1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên

82 344 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định được các giống lúa chất lượng cao thích hợp với điều kiện ở địa phương, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất

Trang 1

Đại học thái nguyên Trường đại học nông lâm

-# " -

Nguyễn quỳnh thuận

" Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện Định Hóa

tỉnh Thái Nguyên "

Chuyên ngành : Trồng trọt

M∙ số : 60.62.01

Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Phụ

PGS.TS Lương Văn Hinh

Thái Nguyên - năm 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đ−ợc cảm ơn Các thông tin tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Quỳnh Thuận

Trang 3

đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập

Xin cảm ơn các Cô, các Chú, anh chị là cán bộ phòng Nông nghiệp đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực tập

Đặc biệt xin cảm ơn TS Hoàng Văn Phụ Trưởng Ban Quan hệ Quốc tế

Đại học Thái Nguyên và PGS.TS Lương Văn Hinh Đại học Thái Nguyên người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi tận tình về mặt phương pháp luận, những chỉ dẫn cần thiết và các lời khuyên quí báu để hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Tác giả

Trang 4

Mục lục Lời cam đoan

Lời cảm ơn

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, yêu của đề tài 3

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam 8 1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 8

1.2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 81.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới 121.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam 151.2.2.1.Tình hình sản xuất lúa trong nước 151.2.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước 191.3.Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam 23 1.3.1 Một số nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam 24 1.3.2 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Thái Nguyên 25

2.1 Nội dung, đối tượng và địa điểm nghiên cứu 27

Trang 5

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.3.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển 32

2.3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 372.3.7 Đánh giá phẩm chất, chất lượng các giống lúa 37

3.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu của các giống lúa 43

3.2.1 Thời gian sinh trưởng phát triển 433.2.2 Sinh trưởng của mạ và chiều cao cây 443.2.3 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa 463.2.4 Khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện bất lợi 493.3 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa 51

3.6.Thử nghiệm sản xuất một số giống lúa triển vọng tại huyện Định Hoá 63

Trang 6

Phụ lục

Một số hình ảnh minh hoạ

Danh mục các chữ viết tắt

CV: Hệ số biến động

Đ/C: Giống khang dân 18 - Giống đ−ợc chọn làm đối chứng

IRRI: Viện nghiên cứu lúa quốc tế (International Rice Research Institute)

LSD: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa

NTNN: Nông thôn ngày nay

NSLT: Năng suất lý thuyết

NSTT: Năng suất thực thu

UBND: Uỷ ban nhân dân

CIAT: Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (International Center

for Tropical Agriculture)

Trang 7

Danh mục các bảng biểu

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế các giống lúa thử nghiệm 61Bảng 3.10 Kết quả thử nghiệm một số giống lúa có triển vọng vụ xuân 2006 64

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ biểu diễn năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm ở

vụ xuân và mùa năm 2006

56

Trang 8

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, trong những năm qua nền nông nghiệp của nước ta phát triển nhanh, liên tục và toàn diện đã đạt được những thành tựu to lớn Đặc biệt sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, kinh tế và đời sống của nhân dân

Việt Nam là một nước nông nghiệp Sản xuất lúa gạo luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách, với 70% dân số sống ở nông thôn, gắn liền với truyền thống và tập quán sản xuất lượng thực, mà lúa gạo là chủ yếu chiếm tới 90% sản lượng lương thực, trong những năm gần đây khi mà lương thực đã đạt mức dư thừa thì câu hỏi lớn nhất đối với đa số hộ nông dân, đặc biệt ở vùng đồng bằng là làm thế nào để sản xuất lúa gạo thành hàng hoá và tham gia vào thị trường một cách ổn định Trả lời câu hỏi này vẫn đang là vấn đề nan giải Thực tế cho thấy, các giải pháp nếu chỉ tập trung giúp nông dân giải quyết vấn

đề kỹ thuật đơn thuần thì hiệu quả thường thấp và không bền vững Vấn đề quan trọng hiện nay là phải giúp nông dân tháo gỡ được các khó khăn về thị trường để làm được điều này, các chương trình dự án nghiên cứu và phát triển cần phải có một cái nhìn tổng thể và cách làm phù hợp với điều kiện ở từng

địa phương Việc đầu tiên là phải xác định được nhu cầu thực tế của thị trường, dự báo xu hướng phát triển của nó, tiếp đó là xác định các lợi thế, khó khăn trong sản xuất của nông hộ Trên cơ sở đó trợ giúp cho người nông dân phát huy các lợi thế và tháo gỡ các khó khăn để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá phù hợp với nhu cầu của thị trường nhằm góp phần tăng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho hộ gia đình nông dân Do đó việc nghiên cứu, ứng dụng các giống lúa chất lượng cao vào sản xuất nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường là vấn đề cần thiết

Trang 9

Định Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên

có tổng diện tích tự nhiên là 52.075 ha, trong đó đất nông nghiệp 10.169 ha chiếm 17,61% diện tích đất tự nhiên, sản xuất nông nghiệp của huyện thuần nông độc canh cây lúa và cây lúa vẫn là cây chủ lực với 2 vụ xuân và mùa

Huyện Định Hóa hiện nay đã ổn định về lương thực với diện tích lúa cả năm là 7797 ha, đạt sản lượng 36,29 nghìn tấn thóc (chưa kể màu) Trong đó lúa vụ xuân diện tích 3374 ha năng suất 47 tạ/ha, vụ mùa 4423 ha năng suất bình quân là 46,2 tạ/ha, so với 10 năm trước đây năng suất và sản lượng tăng gấp 2,5 lần Sở dĩ đạt được kết quả trên là nhờ có công tác khuyến nông đã

đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất đặc biệt là công tác giống Những năm gần đây mặc dầu huyện đã đưa vào sản xuất một số giống lúa năng suất cao như: lúa thuần Trung Quốc (KD18, Kim cương 98, 90, Q5 ), lúa lai Trung Quốc (2 dòng) như BTST, BT49 , tuy nhiên hầu hết là giống thuần, chỉ cấy 1-2 vụ là biểu hiện thoái hóa (trỗ nhiều tầng), nhiễm sâu bệnh, chất lượng gạo chưa ngon, do đó hàng năm cũng chỉ nhân rộng được 300 - 500ha [19]

ở Định Hóa có giống lúa bao thai được duy trì sản xuất từ 1976 đến nay Song diện tích 1 năm cũng chỉ đạt 40% diện tích ở vụ mùa tương đương với 1.600 ha Lúa sản xuất ra chủ yếu là dùng tại địa phương là chính Bao thai

là giống lúa có thời gian sinh trưởng dài 140- 160 ngày chỉ cấy được 1 vụ mùa (là giống cảm quang) Bao thai không chịu thâm canh do cao cây hơn các giống khác (15-20cm) dễ đổ Do đó năng suất thấp trung bình đạt 40-45 tạ/ha, cao nhất chỉ đến 50 tạ/ha, yếu điểm nữa là cấy bao thai ảnh hưởng đến việc trồng cây vụ đông, không kịp thời vụ trồng khoai tây, trồng ngô vụ đông

Do đó để có giống lúa vừa đảm bảo chất lượng ngon, chịu thâm canh, năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của Định Hóa, không ảnh hưởng đến sản xuất vụ 3, là yêu cầu cần thiết

Trang 10

Để xác định được các giống lúa chất lượng cao thích hợp với điều kiện

ở địa phương, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng

và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên năm 2005"

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Chọn ra được giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định phù hợp với

điều kiện gieo trồng tại địa phương

3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 ý nghĩa khoa học

- Xác định đặc tính nông học, năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với một số loại sâu, bệnh hại của các giống lúa mới

- Nghiên cứu xác định tính ổn định, khả năng thích ứng của các giống triển vọng góp phần xây dựng cơ sở khoa học để giới thiệu giống và biện pháp

kỹ thuật canh tác mới cho sản xuất, giúp sản xuất tránh được thiệt hại do sử dụng giống và biện pháp kỹ thuật không phù hợp Góp phần phong phú cho cơ cấu giống cây trồng tại địa phương

- Việc đưa thêm vào sản xuất những giống lúa mới sẽ làm đa dạng nguồn gen vốn tương đối nghèo nàn tại địa phương

3.2 ý nghĩa thực tiễn

- Định hoá là huyện miền núi có những tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế, du lịch, nhưng do cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không đủ điều kiện để khai

Trang 11

thác và phát huy Do vậy, việc phát triển kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp vẫn là vấn đề thiết yếu

- Việc xác định các giống lúa có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt, góp phần mở rộng diện tích các giống lúa mới làm tăng giá trị kinh tế trên 1 đơn vị diện tích

- Thay đổi cơ cấu giống lúa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vừa thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, vừa là nhân tố làm ổn định và bảo vệ môi trường

- Việc áp dụng thành công những giống lúa có chất lượng gạo ngon, không những đáp ứng được nhu cầu thị hiếu hiện nay của người dân địa phương mà còn thoả mãn được nhu cầu sử dụng gạo chất lượng cao cho khu

du lịch đang phát triển của huyện

Trang 12

Chương 1

Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học của để tài

* Vai trò của công tác giống

Nhiệm vụ của công tác giống cây trồng là phải làm thế nào trong thời gian ngắn nhất tạo ra được những giống cây trồng mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, ổn định, khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, đáp ứng

được yêu cầu sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế quốc dân

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất vô vùng quan trọng cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào Giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

Sản xuất giống cây trồng là một chuyên ngành của sản xuất nông nghiệp, sản phẩm làm ra khác với các sản phẩm của quá trình sản xuất khác,

là sản phẩm phải có sức sống với các yêu cầu chính xác về bản chất di truyền, khả năng gieo trồng được và cho năng suất như mong muốn ở đời sau Sản xuất giống không chỉ duy trì ổn định năng suất cho ngành trồng trọt mà còn là ngành kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế cao

Lúa là cây lương thực chính, do đó cây lúa có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật về các giống càng có tác dụng nâng cao năng suất và sản lượng

Theo Thanh Tri-1987 [14] giống lúa là một trong những biện pháp quan trọng trong việc tăng năng suất sản lượng lương thực, trong thực tiễn sản xuất ở nhiều địa phương nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên

và sử dụng loại giống có độ thuần cao, phẩm chất giống tốt thì khả năng làm tăng năng suất từ 15-20% hoặc cao hơn

Trang 13

Qua đó ta thấy giống lúa có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực, nó làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo, góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh lương thực Công tác giống được chú trọng phát triển cùng với các biện pháp kỹ thuật và khả năng đầu tư sẽ làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh chóng cả về số lượng cũng như chất lương nông sản phẩm

Trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo thì chất lượng gạo quyết định phần lớn giá cả trên thị trường Theo NTNN ra ngày 7/5/2004, thì những yếu tố quyết định chất lượng gạo bao gồm:

* Hình dạng hạt

Các yếu tố cấu thành hình dạng của hạt gạo gồm: kích thước và hình dạng hạt, độ đồng đều, độ bóng, độ bạc bụng, màu sắc hạt, tỷ lệ gạo/thóc ngoài ra còn phụ thuộc vào khẩu vị của mỗi dân tộc

* Kích thước và hình dạng hạt: là một chỉ tiêu phân loại hạt giúp cho việc đánh giá phẩm chất hạt tốt hơn và được xếp thành 3 loại: dài, trung bình, ngắn

* Nội nhũ và độ bạc bụng

Độ bạc bụng là đặc điểm không mong muốn nó làm giảm năng suất xay trà bởi những hạt bạc bụng thường yếu và dễ vỡ, đó là sự sắp xếp rời rạc các hạt tinh bột và protein Độ bạc bụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Thu hoạch ở ẩm độ cao, chín không đều trong cùng bông lúa, thời kỳ sau trỗ bông gặp nhiệt độ cao làm gia tăng độ đục, do vậy sẽ làm giảm giá trị trên thị trường

* Màu sắc hạt

Màu sắc được sử dụng như một tiêu chuẩn chất lượng gạo, được quyết

định bởi mầu của vỏ trấu và nội nhũ, thông thường vỏ cám có màu vàng đến màu đỏ thẫm

Trang 14

* Chất lượng xay chà

Đây là tiêu chuẩn quan trọng của gạo Giá trị của năng suất xay trà là tỷ

lệ gạo nguyên, gạo gãy và tấm, trong đó tỷ lệ gạo gãy và tấm vào khoảng 50% khối lượng toàn bộ hạt

30-* Chế biến

Những đặc điểm về xay trà và nấu ăn có tính quyết định hầu hết giá trị kinh tế của hạt gạo Chất lượng cơm ngon liên quan đến mùi thơm, độ dẻo, vị ngọt, độ sáng của cơm Đó chính là tiêu chuẩn cho sự đánh giá phẩm chất hạt gạo [21]

Theo hệ thống chỉ tiêu đánh giá về chất lượng gạo của thế giới và Việt Nam thường được đề cập tới 4 loại chất lượng:

* Chất lượng xay sát: là tỷ lệ gạo lật và gạo xát tính theo % trọng lượng thóc; tỷ lệ gạo nguyên tính theo % trọng lượng của gạo xát

* Chất lượng thương trường: được xem xét các chỉ tiêu: Hình dáng, độ bóng và độ trong của hạt

* Chất lượng nấu nướng

Một trong những chỉ tiêu quan trọng của chất lượng nấu nướng là nhiệt

độ hoá hồ của tinh bột gạo Ngoài ra hàm lượng amyloza là chỉ tiêu xác định chất lượng nấu nướng và chất lượng công nghệ của hạt gao Các giống có hàm lượng amyloza ≤ 20% là amyloza thấp, từ 20 - 25% là amyloza trung bình và

≥ 25% là hàm lượng amyloza cao [21]

* Chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo

Hàm lượng protein là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng dinh dưỡng của lúa gạo, Tỷ lệ prôtêin trong hạt gạo biến đổi từ 7% -10 % tuỳ thuộc vào giống và điều kiện gieo cấy

Trang 15

Từ điều kiện tự nhiên của địa phương, huyện Định Hóa là huyện miền núi có tiểu vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ,

có 2 mùa rõ rệt, đất đai màu mỡ, hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh, trình

độ dân trí khá, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường Do đó trong những năm gần đây, một số giống lúa tẻ thơm như: Tám thơm, Hương Thơm số 1, Bắc thơm số 7 , đã

được đưa vào gieo trồng trên địa bàn huyện Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào ở trong huyện về hiệu quả và những hạn chế của các giống lúa này,

đồng thời cũng cần nghiên cứu bổ sung một số giống lúa mới chất lượng cao vào sản xuất, nhằm đa dạng cơ cấu giống lúa góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Cây lúa là một loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng nên cây lúa có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được trồng ở nhiều nơi trên thế giới Năm

2001, diện tích lúa của thế giới là 155 triệu ha, năng suất 37,8 tạ/ha, sản lượng

đạt 586,8 triệu tấn Sản lượng lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây tăng đáng kể: Năm 1970, sản lựợng lúa chỉ là 308,8 triệu tấn, đến năm 2002 đạt 578,6 triệu tấn Năm 2003 đạt 592,5 triệu tấn, năm 2004 đạt 606,7 triệu tấn và đến năm

2005 đạt 614 triệu tấn

Từ năm 1995 đến nay diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới

có tăng nhưng với mức độ chậm, thậm chí sản lượng năm 2003 thấp hơn năm

1999 Bởi vì giai đoạn này trình độ sản xuất lúa của nhiều nước trên thế giới

đã phát triển tương đối cao, một số nước năng suất đã vượt trần, diện tích khai

Trang 16

hoang đã hết, tốc độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng tăng, đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Chúng ta thấy được điều này qua bảng 2.1

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới

từ năm 1995-2005 Năm Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng

Nguồn: FAO STAT 2006

ở Trung Quốc, trong các loại cây lương thực (gồm lúa, tiểu mạch, ngô,

đậu và khoai) thì cây lúa nước là loại cây lương thực chủ yếu, sản lượng chiếm khoảng 40% tổng sản lượng lương thực trong cả nước Diện tích trồng lúa nước chủ yếu ở các vùng lưu vực sông Trường Giang, vùng Hoa Nam và vùng cao nguyên Vân Quý Năm 2003, Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và nông thôn mang tính chiến lược Diện tích lúa mạch hè thu đạt

100 triệu mẫu, tăng 15 triệu mẫu so với năm 2002, diện tích giống lúa ngắn ngày chất lượng cao tăng 70%.Tuy nhiên, dự đoán trong năm 2004 lượng gạo trong nước của Trung Quốc vẫn không đủ cầu Từ tháng 9 năm 2003 tới tháng

6 năm 2004, giá gạo bán liên tục tăng ở đất nước này Để giảm áp lực về thiếu lương thực, Trung Quốc đang có chính sách khuyến khích thúc đẩy nông dân tích cực sản xuất mở rộng diện tích trồng lúa, gia tăng sản lượng và quan tâm

Trang 17

đến vấn đề chất lượng lúa gạo Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định giao cho Tài chính trung ương hỗ trợ cung cấp giống lúa ngắn ngày chất lượng cao cho 7 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Hắc Long Giang, Cát Lâm

và Liêu Ninh với trị giá 450 triệu NDT (đồng nhân dân tệ) nhằm giúp nông dân có giống tốt để sản xuất Trung Quốc đang có dự kiến mở rộng phạm vi

và qui mô thí điểm hỗ trợ lai tạo giống tốt và khởi động chương trình lương thực chất lượng cao

ở Thái Lan, lúa là cây lương thực quan trọng nhất Lúa được trồng rải rác

ở các vùng và phân bố như sau: Gần 1/2 diện tích đất lúa ở vùng Đông Bắc, khoảng 1/5 ở miền trung, 1/5 ở miền Bắc và vùng núi phía Nam chỉ có 6% Tổng diện tích đất lúa vào khoảng 10 triệu ha, trong đó 1/4 được tưới tiêu Sản lượng lúa bị hạn chế, dao động xung quanh 20 triệu tấn/năm kể từ 1985, đến năm 2005 sản lượng đạt 27 triệu tấn Thái Lan trồng nhiều giống lúa cổ truyền

địa phương có chất lượng cao cho xuất khẩu Giống cải tiến ngắn ngày, năng suất cao chiếm tỷ lệ thấp Năng suất lúa bình quân thường chỉ đạt 2 tấn/ha vào mùa mưa với loại lúa chất lượng [4]

ở Indonesia, 70% đất trồng lúa được tưới tiêu với 2 vụ lúa/ năm Việc sử dụng các giống lúa cải tiến có năng suất cao ở đây được tăng cường đáng kể Trên 85% diện tích lúa được trồng bằng các giống lúa mới Tuy nhiên, đất trồng lúa ở đây đang bị lấn dần do xây dựng nhà cửa và phát triển khu công nghiệp Trước kia, Indonesia là một nước thiếu lương thực, vào cuối những năm 1980 nước này đã xuất khẩu được lượng nhỏ sau đó lại trở lại tình trạng

nhập khẩu gạo Tổng diện tích đất lúa vào khoảng 12 triệu ha, năm 2001 năng

suất đạt 43,8 tạ/ha, đến năm 2005 năng suất đạt 46 tạ/ha và sản lượng 54 triệu tấn

Myanmar có 52% diện tích đất lúa là vùng đất thấp chịu nước trời, 18%

đất thấp có tưới tiêu Lúa ngập nước được trồng khoảng 24% và đất cao chỉ

Trang 18

chiếm 6% Năm 2005 diện tích đất lúa 6,0 triệu ha, sản lượng 22 triệu tấn Hiện nay Myanmar đang tăng cường sản xuất lúa với các loại giống cải tiến có năng suất cao Các nhà khoa học ở đây đã tích cực thu nhập nguồn vật liệu từ INGER và nguồn gen lúa cổ truyền địa phương để lai tạo, chọn lọc ra các giống lúa tốt Myanmar hiện đang duy trì năng suất lúa ở mức 3,6 tấn/ha [4] Philippine có diện tích đất lúa xấp xỉ 3,4 triệu ha, trong đó có: 2,1 triệu

ha đất được tưới tiêu; 1,2 triệu ha đất thấp chịu nước trời và 0,07 triệu ha đất cao Lúa được tưới tiêu chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng Diện tích trồng các giống lúa cổ truyền địa phương giảm từ 23% (1980) xuống 13% (1988) Philippines tăng cường sử dụng các giống lúa mới Diện tích trồng các giống mới tăng lên 87% vào năm 1991 Năng suất lúa bình quân đạt 3,0 triệu tấn/ha năm 2000 Sản lượng lúa tăng từ 12,4 triệu tấn năm 2000 lên 14,8 triệu tấn năm 2005 [4]

Tại Mỹ, lúa được trồng 1 vụ/năm ở hầu hết các vùng Sản lượng lúa đạt 8,5 triệu tấn (1994), chiếm 1,4% tổng sản lượng thế giới Lúa chiếm 0,7% diện tích đất trồng trọt và < 1% giá trị sản phẩm nông nghiệp Hầu hết lúa ở

đây được gieo trồng và cung cấp đủ nước Việc quản lý, cung cấp nước và sử dụng các giống lúa bán lùn là hai yếu tố quan trọng làm tăng năng suất lúa ở

đây Năng suất lúa đạt bình quân 7,4 tấn/ha năm 2005, sản lượng lúa đã tăng

từ 8,6 triệu tấn năm 2000 lên 10 triệu tấn năm 2005, những thách thức đối với sản xuất lúa ở Mỹ hiện nay là duy trì năng suất, chất lượng cũng như giữ vững

hệ thống sản xuất lúa trong phạm vi bảo tồn và cải thiện đất đai, không khí, chất lượng nước nhằm gìn giữ môi trường Mỹ đã từng là nước xuất khẩu gạo

đứng thứ hai, sau Thái Lan [20]

Australia lúa được trồng chủ yếu ở những vùng có tưới tiêu, và thường

được trồng luân canh với cây họ đậu và một số cây trồng khác trên đất thâm canh giàu dinh dưỡng Năng suất lúa tăng từ 8,2 tấn/ha năm 2000 lên đến 8,3

Trang 19

tấn/ha năm 2002, năm 2005 năng suất đạt 8,6 tấn/ha và đạt năng suất kỷ lục vào thời điểm đó Australia đã tiến hành chương trình cải tạo các giống lúa, cải tiến chất lượng hạt và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để đạt năng suất tối đa Năng suất lúa cao nhất hiện nay của nước này là 14,0 tấn/ha [4]

ấn Độ, năm 2002 - 2003 sản lượng gạo là 72,7 triệu tấn, giảm 20,42 triệu tấn, tương đương 21,94% so với năm 2001 - 2002 Một trong những lý do của

sự giảm sụt sản lượng là do thời tiết xấu ở nhiều vùng như hạn, lụt, sâu bệnh Tuy nhiên đến năm 2003 - 2004, ấn Độ được mùa và sản lượng gạo của ấn

Độ đã đạt 87,94 triệu tấn, tăng 15,28 triệu tấn so với năm 2002 - 2003

Như vậy, nếu nói về năng suất, nước có năng suất lúa cao nhất là úc 82 tạ/ha, tiếp theo là Bắc Triều Tiên 75 tạ/ha, Mỹ 63 tạ/ha, Hàn Quốc 62 tạ/ha, Nhật Bản 59 tạ/ha, Trung Quốc 57 tạ/ha [20]

Xuất khẩu gạo của thế giới đạt mức kỷ lục cao 28,1 triệu tấn vào năm

2002 Trong năm 2003, các nước xuất khẩu gạo chính là Thái Lan 7,6 triệu

tấn, Việt Nam 3,9 tấn, Mỹ 3,6 triệu tấn, Pakistan 1,9 triệu tấn Nhìn chung

mức phát triển sản xuất lương thực nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng vẫn phát triển theo mức phát triển dân số, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất nông nghiệp cũng như việc xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật cũng như việc khai hoang tăng vụ

Để áp ứng về an ninh lương thực vì sự sống của cộng đồng, tổ chức Liên Hiệp Quốc, nhất là tổ chức FAO đã có những hành động tích cực trong các lĩnh vực sản xuất, điều phối lương thực, cứu trợ các nước chậm phát triển góp phần giảm bớt đói nghèo và ổn định chính trị trên từng khu vực

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới

Trong những năm gần đây, tình hình sản xuất lúa trên thế giới có nhiều bước tiến vượt bậc, điều đó không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của

đội ngũ những nhà khoa học kỹ thuật đã nghiên cứu, lai tạo, chọn lọc nhiều

Trang 20

giống lúa và nghiên cứu các kỹ thuật canh tác mới, làm tăng năng suất, phẩm chất của các giống lúa

Hàng năm Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa IR8,IR5,IR6, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất Các viện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc ra nhiều giống lúa tốt phục vụ sản xuất [9]

Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế lai của lúa vào sản xuất nông nghiệp Từ năm 1964 trở về trước các nhà khoa học chọn tạo giống lúa trên thế giới cũng như Trung Quốc chọn giống lúa mới theo phương pháp lai bình thường Qua nhiều năm nghiên cứu, đến năm 1972 từ dòng bất dục đực sẵn có đã tạo ra được một số dòng bất dục đực khác như: Nhị cửu nam số1, Nhị cửu lùn số 4, Trân sán 97.71-72, V20, V41, Quảng tuyền số 3 Năm 1973 cùng với các nhà chọn giống khác họ đã tìm ra các dòng phục hồi như: R661, Thái dân số1, IR 24 Như vậy, nhờ tạo được các giống lúa bằng lúa lai 3 dòng, họ đã tạo ra giống lúa ưu thế lai đầu tiên như: Nam ưu số 1, Sán

ưu số 2 Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai 2 dòng, sau khi các nhà nghiên cứu tìm được dòng bất dục truyền nhân, mẫn cảm với môi trường đã góp phần làm giảm giá thành sản xuất hạt lai F1 [9]

Hiện nay, Trung Quốc đang nghiên cứu thành công giống lúa 2 dòng cho năng suất cao và cao hơn lúa lai 3 dòng khoảng 20% và đang nghiên cứu giống lúa lai một dòng

ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu thập và làm thuần một số giống lúa địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc của nước này

ở Nhật Bản việc đưa ra giống Tongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa

Trang 21

ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Có 2 người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent và Craiglules

Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Các giống này không phải là biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins - Một chất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm tạo

ra giống lúa đột biến với việc sử dụng các tác nhân hoá học

Cây lúa có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện sinh thái khí hậu khác nhau: vùng trồng lúa tương đối rộng từ nơi có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B; Nhật, Nga (Krasnodar)450B đến Nam bán cầu: New South (úc) 350N Vùng phân bố chủ yếu ở Châu á từ vĩ độ: 300B - 100N

Trên thế giới có khoảng trên 100 nước đang trồng lúa thì đa số nằm ở châu á Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc gia thuộc Đông Nam á và Nam

á, trải rộng từ Pakistan đến Nhật Bản Trong số 25 nước sản xuất lúa chính của thế giới có 17 nước nằm trong vùng này và 8 nước nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985) Trên 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc 8 nước mà những nước này đều tập trung ở Châu á (gồm Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nhật Bản) [5]

Cây lúa trên thế giới được trồng ở 5 vùng đất chính là: Vùng chủ động tưới tiêu, vùng đất thấp chịu nước trời, vùng đất cao, vùng ngập nước, vùng đất ngập do thủy triều Có khoảng 80 triệu ha hoặc 55% diện tích đất trồng lúa của thế giới được tưới tiêu chủ động trong suốt vụ gieo trồng Người ta ước tính khoảng 75% sản lượng lúa của thế giới thu từ các vùng được tưới tiêu này Diện tích lúa của thế giới vào khoảng 150 triệu ha hàng năm (chiếm 11% đất gieo trồng của thế giới) [13]

Trang 22

Cây lúa còn được trồng ở nhiều nước khác trên thế giới Riêng khối châu

Âu có 10 nước trồng lúa, với sản lượng của tất cả các vùng là 3,2 triệu tấn (1992), chiếm 0,6% sản lượng lúa thế giới, ở Châu Phi người ta cũng đã tự túc

được 2/3 nhu cầu lương thực bằng lúa gạo, với năng suất chỉ bằng 40% năng suất bình quân của thế giới, số còn lại phải nhập khẩu [16]

Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ngày một tăng nhưng tốc độ tăng diện tích chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng sản lượng, như vậy sản lượng tăng

là do tăng năng suất là chủ yếu Trong những năm gần đây, do việc sử dụng các giống lúa mới cộng với việc áp dụng các biện pháp canh tác và bố trí cơ cấu các trà lúa hợp lý, làm cho sản lượng lúa tăng một cách đáng kể ở hầu hết các quốc gia trồng lúa Tuy vậy, trong tương lai, sản lượng lúa của thế giới sẽ phải tăng ở mức 1,6%/năm giai đoạn 2000-2025 mới đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng tăng của thế giới Đối với những nước đứng đầu về sản xuất lúa của Châu á thì tỷ lệ tăng này đòi hỏi ở mức 2,0%/năm Đây là nhiệm vụ không dễ của các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học trong thời gian tới

Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin 20,6%, Hàn Quốc 16,1%, ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7% Nhu cầu ngày càng tăng về giống lúa không những về số lượng mà còn cả về chất lượng [6]

1.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước

Lúa là cây lương thực quan trọng, hàng năm cây lúa cung cấp 85-87% tổng sản lượng lương thực trong nước, tuy rằng diện tích tự nhiên của Việt Nam chỉ đạt 33,1 triệu ha, trong đó đất sử dụng cho nông nghiệp là 7,4 triệu

ha chiếm 22 % diện tích tự nhiên, trong đó diện tích trồng lúa là 4.252.200 ha chiếm 76,9% còn lại là cây trồng cạn và cây lương thực khác [15]

Trong thập kỷ qua, nghề trồng lúa ở Việt Nam đã có những bước nhảy vọt đáng kể Sản lượng lúa đã tăng từ 24,9 triệu tấn năm 1995 lên 36,3 triệu

Trang 23

tấn năm 2005, tăng 11,4 triệu tấn trong 11 năm, tăng trưởng 145%, bình quân tăng 1,0 triệu tấn/năm, đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực và trên thế giới Như vậy, từ một nước thiếu đói triền miên, Việt Nam đã vươn lên không chỉ tự túc đủ lương thực mà còn dư để xuất khẩu 3,7 triệu tấn gạo năm 1998 và năm

Sản lượng (triệu tấn)

Xuất khẩu (triệu tấn)

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005

Sản lượng lương thực của Việt Nam những năm gần đây tăng bình quân trên 1 triệu tấn/năm Từ 1989 Việt Nam đã tự túc được lương thực và duy trì lượng gạo xuất khẩu ngày một tăng Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những

Trang 24

thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực

Có được sự tăng tiến như trên chủ yếu vẫn nhờ vào công tác cải tiến giống Chọn tạo giống được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao sản lượng lúa vì đầu tư thấp nhưng hiệu quả cao, vì vậy công tác chọn tạo giống lúa phải được tiến hành thường xuyên và liên tục [26]

Lúa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất lương thực, tăng nhanh cả diện tích và năng suất Năm 2000/1996 diện tích lúa tăng 64 vạn ha (9,1%) năng suất tăng trung bình 4,8 tạ/ha (27,3%) sản lượng thêm 6,1 triệu tấn (23,1%) biến Việt nam thành một nước có tốc độ tăng sản lượng lúa nhanh nhất thế giới và khu vực Châu á - Thái Bình Dương trong thập kỷ 90 Theo FAO đánh giá thì thập kỷ 90 tốc độ tăng sản lượng lúa gạo Việt Nam là 5,3%

so với 1,5% của thế giới và 1,51% của khu vực Châu á -Thái Bình Dương Tốc độ tương ứng về diện tích là 2,4% so với 0,5% (thế giới) và 0,5% (khu vực), năng suất lúa là 2,8% so với 1,1% (thế giới) và 1,0% (khu vực)

Nét mới trong sản xuất lương thực năm 2000 là sản lượng lúa và ngô tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Sản lượng lúa cả nước đạt 32,5 triệu tấn, chiếm 5,4% sản lượng lúa thế giới và 6,2% sản lượng lúa khu vực Năng suất bình quân một vụ năm 2000 đạt 42,5 tạ/ha đứng thứ 4 trên thế giới sau Hàn Quốc 68 tạ/ha, Nhật Bản 64 tạ/ha, Trung Quốc 63 tạ/ha (năm

1996 Việt Nam đứng thứ 6, thấp hơn cả Iran và Inđonesia)

Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành quả của những nỗ lực tổng hợp của cả nước trong việc tìm kiếm những giải pháp

để đẩy mạnh phát triển kinh tế Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải tiến giống lúa có vai trò quan trọng về mặt kỹ thuật và sau đó là những thay đổi kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở Đồng Bằng sông Cửu Long Năng suất và sản lượng lúa tăng còn do tăng diện tích gieo trồng Từ

Trang 25

năm 1980 -1997 tổng diện tích gieo trồng lúa đã tăng từ 5.600.200 ha lên 7.007.000 ha Đặc biệt việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng từ 50% (1991-1995) lên 80% thời kỳ 1996-2000 và trở thành yếu tố cơ bản đưa năng suất lúa một vụ từ 34,3 lên 40tạ/ha Hiện nay các giống lúa mới chiếm khoảng 65% diện tích gieo trồng của cả nước Những năm gần đây chúng ta có chính sách mở cửa nên nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế: IRRI, CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc

Sau một chặng đường dài không ngừng đổi mới phát triển nông nghiệp sản xuất lúa gạo ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể như:

- Xây dựng và phát triển các cánh đồng lúa nước khắp nơi trên nền tảng cải tạo đất đai, thuỷ lợi, tăng diện tích tưới tiêu Có thể nói nơi nào có đất phẳng, có nguồn nước thì nơi đó có thể phát triển thành cánh đồng lúa nước

dù ở Đồng Bằng hay trung du miền núi

- Nhập nội và lai tạo giống mới có khả năng thích nghi và chống chịu Trên cơ sở đó điều chỉnh thời vụ chính và tăng vụ, tăng diện tích lúa đông xuân, hè thu, giảm diện tích lúa nổi, lúa nương rẫy, phát triển nhiều trà lúa đối với vụ đông xuân ở miền Bắc để hạn chế bệnh do thời tiết Tạo được mùa vụ thay đổi cơ cấu cây trồng trong đó cây lúa làm trung tâm

- ứng dụng hệ thống kỹ thuật canh tác tiến bộ trong việc bón phân, bảo

Trang 26

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước

* Vai trò của công tác giống đối với sản xuất

Công tác giống và kỹ thuật gieo trồng không tách rời nhau, mỗi giống

đều có đặc tính riêng thích hợp với chế độ canh tác nhất định, mọi sự thay đổi khi sử dụng giống mới đều kéo theo sự thay đổi của quy trình gieo trồng Ngược lại, khi áp dụng kỹ thuật mới vào thực tiễn sản xuất đòi hỏi phải có giống phù hợp mới phát huy được hiệu quả Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như: thời vụ gieo trồng, kỹ thuật bón phân, và chế độ nước đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của giống Do vậy, để phát huy được tiềm năng năng suất của các giống mới ta cần nghiên cứu kỹ thuật trồng trọt, chế độ bón phân, tưới nước, thời vụ gieo cấy cho phù hợp với từng loại giống trước khi đưa ra sản xuất đại trà để tránh những rủi ro trong sản xuất [24]

Theo PGS.TS Luyện Hữu Chỉ - 1997 [1] thực tiễn việc sản xuất nông nghiệp cho thấy, nếu chỉ thay đổi giống mà không cải tiến kỹ thuật trồng trọt cho phù hợp với yêu cầu của giống thì không thể tăng năng suất được, sự tương quan giữa công tác giống và kỹ thuật gieo trồng còn thể hiện ở phần

đóng góp của mỗi yếu tố vào năng suất và chất lượng sản phẩm Từ đó cho thấy trong việc tăng năng suất cây trồng thì mỗi giống và kỹ thuật trồng trọt

có liên quan chặt chẽ với nhau

Muốn có năng suất sản lượng lúa cao thì việc thâm canh tăng năng suất sản lượng lúa là yếu tố quyết định, việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất cao thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác của từng địa phương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng lương thực, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần vào việc thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, bằng cách tuyển chọn giống cũ, lai tạo giống mới

và nhập nội thêm giống mới Hiện nay nước ta có trên 575 loại giống lúa cho các vụ và các vùng khác nhau, các giống này đều đáp ứng được yêu cầu sản

Trang 27

xuất của các vùng thâm canh lúa, vùng đất khó khăn như hạn, úng, chua, mặn

và các loại giống chống chịu sâu bệnh như kháng rầy, đạo ôn [26]

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng cũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả Giống cây trồng chính là yếu

tố quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm Do giống là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tư liệu sống mang đủ tính trạng,

đặc tính về hình thái, sinh học, di truyền và kinh tế nhất định, do vậy giống gắn bó mật thiết với môi trường Muốn tăng năng suất cần chú ý tác động đến các điều kiện trồng trọt thích hợp với yêu cầu của giống

Qua đó ta thấy giống lúa có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực nó làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo góp phần làm ổn định an ninh lương thực Công tác giống được chú trọng phát triển cùng với các biện pháp

kỹ thuật sẽ làm cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh chóng cả về

số lượng cũng như chất lượng nông sản phẩm

* Tình hình nghiên cứu và ứng dụng giống lúa chất lượng cao trong sản xuất

Điều kiện sinh thái của nước ta rất đa dạng nên đòi hỏi phải có bộ giống lúa phong phú để có thể đáp ứng được các tiểu vùng sinh thái Do đó trong những năm qua chúng ta đã tạo được nhiều giống lúa mới phục vụ cho sản xuất lúa đa dạng ở nông dân Theo thống kê của trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng trung ương thì trong vụ lúa đông xuân 2000 riêng ở các tỉnh phía Bắc có 192 giống lúa (chưa kể 1 số giống địa phương không có tên rõ ràng) đã được gieo trồng trong sản xuất Trong đó giống lúa thuần Việt Nam chiếm 45% diện tích và giống lúa của Trung Quốc chiếm khoảng 55 % Trong các giống trên có 10 giống lúa thâm canh có diện tích gieo trồng lớn nhất là Khang dân 18, Q5, Sán ưu 63, IR 17494, X21, Nhị ưu 63, CR 203 [10]

Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã chọn lọc, nhập nội một số giống lúa mới như: IR 64, IR 66, NN 9A, đây là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Trang 28

Liên quan đến công tác chọn giống lúa chất lượng cao Viện cây lương thực thực phẩm đã chọn tạo ra giống lúa P4 có hàm lượng Protein đạt 11%; Viện khoạ học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã chọn tạo ra giống lúa 9810

đây là những giống lúa có chất lượng tốt và năng suất khá

Nguyễn Thị Hương Thuỷ (2003) đã thực hiện nghiên cứu đề tài chất lượng của các giống lúa có hàm lượng Protein cao Đề tài đã tiến hành khảo sát nghiên cứu 65 loại giống lúa trong đó có cả các giống lúa đặc sản như Nàng thơm mùa, Nàng thơm chợ đào Đặc biệt đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu chất lượng dinh dưỡng của các giống lúa thông qua chỉ tiêu về hàm lượng Protein, kết quả phân tích cho thấy 46,2% các giống lúa nghiên cứu có hàm lượng Protein nhỏ hơn 9%, 24,6% các giống lúa có hàm lượng Protein từ 9-10%, 20% các giống có hàm lượng Protein từ 10-11%; 9,2% các giống có hàm lượng Protein lớn hơn 11%, các giống lúa nếp cổ truyền có hàm lượng Protein cao hơn các giống tẻ Ngoài ra các kết quả nghiên cứu về hàm lượng amyloza cho thấy các giống lúa đặc sản cổ truyền đặc biệt là giống lúa Tám của đồng bằng sông Hồng có hàm lượng amyloza trung bình (21-23%)

và nhiệt độ hoá hồ ở mức trung bình, có độ thơm cao, gạo trắng cho cơm dẻo ngon Các giống lúa nếp có hàm lượng amyloza thấp (3,5%), nhiệt độ hoá hồ thấp có độ thơm rất cao Đề tài cũng đã thử nghiệm sản xuất bột dinh dưỡng từ gạo lật nảy mầm ở quy mô nhỏ [13]

Trong những năm qua, trong khuân khổ chương trình lương thực thực phẩm cấp nhà nước, Lê Doãn Diên và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu chất lượng tập đoàn lúa gạo ở Việt Nam Nghiên cứu đã đánh giá tương đối toàn diện chất lượng của các tập đoàn giống lúa Việt Nam theo 4 nhóm chất lượng là: Chất lượng thương phẩm, chất lượng nấu nướng, chất lượng ăn uống và chất lượng dinh dưỡng Kết quả cho thấy:

- Các giống lúa đặc sản và giống lúa cổ truyền của nước ta đều có kích thước hạt nhỏ hơn so với các giống lúa nhập nội và các giống lúa mới

Trang 29

- Các giống lúa đặc sản ở miền Bắc nói chung đều có hạt nhỏ hơn giống lúa trồng ở miền Nam Lúa đặc sản có tỷ lệ hạt bạc bụng ít hơn so với các giống khác

- Phần lớn các giống lúa mới trồng ở miền Nam đều có kích thước hạt dài, hình dạng thon dài, có độ trắng trong cao do đó có nhiều giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

- Các giống lúa đa số có hàm lượng amyloza ở dạng trung bình (45,3%)

và cao (54,2%) so với tổng số giống nghiên cứu Các giống lúa có hàm lượng amyloze cao đều cho cơm cứng và khi để nguội thường bị rời, cứng cơm

- Về độ thơm của cơm: các giống lúa đặc sản cổ truyền ở miền Bắc có độ thơm cao hơn so với các giống lúa đặc sản miền Nam Thơm nhất trong các giống lúa đặc sản ở miền Bắc là giống lúa Tám thơm và thơm nhất trong các giống lúa đặc sản ở miền Nam là giống Nàng hương Chợ Đào

Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam và các chuyên gia Trung Quốc đã thử nghiệm thành công giống lúa lai thơm LVC2 phục vụ cho cánh

đồng 50 triệu đồng/ha tại tỉnh Nam Định Đây là giống lúa cấy được cả 2 vụ xuân và mùa, năng suất trung bình vụ xuân đạt 75-85 tạ/ha, vụ mùa đạt 65-75 tạ/ha), thâm canh có thể đạt cao 120 tạ/ha, chất lượng gạo rất tốt, hạt gạo trong, cơm dẻo, có mùi thơm

Như vậy có thể nói rằng trong lĩnh vực sản xuất lúa ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng các giống lúa chất lượng cao trong sản xuất (nhất

là các giống lúa thơm) đang là xu hướng chủ yếu Bước đầu ở một số nơi có sự tham gia của 4 "nhà" như: nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà quản lý Trong thời gian tới sự hợp tác chặt chẽ và sự hỗ trợ giữa các nhà là cần thiết để có thể phát triển bền vững sản xuất lúa chất lượng cao góp phần tăng hiệu quả sản xuất lúa và tăng thu nhập cho hộ gia đình [22]

Trang 30

1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam

Xu hướng phát triển về sản xuất lương thực nói chung và lúa gạo nói riêng trong thời gian vừa qua có những nét cơ bản sau: sản xuất lúa đã đi vào

ổn định và phát triển theo hướng thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng

và tỷ xuất hàng hóa, điều này thể hiện rõ trong 10 năm qua năng suất và sản lượng tăng liên tục (diện tích tăng 2,3%, năng suất tăng bình quân 2,38%/năm, sản lượng tăng bình quân 4,8%/năm [2]

Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng, nhất là tiến bộ về giống lúa có năng suất và chất lượng cao như OM80-81, IR58, IR64, IR65, Thơm số 1, Bắc thơm số 7, Tám thơm và các giống lúa lai Trung Quốc Từ đó

đã thay đổi sâu sắc trong chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, hạn chế và né tránh được nhiều thiệt hại do thời tiết gây ra [22]

Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu, riêng Đồng Bằng Sông cửu Long sản lượng lúa tăng bình quân 7%/năm, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn từ 5,5-6,2 triệu tấn thóc Đồng bằng Sông Hồng sản lượng lúa tăng bình quân 4%/năm, có khối lượng hàng hóa khoảng 1 triệu tấn thóc

Cơ chế mới về lưu thông hàng hóa đã tạo ra sự thông thoáng về thị trường lượng thực trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện gắn bó chặt chẽ hơn giữa sản xuất và tiêu dùng Nâng cao được khối lượng xuất khẩu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản

Thị trường và kết quả xuất khẩu gạo Việt Nam: từ năm 1990 đến nay xuất khẩu gạo ở Việt Nam không ngừng tăng, nay đứng thứ hai trên thế giới

về xuất khẩu gạo, khối lượng về xuất khẩu gạo năm 2005 là 5,2 triệu tấn tăng gấp 2,5 lần so với năm 1995 [23]

Thị trường xuất khẩu gạo ngày càng được mở rộng, từ 50 nước năm

1993 đến nay gạo Việt Nam đã xuất sang trên 80 nước ở khắp các châu lục

Trang 31

trong đó Châu á vẫn là thị trường lớn nhất chiếm 43,24% Đặc biệt trong những năm gần đây thị trường khu vực ở Châu á tiêu thu gạo Việt Nam với khối lượng lớn chiếm 62%, khu vực thứ 2 là Châu Phi chiếm 26,2% khối lượng gạo xuất khẩu Những nước nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam là Indonesia, Philippin, Trung Quốc, Pêru chất lượng xuất khẩu gạo Việt Nam cũng được nâng lên, tỷ lệ gạo 5-10% tấm có chất lượng cao đã tăng đáng kể,

từ 0,32% (1989) lên 53% (1995), nhiều nhà máy xay xát đã được đổi mới

đánh bóng và phân loại, chất lượng thóc gạo ngày càng tốt hơn

- Về cơ cấu chất lượng gạo: nếu năm 1989 hầu hết lượng gạo của ta xuất khẩu còn đạt chất lượng thấp thì 1992 lượng gạo chất lượng cao đã đạt 40,3%, năm 1997 – 44,0%, lượng gạo xuất khẩu chất lượng cao đạt cao nhất vào năm 1994 – 70% [16]

- Đi đôi với việc tăng chất lượng, giá bán gạo của nước ta cũng tăng theo Tính giá bán theo Đô la Mỹ cho 1tấn gạo ở các năm là: 1990 – 176,3;

1994 – 217,2; 1995 – 266,0; 1996 – 285,0; 1997 còn 244,5 Tổng thu ngoại tệ

từ xuất khẩu gạo năm cao nhất đạt hơn 1 tỷ Đô la Mỹ Riêng gạo đạt phẩm cấp cao chiếm 20% với giá bán khi cao nhất 320 USD/tấn so với giá bán bình quân 244,5 USD/tấn Năm 2004 lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được gần 100.000 tấn gạo thơm với giá tăng 30-40 USD/tấn so với gạo thường Tuy vậy, vẫn thua khá nhiều so với Thái Lan, gạo xuất khẩu có phẩm cấp cao của họ chiếm tới 60% với giá bán 680 – 700 USD/tấn [23]

1.3.1 Một số nghiên cứu, chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam

Hướng nghiên cứu chọn tạo các giống lúa thâm canh có hàm lượng Protein cao trong gạo, các giống lúa thâm canh ngắn ngày cho vùng đồng bằng Sông Hồng, giống lúa thâm canh có chất lượng cao phục vụ nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu

Trang 32

Đối với các nước đang phát triển ở Châu á như Việt Nam, các nghiên cứu về cây lúa chủ yếu tập trung vào nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo trên đơn vị diện tích Chất lượng gạo mới chỉ chú ý đến chất lượng thương phẩm như: Gạo dài, trong, ít hoặc không bạc bụng, việc nâng cao hàm lượng Protein trong hạt gạo chưa được nghiên cứu nhiều [3]

Viện cây lượng thực và thực phẩm đã nghiên cứu thu thập được 73 giống địa phương/1621 dòng giống thu thập có hàm lượng Protein cao trong gạo, một số giống điển hình như: Nếp cẩm (Sơn La)(10,3%), Lốc hạt tròn (Hà Tĩnh), Tám thơm (Hải Dương), Tám Xoan (Hưng Yên), Việt Nam đã nhập

1548 dòng giống có nguồn gốc nhập từ nước ngoài có chất lượng tốt như: IR 1529-680, IR64, C4-63 trắng, C4-63 tía, IR 22, IR 26 [6]

Theo GS.VS Vũ Tuyên Hoàng-1988 [7], một số giống lúa chất lượng

có hàm lượng Protein cao luôn có năng suất cao tại các trà xuân chính vụ, phù hợp với chân đất chủ động nước tưới tiêu tại các vùng thâm canh cao như: Thái Bình, Hải Dương tại các chân đất nghèo dinh dưỡng, không chủ động nước tưới tại các tỉnh trung du phía bắc như: Vĩnh Phúc Phú Thọ vẫn cho năng suất cao, chất lượng tốt

Trong những năm qua cùng với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật và thay đổi công nghệ, cùng với đổi mới chính sách cơ chế quản lý, nhà nước và địa phương đã quan tâm đầu tư cho việc chọn tạo, đưa vào sản xuất nhiều giống lúa mới, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, do vậy trong một thời gian ngắn đã tăng được diện tích và sản lượng lúa, các giống được đưa vào sản xuất như: IR64, IR59606, OM29-6, OM 90-2, OM

269, OM997-6, IR56297, Đột biến 1, N97, N203, N99, VH1, các giống có hàm lượng Protein cao : P1, P4, P6, P8, P12 Việc áp dụng các giống lúa

đặc sản, giống lúa chất lượng, các giống lúa phục vụ xuất khẩu, kết hợp với

Trang 33

các biện pháp thâm canh tổng hợp, từ đó nâng cao được năng suất sản lượng ở từng vùng gieo cấy

1.3.2 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Thái Nguyên

Trong những năm qua năng suất và sản lượng lúa Thái Nguyên đã tăng nhanh và liên tục Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra nhiều giống lúa chất lượng vào sản xuất tại các địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả

sử dụng đất, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất [18]

Phương hướng sản xuất lúa gạo năm 2000-2010 là đưa nhanh các giống lúa gạo chất lượng, hợp thị hiếu người tiêu dùng vào sản xuất trên diện rộng

Theo báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2005 toàn tỉnh đã gieo trồng được 135 ha giống lúa chất lượng cao tập trung gieo trồng ở các điểm như:

Trại giống lúa An khánh đã khảo nghiệm các giống lúa như: CL9, ĐB1, Thơm số 1, HYT 83, HYT 100, Thiên hương, N02, N03, Bắc thơm số 7

Tại Thành phố Thái Nguyên thử nghiệm 15 ha với các giống lúa N99, Bắc thơm số 7, VH1, Thơm số 1

Tại huyện Phổ Yên: 100 ha, thử nghiệm các giống lúa N99, Bắc thơm

bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 34

Chương 2

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung, đối tượng và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của các giống lúa thí nghiệm tại huyện Định Hóa

- Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống

- Phân tích chất lượng các giống lúa

- Chọn các giống có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện gieo trồng tại huyện Định Hóa

- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất của các giống lúa

- Thử nghiệm các giống lúa có triển vọng nhân ra diện rộng

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giống lúa mới năng suất, chất lượng cao có thời gian sinh trưởng ngắn, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam lai tạo và chọn lọc theo hướng năng suất, chất lượng và chống chịu với điều kiện khí hậu và đất

đai của địa phương

Gồm 6 giống lúa thí nghiệm:

Trang 35

Thơm số 1, Nghi hương 2308, T10, do Trung tâm giống lúa của Viện khoa

học Nông nghiệp Việt Nam cung cấp

* Giống lúa Thơm số 1

- Nguồn gốc: là giống lúa thuần Trung Quốc từ năm 1998, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và Công ty giống cây trồng Quảng Ninh chọn lọc và đánh giá

- Đặc điểm sinh học: là giống lúa ngắn ngày, vụ xuân có thời gian sinh trưởng 130-140 ngày, vụ mùa có thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, chiều cao cây từ 90-95 cm, đẻ nhánh khá, hạt thon dài, nhỏ, màu vàng sẫm Khối lượng 1000 hạt từ 18-20 gram, cơm thơm mềm Năng suất bình quân 55-60 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 70-75 tạ/ha, khả năng chống chịu với sâu bệnh khá, chống đổ tốt, thích hợp với đất vàn cao, vàn trung bình, đất thịt nhẹ

Trang 36

trung bình 95-100 cm, dạng cây gọn, có mùi thơm, hạt nhỏ, gạo trong, gạo và cơm thơm mềm, bông dài 19-20 cm, số hạt chắc trên bông 110-120 hạt/bông trọng lượng 1000 hạt 19-20 gram, đẻ nhánh khá, chống đổ khá, trỗ tập trung

* Giống Nghi hương 2308

- Nguồn gốc: Nghi hương 2308 là tổ hợp lai giữa Nghi Khôi 2308 và Nghi hương A, do công ty giống cây trồng Xuyên Phong - Trung Quốc nghiên cứu sản xuất

- Đặc điểm: thời gian sinh trưởng vụ xuân 115-120 ngày, vụ mùa

98-100 ngày, chiều cao cây 115-120 cm, đẻ nhánh trung bình, lá đứng, dạng thân

đứng, trỗ khoe bông, chất lượng gạo ngon, hạt gạo nhỏ, dài, trắng trong, thơm

và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Kháng được bệnh đạo ôn, khô vằn và bạc lá tốt Tiềm năng năng suất từ 70-80 tạ/ha

* Giống T10

- Nguồn gốc: Giống lúa T10 được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai DT10

x Amber 33 ( Amber 33 là giống lúa thơm của Irắp) Giống lúa T10 đã được khảo nghiệm Quốc gia từ năm 2002

- Đặc điểm sinh học: thời gian sinh trưởng vụ xuân 130-135 ngày, vụ mùa khoảng 110-115 ngày, cấy được cả 2 vụ, chiều cao cây 95-105 cm, thân cứng trung bình, bộ lá xanh, tán lá gọn, đẻ nhánh trung bình, hạt thóc màu nâu sẫm, thon nhỏ, hạt gạo trong, cơm dẻo, có mùi thơm, vị đậm Năng suất trung bình 45-55 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 60-70 tạ/ha, chống chịu sâu bệnh khá, thích hợp với chân đất vàn và vàn cao

* Giống lúa Khang dân 18

- Nguồn gốc: là giống lúa thuần Trung Quốc được nhập về và mở rộng sản xuất từ vụ mùa năm 1996 Đã được đưa vào khảo nghiệm giống quốc gia

Và được phổ biến rộng rãi hiện nay ở các tỉnh phía Bắc với diện tích gieo cấy lớn (cả vụ xuân và vụ mùa)

Trang 37

- Đặc điểm sinh học: thời gian sinh trưởng: vụ xuân từ: 125-135 ngày,

vụ mùa từ: 105-110 ngày Năng suất trung bình từ 45-50 tạ/ha, thâm canh tốt

đạt 55-60 tạ/ha, khả năng đẻ nhánh trung bình, hạt thon, nhỏ, màu vàng đẹp Khối lượng nghìn hạt: 19,5-20,0g, chất lượng gạo tốt, cơm ngon, khả năng thích ứng rộng

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Thí nghiệm được thực hiện tại xã Bảo Cường - huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian tiến hành từ tháng 1 đến tháng 12 ở 2 vụ xuân và vụ mùa năm 2005

- Thử nghiệm đánh giá khả năng phát triển và sản xuất thử tại 2 xã Trung Hội, Tân Dương huyện Định Hoá, vụ xuân năm 2006

2.2 Điều kiện thí nghiệm

2.2.1 Điều kiện thí nghiệm

- Đất đai: thí nghiệm được bố trí trên đất 2 vụ lúa với tổng diện tích thí

nghiệm là 720 m2 cả dải bảo vệ

- Đặc điểm chân đất: chủ động tưới tiêu, đất vàn trung bình, cấy được 2 vụ

- Phân bón: bón theo quy trình sản xuất (liều lượng tính cho 1ha)

+ Vụ xuân: 10 tấn phân chuồng, 100 kg N + 80 kg P2O5 + 60 kg K2O + Vụ mùa: 10 tấn phân chuồng, 80 kg N + 80 kg P2O5 + 60 kg K2O5

- Cách bón:

+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% lân + 30% đạm + 30 %Kali + Bón thúc đợt 1 (thúc đẻ): 40% đạm + 40% Kali, kết hợp làm cỏ sục bùn + Bón thúc đợt 2 (thúc đòng): 30% đạm + 30% Kali

- Gieo cấy và chăm sóc: tiến hành trong 2 vụ: vụ xuân 2005, vụ mùa

2005

+ Vụ xuân: gieo mạ ngày 25/01/2005, cấy ngày 15/2/2005, khi mạ có 4-4,5 lá

Trang 38

+ Vụ mùa: gieo mạ ngày 05/6/2005, cấy ngày 20/6/2005, khi cấy mạ 15 ngày tuổi

- Mật độ cấy: 50 khóm/m2 Vụ xuân và Vụ mùa cấy 2 dảnh/khóm

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

* Công thức thí nghiệm: gồm 5 giống lúa có triển vọng do Trung tâm giống lúa của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam cung cấp (Thiên Hương (LT2), Bắc thơm số 7, Thơm số 1, Nghi hương 2308, T10 và giống đối chứng

- Thí nghiệm được bố trí trên đất chủ động tưới tiêu, đất vàn trung bình, cấy được 2 vụ Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, với 4 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 24m2 (4m x 6m) [11]

Dải bảo vệ

Trang 39

2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi (theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu theo quy phạm khảo nghiệm giống quốc gia và Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI)

2.3.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển (tính từ khi gieo đến khi chín - đơn

- Thời gian trỗ bông: từ khi cây có 10% số khóm trỗ bông

- Thời gian chín: khi có 85% số hạt chín trên các khóm

Trang 40

2.3.4 Chiều cao cây cuối cùng: đo từ gốc đến chóp bông cao nhất của 20

khóm điều tra lấy mẫu/giống ở 4 lần nhắc lại (mỗi lần nhắc lại 5 khóm) rồi tính kết quả trung bình

2.3.5 Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại

- Rầy nâu: theo dõi cây chuyển vàng từng bộ phận hay toàn bộ cây, đánh giá theo thang điểm:

+ Điểm 0: không bị hại

+ Điểm 1: hơi biến vàng trên một số cây

+ Điểm 3: lá biến vàng bộ phận ch−a bị cháy rầy

+ Điểm 5: những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10-25% số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luyện Hữu Chỉ (1997), Giáo trình giống cây trồng, NXBNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giống cây trồng
Tác giả: Luyện Hữu Chỉ
Nhà XB: NXBNN Hà Nội
Năm: 1997
3. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng trung −ơng (2000), Qui phạm khảo nghiệm và tiêu chuẩn chất l−ợng giống lúa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui phạm khảo nghiệm và tiêu chuẩn chất l−ợng giống lúa
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng trung −ơng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
4. Lê Văn Dân (2004), Nghiên cứu khả năng phát triển một số dòng, giống lúa mới tại một số tỉnh Miền Trung, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng phát triển một số dòng, giống lúa mới tại một số tỉnh Miền Trung, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Tác giả: Lê Văn Dân
Năm: 2004
5. Bùi Huy Đáp (1999)- Một số vấn đề về cây lúa- NXB Nông nghiệp Hà Nội 6. Tr−ơng Đích (1999), 265 giống cây trồng mới, Nhà xuất bản nông nghiệp,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về cây lúa
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
7. Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ và Trần Nh− Nguyện (1988), Chọn giống cây l−ơng thực, NXBNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cây l−ơng thực
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ, Trần Nh− Nguyện
Nhà XB: NXBNN Hà Nội
Năm: 1988
9. Nguyễn Thị Lẫm, D−ơng Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh (2003), Giáo trình cây l−ơng thực, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây l−ơng thực
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm, D−ơng Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2003
10. Nguyễn Thiên L−ơng, Vũ Tuấn Linh và Phạm Đồng Quảng (2000) “Nhìn lại việc sử dụng giống lúa trong vụ Đông xuân 2000 ở các tỉnh phía Bắc”, Tạp chí trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng trung −ơng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại việc sử dụng giống lúa trong vụ Đông xuân 2000 ở các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Thiên L−ơng, Vũ Tuấn Linh, Phạm Đồng Quảng
Nhà XB: Tạp chí trung tâm khảo kiểm nghiệm giống cây trồng trung −ơng
Năm: 2000
11. Hoàng Văn Phụ, Đỗ Thị Ngọc Oanh (2002), Giáo trình ph−ơng pháp nghiên cứu trong trồng trọt, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ph−ơng pháp nghiên cứu trong trồng trọt
Tác giả: Hoàng Văn Phụ, Đỗ Thị Ngọc Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2002
12. Nguyễn Hữu Quyết (2000), So sánh một số giống lúa thuần trong điều kiện vụ mùa năm 1999 và vụ xuân năm 2000 tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh một số giống lúa thuần trong điều kiện vụ mùa năm 1999 và vụ xuân năm 2000 tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hữu Quyết
Năm: 2000
13. Nguyễn Thị H−ơng Thuỷ (2003), Nghiên cứu chất l−ợng một số giống lúa có hàm l−ợng protein cao và khả năng ứng dụng trong công nghiệp chế biến, Luận án tiến sĩ kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất l−ợng một số giống lúa có hàm l−ợng protein cao và khả năng ứng dụng trong công nghiệp chế biến
Tác giả: Nguyễn Thị H−ơng Thuỷ
Năm: 2003
14. Thanh Tri (1987), Giống cây trồng (tập 2), Công ty giống cây trồng TW, NXBNN Hà Nội, trang 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống cây trồng (tập 2)
Tác giả: Thanh Tri
Nhà XB: Công ty giống cây trồng TW
Năm: 1987
15. Nguyễn Thị Lẫm (2003), Giáo trình cây l−ơng thực, NXBNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây l−ơng thực
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm
Nhà XB: NXBNN Hà Nội
Năm: 2003
16. Nguyễn Tiến Mạnh (1999), Chuyên đề sản xuất và thị trường lúa gạo Việt Nam 17.Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (2003), Hội nghị đầu bờthăm quan giống lúa và các giống cây màu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề sản xuất và thị trường lúa gạo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Mạnh
Nhà XB: Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam
Năm: 1999
18. Sở NN và PTNT tỉnh Thái Nguyên (2005), Báo cáo tổng kết năm 2005 và triển khai kế hoạch năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2005 và triển khai kế hoạch năm 2006
Tác giả: Sở NN và PTNT tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2005
19. Uỷ ban nhân dân huyện Định Hoá 2005, Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội năm 2005.Trang thông tin Website của văn phòng Bộ nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội năm 2005
Tác giả: Uỷ ban nhân dân huyện Định Hoá
Nhà XB: Trang thông tin Website của văn phòng Bộ nông nghiệp và PTNT
Năm: 2005
20. Nhân dân (2/6/2004), “Vấn đề xuất khẩu gạo hiện nay”, Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam, Website:www.agroviet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xuất khẩu gạo hiện nay
Nhà XB: Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam
Năm: 2004
21. NTNN (7/5/2004), “Những yếu tố quyết định chất l−ợng gạo”, Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam, Website:www.agroviet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố quyết định chất l−ợng gạo”, "Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam
22. Oryza (28/8/2003), “Việt Nam chú trọng đến chất l−ợng gạo”, Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam, Website:www.agroviet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chú trọng đến chất l−ợng gạo”, "Nông nghiệp - Nông thôn Việt Nam
24. Mai Văn Quyền; Thâm canh lúa ở Việt nam - NXBNN 1996.Tr.24 25. Phạm Đồng Quảng; Kết quả khảo nghiệm giống cây trồng 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh lúa ở Việt nam
Tác giả: Mai Văn Quyền
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1996
26. Phạm Đồng Quảng; 575 giống cây trồng mới. NXB Nông nghiệp 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản l−ợng lúa của thế giới - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản l−ợng lúa của thế giới (Trang 16)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ 1995-2005 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ 1995-2005 (Trang 23)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở cả vụ xuân và vụ mùa năm 2005. - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm ở cả vụ xuân và vụ mùa năm 2005 (Trang 38)
Bảng 3.2. Thời gian sinh tr−ởng phát triển của các giống lúa - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Thời gian sinh tr−ởng phát triển của các giống lúa (Trang 50)
Bảng 3.3. Sinh tr−ởng mạ và chiều cao cuối cùng của các giống - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Sinh tr−ởng mạ và chiều cao cuối cùng của các giống (Trang 53)
Bảng 3.4. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa (Trang 55)
Bảng 3.5. Tình hình sâu bệnh hại các giống lúa - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Tình hình sâu bệnh hại các giống lúa (Trang 56)
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 62)
Bảng 3.7. So sánh năng suất giữa các giống lúa - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. So sánh năng suất giữa các giống lúa (Trang 63)
Bảng 3.8. Chất l−ợng gạo của các giống lúa - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Chất l−ợng gạo của các giống lúa (Trang 64)
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế các giống lúa thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế các giống lúa thí nghiệm (Trang 68)
Bảng 3.10. Kết quả thử nghiệm một số giống lúa có triển vọng ở - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa chất lượng cao tại huyện định hóa tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Kết quả thử nghiệm một số giống lúa có triển vọng ở (Trang 70)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w