng suất thực thu của các dòng đậu tương thử nghiệm tại - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.8. Năng suất thực thu của các dòng đậu tương thử nghiệm tại (Trang 69)
Bảng 3.9. Kết quả đánh giá của người dân đối  với 3 dòng đậu tương - đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 -2009
Bảng 3.9. Kết quả đánh giá của người dân đối với 3 dòng đậu tương (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w