Việc ghi nhận và cho phép thực hiện các hoạt động khuyến mại là một trong nhữngđiểm nhấn lớn trong các chính sách đổi mới của pháp luật về kinh tế thị trường ở nước ta,đây cũng là bước c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Tháng 12/ 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa ứng dụng của đề tài 3
5 Bố cục của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHUYẾN MẠI 4
1.1 Khái niệm khuyến mại và hoạt động khuyến mại 4
1.1.1 Khái niệm khuyến mại 4
1.1.2 Khái quát về hoạt động khuyến mại 5
1.2 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động khuyến mại 6
1.2.1 Vai trò của hoạt động khuyến mại 6
1.2.1.1 Vai trò của hoạt động khuyến mại đối với thương nhân 6
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động khuyến mại đối với người tiêu dùng 6
1.2.2 Ý nghĩa của pháp luật về hoạt động khuyến mại 7
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam 7
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM 9
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động khuyến mại 9
2.1.1 Đối tượng của hoạt động khuyến mại 9
2.1.2 Các nguyên tắc khi áp dụng khuyến mại 10
2.1.3 Các hình thức khuyến mại theo quy định pháp luật hiện hành 11
2.1.4 Trình tự, thủ tục đăng ký áp dụng khuyến mại 12
2.1.5 Đánh giá chung về chế định khuyến mại theo pháp luật hiện hành 13
2.2 Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về khuyến mại tại Việt Nam 14
2.2.1 Tổng quan về thực tiễn thi hành pháp luật khuyến mại tại Việt Nam 14
2.2.2 Đánh giá hoạt động thi hành pháp luật về khuyến mại tại Việt Nam 18
2.2.2.1 Kết quả đạt được 18
2.2.2.2 Một số vướng mắc, bất cập 18
Trang 32.2.2.3 Nguyên nhân của những bất cập và vướng mắc 19
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN MẠI TẠI VIỆT NAM 21
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật khuyến mại tại Việt Nam 21
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật khuyến mại tại Việt Nam 21
3.3 Kiến nghị hoàn thiên để tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật 23
KẾT LUẬN 25
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ thời điểm bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển kinh tế, Đảng và Nhànước ta đã có những chỉ đạo sâu sắc về việc chú trọng tăng trưởng nền kinh tế nước nhàtheo hướng thương mại hóa, xem trọng tầm quan trọng của các dịch vụ, đặc biệt là muabán hàng hóa để nâng cao sự lưu thông sản phẩm qua đó đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng cũng như đóng góp vào chỉ số phát triển kinh tế của đất nước Để thực hiện nhiệm
vụ này, các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành với những nộidung quy định cụ thể trong đó chú trọng các biện pháp thúc đẩy kinh tế phát triển Xuấtphát từ mục đích này, Nhà nước đã xây dựng được hành lang pháp lý vững chắc cho cácdoanh nghiệp, tổ chức và cá nhân mua bán hàng hóa được phép thực hiện các hoạt độngkhuyến mại trong hoạt động mua bán của mình
Việc ghi nhận và cho phép thực hiện các hoạt động khuyến mại là một trong nhữngđiểm nhấn lớn trong các chính sách đổi mới của pháp luật về kinh tế thị trường ở nước ta,đây cũng là bước chuyển mình quan trọng từ nền kinh tế Nhà nước bao cấp sang nền kinh
tế mà tại đó các thương nhân được quyền tự do thực hiện các hoạt động tăng trưởng thúcđẩy kinh tế thương mại theo quy định pháp luật
Liên quan đến các hoạt động khuyến mại, là thuật ngữ pháp lý được được biết đếnrộng rãi hơn khi Nhà nước ta ban hành và thực hiện Luật thương mại 2005 Trải qua gầnhai thập kỷ được ban hành, các quy định pháp luật về khuyến mại theo Luật thương mại
2005 đã chứng minh được vai trò quan trọng của mình trong việc thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế nước nhà trong lĩnh vực thương mại, mua bán hàng hóa Mặc dù vậy, cácquy định pháp luật cùng với sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ xã hội trong lĩnhvực thương mại đã không ngừng đặt ra những vấn đề về đổi mới, sửa đổi, bổ sung cácquy định về khuyến mại này để phù hợp với yêu cầu thực tế
Vậy các quy định pháp luật về khuyến mại hiện nay như thế nào? Thực tiễn áp dụngcác quy định pháp luật về khuyến mại tại Việt Nam ra sao? Tại nội dung của đề án mônhọc Luật thương mại này, tác giả sẽ tiến hành phân tích làm rõ những vấn đề nêu trênnhằm cung cấp được những kiến thức mang tính chất tham khảo cho các tác giả cũng nhưcác công trình nghiên cứu có nội dung liên quan
Trang 52 Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trong nội dung đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung làm rõ các nội dung liênquan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động khuyến mại ở Việt Nam nóichung Việc phân tích, nghiên cứu sẽ căn cứ trên thực tiễn các số liệu và dẫn chứng vềhoạt động khuyến mại tại Việt Nam trong những năm gần đây
Từ việc phân tích những ưu điểm và hạn chế trong việc thực hiện các quy định phápluật về khuyến mại ở Việt Nam như đã được nêu trên đây, tác giả sẽ tiến hành đưa ranhững bình luận, nhận xét về các vấn đề này, từ đó có thể xây dựng những kiến nghị hoànthiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động để đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của đề án này là chế định pháp luật về hoạtđộng khuyến mại hiện nay tại Việt Nam Theo đó, các nội dung được nghiên cứu sẽ baogồm đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng và các hình thức khuyến mại được phép hoặckhông được phép thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành
Ngoài đối tượng nghiên cứu là các chế định quy phạm pháp luật về khuyến mại như
đã được nêu trên đây, đề tài nghiên cứu này còn hướng đến đối tượng nghiên cứu là việcthực hiện, tuân thủ pháp luật khuyến mại vào thực tiễn tại Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vàothực tiễn thi hành các quy định pháp luật khuyến mại trên địa bàn thành phố lớn là thànhphố Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Tác giả tiến hành việc thu thập các thông tin liênquan đến đề tài nghiên cứu về thực tiễn áo dụng các hình thức khuyến mại tại Việt Nam,trong đó chủ yếu tập ở các trung tâm thương mại dịch vụ lớn nhất cả nước là thành phố
Hà Nội trong hai năm gần đây là từ năm 2020 - 2022 Bên cạnh tính thực tiễn vì thời gianthu thập thông tin diễn ra gần đây, giai đoạn năm 2020 đến năm 2022 là một trong nhữnggiai đoạn đặc biệt đối với đất nước ta nói riêng và toàn thế giới nói chung khi dịch bệnhCovid 19 bùng phát và diễn biến vô cùng phức tạp
Trang 64 Ý nghĩa ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu và có được sản phẩm nghiên cứu đề tài hoàn thiện góp phần đónggóp vào các tài liệu để các tác giả và người nghiên cứu, áp dụng pháp luật liên quan đếncác hoạt động khuyến mại có thể tham khảo
Ngoài ra, những đề xuất hoàn thiện được nêu ra trong đề tài này đóng vai trò nhậnđịnh được những hạn chế cũng nêu ra tính cấp thiết của việc sửa đổi, hoàn thiện các quyđịnh pháp luật trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển cũng như lĩnh vực thươngmại nói chung và các hoạt động khuyến mại phát triển vững mạnh tại nước ta trong tươnglai
5 Bố cục của đề tài
Kết cấu của đề tài nghiên cứu này gồm ba phần là phần mở đầu, phần nội dung vàphần kết luận Phần nội dung của đề tài nghiên cứu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động khuyến mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về khuyến mại và thực tiễn thi hành tại Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật khuyến mại tại Việt Nam.
Trang 7NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHUYẾN MẠI
1.1 Khái niệm khuyến mại và hoạt động khuyến mại
1.1.1 Khái niệm khuyến mại
Trước khi đi vào nghiên cứu các nội dung liên quan của đề tài nghiên cứu về thựctiễn thi hành pháp luật khuyến mại tại Việt Nam, các khái niệm và nội dung lý luận xungquanh đề tài nghiên cứu cần được làm rõ
Vậy thế nào là khuyến mại? Khái niệm khuyến mại được nêu rõ tại khoản 1 Điều 88
Luật thương mại 2005 với nội dung như sau “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương
mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” Như vậy thông qua quy định này có thể
làm rõ khái niệm khuyến mại trên các phương diện về hình thức, chủ thể thực hiện vàmục đích thực hiện khuyến mại Cụ thể, khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mạiđược thực hiện bởi chủ thể là thương nhân Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, không phảibất kỳ thương nhân nào cũng được thực hiện hoạt động khuyến mại Theo đó, chỉ nhữngchủ thể là thương nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật thương mại 2005 mớiđược thực hiện hoạt động khuyến mại bao gồm:
- Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh;
- Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa,dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó
Đồng thời, thông qua khái niệm khuyến mại được nêu trên đây cũng làm rõ đượcmục đích của khuyến mại là nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụbằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Đối tượng hướng đến của cáchoạt động khuyến mại chính là nhóm khách hàng có mong muốn được hưởng các lợi ích
từ các hoạt động khuyến mại này Chính mục đích của khuyến mại là điểm đặc trưng rấtlớn để phân biệt hoạt động này với hoạt động khuyến mãi, theo đó hoạt động khuyến mạicũng dành ra những lợi ích nhất định cho khách hàng nhưng nếu xem xét một cách thấuđáo thì người được lợi trong các hoạt động khuyến mãi không phải là khách hàng mà làngười bán hàng hóa
Trang 8Khuyến mại là một trong số bốn hình thức xúc tiến thương mại được quy định tạiLuật thương mại 2005 và là một trong những hình thức được các thương nhân sử dụngphổ biến trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình Ngày nay, với xu hướng tăngcường phát triển kinh tế thông qua các hoạt động thúc đẩy mua sắm, đặc biệt là khoảngthời gian sau đại dịch Covid 19, các hoạt động khuyến mại đang được Nhà nước khuyếnkhích các doanh nghiệp thực hiện.
1.1.2 Khái quát về hoạt động khuyến mại
Trên cơ sở khái niệm khuyến mại như đã được trình bày, có thể khái quát nhận thứcchung về hoạt động khuyến mại là những hoạt động cung cấp các chương trình mua bánhàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ mà so với những hoạt động mua bán hàng hóa hoặc cungứng dịch vụ tương đương khi không áp dụng khuyến mại là không có lợi hơn cho kháchhàng sử dụng Hoạt động khuyến mại được thực hiện bởi thương nhân trực tiếp sản xuấthàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc những thương nhân được trao quyền khuyến mại từthương nhận trực tiếp sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ nêu trên
Bên cạnh những hạn chế về chủ thể được quyền thực hiện các hoạt động khuyếnmại, cũng cần có nhận thức rõ ràng rằng, không phải tất cả các mặt hàng hóa và dịch vụđều có thể áp dụng hoạt động khuyến mại Theo đó, thương nhân chỉ được thực hiện cáchoạt động khuyến mại đối với những hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng cấm kinhdoanh theo quy định pháp luật hiện hành Mức khuyến mại đối với những hàng hóa vàdịch vụ được phép áp dụng cũng phải tuân thủ theo các quy định pháp luật liên quan.Như vậy, có thể nhận định rằng, hoạt động khuyến mại là một trong những hoạtđộng trong cơ chế chung mang tính thương mại hiện nay tại Việt Nam Hoạt động khuyếnmại được đặt dưới sự điều chỉnh của nhà nước và tuân thủ các chế định pháp luật đặc thù.Trên thực tế khi áp dụng vào thực tế, các hoạt động khuyến mại này đã đem lại rất nhiềuvai trò và ý nghĩa tích cực cho mục tiêu phát triển kinh tế nói chung
Phần dưới đây của đề tài sẽ trình bày cụ thể nội dung về vai trò và ý nghĩa của hoạtđộng khuyến mại
Trang 91.2 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động khuyến mại
1.2.1 Vai trò của hoạt động khuyến mại
1.2.1.1 Vai trò của hoạt động khuyến mại đối với thương nhân
Có thể khẳng định rằng, hoạt động khuyến mại là một trong những công cụ hiệu quả
để các thương nhân đánh dấu sự xuất hiện một cách ấn tượng khi mới xuất hiện trên thịtrường Từ thực tế áp dụng các hoạt động khuyến mại trên thị trường, có thể nhận thấyrằng, hầu hết các thương hiệu nổi tiếng bao gồm những thương hiệu nước ngoài đều sửdụng các hoạt động khuyến mại khi mới bắt đầu kinh doanh tại một địa điểm Cho nên,các hoạt động khuyến mại nhìn chung có tạo được hiệu ứng tích cực cho các sản phẩmmới ra mắt trên thị trường để đón nhận được sự ủng hộ của người tiêu dùng Bởi lẽ, thóiquen tiêu dùng là một trong những yếu tố tâm lý khó để thay đổi nếu không có nhữngcách thức tác động gây ảnh hưởng tích cực Việc áp dụng khuyến mại của các thươngnhân sẽ góp phần thay đổi xu hướng sử dụng sản phẩm của một bộ phận người tiêu dùng.Như vậy, bước đầu các hoạt động khuyến mại là công cụ cần thiết trong việc tạo dấu ấncho hàng hóa lạịch vụ của thương nhân trên thị trường, giúp cho thương nhân xâm nhậpthị trường một cách nhanh chóng Đồng thời, thông qua hoạt động khuyến mại, cácthương nhân cũng có thể nhanh chóng xây dựng một cách vững chắc vị trí của mình trênthị trường cung ứng hàng hóa và dịch vụ
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động khuyến mại đối với người tiêu dùng
Ngoài vai trò tác động đối với thương nhân như đã trình bày trên đây, hoạt độngkhuyến mại còn có những vai trò to lớn đối với người tiêu dùng, đặc biệt là trong giaiđoạn lạm phát khiến giá các loại hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng cao Hoạt độngkhuyến mại đem lại những lợi ích vật chất ngắn hạn cho người tiêu dùng, điều này trongmột chừng mực nhất định thỏa mãn các nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng Những lợiích mà hoạt động khuyến mại đối với người tiêu dùng có thể là các quả tặng hoặc việcmua hàng hóa với giá cả hợp lý nhất so với những điều kiện kinh tế mà người tiêu dùngđang có Về lâu dài, các hoạt động khuyến mại thường xuyên của thương nhân còn gópphần cải thiện đời sống của đa số người tiêu dùng Như vậy, có thể nhận thấy, trong ngắnhạn và dài hạn, hoạt động khuyến mại có vai trò quan trọng thúc đấy đời sống của ngườitiêu dùng phát triển theo hướng đầy đủ hơn
Trang 101.2.2 Ý nghĩa của pháp luật về hoạt động khuyến mại
Về khái niệm, pháp luật về hoạt động khuyến mại là các quy phạm pháp luật để điềuchỉnh các hoạt động khuyến mại của thương nhân trên thực tế Qua phân tích các vai tròcủa hoạt động khuyến mại tại phần trên đây, có thể nhận thấy, hoạt động khuyến mại có ýnghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế và điều tiết đời sống của nhân dân Theo đó,thông qua hoạt động khuyến mại, các doanh nghiệp và thương nhân mới được tạo cơ hộigia nhập vào thị trường cung ứng hàng hóa và dịch vụ tại Việt Nam Pháp luật khuyếnmại có ý nghĩa tạo được hành lang pháp lý vững chắc trong việc điều chỉnh các hoạt độngkhuyến mại của các thương nhân trong giới hạn cho phép Sở dĩ nhận định như trên là bởi
vì, nếu các hoạt động khuyến mại không được kiểm soát một cách chặt chẽ với nhữngtrình tự, thủ tục và điều kiện luật định thì việc tổ chức các hoạt động khuyến mại của cácthương nhân trên thực tế sẽ trong tình trạng tự phát, mất kiểm soát biến hoạt động khuyếnmại chỉ là chiêu trò câu khách mà không mang lại bất kỳ giá trị hay lợi ích thực chất nàocho khách hàng
Pháp luật liên quan đến hoạt động khuyến mại tạo cơ hội nhưng cũng đặt ra nhữngràng buộc cho các thương nhân khi áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến hoạtđộng này trên thị trường Pháp luật khuyến mại đề cao sự trung thực của các thương nhântrong thị trường cung ứng hàng hóa, dịch vụ và đồng thời thông qua các quy định về hoạtđộng khuyến mại bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Nhìn chung pháp luật về các hoạt động khuyến mại tại nước ta được hình thành từkhá sớm Để hiểu thêm về nguồn gốc, sự hình thành cũng như phát triển của các hoạtđộng khuyến mại tại Việt Nam, phần dưới đây của đề tài sẽ trình bày cụ thể hơn về vấn đềnày
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam
Mặc dù là một hình thức hoạt động xúc tiến thương mại có lịch sử ra đời từ khásớm, tuy nhiên chỉ từ sau khi đất nước ta trải qua những biến động chiến tranh và suythoái kinh tế, Nhà nước bắt đầu chú trọng hơn việc hội nhập kinh tế bằng việc phát triểnmạnh mẽ các hoạt động kinh tế thương mại thì các định chế hoạt động xúc tiến thươngmại nói chung và quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại nói riêng mới bắt đầu đượcban hành và xây dựng Kể từ sau thời điểm Chính phủ bắt đầu những hoạt động để gianhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các quy phạm pháp luật thương mại mang tínhcởi mở và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài thì cũng là thời điểm
Trang 11Chính phủ ta xem xét tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển,hạn chế trình trạng của nền kinh tế tập trung bao cấp của Nhà nước trước đây, LuậtThương mại năm 1997 đã ra đời và là văn bản đầu tiên ghi nhận các nội dung liên quanđến xúc tiến thương mại cũng như hoạt động khuyến mại nói chung Những quy định vềhoạt động khuyến mại tại Luật thương mại năm 1997 thể hiện sự nổ lực hoàn thiện vàphát triển kinh tế trong thời điểm hội nhập kinh tế mạnh mẽ của thế giới.
Trải qua thời gian áp dụng, những quy định của Luật thương mại 1997 bộc lộ nhữngđiểm chưa phù hợp với thực tế Các quy định về hoạt động khuyến mại trong giai đoạnnày cũng khá đơn giản, không đáp ứng hết các nhu cầu điều chỉnh của nền kinh tế thịtrường đang không ngừng đổi mới của đất nước ta lúc bấy giờ Đáp ứng điều kiện hoànthiện pháp luật, Luật thương mại năm 2005 đã được ban hành, là văn bản pháp luật đượcđánh giá là hoàn thiện và có những nội dung tương đồng với các điều ước quốc tế khá lớn
Để bổ sung và làm rõ các quy định về hoạt động khuyến mại tại Luật thương mại 2005.Nhà nước ta đã ban hành các văn bản dưới luật quy định cụ thể các nội dung liên quan đốivới hoạt động khuyến mại này Theo đó, các nội dung của hoạt động khuyến mại đượcquy định chi tiết tại Chương II Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, Nghị định số 68/2009/NĐ-
CP, ngoài ra được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC ngày 06tháng 7 năm 2007 của Bộ Công Thương, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều
về khuyến mại và hội chợ, triển lãm thương mại quy định tại Nghị định số
37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạtđộng xúc tiến thương mại sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BTM-BTC)
Cho đến nay, các quy định về hoạt động khuyến mại nói chung tại Luật Thương mại
và các văn bản hướng dẫn vẫn còn nguyên giá trị và tính khả thi khi áp dụng vào thực tế
Có thể nói rằng, các quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại tại Luật thương mạinăm 2005 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành là một trong những nội dung quyđịnh pháp luật ít bị thay đổi nhất so với các văn bản pháp luật khác Đến nay, các nộidung quy định pháp luật về hoạt động thương mại này đã được áp dụng vào thực tế hơnmười lăm năm và vẫn đang tiếp tục khẳng định tính phù hợp với thể chế và nền kinh tếnước ta
Pháp luật về các hoạt động khuyến mại tạo ra những động lực thực tế trong việc pháttriển các hoạt động khuyến mại tại Việt Nam Để hiểu rõ thêm các quy định liên quan đến
Trang 12hoạt động khuyến mại tại Luật thương mại năm 2005, chương tiếp theo của đề tài sẽ trìnhbày cụ thể thực trạng quy định pháp luật liên quan đến nội dung này.
Trang 13Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động khuyến mại
2.1.1 Đối tượng của hoạt động khuyến mại
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật thương mại 2005 thì “Hàng hóa, dịch vụ
được khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó” Cần phải nhận thức rõ rằng,
không phải tất cả các đối tượng hàng hóa và dịch vụ nào cũng là đối tượng được áp dụngcác quy định pháp luật về khuyến mại hàng hóa Theo đó, các thương nhân chỉ được kinhdoanh và áp dụng đối các loại hàng hóa và dịch vụ được phép lưu hành, sử dụng theo quyđịnh pháp luật Việt Nam1 Đối với các hàng hóa không được phép sử dụng, lưu hành tạiViệt Nam thì đây không phải là đối tượng được phép áp dụng các quy định về khuyến mạitheo quy định pháp luật thương mại Việc tổ chức khuyến mại các hàng hóa và dịch vụ bịcấm không là đối tượng được xác định trong cơ chế điều chỉnh của các quy định pháp luậtthương mại về hoạt động khuyến mại hiện hành Quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm
2020 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành quy đinh các hàng hóa, dịch vụ bị cấm đầu
tư, kinh doanh Để làm rõ hơn các đối tượng áp dụng hoạt động khuyến mại, Khoản 1
Điều 5 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định “Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không
bao gồm rượu, xổ số, thuốc lá, sữa thay thế sữa mẹ, thuốc chữa bệnh cho người kể cả các loại thuốc đã được phép lưu thông theo quy định của Bộ Y tế (trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc) dịch vụ khám, chữa bệnh của cơ sở y tế công lập, dịch vụ giáo dục của cơ sở công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hàng hóa, dịch vụ bị cấm lưu hành tại Việt Nam và các hàng hóa, dịch vụ khác bị cấm khuyến mại theo quy định của pháp luật” Từ những phân tích nêu trên có thể khẳng định, đối tượng
quyền khuyến mại theo quy định pháp luật là những hàng hóa hợp pháp mà thương nhân
có hoạt động khuyến mại đang kinh doanh
Hoạt động khuyến mại là hoạt động được sự điều chỉnh chặt chẽ bởi Luật thươngmại và các văn bản pháp luật hướng dẫn Do vậy, việc áp dụng các hoạt động khuyến mạitrên thực tế cũng cần phải đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật Nhìn chung để
đủ điều kiện áp dụng các hoạt động khuyến mại theo quy định pháp luật, thương nhânphải đáp ứng một số yêu cầu cần thiết như:
Trang 14- Hoạt động khuyến mại tuân thủ nguyên tắc chung khi thực hiện trên thực tế Cácnguyên tắc khi áp dụng khuyến mại là những nguyên tắc có giá trị khung điềuchỉnh việc áp dụng pháp luật khuyến mại Đây là những nội dung mà thương nhânbuộc phải đáp ứng đầu tiên nếu muốn áp dụng các hình thức khuyến mại cho hànghóa của mình
- Điều kiện về hình thức khuyến mại Nhìn chung, các hoạt động khuyến mại phảituân thủ theo một hình thức khuyến mại nhất định Khi lựa chọn hình thức khuyếnmại cần thực hiện, thương nhân sau đó phải đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quyđịnh pháp luật của hình thức khuyến mại này
- Ngoài những điều kiện về nội dung như đã được trình bày trên đây, thương nhânmuốn áp dụng hoạt động khuyến mại trong quá trình kinh doanh dịch vụ, hàng hóacủa mình còn phải đáp ứng các điều kiện về thủ tục, trình tự thực hiện để được phêduyệt các hoạt động khuyến mại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Các nội dung liên quan đến điều kiện áp dụng hoạt động khuyến mại của thươngnhân theo quy định pháp luật được nêu trên sẽ được trình bày cụ thể hơn trong phần dướiđây của đề tài nghiên cứu
2.1.2 Các nguyên tắc khi áp dụng khuyến mại
Như đã phân tích trên đây, khuyến mại là một hình thức xúc tiến thương mại đượcpháp luật ghi nhận và cho phép các thương nhân thực hiện trong quá trình kinh doanh,mua bán hàng hóa của mình Tuy nhiên, cần phải nhận thức được rằng, việc thực hiện cáchình thức khuyến mại phải tuân theo các nguyên tắc theo quy định pháp luật hiện hành.Căn cứ Điều 3 Nghị định 81/2018/NĐ-CP thì việc thực hiện các hình thức khuyến mạituân theo những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, côngkhai, minh bạch và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thươngnhân, tổ chức hoặc cá nhân khác;
Thứ hai, thương nhân thực hiện Chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điềukiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyếtcác khiếu nại (nếu có) liên quan đến chương trình khuyến mại;
Thứ ba, thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượnghàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại Việc đảm
Trang 15bảo này được thực hiện trên cơ sở đảm bảo loại hàng hóa được khuyến mại không viphạm khoản 2 Điều 5 Nghị định này mà mức hàng hóa được dùng để khuyến mại phảiphù hợp với quy định pháp luật.
Thứ tư, việc thực hiện khuyến mại phải đảm bảo không đưa ra điều kiện để kháchhàng được hưởng khuyến mại là phải từ bỏ, từ chối hoặc đổi hàng hóa, dịch vụ củathương nhân, tổ chức khác và không có sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mìnhvới hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác
Cuối cùng, không được sử dụng kết quả xổ số để làm kết quả xác định trúng thưởng,làm căn cứ để tặng, thưởng trong các chương trình khuyến mại theo hình thức quy địnhtại Khoản 5, Khoản 6 và Khoản 9 Điều 92 Luật thương mại
Như vậy, thông qua các nội dung được nêu trên đây có thể khẳng định rằng cácthương nhân có quyền tự do lựa chọn và thực hiện hình thức khuyến mại phù hợp với loạihình và mục đích kinh doanh hàng hóa của mình tuy nhiên phải tuân thủ các điều kiện vềnguyên tắc khuyến mại theo quy đinh pháp luật Hiện nay, pháp luật quy định nhiều hìnhthức khuyến mại Để có cái nhìn đa chiều hơn về các hình thức khuyến mại này, nội dungnày sẽ được trình bày cụ thể hơn trong phần dưới đây của đề tài nghiên cứu
2.1.3 Các hình thức khuyến mại theo quy định pháp luật hiện hành
Bên cạnh những nguyên tắc chung cần tuân thủ khi thực hiện hoạt động khuyến mạinhư đã được trình bày trên đây, các thương nhân còn có nghĩa vụ tuân thủ các yêu cầu cụthể đối với từng hình thức khuyến mại Theo đó, căn cứ quy định tại Điều 92 Luật thươngmại 2005 thì hiện nay có các hình thức khuyến mại bao gồm:
- Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trảtiền
- Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền
- Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụtrước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo.Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mạitheo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ
- Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ đểkhách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định