Đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản của các tổ hợp lai giữa dê đực beetal, jumnapari với dê cái f1 (bách thảo x cỏ)
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP Hµ NéI
Chuyªn ngµnh: CH¡N NU¤I
M· sè : 60.62.40
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS Mai ThÞ Th¬m
Hµ NéI - 2010
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ0 đ−ợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đ0 đ−ợc ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Lê Thanh Long
Trang 3Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Thị Thơm đ0 hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cặn kẽ đối với tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tập thể các thầy cô khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng Thuỷ sản, Viện sau Đại học, đặc biệt các thầy cô trong bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa đ0 trực tiếp đóng góp và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê,Trạm Khuyến nông, Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Phổ Yên, Thái Nguyên đ0 tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và người thân đ0 động viên tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Lê Thanh Long
Trang 4
Mục lục
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế x0 hội của huyện Phổ Yên 33
4.1.3 Đánh giá chung đặc điểm của huyện Phổ Yên 344.2 Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của dê lai 35
Trang 54.2.1 Kh¶ n¨ng sinh tr−ëng vµ søc s¶n xuÊt thÞt cña dª lai [Jumnapari ×××
Trang 6DANH môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7DANH mục bảng
2.1 Khả năng sinh sản của một số giống dê nội địa của Việt Nam 52.2 Tốc độ sinh trưởng của dê lai F1 so với dê Bách Thảo 242.3 Khối lượng các dê lai qua các giai đoạn tuổi (kg) 254.1 Thay đổi khối lượng dê lai qua các tháng tuổi 364.2 Sinh trưởng tuyệt đối của dê lai [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 394.3 Sinh trưởng tương đối của dê lai [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 414.4 Một số chiều đo chính của dê lai [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 434.5 Chỉ số cấu tạo thể hình của dê lai [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 444.6 Kết quả mổ khảo sát của dê lai [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 454.7 Thay đổi khối lượng của dê lai qua các tháng tuổi 474.8 So sánh khối lượng giữa dê lai F1[Beetal ì (Bách Thảo ì Cỏ)] với
4.9 Sinh trưởng tuyệt đối của dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 524.10 Sinh trưởng tương đối của dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 544.11 Một số chiều đo chính của dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 564.12 Chỉ số cấu tạo thể hình của dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 574.13 Kết quả mổ khảo sát dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] 584.14 Năng suất thịt của dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] so với
Trang 81 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, ở Việt Nam ngành chăn nuôi dê đ0 từng bước ngày càng phát triển Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì cả nước năm 2008 có 1.770.000 con dê cừu, năm 1990 chỉ có 320.000 con, năm 2000 chúng ta có 520.000 con và tốc độ tăng đầu dê trong 10 năm qua là 21% năm Giá thịt dê cũng tăng lên nhanh chóng từ 30.000đ/kg thịt hơi năm 1990 lên 45.000đ/kg nay lên đến 70.000đ/kg dê thịt; dê giống 90 - 120.000đ/kg Bên cạnh số lượng và giá dê thịt ngày càng tăng cao thì về giống dê thời gian qua chúng ta đ0 nghiên cứu chọn lọc nhân thuần nâng cao năng suất được một số giống dê nội như dê Bách Thảo, dê cỏ Hà Giang, dê Núi đá Ninh Bình, đồng thời cũng đ0 nghiên cứu thành công việc sử dụng giống dê Bách Thảo kiêm dụng sữa – thịt lai cải tạo nâng cao năng suất giống dê Cỏ tạo ra dê lai F1(Bách Thảo ì Cỏ) cho năng suất cao hơn dê Cỏ thuần 12 - 15%, giống dê F1 này được đưa thành tiến bộ kỹ thuật mở rộng trong sản xuất Bên cạnh công tác nghiên cứu về dê nội của Việt Nam như nêu trên thì thời gian qua chúng ta cũng đ0 nhập về được nhiều giống
dê quý từ các nước có nghề chăn nuôi dê phát triển, như nhập từ ấn Độ về 3 giống dê kiêm dụng sữa – thịt là Barbari, Jumnapari và Beetal với tổng số 500 con và năm 1994, nhập từ Pháp về Ninh Thuận 2 giống dê sữa Alpine và Saanen năm 1998 là 50 con; nhập từ Mỹ về 3 giống dê cao sản là dê chuyên thịt Boer
và 2 giống dê chuyên sữa là Saanen và Alpine tổng số 135 con vào năm 2001 Các giống dê nhập ngoại về đ0 được nuôi theo dõi thích nghi nhân thuần phát triển ra trong sản xuất và sử dụng dê đực lai với dê nội nâng cao năng suất và lai tạo các giống dê chuyên thịt, chuyên sữa của Việt Nam
Với mục đích sử dụng phương pháp lai kinh tế 3 máu, sử dụng 2 giống dê đực
ấn Độ lai kinh tế với dê Bách Thảo ì Cỏ nâng cao năng suất chăn nuôi dê ở vùng đồi núi Phổ Yên, Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
Trang 9giá khả năng sinh trưởng, sinh sản của các tổ hợp lai giữa dê đực Beetal, Jumnapari với dê cái F1 (Bách Thảo ì Cỏ)”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng và sinh sản của dê lai [Beetal ì
F1(Bách Thảo ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] nuôi trong nông
hộ huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
1.2.2 Đánh giá năng suất và phẩm chất thịt dê lai [Beetal ì F1(Bách Thảo
ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] nuôi trong nông hộ huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu đ0 góp phần khẳng định cơ sở khoa học của việc lai tạo giống dê và ưu thế lai của con lai, góp phần giúp người chăn nuôi dê đạt hiệu quả kinh tế cao
Kết quả đề tài là tư liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở các trường học và các cơ quan nghiên cứu khoa học, thực nghiệm về chăn nuôi dê
1.3.1 ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài được nhiều hộ chăn nuôi dê áp dụng Việc lai dê đực Beetal, Jumnapari với dê cái F1 (Bách Thảo ì Cỏ) đ0 trở thành phổ biến, góp phần cải thiện vốn gen, khắc phục tình trạng đồng huyết cao trong nhiều đàn
dê, tăng năng suất thịt
Trang 102 Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của dê
2.1.1.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản
Sinh sản là đặc tính quan trọng của gia súc nhằm duy trì, bảo tồn nòi giống Sinh sản là quá trình sinh học phức tạp của cơ thể nhằm sinh ra một cơ thể mới mang những đặc điểm di truyền của con bố và con mẹ Đặc điểm sinh sản đặc thù của dê là có khả năng sinh sản đơn và đa thai Trong quá trình nuôi dưỡng dê đực bắt đầu có tinh trùng lúc 4 – 6 tháng tuổi, dê cái có thể rụng trứng và thụ thai lúc 5 - 6 tháng tuổi (Đinh Văn Bình và CS, 2003a)[6] Con đực hoạt động sinh dục thường xuyên, con cái hoạt động theo chu kỳ gọi là chu kỳ sinh dục Chu kỳ động dục của dê gồm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh Chu kỳ động dục ở dê cái, bình quân là 21 ngày Thời gian có chửa ở dê cái khoảng 5 tháng (150 ngày)
Hiện tượng sinh dục, sinh sản gồm có: thành thục tính dục, động hớn, giao phối, thụ tinh, mang thai, đẻ và nuôi con Sinh sản là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong phát triển đàn giống vật nuôi Hiện nay việc đầu tư để khai thác tối đa khả năng sinh sản của gia súc đ0 được đặc biệt chú ý Các kỹ thuật sinh học trong nuôi cấy phôi, kỹ thuật pha chế bảo quản tinh trùng, thụ tinh nhân tạo, lai ghép phôi thai, kỹ thuật lấy trứng chín rụng và cho thụ thai
là những hướng được mở ra nhằm khai thác tối đa tiềm lực sinh sản của mỗi cá thể gia súc (Nguyễn Hải Quân và CS, 1977)[19]
• Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản
- Tuổi động dục lần đầu: là một trong các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của gia súc Lúc này con cái có khả năng giao phối để hoàn thành nhiệm
Trang 11vụ sinh sản Tuổi động dục lần đầu là chỉ tiêu đánh giá tính mắn đẻ của một giống dê trong điều kiện nuôi dưỡng hợp lý Thông thường dê nuôi hậu bị theo hướng sinh sản và lấy sữa được nuôi dưỡng tốt có tuổi động dục lần đầu vào khoảng 4 - 6 tháng tuổi Tuy nhiên người chăn nuôi thường không phối giống cho dê ở tuổi này vì chúng chưa đủ thành thục về thể vóc (Trần Đình Miên và
CS, 1992)[17] Tuổi động dục lần đầu cũng gắn liền với việc đạt được khối lượng và kích thước của cơ thể Trong cùng một giống, khối lượng cơ thể gia súc hình như là một yếu tố có tính quyết định hơn so với yếu tố tuổi, trong việc xuất hiện lần động dục đầu tiên (Lê Thanh Hải và CS, 1994)[11]
- Tuổi đẻ lứa đầu: là thước đo sức tái sản xuất của cơ thể Tuổi đẻ lứa đầu càng ngắn thì vật nuôi càng sớm tạo ra sản phẩm Tuổi đẻ lứa đầu muộn, sẽ có nhiều trường hợp đẻ khó, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Tuổi đẻ lứa đầu
có liên quan chặt chẽ với tuổi động dục lần đầu, kỹ thuật phối giống, tỷ lệ
đực/cái trong đàn Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào yếu tố di truyền và ngoại cảnh như: chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, điều kiện khí hậu, khả năng sinh trưởng và phát dục của giống
Tuổi đẻ lứa đầu có khoảng biến thiên khá rộng, khoảng 400 – 556 ngày (Nguyễn Văn Thiện và CS, 1996)[23] Tuổi đẻ lứa đầu chủ yếu phụ thuộc vào tuổi thành thục cả về tính và thành thục về thể vóc, đồng thời phụ thuộc vào việc phát hiện động dục và kỹ thuật phối giống
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ: là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của dê Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 210 ngày là khoảng cách
lý tưởng Theo Từ Quang Hiển và CS, (1996)[12] cho biết khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 194 ngày Khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng không tốt tới số dê con sinh ra trong 1 đời dê mẹ, dẫn đến hạn chế nâng cao tiến bộ di truyền Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ phụ thuộc nhiều vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm phẩm giống, thời gian động dục lại sau khi đẻ (thời gian hồi phục cơ quan sinh dục con cái), thời gian mang thai, cạn sữa
Trang 12Bảng 2.1: Khả năng sinh sản của một số giống dê nội địa của Việt Nam
Dê Bách Thảo
Dê lai (Bách Thảo ììì Cỏ) Tuổi động dục lần đầu ngày 176,8
a ; 198,3b ;
168c ; 183,81e ;
191,19d ; 192,36e 185e
KL động dục lần đầu kg 11,53a; 11,71b;
11,01c; 14,23e
19,76d; 18,2e 16,53e Tuổi đẻ lứa đầu ngày 336,44a; 387b;
362c; 359,44e
346d; 370,27e 361,8e; 340f Thời gian mang thai ngày 150,27a; 149c;
150,27e
148,1d; 152,97e 152,74e; 150,47f Chu kỳ động dục ngày 22,35a; 20,35b;
20,0c; 22,35e
26,88c; 21,97e 22,01e
Số con/lứa con 1,61a; 1,52b;
1,58c; 1,61e
2,09d; 1,92e; 1,77f 1,71e; 1,64f Khảng cách 2 lứa đẻ ngày 225,61a; 196b;
194c; 225,61e
217d; 218,91e 220,71e; 204,92f
a Lê Văn Thông và CS (1999)[20] d Đinh Văn Bình (1995)[3]
b Mai Hữu Yên (1998)[27] e Lê Văn Thông (2001)[21]
c Từ Quang Hiển (1996)[12] f Nguyễn Kim Lin, CS (2008) [9]
Dê Jumnapari đẻ 1,1 – 1,3 lứa/năm và 1,3 – 1,5 con/lứa Khả năng sản xuất sữa giao động trong phạm vi lớn, sản lượng sữa 90 ngày đạt 69,7 – 75,03kg; sản lượng sữa cả chu kỳ khá thấp: 61,1 – 94,25 kg/chu kỳ 114,7 – 148,5 ngày (Roy và CS, 1997 – 98)[46] Một số tác giả khác cho rằng dê Jumnapari cho sữa tốt, sản lượng sữa trung bình là 200 – 565kg sữa/170 – 261 ngày, nhiều cá thể cho 3,8 kg sữa/ngày (Devendra và Marca Burns, 1983)[29] Theo Đinh Văn Bình và CS, (1997b)[4] thì sinh sản dê đực Beetal như: lượng xuất tinh, hoạt lực, nồng độ tương ứng là: 1,18ml; 75,1%; 3,37 tỷ/ml ở thế hệ 1 Đến thế hệ thứ 3 thì lượng xuất tinh, hoạt lực, nồng độ tương ứng là: 1,39ml; 81,6%; 3,61 tỷ/ml Kết quả này tương đương với kết quả công bố ở ấn
Trang 13Độ (Theo Mishar và CS, 1976b)[41] Độ pH tinh dịch dê Beetal có giá trị trung bình giao động quanh 6,8; tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng có xu hướng cao: 6,19% (thế hệ 1) và giảm 5,25% (thế hệ 3)
Các chỉ tiêu khác: thời gian động dục lại sau khi đẻ, thời gian mang thai,
số con đẻ ra/lứa, số con đẻ ra/năm cũng là những chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá khả năng sinh sản
2.1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể để gia súc tăng về kích thước (sự thay đổi về chiều cao, chiều dài, bề ngang, bề sâu ) hay nói cách khác là sự thay đổi về khối lượng Sinh trưởng là tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài Do có sự tương tác giữa kiểu gen và ngoại cảnh mà sinh trưởng mang tính quy luật, đảm bảo cho cơ thể phát triển đạt tỷ lệ hài hoà và cân đối Sinh trưởng và phát dục của dê thường tuân theo quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều theo giai đoạn, tuổi và theo giới tính Sinh trưởng và phát dục không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau làm cho cơ thể con vật hoàn chỉnh, sinh trưởng có thể phát sinh từ phát dục và ngược lại sinh trưởng tạo
điều kiện cho phát dục tiếp tục hoàn chỉnh (Trần Đình Miên và CS, 1992)[17]
• Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Cường độ sinh trưởng là chỉ tiêu thành thục của con vật nghĩa là hoàn thành sự phát triển thể chất, liên quan đến khả năng sử dụng được sớm như phối giống lần đầu, đẻ lần đầu, sản xuất sữa, thịt Cường độ sinh trưởng bào thai và giai đoạn sau khi sinh ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật non Vì vậy để đo cường độ sinh trưởng người ta lấy khối lượng mới sinh, cai sữa hoặc ở các lứa tuổi nhất định
Sinh trưởng tích lũy của gia súc ở các tháng tuổi chính là độ sinh trưởng tích luỹ, thoai thoải khi gia súc còn nhỏ, dốc dựng hơn khi gia súc ở giai đoạn sinh trưởng nhanh rồi thoải dần tiến tới nằm ngang, không tăng nữa ứng với
Trang 14giai đoạn con vật đ0 thành thục về thể vóc Tăng trưởng bình quân trong 1 tháng, hoặc trong 1 ngày của gia súc chính là độ sinh trưởng tuyệt đối, hệ số sinh trưởng cũng là các chỉ tiêu giúp cho việc đánh giá sinh trưởng và phát dục của gia súc Tỷ lệ giữa khối lượng sơ sinh và các giai đoạn phát triển sau khi
đẻ là những chỉ tiêu quan trọng để chọn lọc, phải đặt khối lượng sơ sinh vào chương trình chọn lọc vì chỉ tiêu này ảnh hưởng đến cường độ sinh trưởng và năng suất sau này
Theo Đinh Văn Bình và CS (2003b)[7]) cho thấy lúc sơ sinh dê đực lai
F1(Bách Thảo ì Cỏ) có khối lượng là 2,8kg; dê cái là 2,5kg; 12 tháng tuổi có khối lượng là 40kg (dê đực) và 35,2kg (dê cái) ở thời điểm 24 tháng tuổi có khối lượng là 56,2kg (dê đực) và 38,6kg (dê cái) Dê lai F1(Bách Thảo ì Cỏ)
có khối lượng lớn, tăng khối lượng nhanh với điều kiện chăn nuôi có đầu tư thâm canh, còn trong điều kiện chăn nuôi quảng canh chúng có tốc độ sinh trưởng chậm, mức độ tăng năm thứ nhất bình quân 60 – 70g/con/ngày, sau đó giảm dần ở năm thứ hai (24 – 30g/con/ngày), năm thứ ba: dưới 20g/con/ngày
và năm thứ tư thì tăng không đáng kể (Nguyễn Văn Thiện và Đinh Văn Hiến, 1999)[24]
Dê lai F1(Bách Thảo ì Cỏ) có tỷ lệ thịt xẻ từ 38,95 – 42,42%; tỷ lệ thịt tinh là 27,50 – 29,29%; hàm lượng protein trong thịt đạt 19,50 – 19,66%; nước tổng số là 76,59 – 78,05 (Lê Văn Thông và CS, 1999)[20] Tỷ lệ thịt xẻ
và tỷ lệ thịt tinh tuy ở mức trung bình nhưng dê lai F1(Bách Thảo ì Cỏ) có khả năng sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lớn, nên những dê đực lai F1(Bách Thảo ì Cỏ) không giữ làm giống, chuyển sang nuôi thịt sẽ cho năng suất thịt cao Mùi vị thịt của dê lai F1(Bách Thảo ì Cỏ) cũng thơm ngon như thịt của dê
Cỏ (Đinh Văn Bình, 1994)[2]
Theo Đinh Văn Bình và CS (2001)[5] cho thấy khối lượng dê đực Jumnapari lúc sơ sinh có khối lượng: 2,60kg; dê cái: 2,08kg; 6 tháng tuổi khối
Trang 15lượng dê đực: 17,60kg; dê cái: 15,40kg; 9 tháng tuổi, khối lượng dê đực và dê cái tương ứng là: 25,40kg và 22,90kg; 12 tháng tuổi khối lượng dê đực: 29,90kg; dê cái: 26,80kg ở thời điểm 24 tháng tuổi, khối lượng dê đực: 40,40kg; dê cái: 31,80kg Cường độ sinh trưởng tuyệt đối của dê Jumnapari ở giai đoạn sơ sinh đến 3 tháng tuổi là: 85,60g/con/ngày (dê đực); 76,40g/con/ngày (dê cái); giai đoạn 6 đến 9 tháng tuổi cường độ sinh trưởng tuyệt đối của dê Jumnapari ở con đực và con cái tương ứng là: 86,60g/con/ngày và 83,30g/con/ngày Tỷ lệ thịt xẻ từ 39,96 – 43,434%; tỷ lệ thịt tinh là29,29 – 31,54%
ở ấn Độ, theo Mishar và CS (1976b)[41] thì khối lượng dê Beetal lúc sơ sinh
là 3,3 – 3,9kg (dê đực) và 2,7 – 3,3 kg (dê cái); 6 tháng tuổi khối lượng là 15,5 – 16,4kg (dê đực) và 15,5kg (dê cái) và 12 tháng tuổi khối lượng dê đực và dê cái tương ứng là: 28,6 – 30,4kg và 21,8kg
Đánh giá sự sinh trưởng của gia súc bằng cách đo kích thước các chiều cũng là một phương pháp đánh giá con giống theo các hướng sản xuất của chúng Các chiều đo: cao vây, vòng ngực, dài thân chéo, chỉ số cấu tạo thể hình cũng có ý nghĩa lớn đối với đánh giá sinh trưởng phát dục của gia súc đặc biệt là đối với dê Tính trạng này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giống và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, Đặng Xuân Biên (1993)[1] cho thấy các chiều đo của dê Bách Thảo lúc trưởng thành có chiều cao vây, vòng ngực, dài thân chéo là: 73,3cm; 78,6cm; 70,4cm (con đực); 51,4cm; 67,3cm; 56,8cm (con cái) Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trưởng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất chăn nuôi Nghiên cứu chỉ tiêu này phải có những số liệu chính xác qua việc bố trí các thí nghiệm và ghi chép số liệu hàng ngày Ngoài ra các chỉ tiêu như thời gian nuôi để đạt khối lượng nhất định lúc động dục lần đầu, phối giống lần đầu, đẻ lần đầu đều có ảnh hưởng đến năng suất sản xuất sau này
Trang 162.1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự cho thịt
Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là protein Protein thịt là loại protein hoàn chỉnh, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể con người Thịt theo nghĩa rộng là tất cả các tổ chức cơ, mỡ, xương, da và các cơ quan, bộ phận khác của con vật Nghĩa hẹp, thịt gồm các cơ và tổ chức mỡ Nhiều nghiên cứu cho rằng mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với số lượng mỡ trong thân thịt
có mối tương quan thuận r = 0,48 đến 0,80; giữa độ dày mỡ lưng và tỷ lệ nạc trong thân thịt có mối tương quan nghịch r = (-0,38) đến (-0,70) Do đó đánh giá khả năng cho thịt có liên quan đến khả năng sinh trưởng tích lũy của các
bộ phận cơ và mỡ:
- Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất, nó chiếm 35% khối lượng của con vật, bao gồm cơ vân và cơ trơn (Lê Văn Liễn, Lê Khắc Huy, Nguyễn Thị Liên, 1997)[15] Sợi cơ có đường kính từ 10 - 100àm, chiều dài 12cm Sợi cơ chia thành 3 phần: màng cơ, chất cơ và nhân Thành phần hóa học của mô cơ là: nước 72 – 75%, protein 18 – 21%, lipit 1 – 2%, khoáng 1%
Tỷ lệ thịt nạc ở dê cao hay thấp được cấu thành và thay đổi theo quy luật
di truyền khá chặt chẽ Số lượng “sợi thịt” của từng cơ thịt ngay từ bẩm sinh đ0
được xác định và gần như được cố định suốt cả đời dê Số lượng “sợi cơ” phụ thuộc vào từng giống dê (Lê Văn Liễn, Lê Khắc Huy, Nguyễn Thị Liên, 1997)[15]
- Mô mỡ được tạo thành từ mô liên kết hình lưới xốp cùng với lượng lớn
tế bào mỡ Đây là nơi dự trữ và cung cấp năng lượng cho cơ thể Tùy loại gia súc, tuổi giết mổ, mức độ gày béo và vị trí trên cơ thể con vật mà lượng mỡ khác nhau Thành phần hóa học của mô mỡ: nước 2 – 21%, lipit 70 – 97%, protein 0,5 – 7,2% và một lượng nhỏ khoáng và vitamin Trong thành phần thịt xẻ thì thịt nạc và mỡ quan trọng nhất, chúng phát triển nghịch nhau, tùy thuộc vào kiểu gen và thông qua sự điều tiết của hệ thống nội tiết tố Ngoài 2 thành phần chính là mô cơ và mô mỡ còn có mô sụn, mô xương và mô liên
Trang 17kết, song giá trị dinh dưỡng của chúng thường thấp Tỷ lệ nạc và mỡ phụ thuộc vào tuổi giết mổ và phẩm giống, những giống dê thành thục và tính sớm thì tỷ lệ thịt móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn những giống dê thành thục muộn 2.1.2 Cơ sở di truyền của sự sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của dê
2.1.2.1 Tính trạng số lượng
Tính trạng là đặc trưng riêng của từng cá thể mà ta có thể quan sát hay xác định được Có hai loại tính trạng: tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại
Trong quá trình lai, các tính trạng chất lượng sẽ phân ly theo tỷ lệ nhất
định, nhưng đối với tính trạng số lượng sự phân ly không phù hợp với các tỷ lệ
đó Cho nên khi mới bắt đầu nghiên cứu sự di truyền các tính trạng số lượng người ta đ0 thu được những kết quả hầu như đối lập với các định luật Mendel,
và vì thế Ganton, Pearson đ0 cho rằng tính trạng số lượng không tuân theo các
định luật Mendel, thậm chí Bateson, De Vries còn khẳng định tính trạng số lượng là những tính trạng không di truyền M0i đến năm 1908 nhờ các công trình nghiên cứu của Nilsson-Ehle người ta mới xác định rõ: các tính trạng số lượng có biến dị liên tục, cũng di truyền theo đúng các định luật của các tính trạng chất lượng có biến dị gián đoạn, tức là các định luật cơ bản về di truyền của Mendel (Trần Đình Miên và CS, 1992)[17]
CS, 1992)[17]
Trang 18Ngành di truyền có liên quan đến các tính trạng số lượng gọi là di truyền học số lượng hoặc di truyền học sinh trắc Nó vẫn lấy các quy luật của Menden làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng khác với tính trạng chất lượng nên phương pháp nghiên cứu trong di truyền học số lượng khác với nghiên cứu trong di truyền Menden về 2 phương diện: (i) đối tượng nghiên cứu không thể dừng lại ở mức độ cá thể mà phải mở rộng ở mức
độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau; (ii) sự sai khác giữa các cá thể chỉ là sự phân loại mà không có sự đo lường các cá thể
Cơ sở lý thuyết của di truyền số lượng được thiết lập vào khoảng năm
1920 bởi các công trình nghiên cứu của Fisher R.A (1918); Haldane (1932); Wriht S (1926) (Trần Đình Miên và CS, 1992)[17], sau đó được các nhà di truyền và thống kê bổ sung, nâng cao Đến nay đ0 có cơ sở khoa học vững chắc và được ứng dụng rộng r0i trong việc cải tiến di truyền giống vật nuôi
Để giải thích hiện tượng di truyền các tính trạng số lượng người ta đ0 chứng minh bằng giả thuyết đa gen, công nghệ sinh học phát triển vấn đề này đ0
được các nhà khoa học chứng minh bằng công nghệ cấy truyền gen
Giả thuyết đa gen: xuất phát từ các kết quả thí nghiệm về sự phân ly những tính trạng số lượng khi lai giữa lúa tiểu mạch đỏ và tiểu mạch trắng, Nilsson-Ehle (1908) (Trần Đình Miên và CS, 1992)[19], đ0 nêu ra giả thuyết
đa gen: tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen, phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền: phân
ly, tổ hợp, liên kết … Mỗi gen thường có tác động rất nhỏ đối với kiểu hình, nhưng nhiều gen có giá trị cộng gộp lớn hơn Tác dụng của các gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là không cộng gộp, có thể là do cộng gộp Ngoài ra còn có thể có các kiểu tác động ức chế khác nhau giữa các gen nằm
ở những locus khác nhau
Hiện tượng đa gen có hai hình thức chủ yếu: (i) kiểu các đa gen sắp xếp
ở những locus tương ứng các nhiễm sắc thể tương đồng; (ii) các đa gen sắp
Trang 19xếp ở những locus khác nhau nhưng xác định sự phát triển của cùng một tính trạng bên ngoài Trong sự di truyền các tính trạng số lượng, kiểu thứ hai là hay gặp hơn cả, và trong trường hợp như vậy rất ít và hoàn toàn không thấy được
tỷ lệ rõ rệt khi phân ly
Đôi khi cho lai giữa hai bố mẹ khác nhau về các tính trạng đa gen dê lai
F1 được nhận là trung gian, nhưng ở dê lai F2 (có khi F3, F4,…) thấy có một số cá thể vượt hẳn bố, mẹ gọi là sự tăng tiến dương; hoặc một số cá thể thấp hơn
bố, mẹ gọi là sự tăng tiến âm Hiện tượng này gọi là sự tăng tiến phân ly (transgressive segregation) Trên thực tế, số gen tham gia xác định 1 tính trạng số lượng nào đó thường rất lớn, do đó khó có thể nhận được những cá thể biểu hiện rõ rệt nhất sự tăng tiến
Biết được sự chính xác số lượng gen quyết định tính trạng số lượng ta
có thể đề ra các phương pháp trực tiếp nghiên cứu các tính trạng số lượng đó, mặc dù về phương tiện di truyền học và thực tiễn công tác giống, đây là vấn đề rất quan trọng và thực tiễn, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một phương pháp nào cụ thể trả lời một cách chính xác Trên thực tế người ta thường dùng hai phương pháp:
- Dựa vào kiểu hình trội thuần ở F2: nói chung ở mỗi bên bố mẹ có n cặp gen ở F2 có (1/4) x n cặp gen Nhược điểm của phương pháp này là đ0 xem các gen có tác dụng như nhau đối với kiểu hình và chúng có sự tổ hợp tự
do, bởi qua hiện tượng liên kết, ức chế v.v…
- Dựa vào thống kê sinh học người ta đ0 đưa ra công thức tìm số cặp gen tổi thiểu quyết định tính trạng số lượng, tuy nhiên sự áp dụng còn có nhiều hạn chế công thức không bao hàm được các điều kiện phức tạp như tác dụng ngoại cảnh, sự liên kết, mức độ trội v.v…
Theo Morgan (1911); Writh (1933) (Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân, 1994)[14], các gen có thể hoạt động riêng lẻ, song phần lớn chúng hoạt động theo nhóm liên kết
Trang 20Gia súc sống trong môi trường nhất định, nên sự hình thành, hoạt động các tính trạng không chỉ chịu chi phối của các gen mà còn chịu sự ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường
Giá trị của bất kỳ tính trạng số lượng nào (giá trị kiểu hình) đều được biểu thị thông qua giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường:
P = G + E
Trong đó: P: Giá trị kiểu hình (phenotypic value)
G: Giá trị kiểu gen (genotypic value)
E: Sai lệch môi trường (environmental deviation)
Tùy theo phương thức tác động khác nhau của các gen-allen, giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp (Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding value): A; sai lệch trội (Dominance deviation): D; sai lệch át gen (Epistasic deviation) hoặc sai lệch tương tác (Interraction deviation): I, trong đó:
G = A + D + I
Sai lệch môi trường thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung (general environmental deviation): Eg: là sai lệch giữa các thể do hoàn cảnh thường xuyên và không cục bộ gây ra; sai lệch môi trường đặc biệt (special environmental deviation): Es là sai lệch trong các thể do hoàn cảnh tạm thời
và cục bộ gây ra
Như vậy, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ 2 locus trở lên, giá trị kiểu hình của nó được biểu thị:
P = A +D + I + Eg + Es
Tất cả các giá trị kiểu hình và kiểu gen của các tính trạng số lượng luôn biến thiên do tác động qua lại giữa các tổ hợp gen và môi trường Để định hướng cho việc chọn lọc các tính trạng cần phải nghiên cứu phương sai của chúng Phương sai giá trị kiểu hình được thể hiện như sau:
Trang 212.1.3 Cơ sở của sự lai tạo và ưu thế lai
2.1.3.1 Lai tạo và ưu thế lai
Lai tạo là phương pháp nhân giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử
ở thế hệ sau giảm đi và tần số kiểu gen dị hợp tử tăng lên Trong thực tế chăn nuôi, lai tạo là cho giao phối giữa các cá thể thuộc hai dòng trong cùng một giống, thuộc 2 giống hoặc 2 loài khác nhau Khi lai hai quần thể với nhau sẽ gây ra hai hiệu ứng:
- Hiệu ứng cộng gộp của các gen: đó là trung bình XP1P2 của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất XP1 và trung bình của giá trị quần thể thứ hai XP2:
Trang 22H(%) = x 100
Trong đó: bm: Bình quân giá trị tính trạng của bố mẹ
f1: Bình quân giá trị tính trạng của đời con
Trái với nhân giống cận thân, lai tạo sẽ tạo ra đời lai có nhiều đặc điểm
ưu việt (Nguyễn Văn Thiện, 1997)[22] Người đầu tiên nêu lợi ích của việc lai tạo là S.Darwin, ông đ0 kết luận lai tạo là có lợi, giao phối cận thân là có hại, lai tạo nhằm lay động tính di truyền bảo thủ vốn sẵn có của cá thể Thông qua lai tạo, các dòng các giống, phối hợp để tạo ra những tổ hợp lai mới hoặc cao hơn giống cũ, hoặc có tính trạng mới mà giống cũ không có Ngày nay, việc tạo ra các loại sản phẩm thịt, sữa, trứng, lông,… phần lớn đều thông qua lai tạo và việc lai tạo đ0 có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm Lai tạo chính là sử dụng biện pháp sinh học quan trọng: ưu thế lai, đồng thời các chỉ tiêu kinh tế của tổ hợp lai và ưu thế lai là căn cứ cho việc chọn giống gia súc (Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân, 1994)[14]
2.1.3.2 Bản chất di truyền của ưu thế lai
Theo Nguyễn Văn Thiện, (1997)[20], Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân, (1994)[14] thì cho đến nay có ba giả thuyết để giải thích hiện tượng ưu thế lai
đó là thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus
- Thuyết trội (Dominance):
Trong điều kiện chọn lọc lâu dài, gen trội phần lớn là các gen có lợi và
át gen lặn, do đó qua lai tạo có thể thu được các gen trội của cả hai bên bố, mẹ
tổ hợp lai ở đời con lai, làm cho đời con lai có giá trị hơn hẳn bố, mẹ
Ví dụ: mỗi bên bố, mẹ có 3 đôi gen trội (mỗi gen trội làm giá trị tính trạng tăng lên một đơn vị) và 3 đôi gen lặn (mỗi đôi gen lặn làm giá trị tính
( f1 + bm)
bm
Trang 23trạng tăng lên 1/2 đơn vị), như vậy: AA = Aa > aa Cho các bố và mẹ này lai với nhau, giá trị tăng được ở đời bố mẹ và con lai như sau:
Bố thuần chủng Mẹ thuần chủng Con lai
Thuyết siêu trội (Over dominance):
Lý thuyết này cho rằng, tác động của các cặp alen dị hợp tử Aa lớn hơn tác động của các cặp alen đồng hợp tử AA và aa, Aa >AA>aa
Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus:
Tác động tương hỗ của các gen không cùng alen tăng lên
Ví dụ: đồng hợp tử AA và BB chỉ có một loại tác động tương hỗ giữa A
và B, những dị hợp tử A-A’ và B-B’ có 6 loại tác động tương hỗ: A-B, A’- B’, A- B’, A’-B, A’- A’, trong đó A-A’, B-B’ là tác động tương hỗ giữa các gen cùng alen
Ngoài ra còn có thêm tác động tương hỗ cấp hai như: AA’-B, A-A’B’ và tác động tương hỗ cấp 3 như: A-A’- B-B’, A- B’-B-A’,…
Để xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai, Trần Đình Miên và CS (1992)[17] đưa ra công thức:
Trang 24Trong đó:
H : Mức độ biểu hiện của ưu thế lai
F1 : Trung bình của đời con
- Trội không hoàn toàn khi d < a
- Trội hoàn toàn khi d = a
- Siêu trội khi d > a
Dựa vào công thức tính ưu thế lai người ta có thể tính toán được một cách chính xác những tính trạng định lượng của đời lai
2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng ưu thế lai
ưu thế lai chỉ có ở đời con lai Trong quá trình sinh trưởng và phát triển,
ưu thế lai chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
Theo Trần Đình Miên và CS (1992)[17], ưu thế lai phụ thuộc 2 yếu tố:
- Trạng thái hoạt động của dị hợp tử (d)
- Sự khác nhau giữa hai quần thể xuất phát (y) Khi đó:
HF1 = Σdy2; HF2 = 1/2 HF1; HF3 = 1/4 HF1
Trong đó: HF1: ưu thế lai đời thứ nhất
HF2: ưu thế lai đời thứ hai
HF3: ưu thế lai đời thứ ba
d
P1 + P2
2
Trang 25ưu thế lai cao nhất ở đời F1 sau đó giảm dần Sự giảm ưu thế lai ở đời sau đó có sự thay đổi trong tác động tương hỗ và tương quan giữa các gen thuộc các locus khác nhau Đó là biểu hiện của một tính trạng không chỉ chịu
ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh mà còn cao hay thấp phụ thuộc vào sự tương quan âm hay dương giữa môi trường và kiểu di truyền Quan niệm đó
Gi: hiệu quả chung cho tất cả các cá thể trong môi trường i
Ej: hiệu quả chung cho tất cả các cá thể trong môi trường j
(GE)ijk: tương quan giữa kiểu di truyền và môi trường với cá thể có kiểu
di truyền i trong môi trường j
Mijk: sai lệch ngẫu nhiên của các cá thể đến thứ k thuộc kiểu di truyền i trong môi trường thứ j
Từ công thức trên cho phép rút ra một số nhận xét về ưu thế lai:
+ Khi một tính trạng do nhiều kiểu gen, các trường hợp sau đây xảy ra: (i) khi các gen trội hoạt động theo một hướng ưu thế lai sẽ được tăng cường
Có thể ưu thế lai không chỉ là ΣHF1 của từng gen mà sẽ cao hơn; (ii) nếu các gen đều trội nhưng hoạt động theo hướng ngược nhau ưu thế lai sẽ giảm Ưu thế lai phụ thuộc vào hướng hoạt động của các gen điều khiển và hướng hoạt
động đó có thể đa dạng, cho nên có trường hợp ưu thế lai dương, có trường hợp ưu thế lai âm
+ Mức độ đạt được ưu thế lai có tính chất riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Sự khác biệt giữa hai alen của một gen không giống các cặp khác trong cùng một dòng, do đó các cặp khác nhau của dòng sẽ có giá trị Σdy2 khác
Trang 26nhau, cùng nghĩa với ưu thế lai khác nhau
+ Trong trường hợp lai khác dòng, nếu các dòng là đồng huyết thì sự khác biệt về tần số gen giữa chúng có thể từ 0 – 1 Trong trường hợp đó, HF1 = Σdy2 sẽ còn khi y = 1 và HF1 = Σd, tức ưu thế lai bằng tổng các giá trị hoạt
động trội của tất cả các locus khác nhau do hai dòng mang lại
Ưu thế lai thể hiện mức độ khác nhau và thường được thể hiện ở các tính trạng số lượng, còn tính trạng chất lượng ít được biểu hiện và phải sử dụng các phương pháp phân tích mới phát hiện được Các tính trạng có hệ số
di truyền cao (tốc độ mọc lông, thành phần hóa học của thịt,…) ít chịu ảnh hưởng của ưu thế lai
Trong thực tế chăn nuôi, sự lai tạo giữa các cá thể, các dòng, các giống, các loài khác nhau đ0 tạo nên ưu thế lai rõ rệt Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào dê lai hơn hẳn giống gốc và bố mẹ, nhất là các tính trạng số lượng Theo Nguyễn Văn Thiện (1997)[22], mức độ ưu thế lai còn phụ thuộc vào:
- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng
xa nhau, ưu thế lai càng cao và ngược lại, bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng gần nhau, ưu thế lai càng thấp
- Tính trạng xem xét: các tính trạng có hệ số di truyền thấp, ưu thế lai cao Ngược lại, các tính trạng có hệ số di truyền cao, ưu thế lai thấp
Công thức giao phối: ưu thế lai còn phụ thuộc vào việc dùng con vật nào làm bố và con nào làm mẹ Ví dụ: lai tạo giữa ngựa và lừa, nếu ngựa đực lai với lừa cái ta sẽ được con la, nếu dùng lừa đực lai với ngựa cái ta sẽ được con m0 đề (Booc Đô)
- Điều kiện nuôi dưỡng: trong điều kiện nuôi dưỡng kém, ưu thế lai sẽ thấp Ngược lại, trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, ưu thế lai sẽ cao
Theo Trần Đình Miên và CS (1992)[17], khi nghiên cứu về tính trạng số lượng cho thấy: những tính trạng số lượng có biểu hiện xấu nhất khi có sự cận huyết thể hiện mạnh mẽ nhất do ưu thế lai Mức độ ưu thế lai phụ thuộc vào mức độ sai khác di truyền của các cặp bố, mẹ đem lai Do đó, trong thực tiễn
Trang 27khi chọn các cặp bố mẹ phải có khả năng phối hợp, mức độ chọn lọc cao, có tiến bộ di truyền khi cho lai với nhau, khả năng phối hợp sẽ tốt Bởi vì khả năng đ0 có sẵn gen dê đực và dê cái và phải được các nhà chọn giống có nhiều kinh nghiệm phát hiện
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Do nhận thức được ý nghĩa khoa học và hiệu quả kinh tế của công tác tạo giống dê nên nhiều nước trên thế giới đ0 tiến hành lai dê địa phương tầm vóc, khối lượng cơ thể nhỏ, năng suất thịt, sữa, lông, thấp so với những giống dê như: Anglo-Nubian, Alpine, Saanen, Beetal, Jumnapari, Togenburg, Boer, là những giống dê có tầm vóc và khối lượng cơ thể lớn, năng suất sữa, thịt, lông cao Kết quả cho ra những con lai có sức sống, năng suất sữa, thịt, lông cao hơn (Devendra và Marca Burns, 1983)[29]
ở Indonesia, Djajanegara, A, Setiadi, B, (1991)[31] cho biết những con lai giữa dê Kacang và dê Etawah có số lượng lớn nhất (chiếm 95% trong tổng
số dê giết mổ) Năng suất của dê lai cũng thay đổi rất lớn theo các vùng chăn nuôi khác nhau ở Cirebon và ở phía tây Java, khối lượng trưởng thành của con lai là 23,0 + 4,97kg, nhưng cũng vẫn con lai đó ở vùng Bogor, khối lượng
Dê Katjang (địa phương) x Dê Anglo-Nubian hoặc Saanen
Dê Katjang (địa phương) x Dê Jumnapari
Trang 28Những con lai giữa các giống dê với nhau đ0 có khả năng sinh trưởng
và sinh sản tốt, đặc biệt là năng suất thịt xẻ và năng suất sữa của con lai đ0 cao hơn rõ rệt so với giống dê địa phương nuôi truyền thống
ở Thái Lan, kết quả nghiên cứu của Saithanoo và CS (1991)[49] cho biết khi tiến hành lai dê địa phương với dê Anglo-Nubian, con lai có khối lượng qua các tuần tuổi đều cao hơn so với dê địa phương từ 1,2 - 1,5 lần Tuy nhiên con lai có tỷ lệ chết trước cai sữa cao (6,3%) trong khi đó dê địa phương
có tỷ lệ chết 4,95%
ở ấn Độ, Mishar và CS (1976b)[41] đ0 cho lai giữa dê Beetal của ấn Độ với dê Alpine của Anh Hệ số di truyền của con lai về sức sống tăng 64% so với giốn dê Beetal Con lai giữa giống dê Beetal với dê Jumnapari của Anh có sản lượng sữa bằng dê Jumnapari và cao hơn dê Beetal là 97%
ở Nepal, Sainju và CS (1998)[51] đ0 ghi chép lại kết quả của con lai giữa dê đực Jumnapari với dê cái Khari, con lai có khối lượng lớn hơn bố mẹ chúng 3,5kg, kết quả lai giữa dê đực Saanen với dê cái địa phương, con lai nặng hơn dê Saane 7kg và nặng hơn dê địa phương 13kg ở 15 tuần tuổi
ở Châu Phi, Haas (1978)[35] đ0 ghi chép được kết quả lai của dê Boer với dê địa phương ở Kenya Dê địa phương tăng khối lượng 32gam/con/ngày, trong khi đó con lai của chúng cho kết quả tăng khối lượng 62gam/con/ngày
ở Mexico, Montaldo và CS (1995)[47] đ0 cho lai dê địa phương với dê Nubian và dê Saanen, con lai có khối lượng cơ thể cao hơn dê địa phương là 8%
ở úc, Husain và CS (2000)[36] đ0 nghiên cứu và so sánh nhiều công thức lai khác nhau: lai giữa dê Boer ì Saanen (BS), dê Saanen ì Angora (SA), dê Saanen ì Feral (SF) và tiếp tục cho lai giữa dê Boer ì BA (BOBA),
dê Boer ì BF (BOBF), dê Boer ì BS (BOBS), dê Boer ì SA (BOSA), dê Boer ì SF (BOSF), trong đó kiểu gen dê Feral (FF) dùng để đối chứng Kết quả cho thấy SF, BA và BOBF có tốc độ sinh trưởng thấp hơn BOSA, BOSF và
Trang 29BOBS Muray và CS (1997)[44] khi nghiên cứu tỷ lệ thịt xẻ của dê Feral và các con lai cho thấy dê Feral có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn so với con lai giữa dê Boer x Feral, theo dõi tăng khối lượng của con lai giữa dê Boer ì Feral là 94g/con/ngày, dê Boer ì Saanen: 169g/con/ngày và dê Saanen ì Angora: 94g/con/ngày
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu lai tạo dê cho thấy một số vấn đề trong quá trình tiến hành cần phải chú ý:
√ Tỷ lệ máu của con lai phải thích hợp với môi trường chăn nuôi Mức
độ di truyền có thể được tạo ra và giữ lại, đặc biệt quan tâm những tính trạng
đ0 được cải tiến có sự di truyền thấp chẳng hạn như sức sản xuất sữa Phương pháp giới thiệu những gen mới phải đạt được mục tiêu của việc lai giống dê
√ Công tác quản lý hiện tại của địa phương tốt hoặc có một chương trình khuyến nông có hiệu lực
√ Việc lai giống dê nên được cân nhắc nếu như những con lai sống trong môi trường mà môi trường đó cho phép chúng phát huy được tiềm năng
đ0 được cải tiến để nhận lợi ích từ việc lai giống mới
√ Dê lai là loại dê mới, nó có thể được người chăn nuôi tiếp nhận một cách khác nhau và thực hiện khác nhau, nó cũng có thể nhanh chóng thành công bởi nhận được sự quan tâm nhiệt tình của người chăn nuôi và ngược lại
√ Những con dê lai mới cần được sự quản lý tốt để khai thác năng suất của giống đó Người chăn nuôi phải cung cấp đầy đủ thức ăn và có điều kiện nuôi dưỡng chẳng hạn như phát triển cỏ trồng và chăm sóc sức khỏe Một con giống tốt chỉ phát huy được trong điều kiện quản lý tốt, tăng tỷ lệ máu ở con lai tương đương với trình độ và điều kiện chăn nuôi
√ Lai tạo giống dê phải đáp ứng nhanh chóng cho nhu cầu cần thiết và chi phí sản xuất phải thấp, phù hợp với khả năng đầu tư của người chăn nuôi
và giúp người chăn nuôi dê lai có thu nhập cao hơn so với nuôi dê địa phương
Trang 30Theo Christie Peacock (1996)[32], dê Jumnapari, Beetal, Saanen là một trong những giống dê đi cải tạo tốt nhất ở vùng nhiệt đới, là giống đi cải tạo năng suất sữa và sinh sản các giống dê ở vùng nhiệt đới Donkin và Boyazoglu (2000)[30] nghiên cứu trên dê Jumnapari, dê địa phương ở Nam Phi (SAI: South Africa Indigenous) và dê lai F1(Jumnapari ì SAI) các lứa đẻ 1 – 5 cho rằng dê Jumnapari thuần ở Nam Phi cho 1,65 con/lứa (1,31 – 2,03 con/lứa), cao hơn dê địa phương ở Nam Phi đạt 1,5 con/lứa (1,15 – 1,74 con/lứa) Các kết quả nghiên cứu ở MEDUNSA, Nam Phi cho biết dê Jumnapari thuần và dê lai Jumnapari đẻ lứa đầu sớm hơn dê địa phương; dê lai (Jumnapari ì SAI) sinh sản tốt, cho 1,67 con/lứa (1,36 – 2,25 con/lứa) Sands và McDowell (1978)[50] cho rằng dê lai Jumnapari với dê địa phương ở Nam Phi có số con/lứa đạt 1 – 2,0 con/lứa, tương đương với dê Jumnapari thuần, cao hơn dê
địa phương và có xu hướng khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn dê Jumnapari và dê
địa phương Karua và Banda (1992)[38] công bố dê lai F1 giữa dê Jumnapari với dê địa phương ở Malawi (SEA: Small East Africa) trung bình cho 1,52 co/lứa cao hơn so với dê SEA (1,35 con/lứa) Kassahun Awgichew và CS (1989)[39] đ0 sử dụng dê đực lai F1(Jumnapari ì Adal) 50% Jumnapari với
dê cái Adal tạo ra dê lai 25% Jumnapari nuôi ở Ethiopia, kết quả là sản lượng sữa của dê lai 25% Jumnapari cao hơn dê Adal thuần, sản lượng sữa 12 tuần của dê lai đạt 31kg, dê Adal thuần 24kg Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác ở
dê lai đều đạt tương đương hoặc cao hơn dê Adal Rischkowsky và Steinbach (1997)[48] cho rằng dê lai (Jumnapari ì dê địa phương) ở Malawi cho sản lượng sữa 104 kg và 164 – 306 kg ở một số tổ hợp dê lai Jumnapari khác, cao hơn nhiều so với dê địa phương Nhiều tổ hợp dê lai Jumnapari được tạo trên thế giới, một số giống dê sữa được tạo nên từ việc lai giữa dê Jumnapari với dê
địa phương như dê sữa Jumnapari ì Ximong của Trung Quốc
Trang 312.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Công tác nghiên cứu lai tạo giống dê ở Việt Nam được tiến hành có phần chậm hơn so với một số nước trên thế giới, song đ0 có những bước đi đúng đắn
và đạt được những kết quả bước đầu đang phấn khởi Một số tỉnh đ0 tiến hành lai
dê Bách Thảo với dê Cỏ, các thế hệ dê lai có năng suất cao hơn dê Cỏ, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện chăn nuôi dê địa phương Một trong những biện pháp nâng cao chất lượng giống dê Bách Thảo là lai chúng với những giống dê có năng suất thịt, sữa cao Năm 1992, Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam đ0 nhập tinh đông lạnh của hai giống dê sữa Saanen và dê Alpine từ Pháp
để lai với dê Bách Thảo, kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và CS (1994)[11] cho biết khối lượng sơ sinh của dê lai F1(Alpine ì Bách Thảo): 3,23kg, F1(Saanen
ì Bách Thảo): 3,44kg, trong khi đó ở dê Bách Thảo chỉ đạt 2,45kg
Cường độ sinh trưởng tuyệt đối từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi của con lai Alpine ì Bách Thảo: 133g, Saanen ì Bách Thảo: 128g/con/ngày, còn dê Bách Thảo chỉ đạt 95g/con/ngày Các dê lai giữa Saanen, Alpine với Bách Thảo có khối lượng sơ sinh và tốc độ sinh trưởng qua các thời kỳ đều cao hơn
Saanen ì Bách Thảo Khối lượng:
3,23 15,20 24,67 32,00
3,44 15,00 23,80 31,23 Tăng khối lượng
Sơ sinh – 3 tháng
3 – 9 tháng
g/ngày g/ngày
Trang 32Vấn đề lai dê Bách Thảo với dê Cỏ ở địa phương đ0 được một số tác giả nghiên cứu như Đinh Văn Bình và CS, (2003b)[7]; Nguyễn Đình Miên (2002)[16]; Chu Đình Khu (1996)[13], kết quả cho thấy dê Cỏ, dê Bách Thảo
và dê lai nhìn chung khỏe mạnh, không có dịch bệnh lớn xảy ra, dê lai có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng, phát triển tốt ở những vùng có b0i chăn Về hiệu quả kinh tế cho thấy, chăn nuôi dê lai l0i hơn sơ với nuôi dê Cỏ ở các phương thức, song phương thức bán chăn thả cho hiệu quả cao nhất
Trong những năm gần đây, một số giống dê ấn Độ (Jumnapari, Beetal, Barbari), dê Mỹ (Boer, Alpine, Saanen) đ0 nhập vào nước ta, được nuôi ở Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và một số vùng nhằm nuôi thích nghi và sử dụng dê đực cho lai cải tạo dê Cỏ thành đàn dê lai theo hướng sữa, thịt phù hợp với đặc điểm của vùng Đinh Văn Bình và CS (1997b)[8] đ0 nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của dê lai F1 giữa dê đực của 3 giống
dê ấn Độ nhập nội với dê cái ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu về khối lượng của các dê lai được trình bày ở bảng 2.5
Bảng 2.3 Khối lượng các dê lai qua các giai đoạn tuổi (kg)
Tháng tuổi ĐVT Dê F1
(Bar ì BTC)
Dê F1 (Jum ì BTC)
Dê F1 (Bee ì BTC)
Dê BTC
Trang 33đạt 19,55kg, dê lai của dê Jumnapari đạt 18,78kg và dê Bách Thảo ì Cỏ chỉ
đạt 12,85kg Về khả năng cho sữa, các dê lai đều cho sản l−ợng sữa cao hơn
dê Bách Thảo ì Cỏ Trong đó dê lai giữa dê Beetal với dê Bách Thảo ì Cỏ có sản l−ợng sữa cao nhất Nhìn chung dê lai giữa các giống ngoại nhập có khả năng chống chịu bệnh cao hơn so với đàn dê nhập ngoại thuần, bên cạnh đó tỷ
lệ chết của đàn dê thấp hơn so với dê Bách Thảo ì Cỏ Tỷ lệ chết dê Cỏ từ giai đoạn cai sữa đến 12 tháng tuổi: 12,5%, dê F1[Jumnapari ì (Bách Thảo ì Cỏ)]: 9,5%, dê F1[Barbari ì (Bách Thảo ì Cỏ)]: 10,7%, trừ dê lai F1[Beetal x (Bách Thảo ì Cỏ)]: 13,6% (Đinh Văn Bình và CS, 1997b)[8]
Trang 343 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp
nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành trên hai nhóm dê lai F1:
Nhóm 1: con lai giữa dê đực giống Beetal gồm 5 con với dê cái F1(Bách Thảo ì Cỏ) gồm 50 con → [Beetal ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
Nhóm 2: con lai giữa dê đực giống Jumnapari gồm 5 con với dê cái
F1(Bách Thảo ì Cỏ) gồm 50 con → [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
Dê đực gồm 10 con (5 con dê Beetal + 5 con Jumnapari) đ0 được đưa vào
sử dụng (15 – 24 tháng tuổi) có qua kiểm tra phối giống đạt kết quả tốt, tinh dịch của chúng được kiểm tra đảm bảo chất lượng tinh trùng tốt Dê cái gồm
100 con dê F1(Bách Thảo ì Cỏ) trọng lượng 25 – 30kg
3.2 Sơ đồ bồ trí thí nghiệm
Chúng tôi tiến hành bố trí 5 hộ gia đình, mỗi hộ 2 dê đực (1 đực Beetal +
1 đực Jumnapari) và 20 dê cái F1(Bách Thảo ì Cỏ) nuôi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên, dê cái được theo dõi động dục hàng ngày và cứ 10 con dê cái
được phối giống 1 con dê đực ở mỗi hộ gia đình
3.3 Địa điểm và thời gian thực hiện
- Địa điểm: Tại một số nông hộ của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 01/2008 đến tháng 08/2010 3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xE hội của huyện Phổ Yên
3.3.2 Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của dê lai [Beetal ì
F1(Bách Thảo ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
Trang 353.3.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của dê lai F1[Beetal
ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xE hội của huyện Phổ Yên Chúng tôi tiến hành điều tra về đặc điểm tự nhiên, kinh tế x0 hội của huyện Phổ Yên, Thái Nguyên thông qua phòng Nông nghiệp, Trạm khí tượng thủy văn, phòng Thống kê, Trạm thú y và các hộ dân của huyện Phổ Yên, Thái Nguyên Trong qua trình điều tra chúng tôi phân tích thực trạng của 3 x0 triển khai đề tài: Phúc Tân, Phúc Thuận và Thành Công của huyện Phổ Yên, Thái Nguyên:
• Thuận lợi: 3 x0 Phúc Tân, Phúc Thuận và Thành Công của huyện Phổ Yên là các x0 nằm gần d0y núi Tam Đảo, có tổng diện tích đất tự nhiên là 13.038,5ha (diện tích đất chăn thả là 488,33ha)
• Khó khăn:
- Kinh nghiệm chăn nuôi dê còn hạn chế
- Chăn nuôi dê chủ yếu là chăn thả tự nhiên, tận dụng nguồn thức ăn
- Giống dê chủ yếu là dê Cỏ địa phương, năng suất thấp
- Cho dê sinh sản quá sớm, dẫn tới dê còi cọc
- Chính sách hỗ trợ khuyến nông cho chăn nuôi còn hạn chế
- Nhiều mô hình khoa học chưa được nhân rộng trong sản xuất
- Lực lượng cán bộ khoa học còn thiếu,
3.4.2 Khả năng sinh trưởng và sức sản xuất thịt của dê lai [Beetal ì
F1(Bách Thảo ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
•
• Sinh trưởng của dê lai được đánh giá theo các chỉ tiêu sau:
- Khối lượng: Để tính khối lượng của dê, chúng tôi tiến hành cân dê hàng tháng từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, cân vào buổi sáng sớm trước khi cho ăn
Dê con cho vào bao, cân bằng cân đồng hồ, dê lớn dùng dây thừng buộc thành
Trang 36vòng tròn luồn qua một chân trước và một bên qua phía giáp chân sau để cân bằng cân treo
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Tính theo công thức (TCVN 239-77)[25]
W1 : Khối lượng đầu kỳ khảo sát
W2 : Khối lượng cuối kỳ khảo sát
t1 : Thời gian đầu kỳ khảo sát
t2 : Thời gian cuối kỳ khảo sát
- Kích thước các chiều đo: đo các chiều được tiến hành vào buổi sáng, trước khi cho đi chăn thả (sau khi cân) Để dê đứng ở tư thế tự nhiên nơi bằng phẳng Thao tác nhanh, nhẹ nhàng để tránh dê hoang sợ Mỗi chiều được đo
ba lần liên tiếp sau đó lấy giá trị trung bình Mỗi giai đoạn tuổi như trên chúng tôi đo khoảng 30 – 35 con
W2 - W1
t2 - t1
W2 - W1 (W2 + W1)/2
Trang 37- Chỉ số cấu tạo thể hình: Khi đo các chiều đo, tính toán các chỉ số cấu tạo thể hình:
xẻ và xương ở nửa thân thịt rồi nhân đôi
DTC
CV DTC
Trang 383.4.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của dê lai [Beetal ì
F1(Bách Thảo ì Cỏ)] và [Jumnapari ì F1(Bách Thảo ì Cỏ)]
- Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu: Theo dõi những con dê cái có biểu hiện động dục khi dê đực nhảy lên lưng phối giống và dê cái có chửa
Đánh số những dê cái con sinh ra bằng phương pháp đánh số tai theo thứ tự của dê cái theo dõi trong mỗi đàn của các hộ phân bố ở các địa điểm nghiên cứu Sau đó cân khối lượng và ghi tuổi phối giống
- Chu kỳ động dục (ngày): được tính từ lần động dục này đến lần động dục tiếp theo
Theo dõi bằng các quan sát các biểu hiện của động dục, bắt đầu nhốt riêng và đánh số tai, dê cái được cho ăn tại chuồng trong những ngày động dục để tránh không cho dê đực giao phối Hết động dục, dê cái tiếp tục được chăn thả theo đàn và được theo dõi cho tới khi dê động dục trở lại
- Thời gian mang thai (ngày): tính từ thời điểm phối giống cho đến khi sinh con
Trang 39- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): Theo dõi số dê cái được bấm số tai từ khi sơ sinh tới khi dê cái đẻ lứa đầu tiên
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày): dê cái sau khi đẻ được đánh số tai, ghi ngày đẻ và tiếp tục theo dõi tới khi đẻ lứa tiếp theo
- Thời gian động dục lại sau khi đẻ (ngày): Ghi lại ngày tháng dê cái đẻ
và theo dõi tiếp cho tới khi dê có biểu hiện động dục trở lại
- Số con đẻ ra/lứa (con/lứa) =
- Số lứa đẻ/năm (lứa) =
- Số con đẻ ra/năm (con/năm): được tính bằng số lứa/năm nhân với số con/lứa
Số dê theo dõi được chọn hoàn toàn ngẫu nhiên trong các đàn dê ở các
địa điểm nghiên cứu, thường xuyên được kiểm tra và ghi chép đầy đủ
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được chúng tôi xử lý trên máy vi tính bằng phần mềm Excel (2007) và Minitab 14.0 và theo phương pháp phân tích ANOVA, General Linner Model
Tổng số dê con sinh ra Tổng số lứa đẻ
Số ngày trong năm (365 ngày) Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ