Năm 1980 diện tích trồng ngô chỉ có khoảng 121,6 triệu ha với tổng sản lượng là 376,9 triệu tấn nhưng đến năm 2007, diện tích ngô tăng lên đáng kể đạt 157,9 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng
Thái Nguyên - 2011
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lý Quang Đại
i
Trang 4Lời cảm õn
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ nông nghiệp, trong quá trình học tập
và nghiên cứu, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất nhiệt tình của tập thể, cá nhân, gia đình và người thân
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng, Trưởng phòng Đào tạo, Giảng viên trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và trong quá trình hoàn chỉnh luận văn;
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Nông học đặc biệt là các thầy cô ở Bộ môn Cây lương thực đã cung cấp tài liệu, vật liệu trong quá trình nghiên cứu
Nhân dịp này tôi xin cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Lý Quang Đại
ii
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu: 1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thự tiễn của đề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƢÕNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Các loại giống ngô 6
1.2.1 Giống ngô thụ phấn tự do 6
1.2.2 Giống ngô lai 8
1.3 Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới và trong nước ……… 10
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên Thế giới ……… 10
1.3.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 15
1.3.3 Tình hình sản xuất ngô ở Phú Thọ 22
1.4 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và trong nước 24
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 24
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt Nam 25
CHƢÕNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢÕNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 2.1 Vật liệu và phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm 28
2.1.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm ……… 29
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 31
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 31
Trang 62.2.2 Thời gian nghiên cứu 31
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Nội dung 31
2.3.2 Quy trình kỹ thuật trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 31
2.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33
2.3.4 Thu thập số liệu 37
2.3.5 Phân tích số liệu 37
CHƢÕNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 38
3.1 Diễn biến thời tiết - khí hậu trong thời gian thí nghiệm 38
3.1.1 Nhiệt độ 40
3.1.2 Độ ẩm không khí 41
3.1.3 Lượng mưa 41
3.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 43
3.2.1 Các giai đoạn sinh trưởng ……… 45
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng ……… 48
3.3 Đặc điểm hình thái của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và vụ Thu Đông 2010 ……… 52
3.3.1 Chiều cao cây của các giống thí nghiệm ……… 52
3.3.2 Độ cao đóng bắp của các giống thí nghiệm ……… 54
3.3.3 Số lá và chỉ số diện tích lá ……… 56
3.4 Đặc tính chống chịu của các giống ngô lai ……… 60
3.4.1 Sâu đục thân 62
3.4.2 Rệp cờ 62
3.4.3 Bệnh khô vằn 63 3.5 Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ bao bắp của các giống ngô lai 64
Trang 73.5.1 Trạng thái cây 64
3.5.2 Trạng thái bắp ……… 65
3.5.3 Độ bao bắp ……… 66
3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ……… 66
3.6.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 69
3.6.2 Năng suất của các giống ngô thí nghiệm ……… 71
KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 77
II TÀI LIỆU TIẾNG ANH 78
Trang 8Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
FAO Food and Agriculture Orangization
(Tổ chức Nông lương của Liên Hợp Quốc)
Bộ NN&PTNT Bộ nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn TPTD Thụ phấn tự do
CSDTL Chỉ số diện tớch lỏ
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
Trang 9tại xã Cao Xá, Lâm Thao, Phú Thọ năm 2010 29 3.1 Diễn biến thời tiết năm 2010 tại Phú Thọ 39 3.2 Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các giống ngô
thí nghiệm vụ Xuân và vụ Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 44 3.3 Tốc độ tăng trưởng của các giống ngô thí nghiệm trong vụ Xuân và
3.4 Một số đặc tính hình thái của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và
3.5 Số lá, chỉ số diện tích lá của các giống thí nghiệm vụ Xuân và Thu
3.6 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và
3.7 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí
nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2010 tại Phú Thọ 64
vii
Trang 103.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ
3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô thí nghiệm vụ Thu
3.10 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống ngô thí
nghiệm vụ Xuân và Thu Đông 2010 tai Phú Thọ 72
viii
Trang 111 Đặt vấn đề
MỞ ĐẦU
Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực được phát hiện cách đây
7.000 năm tại Mêxicô và Pêru, là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất trên toàn thế giới và chỉ đứng sau lúa mì, lúa nước về diện tích Tuy nhiên về năng suất và sản lượng thì lại là cây trồng đứng đầu Với những đặc điểm nông sinh học quý như: Tính thích ứng rộng, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, tiềm năng năng suất cao nên cây ngô đã nhanh chóng được gieo trồng rộng rãi, phố biến trên các vùng lãnh thổ Trong giai đoạn 1985-2005 mức tăng trưởng bình quân hàng năm của cây ngô trên thế giới về diện tích là: 0,8%, năng suất là: 2,1% và sản lượng là 3,15% Hai thập
kỷ gần đây (1985-2005), tăng trưởng năng suất ngô ở các nước đang phát triển là 2,55%/năm, riêng ở Mỹ năng suất ngô vẫn tăng liên tục 2,8%/năm
(FAOSTAT, 2008)
Cây ngô có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp nói riêng cũng như trong nền kinh tế nói chung Giai đoạn 1995-1997 sản lượng ngô làm lương thực chiếm 17%, thức ăn cho chăn nuôi 66%, nguyên liệu cho công nghiệp 5%, xuất khẩu > 10% (Ngô Hữu Tình, 2003) Ngô cung cấp lương thực cho 1/3 dân số thế giới, các nước như: Ấn Độ, Philippin, Mêxico và một số nước ở Châu Phi đã dùng ngô làm lương thực chính, có tới 90% sản lượng ngô của Ấn Độ, 66% của Philippin dùng làm lương thực cho con người
Bắc, Tây Nguyên đã dùng ngô làm lương thực chính, từ ngô có thể chế biến thành bột ngô, bánh ngô, xôi ngô, mèn mén (một món ăn phổ biến của đồng bào Mông) Ngoài việc cung cấp lương thực nuôi sống con người cây ngô còn là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi, gần 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là ngô (Ngô Hữu Tình, 2003) Ngoài ra ngô còn là thức
ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa Tại các nước
Trang 12phát triển, tỉ lệ ngô làm thức ăn cho chăn nuôi chiếm trên 70%
Trang 13Ngoài ra, ngô còn là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao: ngô bao tử là một loại rau cao cấp Các loại ngô siêu ngọt, ngô nếp, ngô đường dùng làm qùa ăn tươi hoặc đóng hộp xuất khẩu Ngô cũng là nguồn nguyên liệu để sản xuất tinh bột, cồn, bánh kẹo… Người ta đã sản xuất khoảng 670 mặt hàng từ ngô để phục vụ các ngành kinh tế khác nhau
Chính nhờ vai trò quan trọng đó của cây ngô trong nền kinh tế thế giới
mà trong những năm gần đây diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng lên không ngừng Năm 1980 diện tích trồng ngô chỉ có khoảng 121,6 triệu ha với tổng sản lượng là 376,9 triệu tấn nhưng đến năm 2007, diện tích ngô tăng lên đáng kể đạt 157,9 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt 784,8 triệu
rõ rệt do ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác, cơ giới hoá, bảo vệ thực vật …
Đầu thế kỷ XX, thế giới biết đến ngô lai bởi nó là một thành tựu cực kỳ quan trọng trong nông nghiệp, nhờ ứng dụng thành công ưu thế lai mà các giống ngô lai lần lượt được ra đời, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất và sản lượng, góp phần cung cấp lương thực cho nhân loại trên toàn cầu Tuy nhiên
để có giống ngô cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng trong giai đoạn hiện nay thì các nhà khoa học cần tập trung nghiên cứu khả năng chống chịu của các giống ngô lai với các điều kiện bất thuận của ngoại cảnh như chịu hạn, rét…
Ở Việt Nam cây ngô là cây trồng mới được nhập nội khoảng trên 300 năm nhưng diện tích trồng ngô đã tăng lên nhanh chóng Năm 2009 diện tích ngô của cả nước là 1.086.800 ha, trong đó diện tích ngô lai đã chiếm khoảng 95,5% Sản lượng ngô năm 2009 đạt 4.431.800 tấn, năng suất 40,8 tạ/ha (Bộ NN&PTNT, 2009)[9], so với năm 1990 khi chưa trồng ngô lai thì sản lượng tăng gấp 6,6 lần, năng suất hơn 2,63 lần Mặc dù vậy năng suất ngô nước ta vẫn còn thấp, năm 2007 mới chỉ bằng 81,0% năng suất ngô bình quân trên thế giới
Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất ngô nước ta còn thấp
Trang 14là do ngô được trồng chủ yếu ở các vùng khó khăn Các tỉnh miền núi diện
Trang 15tích ngô tương đối lớn chiếm khoảng 34,8% diện tích ngô của cả nước, nhưng lại gặp điều kiện bất thuận của yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán, rét kéo dài, không có hệ thống thuỷ lợi, còn sử dụng các giống cũ, lẫn tạp, thoái hoá… Vì vậy, để sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước trong khu vực và đạt năng suất trung bình của thế giới cần phải thay đổi cơ cấu giống và tăng cường đầu tư thâm canh Giống là yếu tố hàng đầu trong các yếu tố để tạo nên năng suất, chất lượng của cây trồng Hiện nay hàng năm, hàng vụ có rất nhiều giống mới được tạo chọn tạo ra có nhiều ưu điểm như: năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận tốt Tuy nhiên việc xác định tiềm năng năng suất, tính ổn định, khả năng thích ứng của các giống đặc biệt là những giống ngô mới với điều kiện sinh thái, tập quán canh tác của từng vùng, từng địa phương là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống ngô lai mới tại huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ"
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định được các giống có khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái tại Phú Thọ để giới thiệu cho sản xuất
Trang 16- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các giống Chọn được các giống tốt có triển vọng để đưa ra sản xuất trên diện rộng của địa phương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những thông tin về khả năng sinh trưởng, phát triển và đặc biệt cung cấp những thông tin về các đặc trưng và đặc tính của các giống ngô mới tham gia thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên của huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, làm cơ sở xây dựng cơ cấu giống ngô mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Chọn ra được 1 - 2 giống ngô mới có triển vọng, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng để đưa vào cơ cấu giống ngô của huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, từ đó để phát triển ra diện rộng mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 17CHƢÕNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cõ sở khoa học của đề tài
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu để duy trì và phát triển sản xuất nông nghiệp Giống có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng Muốn có những giống ngô mới năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh cần nghiên cứu lai tạo và chọn lọc một cách kỹ lưỡng, xác định vùng thích nghi của các giống mới trước khi đưa vào sản xuất trên diện rộng Vì thế các giống cây trồng nói chung cũng như các giống ngô lai nói riêng cần được đưa vào khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, để đánh giá đầy đủ, khách quan khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng như khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi khác
Ngày nay sản xuất ngô muốn phát triển theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp bằng các giống ngô mới năng suất cao, chống chịu tốt Đặc biệt là ở các tỉnh miền núi sử dụng giống có khả năng chịu hạn, chịu rét tốt, năng suất cao vừa phát huy hiệu quả kinh tế của giống vừa góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc
Trong quá trình tạo giống, các nhà chọn giống thường loại đi các tổ hợp lai biểu hiện những yếu điểm về các đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng quá dài, cây quá cao, chống đổ kém, dễ nhiễm sâu bệnh và có sức sống kém… Chọn lựa theo kiểu hình đã phần nào loại bỏ được những đặc tính không mong muốn, tuy nhiên phải thực hiện thí nghiệm trên nhiều vùng, trong nhiều thời vụ và điều kiện sinh thái
Trang 18Các đặc tính nông sinh học như: thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, khả năng chống chịu, năng suất phải được mô tả chi tiết, từ kết quả đánh giá này các nhà chọn tạo giống sẽ đưa ra nhận định về khả năng của từng giống, xác định giống cho các vùng sinh thái và thời vụ cụ thể
1.2 Các loại giống ngô
Theo phương pháp chọn tạo giống, giống ngô được phân chia thành 2 loại chính:
- Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - Open Pollinated Variety)
- Giống ngô lai (Maize Hybrid)
1.2.1 Giống ngô thụ phấn tự do (TPTD - open pollinated variety)
Giống ngô TPTD là một danh từ chung để chỉ các loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt giống con người không cần can thiệp vào quá trình thụ phấn, chúng được tự do thụ phấn (thụ phấn mở) Tên gọi này nhằm phân biệt với các loại giống ngô lai Các giống TPTD đặc điểm sau: sử dụng hiệu ứng gen cộng, có nền di truyền rộng, khả năng thích ứng rộng và năng suất cao, độ đồng đều chấp nhận, dễ sản xuất và thay giống, giống sử dụng 2 đến 3 đời, giá giống rẻ Giống ngô TPTD nghĩa rộng bao gồm: giống ngô địa phương, giống ngô tổng hợp, giống ngô hỗn hợp, giống ngô TPTD cải thiện (TPTD nghĩa hẹp)
1.2.1.1 Giống ngô địa phương (local variety)
Là giống ngô đã tồn tại trong một thời gian dài ở địa phương, phù hợp với điều kiện khí hậu, tập quán canh tác và khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của vùng Giống địa phương năng suất thường không cao nhưng chất lượng tốt và là nguồn vật liệu khởi đầu rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống mới
Hiện nay, ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh người dân vẫn sử dụng nhiều giống địa phương như: tẻ Mèo, nếp Lù Tây Ninh, gié Bắc Ninh, Xiêm
(Ngô Hữu Tình, 1997)
1.2.1.2 Giống ngô tổng hợp (synthetic variety)
Là thế hệ tiến triển của giống lai nhiều dòng bằng thụ phấn tự do
Trang 19Giống tổng hợp được sử dụng đầu tiên trong sản xuất do đề xuất của Hayes và
Trang 20Garbes (1919) Ngô Hữu Tình (1997) cho rằng sản xuất giống ngô cải tiến bằng phương pháp tái tổ hợp nhiều dòng tự phối có ưu điểm hơn so với lai đơn, lai kép bởi vì giống này có thể sử dụng 2 đến 3 vụ Muốn tạo giống tổng hợp cần tiến hành các bước sau:
Bước 1: Chọn tạo các dòng thuần
Bước 2: Xác định khả năng kết hợp chung của các dòng thuần
Bước 3: Lai giữa các dòng tốt và có khả năng kết hợp chung cao để tạo tổng hợp
Bước 4: Duy trì và cải thiện quần thể (tổng hợp) bằng các phương pháp thanh lọc trong quần thể
Ngoài việc sử dụng trực tiếp làm giống trong sản xuất, giống tổng hợp còn là nguyên liệu tốt cho công tác rút dòng để tạo giống lai (Ngô Hữu Tình,
TH2A, TH nếp trắng, HSB1…được tao ra bằng phương pháp này
1.2.1.3 Giống ngô hỗn hợp (composite)
Là thế hệ tiến triển của tổ hợp các nguồn vật liệu ưu tú có nền di truyền khác nhau Nguồn vật liệu di truyền này gồm các giống thụ phấn tự do, tổng hợp, lai kép…được chọn theo một số chỉ tiêu như năng suất, thời gian sinh trưởng, đặc điểm của hạt, tính chống chịu…song chúng phải có đặc tính quí và khả năng kết hợp tốt Ý tưởng sử dụng giống hỗn hợp đầu tiên thuộc về các nhà khoa học Ấn Độ và Mêhicô
Quá trình chọn tạo một giống hỗn hợp cần tiến hành các bước:
Bước 1: Chọn thành phần bố mẹ
Bước 2: Lai thử, chọn các cặp lai cho năng suất cao ở F1 và ít suy giảm ở F2 Bước 3: Tạo lập hỗn hợp bằng cách thụ phấn dây chuyền hoặc luân giao Bước 4: Duy trì và cải thiện giống bằng phương pháp chọn lọc quần thể Giống hỗn hợp có vai trò đáng kể trong nghề trồng ngô các nước nhiệt đới đang phát triển trong những năm qua (Ngô Hữu Tình, 1997) Ở nước ta đã có những giống ngô hỗn hợp nổi tiếng như: VM1, TSB2, MSB49, TSB1…
1.2.1.4 Giống ngô thụ phấn tự do cải thiện
Trang 21Giống ngô TPTD cải thiện được định nghĩa là: “tập hợp các kiểu hình tương đối đồng đều, đại diện cho phần ưu tú nhất của một quần thể trong một chu
kỳ cải thiện nào đó”
Quy trình chọn tạo một giống ngô TPTD bao gồm các bước:
Bước 1: Tạo vốn gen
Bước 2: Tạo vốn quần thể
Bước 3: Tạo giống thí nghiệm
Bước 4: Khảo nghiệm giống thí nghiệm
Bước 5: Đưa vào sản xuất
1.2.2 Giống ngô lai (Maize Hybrid)
Ngô lai là thành tựu khoa học nông nghiệp nổi bật nhất của thế kỷ
XX, đó là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống (Ngô Hữu
- Hiệu ứng trội và siêu trội được sử dụng trong quá trình tạo giống
- Giống có nền di truyền hẹp, thích ứng hẹp
- Yêu cầu thâm canh cao, năng suất cao và có độ đồng đều tốt
- Hạt giống chỉ sử dụng được một đời F1
Hiện nay ngô lai được chia thành hai loại: giống ngô lai không quy ước
và giống ngô lai quy ước
1.2.2.1 Ngô lai không quy ước (non-conventional hybrid)
Là giống ngô lai mà trong đó ít nhất có một bố hoặc mẹ không phải là dòng thuần
Ngô lai không quy ước là bước chuyển tiếp từ giống TPTD sang giống ngô lai không quy ước Thuận lợi chính của giống này là sử dụng bố không thuần nên dễ sản xuất giống và giảm được giá thành (Ngô Hữu Tình, 1997)
Khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất của ngô lai không quy ước cao hơn so với ngô TPTD nhưng thấp hơn so với ngô lai quy ước Đặc điểm này rất phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước đang trong giai đoạn chuyển từ giống TPTD sang
Trang 22giống ngô lai vì quá trình sản xuất hạt giống dễ dàng, giá thành hạt giống rẻ
mà năng suất khá cao
Ngô lai không quy ước được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam vào giai đoạn 1990 - 1995, hai giống được trồng phổ biến trong thời kỳ này là LS6 và LS8 với tiềm năng năng suất 5 – 7 tấn/ha
Có nhiều thể loại giống lai không quy ước, song thường gặp nhất là:
Hiện nay ở các nước đang phát triển, sử dụng chủ yếu là lai đỉnh kép và lai đỉnh kép cải tiến Trong tương lai khi các nước này có đủ điều kiện về kinh
tế và kỹ thuật thì vai trò của các giống ngô lai không qui ước sẽ thu hẹp và thay thế dần bằng các giống lai qui ước (Ngô Hữu Tình, 1997)
Ở nước ta, nhóm ngô lai không qui ước được sử dụng chủ yếu trong những năm 1990 vì chương trình ngô lai Việt Nam lúc đó mới bắt đầu
1.2.2.2 Giống ngô lai quy ước (conventional hybrid)
Là giống ngô lai được tạo ra giữa các dòng thuần Tuỳ theo số dòng tự phối sử dụng trong chọn giống mà giống ngô lai qui ước được phân chia thành những loại chính sau:
* Lai đõn (A x B): Lai đơn là giống tạo ra giữa 2 dòng thuần Lai đơn
có ưu điểm là: năng suất, độ đồng đều cao, yêu cầu thâm canh cao nhưng phạm vi thích ứng hẹp Ở nước ta trong những năm gần đây nhờ sử dụng giống ngô lai đơn trong sản xuất nên đã nâng cao năng suất và sản lượng ngô Một số giống ngô lai đơn có năng suất cao, phẩm chất tốt được sử dụng phổ biến trong sản xuất như: LVN 10, LVN4, LVN20, LVN99
* Lai kép [(A x B) x (C x D)]: Là giống lai tạo ra bằng cách lai giữa
Trang 23hai giống lai đơn Giống lai kép có những ưu điểm nổi bật như: năng suất hạt
Trang 24giống cao, giá thành hạ Trong sản xuất hạt giống do cây bố là lai đơn nên cho phấn nhiều hơn dòng tự phối vì vậy tăng được tỷ lệ cây mẹ trong ruộng sản xuất giống Hơn nữa lai đơn có khả năng chống chịu môi trường bất thuận tốt hơn dòng tự phối nên làm giảm rủi ro trong sản xuất hạt giống Bên cạnh đó giống lai kép còn tồn tại những yếu điểm như: độ đồng đều thấp, năng suất kém hơn lai đơn
* Lai ba [(A x B) x C]: Giống lai ba là giống lai giữa giống lai đơn và
một dòng tự phối Giống lai ba có những ưu điểm là: tiềm năng năng suất cao hơn giống lai không qui ước và lai kép Do sử dụng giống lai đơn làm mẹ nên năng suất hạt giống cao, giá thành hạt giống hạ, khả năng thích ứng rộng
Tuy nhiên giống lai ba có những mặt hạn chế sau: Qui trình sản xuất hạt giống đòi hỏi thêm một vụ và thêm bãi cách ly, độ an toàn không cao, độ đồng đều của cây và bắp không cao bằng lai đơn Những giống lai ba đang được sử dụng như: LVN17, LVN27, LVN29…
* Lai ba cải tiến [(A x B x (C x C’)]: Là giống lai tạo ra giữa một
giống lai đơn với một tổ hợp lai giữa các dòng chị em nên có khả năng sinh trưởng tốt hơn, lượng phấn nhiều hơn, thời gian tung phấn nhiều hơn, kết quả
là hạn chế được rủi do, độ đồng đều khá
* Lai đõn cải tiến (A x A’) x B hoặc (A x A’) x (B x B’)
Giống ngô lai qui ước được chia thành nhiều loại khác nhau, nhưng để tạo giống ngô lai qui ước trải qua ba bước chính:
Bước 1: Phát triển dòng thuần
Bước 2: Thử khả năng kết hợp của các dòng thuần
Bước 3: Kết hợp các dòng thuần để tạo ra con lai có ƯTL cao, (Ngô HữuTình, 1997)
Hiện nay các giống ngô lai quy ước được sử dụng rất rộng rãi trong sản xuất.Ví dụ: LVN-10, DK-888, LVN-98, LVN-4, LVN-17, C-919, LVN-
23 (ngô rau), LVN-24…
Trang 25Nhìn chung giống ngô lai qui ước có ưu điểm về năng suất, độ đồng đều
về dạng cây, dạng bắp Nhu cầu hạt giống ngô lai qui ước ở Việt Nam hiện nay là 3.000 – 4.000 tấn/năm
1.3 Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên Thế giới
* Tình hình sản xuất ngô trên Thế giới :
Sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, đặc biệt hơn 40 năm gần đây nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ thuật nông học tiên tiến và những thành tựu của các ngành khoa học khác như công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hoá, công nghệ tin học,…vào sản xuất Ngô là cây phân bố vào loại rộng rãi nhất trên Thế giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: từ dưới 400N (lục địa châu Úc, Nam châu Phi, Chi Lê,…) lên gần đến 550B (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông Vônga,…)
Từ độ cao 1-2 mét đến gần 4.000m so với mặt nước biển (Nguyễn ĐứcLương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh, 2000)
Theo số liệu của CIMMYT (1986) mức tăng trưởng bình quân hàng nă m của cây ngô trên toàn Thế giới về mặt diện tích là 0,7%, năng suất là 2,4% và sản lượng là 3,1% Tuy nhiên diện tích, năng suất, sản lượng ngô giữa các châu lục trên Thế giới có sự chênh lệch tương đối lớn được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản suất ngô của một số khu vực trên Thế giới giai
Trang 26Thế giới 161,10 159,53 51,28 51,21 826,22 817,11
Trang 27Châu Mỹ có năng suất cao nhất năm 2009 đạt 70,75 tạ/ha, đứng thứ hai là khu vực Châu Âu đạt 60,7 tạ/ha và thấp nhất là châu Phi đạt 18,72 tạ/ha (năm 2009) Sở dĩ Châu Phi có năng suất thấp chủ yếu là do khu vực này có điều kiện thời tiết bất thuận như: hạn hán, lũ lụt, biện pháp kỹ thuật canh tác chưa phù hợp
Châu Mỹ là khu vực dẫn đầu về sản lượng ngô trên toàn Thế giới, năm
2009 đạt 439,02 triệu tấn, chiếm 52,70% tổng sản lượng ngô toàn Thế giới, đứng thứ hai là khu vực Châu Á đạt 238,09 triệu tấn, chiếm 29,07% tổng sản lượng ngô toàn Thế giới Năm 2009 khu vực Châu Mỹ đạt 442,20 triệu tấn
đạt 233,63 triệu tấn, chiếm 25,19% tổng sản lượng ngô toàn Thế giới Ở các nước có nền kinh tế phát triển, có điều kiện thâm canh và sử dụng giống có
ưu thế lai nên năng suất cao, còn những nước nghèo đang phát triển do điều kiện kinh tế còn khó khăn và đầu tư thấp, chủ yếu sử dụng giống thụ phấn tự
do nên năng suất, sản lượng thấp (FAOSTAT, 2011)
Theo số liệu (FAOSTAT, 2011) hơn 40 năm qua, nghề sản xuất ngô trên Thế giới phát triển đáng kể, tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Theo thống kê của FAOSTAT năm 1961, diện tích ngô trên Thế giới đạt 105,5 triệu ha năng suất ngô trung bình đạt 19 tạ/ha, đến năm 2007 đạt diện tích 157,9 triệu ha, năng suất 49,7 tạ/ha và sản lượng 784,8 triệu tấn
Trang 28Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt, từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác đã góp phần đưa sản lượng ngô Thế giới vượt lên trên lúa mỳ và lúa nước Với 52% diện tích trồng bằng giống được tạo ra bằng công nghệ sinh học Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen trên Thế giới đạt 35,2 triệu ha, trong đó Mỹ có 27,4 triệu ha diện tích trồng ngô chuyển gen, chiếm 73% diện tích trồng ngô chuyển gen trên thế giới (GMO,COMPASS)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên Thế giới giai đoạn
2007 – 2009 Tên nước Diện tích
Mỹ 35,01 31,79 32,20 94,58 96,59 103,38 331,17 307,14 333,01
Ai Cập 0,775 0,819 0,835 80,46 79,80 81,43 6,24 6,54 6,80
Hy Lạp 0,237 0,240 0,240 10,00 103,00 98,00 2,37 2,47 2,35 Pháp 1,48 1,70 1,67 96,72 92,93 91,08 14,35 15,81 15,29 Canada 1,36 1,16 1,14 85,10 90,62 83,72 11,64 10,59 95,61 Hungary 1,07 1,19 1,17 37,32 74,65 63,94 4,02 8,89 7,52
Ấn Độ 8,11 8,30 8,40 23,35 23,77 20,59 18,95 19,73 17,30 Italy 1,05 0,991 0,915 93,12 95,72 98,60 9,80 9,49 7,87 Mexico 7,33 7,35 7,20 32,06 33,07 28,05 23,51 24,32 20,20 Philippines 2,64 2,66 2,68 25,43 26,03 26,20 6,73 6,92 7,03 Viet Nam 1,09 1,12 1,08 39,25 40,24 40,31 4,30 4,53 4,38
Nguồn: FAOSTAT, 1/2011
Trang 29Qua bảng 1.2 ta thấy Mỹ vẫn là nước có diện tích, năng suất, sản lượng ngô lớn nhất Thế giới
Năm 2009 diện tích trồng ngô của Mỹ là 32,20 triệu ha, năng suất đạt 103,38 tạ/ha, sản lượng đạt 333,01 triệu tấn Đứng thứ hai về diện tích và sản lượng là Trung Quốc, năm 2009 diện tích trồng ngô của Trung Quốc là 30,47 triệu ha, sản lượng đạt 163,11 triệu tấn tuy nhiên năng suất ngô của Trung Quốc so với Thế giới vẫn còn ở mức thấp
* Tình hình xuất nhập khẩu ngô Thế giới
Hàng năm, có khoảng 11,5% tổng sản lượng ngô được lưu thông trên thị trường Thế giới, với giá bình quân trên dưới 140 USD/tấn Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước sản xuất ngô như: Mỹ, Trung Quốc, Argentina, Hungari… (Ngô Hữu Tình, 2003) Sản lượng ngô xuất khẩu trên Thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu tấn, riêng Mỹ xuất khẩu khoảng 48,6 triệu tấn chiếm 64,41% tổng sản lượng, Argentina 9,5 triệu tấn Ngược lại, các nước nhập khẩu ngô chủ yếu là Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia với số lượng rất lớn khoảng hơn 30 triệu tấn Các nước Đông Nam Á cũng đang có xu hướng tăng nhập khẩu ngô
* Tình hình sử dụng ngô lai trên Thế giới
Ngô có vai trò rất lớn trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm, thức
ăn chăn nuôi, nguyên liệu chế biến và là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn lợi rất lớn Với sức ép của việc gia tăng dân số (khoảng trên 6,7 tỉ người trên trái đất hiện nay) làm cho diện tích trồng trọt giảm vì vậy để đảm bảo nhu cầu
sử dụng ngô của xã hội cần tăng năng suất cây trồng, ngô lai đã đáp ứng được yêu cầu này Do đó phát triển các giống ngô lai mới có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt trong sản xuất là xu thế chung và tất yếu của toàn Thế giới trong thế kỷ XXI
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực Thế giới
Trang 30trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16%
Trang 31dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỉ lệ này là 22% (IPRI,
chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á nhu cầu tăng 70% (Bảng 1.3), sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số Thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, nên nhu cầu thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng Thách thức lớn nhất là 80% nhu cầu ngô Thế giới tăng (266 triệu tấn), lại tập trung ở các nước đang phát triển, nhưng chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp có thể xuất sang các nước này Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình (IPRI, 2003)
Bảng 1.3: Dự báo nhu cầu ngô Thế giới đến năm 2020
Tuy nhiên sản lượng ngô xuất khẩu đang có xu hướng giảm tại Mỹ, Brazin, Achentina,…một số nước như Trung Quốc không xuất khẩu ngô vì trong những năm gần đây khi thế giới cảnh báo nguồn dầu mỏ đang cạn kiệt,
Trang 32thì ngô đã và đang được chế biến ethanol thay thế một phần nhiên liệu xăng,
Trang 33dầu chạy ô tô tại Mỹ, Braxin, Trung Quốc,…Năm 2002 – 2003 Mỹ đã dùng 25,2 triệu tấn ngô để chế biến ethanol, năm 2005 – 2006 dùng 40,6 triệu tấn
và dự kiến năm 2012 dùng 190,5 triệu tấn ngô (Viện Nghiên cứu ngô, 2008)
Như vậy, với tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu như hiện nay, nhu cầu
sử dụng ngô trong tương lai là rất lớn, đặc biệt là các nước phát triển và một số nước đang phát triển như Việt Nam Nhu cầu này được dự đoán là
có thể vượt qua nhu cầu của lúa nước và lúa mỳ
1.3.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội mới được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực Do có khả năng thích ứng rộng nên diện tích ngô được mở rộng nhanh chóng, cây ngô đã khẳng định
vị trí trong sản xuất nông nghiệp và trở thành là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa nước, đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam
Những năm trước đây do chưa được quan tâm, chú trọng phát triển nên cây ngô chưa phát huy được tiềm năng của nó Theo thống kê năng suất ngô Việt Nam những năm 1960 đến 1975 chỉ đạt 1,0 tấn/ha, sản lượng 280 nghìn tấn Đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng hơn 400 nghìn tấn, sản xuất ngô ở thời kỳ này phát triển chậm là do sử dụng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ sự hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, do không ngừng mở rộng diện tích trồng giống ngô lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1961 đến
2009 được thể hiện ở bảng 1.4
Trang 34Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961 – 2009
Trang 35tốc độ cao hơn trung bình Thế giới trong suốt hơn 20 năm qua Năm 1980,
Trang 36năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34% so với trung bình Thế giới nhưng đến năm 2009 đã đạt trên 81,0% Năm 1994, sản lượng ngô Việt Nam đạt 1,1 triệu tấn, đến năm 2009 diện tích trồng ngô của cả nước có giảm hơn nă m
2008 song năng suất đã được tăng lên 40,8 tạ/ha sản lượng đạt trên 4,4 triệu tấn Có thể nói tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam rất nhanh so với lịch sử phát triển ngô lai thế giới Đây là bước tiến vượt bậc so với một số nước trong vùng, kết quả này đã được CIMMIT và nhiều nước đánh giá cao Hiện nay có nhiều tỉnh diện tích trồng ngô lai đạt gần 100% như: Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn La, Hà Tây (Hà Nội mở rộng ngày nay), Bắc Ninh, Vĩnh Phúc…
Ở nước ta cây ngô được trồng khắp các vùng trong cả nước với nhiều
vụ khác nhau, sản xuất phụ thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu của từng vùng Sản xuất ngô ở Việt Nam được chia thành 8 vùng trồng ngô chính như sau:
Vùng Đông Bắc: diện tích ngô khoảng 236 nghìn ha, ngô được trồng ở
độ cao 300 – 900m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Xuân, gieo vào tháng 2, tháng 3
Vùng Tây Bắc: diện tích khoảng 172 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao
600 – 1000m so với mặt nước biển, Vụ chính là vụ Hè Thu, gieo vào tháng 4, đầu tháng 5
Vùng Đồng bằng Sông Hồng: diện tích khoảng 84,7 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao 0 – 200m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Xuân, gieo vào tháng 2 , vụ Thu gieo tháng 8, vụ Đông gieo tháng 9, đầu tháng 10
Vùng Bắc Trung Bộ: diện tích khoảng 137,3 nghìn ha, ngô được trồng
ở độ cao 0 – 200m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Xuân, gieo vào tháng
1, tháng 2, vụ Đông gieo tháng 10
Vùng Tây Nguyên: diện tích khoảng 233,4 nghìn ha, ngô được trồng ở
độ cao 400 – 900m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Hè Thu, gieo vào tháng 4, đầu tháng 5
Trang 37Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ: diện tích khoảng 42,1 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao 0 – 1000m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Hè Thu, gieo vào tháng 4, vụ Đông gieo vào tháng 11, tháng 12
Vùng Đông Nam Bộ: diện tích khoảng 126,1 nghìn ha, ngô được trồng
ở độ cao 0 – 400m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Hè Thu, gieo vào tháng 4, vụ Đông gieo vào tháng 11, tháng 12
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: diện tích 36,3 nghìn ha, ngô được trồng ở độ cao 0 – 10m so với mặt nước biển Vụ chính là vụ Đông gieo vào tháng 11, tháng 12
Ở mỗi vùng trồng ngô có đặc điểm về địa hình, đất đai, điều kiện khí hậu khác nhau Các vùng ở miền núi, chủ yếu trồng ngô trên đất đồi, đất ruộng luân canh, nơi địa hình không bằng phẳng, do vậy sản xuất ngô còn gặp nhiều khó khăn Tình hình sản xuất ngô tại các vùng miền núi phía Bắc được thể hiện qua bảng 1.5
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn
Trang 38Lạng Sơn 19,1 20,7 20,2 46,6 46,0 46,0 89,0 95,2 92,9
Trang 39Bắc Giang 14.2 15,6 12,2 35,0 32,7 34,1 49,7 51,0 40,9
Phú Thọ 21,6 23,1 16,4 38,1 37,7 38,7 82,2 89,5 63,4 Điện Biên 27.3 28,7 29,5 20,7 22,1 22,8 56,5 63,5 67,4 Lai Châu 17,8 17,8 18,4 21,1 22,0 22,2 37,5 39,2 42,1
Sơn La 117,8 114,2 132,1 37,7 38,6 39,7 444,0 441,3 524,3
Hoà Bình 34,0 35,9 34,0 36,4 39,3 40,1 123,7 141,1 136,5
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011)
Qua bảng 1.5 chúng ta thấy Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình, Sơn
La là các tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất trong khu vực, trong đó Sơn La có diện tích tăng từ 117,8 nghìn ha (năm 2007) lên 132,1 nghìn ha (năm 2009) Hà Giang là tỉnh có diện tích trồng ngô đứng thứ hai: 46,8 nghìn ha (năm 2009) Tỉnh có diện tích ngô thấp nhất là Bắc Giang chỉ có 12,2 nghìn ha (năm 2009) Nhìn chung diện tích trồng ngô của các tỉnh đều tăng chậm
Mặc dù các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình có diện tích trồng ngô lớn nhưng năng suất không cao Nơi có năng suất ngô cao nhất là Lạng Sơn đạt 46,0 tạ/ha, Tuyên Quang 42,3, Sơn La đạt 39,7 tạ/ha, Hòa Bình đạt 40,0tạ/ha (năm 2009) Nơi có năng suất ngô thấp nhất là tỉnh Lai Châu chỉ đạt 22,2 tạ/ha (năm 2009)
Một số tỉnh có sản lượng ngô lớn như: Hà Giang 121,4 nghìn tấn, Cao Bằng 111,0 nghìn tấn, Sơn La 524,3 nghìn tấn, Hoà Bình 136,5 nghìn tấn (2009).(Tổng cục thống kê, 2011)
Hiện nay các giống ngô được sử dụng chủ yếu trong sản xuất ở các tỉnh miền núi là giống ngô địa phương, giống thụ phấn tự do, giống lai Tuy nhiên diện tích trồng giống ngô lai còn rất ít và đang dần được mở rộng nhờ các chính sách quan tâm, ưu đãi của Nhà nước Định hướng phát triển ngô ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian tới là qui hoạch lại vùng trồng ngô lai,
Trang 40vùng trồng giống ngô thụ phấn tự do cải tiến phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Mặc dù có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng sản xuất ngô ở Việt Nam nhưng từ những kết quả đã đạt được chúng ta vẫn có thể khẳng định sản xuất ngô của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1985 – 2009 đã có sự phát triển vượt bậc Sở dĩ chúng ta đạt được những thành quả to lớn trong phát triển sản xuất ngô là do Đảng, Chính phủ, Bộ NN&PTNN đã thấy được vai trò của cây ngô trong nền kinh tế, kịp thời đưa ra những chính sách, chương trình và biện pháp phù hợp nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học -
kỹ thuật và mở rộng sản xuất Ngoài ra còn do các nhà khoa học đã đưa nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt về giống mới vào sản xuất Các thế
hệ giống tốt thay thế nhau qua từng giai đoạn lịch sử: giống thụ phấn tự do tốt thay cho các giống địa phương năng suất thấp, giống lai quy ước thay các giống lai không quy ước, lai đơn thay dần cho lai kép, lai ba…Trong quá trình đổi mới này phải kể đến tác động to lớn của đường lối hội nhập, đa dạng và
đa phương hoá quan hệ của Đảng và Nhà nước Kết quả là rất nhiều công ty lớn của nước ngoài đã vào cuộc, tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển của nền kinh tế Riêng đối với ngành sản xuất ngô, các công ty lớn như:
CP Seed, Bioseed, Syngenta, Monsanto… đã kịp thời cùng với các cơ quan nghiên cứu và sản xuất giống ngô Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất, kể cả những vùng sâu, vùng xa Không thể không kể đến vai trò của những người nông dân với trình độ dân trí rất cao, đã tiếp thu và ứng dụng nhanh chóng những tiến bộ kỹ thuật với những cải tiến rất hiệu quả, phù hợp cho từng địa phương đã làm tăng thêm sự ưu việt của những tiến bộ kỹ thuật
Ở nước ta, ngô lai được đưa vào sản xuất rất muộn nhưng đã có những bước đi vững chắc Trình độ nghiên cứu lai tạo giống ngô của Việt Nam đã đuổi kịp các nước bạn trong khu vực và một số nước phát triển trên thế giới Chúng ta đã tạo ra hàng loạt các giống ngô lai có năng suất cao, chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng sinh thái như: LVN-10,