1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề án Luật Thương Mại: Pháp luật về thương mại điện tử ở việt nam thực trạng và định hướng hoàn thiện

37 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án Luật Thương Mại: Pháp luật về thương mại điện tử ở việt nam thực trạng và định hướng hoàn thiện
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 312 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án Luật Thương Mại: Pháp luật về thương mại điện tử ở việt nam thực trạng và định hướng hoàn thiện bản nôp đã được chỉnh sửa bởi giảng viên . Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu, tuy hiện nay đang áp dụng chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển nhưng các nước đang phát triển cũng bắt đầu tham gia.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

ĐỀ ÁN MÔN HỌC LUẬT THƯƠNG MẠI

Đề tài: PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

Hà Nội, năm 2023

Trang 2

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

1.1.2 Phân loại thương mại điện tử

1.1.2.1 Phân loại theo đối tượng giao dịch

a Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp

b Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng

c Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và Chính phủ

d Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng và Chính phủ

e Thương mại điện tử trong nội bộ doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại theo hình thức giao dịch

a Thư tín điện tử

b Thanh toán điện tử (electronic payment):

c Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)

d Giao gửi số hoá các dung liệu (digital delivery of content)

e Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods)

1.2 LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.2.1 Lợi ích đối với Doanh nghiệp

1.2.2 Lợi ích đối với người tiêu dùng

1.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỰC TRẠNG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

Trang 3

2.1 Hệ thống pháp luật về thương mại điện tử của Việt Nam

2.2 Thực trạng giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam

2.2.1 Tiềm năng thị trường giao dịch Thương mại điện tử tại Việt Nam.

2.2.2 Những thách thức và rào cản đối với giao dịch thương mại điện tử trong nước.

2.2.2.1 Thị trường hàng hoá nhiều sức hút của nước ngoài

2.2.2.2 Môi trường cạnh tranh khốc liệt

2.2.2.3 Sự e ngại và vẫn còn thiếu tin tưởng của người tiêu dùng 2.2.2.4 Không chú trọng hoạt động nghiên cứu thị hiếu khách hàng trong nước lẫn nước ngoài

2.2.2.5 Cơ sở hạ tầng công nghệ chưa tốt

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI

3.1 Dự báo sự phát triển của thương mại điện tử

3.1.1 Nhu cầu của thế giới

3.1.2 Nhu cầu của Việt Nam

3.2 Một số kiến nghị và giải pháp phát triển thương mại điện tử ở việt nam

3.2.1 Xây dựng hạ tầng cơ sở pháp lý

3.2.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng

3.2.2.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

3.2.2.2 Bảo vệ người tiêu dùng.

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010 - 2020 do Ban chấp hành Trungương Đảng khoá XII báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

đã xác định rõ tính tất yếu của xu thế hội nhập kinh tế cùng với những cơ hội cũng

như thách thức của hội nhập: "Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn

các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế… Các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình; đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để vươn lên Toàn cầu hoá kinh tế

và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lí của các cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia…"

Đối mặt với những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ViệtNam cần có những chính sách, định hướng phát triển như thế nào để tận dụng được

cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế, tránh nguy

cơ tụt hậu xa hơn Đảng và nhà nước ta đã khẳng định tầm quan trọng của "khoa học

công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học (Theo Chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội 2010 - 2020) và nêu rõ: "Công nghệ thông tin là một trong

các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đời sống hiện đại Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh,

Trang 5

quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá"

Đúng như vậy, tri thức, thông tin và công nghệ luôn có vai trò thúc đẩy sảnxuất phát triển; vai trò ấy ngày càng tăng dần Những thành tựu nổi bật của khoahọc đầu thế kỉ 20 với vai trò dẫn đầu của thuyết tương đối và thuyết lượng tử là tiền

đề cho cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại ra đời và phát triển bắt đầu

từ giưã thế kỉ 20 và trong một phần thời gian cuối cùng của thế kỉ đã bước sang giaiđoạn mới- giai đoạn bùng nổ thông tin, tri thức, bùng nổ công nghệ, đặc biệt là cáccông nghệ cao như : công nghệ thông tin (CNTT) (nhất là siêu xa lộ thông tin,

internet, multimedia tương tác, thực tế ảo ), công nghệ sinh học (đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ tế bào), công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng , nền

kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phươngthức hoạt động Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thương mại điện tử(TMĐT) ra đời là kết quả hợp thành của nền “kinh tế số hoá” và “xã hội thông tin".Thương mại điện tử bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội,

nó mang đến lợi ích tiềm năng và đồng thời cả thách thức lớn cho người sử dụng

Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu, tuy hiện nayđang áp dụng chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển nhưng các nước đang phát triểncũng bắt đầu tham gia Toàn cầu đang hướng tới giao dịch thông qua Thương mại điệntử

Thương mại điện tử đưa lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu đượcthông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí, mở rộng qui mô doanhnghiệp, rút ngắn chu kỳ kinh doanh và đặc biệt với nước đang phát triển đây là cơhội tạo bước tiến nhảy vọt, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển

Thương mại điện tử đã được đánh giá là một phát kiến quan trọng nhằm thúcđẩy nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21 Giờ đây, Thương mại điện tử có lẽ không phải

là một chiến lược mà các quốc gia có thể lựa chọn hoặc không, bởi nếu quốc gia nàokhông nắm lấy cơ hội này sẽ có nguy cơ tụt hậu một cách nghiêm trọng Cuộc cáchmạng điện tử với việc kinh doanh điện tử sẽ là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển

để tận dụng nhằm phát triển kinh tế của đất nước mình Nếu không bắt kịp với bướctiến này khoảng cách của các nước đó đối với các nước phát triển sẽ còn gia tăng nhanhchóng Do đó, phát triển Thương mại điện tử trở thành vấn đề có tính chất sống còn đối

Trang 6

với các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt nam Xuất phát từ lý do đó em chọn đề

án “Pháp luật về thương mại điện tử - thực trạng và định hướng hoàn thiện” làm

đề tài đề án môn học Luật Thương mại

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử

Chương II: Pháp luật về thương mại điện tử và thực trạng giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam

Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp phát triển thương mại điện

tử ở Việt Nam những năm tới.

Trang 7

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “Thương mại điện tử” nhưng tựutrung lại có hai quan điểm lớn trên thế giới xin được nêu ra dưới đây

- Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu vềThương mại điện tử của ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế(UNCITRAL): Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để baoquát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có haykhông có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sauđây: bất cứ giao dịch nào về thương mại như cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặcdịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng;cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấpvốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh cáchình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hayhành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ Như vậy, cóthể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnhvực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàngngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử

Ủy ban Châu Âu đưa ra định nghĩa về Thương mại điện tử như sau: Thươngmại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiệnđiện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh vàhình ảnh Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó hoạt động mua bán hànghóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trênmạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giáthương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp

Trang 8

tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng Thương mại điện tử được thực hiệnđối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyêndụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp

lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và cáchoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo)

Tóm lại, theo nghĩa rộng thì Thương mại điện tử có thể được hiểu là các giaodịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử;chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng

- Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mạiđược thực hiện thông qua mạng Internet Các tổ chức như: Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế đưa ra các khái niệm về Thươngmại điện tử theo hướng này Thương mại điện tử được nói đến ở đây là hình thứcmua bán hàng hóa được bày tại các trang Web trên Internet với phương thức thanhtoán bằng thẻ tín dụng Có thể nói rằng Thương mại điện tử đang trở thành một cuộccách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới: Thương mại điện tử bao gồm việc sảnxuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trênmạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giaonhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet

Khái niệm về Thương mại điện tử do Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế củaLiên Hợp quốc đưa ra là: Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịchthương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet

Theo các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được rằng theo nghĩa hẹpThương mại điện tử chỉ bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện thôngqua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại,fax, telex

1.1.2 Phân loại thương mại điện tử

1.1.2.1 Phân loại theo đối tượng giao dịch

Giao dịch Thương mại điện tử diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham giachủ yếu: (1) doanh nghiệp; (2) Chính phủ; (3) người tiêu dùng Cụ thể là:

a Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp

Trang 9

Bao gồm trao đổi dữ liệu, mua bán và thanh toán hàng hoá và lao vụ, chuyển giaochứng từ Mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.Đây là loại hình Thương mại điện tử chủ yếu nhất, xuất hiện sớm nhất và là “mảnhđất” của trao đổi dữ liệu điện tử, tức EDI.

b Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng

Điển hình của hình thức thương mại điện tử này là việc mua hàng trên mạng Nó rađời và phát triển nhanh chóng cùng với sự xuất hiện của World Wide Web Mụcđích cuối cùng là để người tiêu dùng có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửahàng

BIỂU ĐỒ SỐ 1 MÔ HÌNH GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

c Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và Chính phủ

Hình thức thương mại điện tử này được thực hiện nhằm mục đích mua sắm Chínhphủ; thuận tiện cho quản lý (thuế, hải quan…) và cung cấp thông tin Hiện nay ứngdụng trên lĩnh vực này còn ít và chủ yếu chỉ có ở những quốc gia đi đầu trongThương mại điện tử như Mỹ, Singapore

d Thương mại điện tử giữa người tiêu dùng và Chính phủ

Bao gồm vấn đề kê khai và nộp thuế, đăng ký kinh doanh, dịch vụ hải quan, thôngtin…

e Thương mại điện tử trong nội bộ doanh nghiệp

Bao gồm thực hiện dùng chung thông tin của kho dữ liệu nội bộ, cung cấp kênhthông tin và liên hệ nội bộ một cách nhanh chóng, quản lý tài chính và nhân sự,quản lý vật tư…

Người tiêu dùng

Trang 10

Đáng chú ý là, nếu chỉ xuất phát từ góc độ thuần tuý kinh doanh thì Thươngmại điện tử sẽ đóng khung trong các mối quan hệ xoay quanh doanh nghiệp và

người tiêu dùng, do đó chỉ bao gồm hai loại:

- Thương mại điện tử từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp (business-to- business–B2B);

- Thương mại điện tử từ doanh nghiệp tới người tiêu dùng (business-to-consumer– B2C)

1.1.2.2 Phân loại theo hình thức giao dịch

a Thư tín điện tử

Là hình thức các đối tượng giao dịch (doanh nghiệp, Chính phủ, người tiêu dùng)

sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau thông qua mạng

b Thanh toán điện tử (electronic payment)

Là việc thanh toán thông qua thông điệp điện tử dưới các dạng như trả lương bằngcách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻtín dụng… Bên cạnh những hình thức đã khá quen thuộc đó, ngày nay thanh toánđiện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới, trong đó đáng chú ý là:

- Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange –FEDI): chuyên phục vụ việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhaubằng điện tử

- Tiền mặt Internet (Internet cash): là tiền mặt được mua từ một nơi pháthành (ví dụ ngân hàng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác quaInternet, cả trong phạm vi trong nước cũng như quốc tế; tất cả đều được thực hiệnbằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là tiền mặt số hoá (digitalcash)

- Thẻ giữ tiền (stored-value card): cho phép người dùng chuyển giá trị tiềnmặt vào một chiếc thẻ, thường được dùng trong vận tải công cộng, tại trường đạihọc hoặc trạm xăng Thẻ có loại phi trực tuyến (ví dụ để mua hàng từ máy bánhàng tự động), có loại trực tuyến (ví dụ để mua hàng từ một website), có loại dùngđược cả hai chức năng trên Cũng có thẻ cho phép nạp thêm tiền, có thẻ chỉ dùngđược một lần rồi bỏ Một số thẻ có gắn thêm chip máy tính và chúng được gọi làthẻ thông minh (smart card): chúng mang chức năng của thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ,

Trang 11

ngoài ra còn lưu trữ các thông tin về chủ nhân thẻ (mang thêm chức năng của chứngminh thư hoặc bằng lái xe).

- Ví tiền điện tử (e-wallet): là nơi để tiền mặt Internet, cho phép thanh toánnhững khoản chi trực tuyến hoặc phi trực tuyến rất nhỏ Mỗi lần mua hàng, tàikhoản trực tuyến của khách hàng bị trừ đi một khoản tương ứng Ví tiền điện tử cóthể hoạt động giống kiểu thẻ giữ tiền, cũng có thể bằng cách tự động truy nhập vàomột tài khoản ảo mà người dùng tạo ra qua hệ thống máy tính, tài khoản ảo này kếtnối với tài khoản tín dụng hoặc ghi nợ của người dùng

- Ngân hàng điện tử (e-banking): là các nghiệp vụ, sản phẩm truyền thốngcủa ngân hàng trước đây như gửi tiền, thanh toán, cho vay, quản lý tài khoản, quản

lý tài chính… được thực hiện trên các kênh điện tử, khách hàng không cần phải đếngiao dịch trực tiếp tại quầy làm việc của ngân hàng

c Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)

Là việc trao đổi dữ liệu dưới dạng có cấu trúc (tức là các bên phải thoả thuận từtrước về khuôn dạng cấu trúc của thông tin) từ máy tính này sang máy tính khácgiữa các công ty hay tổ chức một cách tự động mà không cần có sự can thiệp củacon người EDI đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, chủ yếu phục vụ cho mua

và phân phối hàng (gửi đơn hàng, xác nhận, hoá đơn…) nhưng cũng dùng cả chocác mục đích khác như thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi các kết quả xétnghiệm…

EDI được áp dụng từ trước khi có Internet: người ta dùng mạng giá trị giatăng (Value Added Network – VAN) để liên kết các đối tác EDI Cốt lõi của VAN

là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính liên lạc được với nhau, hoạtđộng như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi Ngày nay EDI chủ yếu được thựchiện qua Internet

d Giao gửi số hoá các dung liệu (digital delivery of content)

Là việc mua bán, trao đổi các sản phẩm mà người ta cần nội dung (nội dung chính

là hàng hoá) mà không cần tới vật mang hàng hoá, như phim ảnh, âm nhạc, chươngtrình truyền hình, phần mềm máy tính, ý kiến tư vấn, vé máy bay, hợp đồng bảohiểm…

Hình thức cụ thể của giao gửi số hoá dung liệu gồm: xuất bản điện tử (đưabáo, tư liệu công ty, catalogue… lên website); các chương trình phát thanh, truyền

Trang 12

hình, giáo dục, ca nhạc… được số hoá và truyền trên Internet để người khác sửdụng qua máy tính của mình; download phần mềm từ mạng; đặt chỗ qua Internet(vé điện tử); người dùng liên lạc bằng Internet với cơ quan tín dụng-bảo hiểm đểbiết các thông tin về bảo hiểm và số liệu mới nhất về tình hình tài chính của mình…

e Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods)

Tận dụng tính năng multimedia của môi trường Web, người bán xây dựng trênmạng các cửa hàng ảo để thực hiện việc bán hàng Người mua tìm trang Web củacửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanhtoán điện tử Lúc đầu, việc mua bán còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồiđặt hàng thông qua mẫu đơn cũng đặt ngay trên trang đó Về sau, để tạo thuận lợicho người mua trong việc lựa chọn, so sánh hàng hoá, các hãng đưa ra loại phầnmềm mới gọi là “xe mua hàng” (shopping cart) hoặc “giỏ mua hàng” (shoppingbasket) mà trên màn hình cũng có dạng tương tự như xe hoặc giỏ mua hàng thật ởsiêu thị Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá trình di chuyển từtrang web này sang trang web khác để chọn hàng; chúng có nhiệm vụ tự động tínhtiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách… Điều quan trọng nhất

ở đây là khách có thể mua hàng tại nhà mà không cần phải đích thân đi tới cửahàng Đương nhiên, vì là hàng hoá hữu hình nên sau đó cửa hàng vẫn phải dùng tớicác phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách

1.2 LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Hiện nay, Thương mại điện tử đang được nhiều quốc gia quan tâm, coi là mộttrong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế Thương mại điện tử cónhững lợi ích:

1.2.1 Đối với doanh nghiệp

- Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất tại các văn phòng Các vănphòng không có giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm, chuyểngiao tài liệu giảm nhiều lần

- Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị.Bằng Internet/web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiềukhách hàng, catalogue điện tử trên các trang web không những phong phú hơn màcòn thường xuyên được cập nhật so với các catalogue in ấn khuôn khổ giới hạn vàluôn luôn lỗi thời

Trang 13

- Thương mại điện tử qua Internet/web giúp người tiêu dùng và các doanhnghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình

từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao hàng, thanh toán) Thờigian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng khoảng0,5% thời gian giao dịch qua bưu điện Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng 5%chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh; chi phí thanh toánđiện tử qua Internet chỉ bằng 10%-20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.Trong hai yếu tố cắt giảm này, yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việc nhanh chóng thôngtin hàng hoá đến người tiêu dùng (mà không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còntrong cạnh tranh kinh doanh

- Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệgiữa các nhân tố tham gia vào quá trình thương mại Thông qua mạng, các đốitượng tham gia có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau nhờ đó sự hợp tác lẫn

sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục; tạo điều kiện tìm kiếm cácbạn hàng mới, cơ hội kinh doanh mới trên bình diện toàn quốc, khu vực và thế giới

Xét trên bình diện quốc gia:

- Trước mắt Thương mại điện tử kích thích sự phát triển của ngành công nghệthông tin và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Nhìn rộng hơn, Thươngmại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digitaleconomy) Lợi ích này có một ý nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển, cóthể tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước trong một thời gian ngắn nhất.Ngoài ra, nó còn có những lợi ích:

Hoạt động trực tuyến: Thương mại điện tử tạo ra môi trường để làm việc,mua sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, “ nhiễm, tai nạn"

Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm giá

do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức sống của mọingười

Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các sảnphẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và Thương mại điện tử.Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng được đào tạo quamạng

Trang 14

Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng như y tế,giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ được thực hiện qua mạng với chi phíthấp hơn, thuận tiện hơn Cấp các loại giấy phép qua mạng, tư vấn y tế là các ví

dụ thành công điển hình

1.2.2 Đối với người tiêu dùng

Thương mại điện tử đem lại những lợi ích cho người tiêu dùng như:

- Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử cho phépkhách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới

- Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: Thương mại điện tử cho phépngười mua có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn

- Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên kháchhàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm đượcmức giá phù hợp nhất

- Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản phẩm

số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng được thực hiện dễdàng thông qua Internet

- Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng có thể

dễ dàng tìm được thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìmkiếm (search engines); các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh)

- Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thểtham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm nhữngmón hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới

- Cộng đồng Thương mại điện tử: Môi trường kinh doanh Thương mại điện tửcho phép mọi người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệuquả và nhanh chóng

- “Đáp ứng mọi nhu cầu”: Khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận cácđơn hàng khác nhau từ mọi khách hàng

- Thuế: Trong giai đoạn đầu của Thương mại điện tử, nhiều nước khuyếnkhích bằng cách miễn thuế đối với các giao dịch trên mạng

- Tóm lại, Thương mại điện tử đưa lại những lợi ích tiềm tàng, giúp doanhnghiệp thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí tiếp thị

và giao dịch, rút ngắn chu kỳ sản xuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng, tạođiều kiện dành thêm phương tiện cho mở rộng quy mô và công nghệ sản xuất

Trang 15

1.3 HẠN CHẾ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Có hai loại hạn chế của Thương mại điện tử, một nhóm mang tính kỹ thuật,một nhóm mang tính thương mại

Theo nghiên cứu của CommerceNet (commerce.net), 10 cản trở lớn nhất củaThương mại điện tử tại Mỹ theo thứ tự là:

1 An toàn

2 Sự tin tưởng và rủi ro

3 Thiếu nhân lực về Thương mại điện tử

4 Văn hóa

5 Thiếu hạ tầng về chữ ký số hóa (hoạt động của các tổ chức chứng thựccòn hạn chế)

6 Nhận thức của các tổ chức về Thương mại điện tử

7 Gian lận trong Thương mại điện tử (thẻ tín dụng )

8 Các sàn giao dịch B2B chưa thực sự thân thiện với người dùng

9 Các rào cản thương mại quốc tế truyền thống

10 Thiếu các tiêu chuẩn quốc tế về Thương mại điện tử

Bất chấp các khó khăn, hạn chế này Thương mại điện tử vẫn phát triển rấtnhanh trong các năm qua Theo thống kê của Emarketer.com vào tháng 6.2002, tại

Mỹ số lượng giao dịch chứng khoán qua mạng tăng từ 300.000 năm 1996 lên 25triệu năm 2002 Theo Korean Times, tại Hàn Quốc số lượng giao dịch tăng từ 2%năm 1998 lên 51% năm 2002 Theo IDC (2000) số lượng khách hàng tham gia giaodịch chứng khoán qua mạng năm 2004 đạt 122.3 triệu so với 76.7 triệu năm 2002

HẠN CHẾ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Hạn chế về kỹ thuật Hạn chế về thương mại

1 Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về

chất lượng, an toàn và độ tin cậy

1 An ninh và riêng tư là hai cản trở

về tâm lý đối với người tham gia TMĐT

2. Tốc độ đường truyền Internet vẫn

chưa đáp ứng được yêu cầu của người

dùng, nhất là trong TMĐT

2. Thiếu lòng tin vào TMĐT vàngười bán hàng trong TMĐT do khôngđược gặp trực tiếp

3 Các công cụ xây dựng phần mềm

vẫn trong giai đoạn đang phát triển

3. Nhiều vấn đề về luật, chính sách,thuế chưa được làm rõ

6 Chi phí truy cập Internet vẫn còn

Trang 16

TMĐT B2C đòi hỏi hệ thống kho hàng

tự động lớn

kinh doanh không giấy tờ, không tiếpxúc trực tiếp, giao dịch điện tử cần thờigian

8 Số lượng người tham gia chưa đủlớn để đạt lợi thế về quy mô (hoà vốn và

có lãi)

9. Số lượng gian lận ngày càng tăng

do đặc thù của Thương mại điện tử10.Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khókhăn hơn sau sự sụp đổ hàng loạt của cáccông ty dot.com

1.4 CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Hiện nay, mặc dù Thương mại điện tử đã phát triển đến giai đoạn thứ hai của

nó nhưng vẫn chưa có một hành lang pháp lý đầy đủ để điều chỉnh loại hình thươngmại này Để tạo điều kiện cho Thương mại điện tử có thể hoạt động một cách đúngđắn, cần có sự thừa nhận chính thức về tính pháp lí của Thương mại điện tử, của chữ

kí điện tử, của hợp đồng Thương mại điện tử, của thanh toán điện tử … Từ đó, mộtkhung pháp lí là rất cần thiết để điều chỉnh về hợp đồng và những tranh chấp củahợp đồng

Do Thương mại điện tử mang tính chất toàn cầu nên những văn bản pháp luật

về Thương mại điện tử cũng cần có sự thống nhất cơ bản để hoạt động kinh doanhđược đơn giản và hiệu quả Tuy nhiên, các bộ luật cũng như những văn bản quyđịnh về hoạt động Thương mại điện tử hiện hành vẫn còn có những khác biệt rất cơbản, một điều tất yếu sẽ dẫn đến xung đột pháp lí Trong tranh chấp giữa các bên ởnhững quốc gia khác nhau, một vấn đề thường vướng mắc là việc kiện tụng xảy ra ởđâu và áp dụng luật nào Trong khi luật của nhiều nước Châu Âu quy định luật ápdụng là luật của nước người bán (hay người cung cấp hàng) thì quy tắc Rome II của

Uỷ ban Châu Âu lại quy định luật áp dụng là luật nước người mua

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỰC TRẠNG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

Trang 17

2.1 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM

Trong bối cảnh xây dựng pháp luật năm 2022 được đẩy mạnh để đáp ứng cácyêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế, các dạng văn bản quy phạm pháp luật liên quanđến Thương mại điện tử cũng bước đầu được hình thành và bổ sung

Để tiếp tục phát triển TMĐT, khuyến khích các doanh nghiệp, đơn vị, tổchức đẩy mạnh triển khai ứng dụng các phần mềm trên nền tảng công nghệ mới củacuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay gắn với việc thực hiện Quyết định số645/QĐ-TTg ngày 15/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch tổngthể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2021-2025, cần tập trung một số giải phápsau:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu phát triểnTMĐT trong bối cảnh CMCN 4.0, bởi đây là một lĩnh vực mới phát triển tại ViệtNam, là sự kết hợp giữa công nghệ và thị trường, giữa yếu tố thực và ảo…Vì vậy,cần tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luậttheo hướng tạo điều kiện, khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động ứng dụng TMĐT vàcác mô hình kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ số, ban hành văn bản hướngdẫn phù hợp với tình hình phát triển trong nước và trên thế giới, chính sách vềTMĐT trong nước so với các cam kết trong Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặcbiệt là các FTA thế hệ mới

Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý và tổ chức hoạt động TMĐT trong đó,thực hiện nhiều nhóm giải pháp hỗ trợ như: đào tạo nâng lực cho đội ngũ thực thipháp luật, nâng cao năng lực ứng dụng TMĐT, hoàn thiện các quy định về thanh tra,kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính, trang bị các phương tiện hiện đại để hỗ trợviệc theo dõi, giám sát, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm các hoạt động TMĐTtrên môi trường trực tuyến, cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các thủtục hành chính công… Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, phối hợp liênngành trong đấu tranh chống các hành vi gian lận thương mại, buôn lậu, hàng giả,hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh không lành mạnh trong TMĐT

Trang 18

Thứ ba, tiếp tục xây dựng thị trường và nâng cao lòng tin người tiêu dùngtrong TMĐT, thông qua nhiều hình thức, như: tuyên truyền, quảng cáo, tổ chức hộinghị, sự kiện,…từ đó tăng cường khả năng nhận biết và ứng phó của người tiêudùng với những hành vi tiêu cực trong TMĐT, đồng thời giúp người dân và doanhnghiệp hiểu được những mặt tích cực mà công nghệ cũng như TMĐT mang lại,giúp thay đổi thói quen tập quán kinh doanh và tiêu dùng theo phương thức hiện đạihơn, hiệu quả hơn…Mặt khác, các cơ quan quản lý tiếp tục nghiên cứu và xây dựng

mô hình thanh toán TMĐT; xây dựng giải pháp bán hàng trực tuyến; xây dựng hệthống giám sát và quản lý hoạt động trên môi trường trực tuyến; đẩy mạnh việc hỗtrợ doanh nghiệp xuất khẩu thông qua TMĐT xuyên biên giới…nhằm tạo điều kiệncho doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, định vị thương hiệu, kết nối khách hàng vàtìm kiếm thị trường để đa dạng hóa các kênh xuất khẩu tại các thị trường nướcngoài, mở rộng mạng lưới kinh doanh

Thứ tư, tăng cường năng lực các hệ thống hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ choTMĐT Trong đó, đẩy mạnh việc hoàn thiện, đồng bộ và nâng cao hạ tầng côngnghệ nói chung sẽ giúp bảo mật thông tin trên mạng được an toàn, giúp khách hàngyên tâm khi giao dịch trực tuyến Đầu tư hoàn thiện hạ tầng dịch vụ chuyển phát và

hạ tầng logistics trong TMĐT, từ đó sẽ giúp thông suốt các quy trình phân phối,xuất khẩu hàng hóa, tiết kiệm chi phí, thời gian và nâng cao năng lực cạnh tranh chohàng hóa và cho doanh nghiệp Việt Nam Hoàn thiện về mặt hạ tầng thanh toán,tăng cường phát triển các tiện ích thanh toán trên nền tảng di động, ví điện tử, mã

QR code, NFC, POS để từng bước thay đổi nhận thức và thói quen người tiêudùng đối với việc thanh toán không dùng tiền mặt…

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng TMĐT hỗ trợ các ngành hàng xuất khẩu chủlực, mở rộng tiêu thụ cho hàng hóa nội địa và thúc đẩy phát triển TMĐT tại các địaphương, như: xây dựng gian hàng quốc gia trên một số sàn TMĐT lớn của thế giới;

tổ chức chuỗi cung ứng TMĐT cho các mặt hàng nông sản, xây dựng mối liên kếtgiữa doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp cung cấp dịchvụ; chọn lựa một số địa phương đại diện cho mỗi vùng kinh tế trọng điểm và triểnkhai các đề án hỗ trợ, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa ra các địa phương trên toàn quốc;

Ngày đăng: 31/07/2023, 10:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đỗ Bích ( 2002), TMĐT, Nhà xuất bản bưu điện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TMĐT
Tác giả: Bùi Đỗ Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản bưu điện
Năm: 2002
2. Lê Thế Bình, (2001-2002), Phương hướng sử dụng TMĐT trong kinh doanh từ doanh nghiệp tới người tiêu dùng (B2C) của các doanh nghiệp Việt Nam để phù hợp với điều kiện Việt Nam, Hội nghị khoa học Khoa Kinh tế ngoại thương, năm học 2001-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng sử dụng TMĐT trong kinh doanh từ doanh nghiệp tới người tiêu dùng (B2C) của các doanh nghiệp Việt Nam để phù hợp với điều kiện Việt Nam
Tác giả: Lê Thế Bình
Nhà XB: Hội nghị khoa học Khoa Kinh tế ngoại thương
Năm: 2001-2002
3. Nguyễn Minh Dân, Vụ trưởng Vụ KHCN – Bộ Bưu chính viễn thông, tại khóa đào tạo, Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật cho TMĐT, từ 4-7/4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật cho TMĐT
Tác giả: Nguyễn Minh Dân
Nhà XB: Bộ Bưu chính viễn thông
Năm: 2005
4. Vương Liêm (2003), Kinh tế học Internet – từ TMĐT tới chính phủ điện tử, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học Internet – từ TMĐT tới chính phủ điện tử
Tác giả: Vương Liêm
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2003
5. Đặng Thị Loan (2006), Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2006) thành tựu và những vấn đề đặt ra, NXB Đại học KTQD, Tr 33-34, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2006) thành tựu và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Đặng Thị Loan
Nhà XB: NXB Đại học KTQD
Năm: 2006
6. Vũ Hữu Tửu (2000), TMĐT và thực tiễn triển khai ở Việt Nam, Kỷ yếu hội nghị khoa học , Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: TMĐT và thực tiễn triển khai ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Hữu Tửu
Nhà XB: Kỷ yếu hội nghị khoa học
Năm: 2000
7. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2000), Bàn về cơ sở pháp lý của TMĐT ở Việt Nam, Chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cơ sở pháp lý của TMĐT ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp
Năm: 2000
8. Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông (2001), Kinh tế mạng và TMĐT, NXB Bưu điện, Hà Nội 6/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế mạng và TMĐT
Tác giả: Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông
Nhà XB: NXB Bưu điện
Năm: 2001
9. Hội Tin học TP. Hồ Chí Minh và Tạp chí Thế giới Vi tính (2005), Niên giám Công nghệ thông tin Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, bản trực tuyến xem tại http://www.pcworld.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Công nghệ thông tin Việt Nam
Tác giả: Hội Tin học TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Thế giới Vi tính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức thương mại điện tử này được thực hiện nhằm mục đích mua sắm Chính phủ; thuận tiện cho quản lý (thuế, hải quan…) và cung cấp thông tin - Đề án Luật Thương Mại: Pháp luật về thương mại điện tử ở việt nam  thực trạng và định hướng hoàn thiện
Hình th ức thương mại điện tử này được thực hiện nhằm mục đích mua sắm Chính phủ; thuận tiện cho quản lý (thuế, hải quan…) và cung cấp thông tin (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w