1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý – qua thực tiễn ở Thành phố Hải Phòng : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 01

127 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giám sát và theo dõi việc thực hiện Luật TGPL có thể được xem xét từ nhiều góc độ như: theo thẩm quyền của các chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện Luật; việc hình thành các tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đào Thi ̣ Hồng Nhung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 9

1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm, đối tượng và hình thức về trợ giúp pháp lý 9

1.1.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý 9

1.1.2 Đặc điểm của trợ giúp pháp lý 11

1.1.3 Đối tượng của Trợ giúp pháp lý 14

1.1.4 Hình thức Trợ giúp pháp lý 16

1.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động trợ giúp pháp lý tại Việt Nam 19

1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý 25

1.4 Các điều kiện đảm bảo trợ giúp pháp lý 32

1.4.1 Cần có hê ̣ thống pháp luâ ̣t về trợ giúp pháp lý đầy đủ 33

1.4.2 Đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý 35

1.4.3 Phát triển đội ngũ luật sư, đă ̣c biê ̣t luâ ̣t sư ở vùng sâu, vùng xa 37

1.4.4 Cần có đô ̣i ngũ tr ợ giúp pháp lý và Luâ ̣t sư giỏi chuyên môn , giàu kinh nghiệm 38

1.4.5 Người thực hiê ̣n trợ giúp pháp lý cần nắm rõ quy đi ̣nh về quyền con người 39

1.5 Hoạt động trợ giúp pháp lý theo kinh nghiê ̣m ở mô ̣t số nước 40

1.5.1 Kinh nghiê ̣m trợ giúp pháp lý tại Phần Lan 40

Trang 4

1.5.2 Trợ giúp pháp lý ở ISRAEL 43

1.5.3 Kinh nghiệm Trợ giúp pháp lý ở AILEN 47

1.5.4 Mô ̣t số nước khác 49

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI HẢI PHÒNG 52

2.1 Thực trạng về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Trợ giúp pháp lý ở Hải Phòng 52

2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam 52

2.1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Hải Phòng 61

2.2 Thực trạng về tổ chức, bộ máy trợ giúp pháp lý ở Hải Phòng 66

2.2.1 Tổ chức thực hiê ̣n trợ giúp pháp lý ở Hải Phòng 66

2.2.2 Kết quả hoạt động của trợ giúp pháp lý nhà nước tại Hải Phòng 69

2.3 Đánh giá chung về quản lý, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Hải Phòng 78

2.3.1 Mặt thuận lợi 78

2.3.2 Khó khăn, hạn chế 79

2.3.3 Nguyên nhân 83

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ, HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 87

3.1 Quan điểm về đảm bảo ch ất lượng hiê ̣u quả ho ạt động trợ giúp pháp lý (định hướng, đường lối nhằm đảm bảo ch ất lượng trợ giúp pháp lý đảm bảo quyền con người) 87

3.1.1 Quan điểm về đảm bảo ch ất lượng hiê ̣u quả ho ạt động trợ giúp pháp lý 87

3.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý 94

Trang 5

3.2 Giải pháp để đảm bảo chất lƣợng, hiệu quả hoạt động trợ

giúp pháp lý ở Hải Phòng 97

3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về trợ giúp pháp lý 97

3.2.2 Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý 97

3.2.3 Giáo dục pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý và truyền thông nâng cao nhâ ̣n thức về trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý và cô ̣ng đồng 98

3.2.4 Giải pháp về mô hình tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý 102

3.2.5 Phát triển mạng lưới và tăng cường trợ giúp pháp lý ở cơ sở 104

3.2.6 Giải pháp về thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt đô ̣ng trợ giúp pháp lý 105

3.2.7 Xây dựng mối quan hệ giữa trợ giúp pháp lý với các cơ quan chức năng 106

3.2.8 Phát huy hiệu quả của Hội đồng phối hợp liên n gành về trợ giúp pháp lý trong hoa ̣t đô ̣ng tố tu ̣ng 107

3.2.9 Giải pháp khác 109

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chế độ trợ giúp pháp lý (TGPL) là một loại trợ giúp tư pháp được đại

đa số các nước trên thế giới áp dụng (khoảng 150 nước) Nó là kết quả tất yếu của sự phát triển trong xã hội, là công cụ để nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với công dân của mình Nhà nước ban hành pháp luật, buộc người dân phải tuân theo, do vậy nhà nước cũng phải có cơ chế bảo đảm để pháp luật bảo vệ được quyền lợi của nhân dân Nếu không làm được điều này, tất yếu sự hoài nghi của công chúng đối với pháp luật sẽ nảy sinh và đó sẽ là nguy cơ lớn đối với khả năng thực thi pháp luật

Hệ thống pháp luật ngày càng nhiều và mức độ phức tạp ngày càng tăng, ngay cả người được đào tạo về pháp luật đôi khi cũng không hiểu hết các quy định của pháp luật và khi có vướng mắc pháp luật hay phải đứng trước toà án cũng không chắc chắn có thể bảo vệ thành công quyền lợi của mình Do đó, một công dân không có kiến thức pháp luật và không có kỹ năng thì dù không phạm tội cũng không thể chứng minh được sự vô tội của mình

Nhiều cuộc tranh luận trên thế giới đã đi đến sự khẳng định rằng, TGPL

là cần thiết Nó cần thiết đối với việc củng cố luật pháp, với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và có tầm quan trọng như một bộ phận không thể tách rời của việc thực thi công lý và cũng cần thiết như một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xét xử

Từ những năm 50 của thế kỷ 20, đã có ý kiến từ các luật gia tư sản cho rằng việc tiếp cận luật pháp của người giàu cũng như của người nghèo là cần thiết đối với việc duy trì trật tự pháp luật, do đó, cần phải tư vấn và đại diện pháp lý phù hợp cho những người mà cuộc sống, tài sản, tự do, danh dự bị đe doạ nhưng không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý …

Trang 9

có khả năng trả chi phí dịch vụ Vì vậy, việc khẳng định vị trí của TGPL là một yêu cầu mang tính thủ tục cần thiết để bổ sung ý nghĩa cho nhà nước pháp quyền Nếu thừa nhận trật tự xã hội trong nhà nước pháp quyền là một mục tiêu cần hướng tới thì việc thừa nhận TGPL rất quan trọng, có thể coi như một phương tiện để đạt được mục tiêu ấy

Tại Việt Nam TGPL ra đời năm 1997 trên cơ sở Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ, đến nay, hoạt động TGPL miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trong đời sống pháp luật của xã hội, trở thành bộ phận quan trong trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo và được cụ thể hóa trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010

và chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010

Luật TGPL được Quốc hội thông qua tháng 6/2006 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2007 là một bước tiến của công tác lập pháp khi đúc rút kinh nghiệm của việc thực hiện một Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách TGPL, một lĩnh vực hoạt động pháp luật tương đối mới mẻ được thể chế ổn định trong văn bản có hiệu lực cao Luật này còn là tuyên ngôn nhân quyền của nhà nước Việt Nam về các vấn đề công lý khi khẳng định quyền được TGPL của người nghèo và các nhóm dân cư thiệt thòi, dễ bị tổn thương được Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm để họ có quyền bình đẳng tiếp cận dịch vụ pháp lý có chất lượng như các công dân khác Tiếp đó, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành 26 văn bản quy phạm pháp luật đơn ngành và liên tịch góp phần đưa Luật TGPL đi vào cuộc sống nhằm

“giảm nghèo về pháp luật” cho một bộ phận nhân dân

Việc giám sát thực hiện Luật này có vị trí rất quan trọng vì thông qua

số vụ việc và lĩnh vực pháp luật người dân thường có vướng mắc, cơ quan lập

Trang 10

pháp có cơ sở để rà soát lại các quy định pháp luật hiện hành ở các lĩnh vực này, cơ quan quản lý chuyên ngành cũng có căn cứ để đánh giá lại đội ngũ công chức, viên chức đang có trách nhiệm giải quyết việc của dân

Việc giám sát và theo dõi việc thực hiện Luật TGPL có thể được xem xét từ nhiều góc độ như: theo thẩm quyền của các chủ thể có trách nhiệm tổ chức thực hiện Luật; việc hình thành các tổ chức thực hiện TGPL và các tổ chức này có tuân thủ luật hay không; việc các đối tượng thuộc diện có được bảo đảm nhận dịch vụ dễ dàng và đúng đắn; nhu cầu TGPL của người dân tăng hay giảm, tập trung nhiều ở lĩnh vực pháp luật nào (ví dụ, nếu số lượng lớn vụ việc tập trung ở lĩnh vực đất đai thì phải xem lại quy định và chính sách, xem lại đội ngũ cán bộ có thẩm quyền và trực tiếp giải quyết vấn đề đất đai …); đội ngũ người thực hiện TGPL có được hình thành và đáp ứng yêu cầu của người dân hay chưa; chất lượng TGPL so với chất lượng dịch vụ pháp

lý ngoài thị trường tự do như thế nào…

Sau 15 hình thành và phát triển, hệ thống TGPL Việt Nam đã và đang không ngừng lớn mạnh về quy mô, ổ định về tổ chức với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL là luật sư và các cộng tác viên khác không ngừng phát triển về số lượng cũng như về năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng TGPL Công tác TGPL đạt được những kết quả tích cực, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiểu biết pháp luật, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người nghèo, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác Theo số liệu thống kê, sau 05 năm triển khai thực hiện Luật TGPL của các tổ chức thực hiện TGPL, các tổ chức thực hiện TGPL trong cả nước đã TGPL cho 497.617 đối tượng thông qua 489.082 vụ việc (tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng …) [15]

Trợ giúp pháp lý là chính sách của Đảng và nhà nước thể hiện sự quan

Trang 11

tâm tới nhân dân, “tôn chỉ” của hoạt động TGPL là đảm bảo công bằng xã hội bằng cách “bênh vực” những người yếu thế, khó khăn, tạo điều kiện cho họ

có thể tiếp cận dịch vụ pháp lý tốt

Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan TGPL trên thực tế tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề cần phải xem xét, đánh giá từ nhiều khía cạnh để hoàn thiện hơn nữa, để đáp ứng được yêu cầu thực tế - thực hiện được sứ mệnh của mình và đáp ứng khát vọng của người dân nghèo, yếu thế về một nền pháp luật

công bằng Xuất phát từ đòi hỏi khách quan này, tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý - qua thực tiễn ở thành phố Hải Phòng”

là cần thiết cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trợ giúp pháp lý là một nhiệm vụ mới của ngành tư pháp thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và nhà nước đối với người nghèo và đối tượng chính sách trên phương diện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam Xóa đói, giảm nghèo cả về mặt vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho người chịu thiệt thòi trong xã hội được bình đẳng tiếp cận với pháp luật, công bằng trước pháp luật Đến nay, đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ,

đề tài cấp Bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến TGPL miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách Đó là:

- Luận án tiến sĩ “Điều chỉnh pháp luật về TGPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới” của tiến sĩ Tạ Thị Minh Lý;

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện TGPL ở Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tuyến;

- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Xuân Lân;

Trang 12

- Luận văn thạc sĩ “Phát triển TGPL ở cơ sở” của tác giả Đặng Thị Loan;

- Luận văn thạc sĩ “Bảo đảm quyền được TGPL” của tác giả Phan Thị Thu Hà;

- Luận văn thạc sĩ “Chất lượng TGPL của Trung tâm TGPL tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Đức trực;

- Luận văn thạc sĩ “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người nghèo ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Hoàng Hà;

- Luận văn thạc sĩ “Hoạt động TGPL trong các chương trình giảm nghèo” của tác giả Lê Thị Thúy; …

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay”; Bài viết “Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh TGPL”; Bài viết “Chất lượng vụ việc TGPL” TS Tạ Minh Lý, Tạp chí Dân chủ Pháp luật, Bộ Tư pháp, số chuyên

đề tháng 10/2009, tr.2-8; Bài viết “Đánh giá chất lượng vụ việc TGPL là hình thức giám sát hiệu quả nhất về thi hành pháp luật TGPL”/TS Tạ Minh Lý/Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội; Bài viết “Chất lượng

vụ việc TGPL và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vụ việc TGPL”/Đỗ Xuân Lân/ Tạp chí dân chủ pháp luật, Bộ Tư pháp, số 1/2008, tr.22-29; Bài viết “Chất lượng vụ việc TGPL” của tác giả Nguyễn Hải Anh, Tạp chí Dân chủ Pháp luật số 5/2008; Bài viết”Tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc TGPL”, chuyên đề của Cục TGPL, Bộ Tư pháp, 2008; Bài viết “Tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan hành chính nhà nước”/ PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, ThS Lê Văn Hòa, Học viện Hành chính, Tạp chí tổ chức nhà nước số 3/2010; Bài viết “Xã hội hóa và chất lượng cung ứng dịch vụ công”, tác giả Đinh Mai Lan, Văn phòng UBND tỉnh Cao Bằng, nguồn: http://www.nclp.org.vn/chinh sach/xa-hoi-hoa-va-chat-luong-cung-ung-dich-vu-cong; Bài viết “Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và long trung

Trang 13

thành của khách hang siêu thị tại Thành phố Hồ Chí Minh” tác giả Nguyễn Thị Mai Trang, khoa kinh tế, ĐHQG-HCM, Tạp chí Phát triển KH-CN, Tập

9, số 10-2006; The importance of Quality in Legal Aid/Helaine M.Barnett, February, 2009 – Wyoming State Bar, …

Trong phạm vi luận văn, tác giả không có tham vọng tổng kết hay đánh giá tổng thể TGPL với tư cách là dịch vụ công do Nhà nước cung cấp Với đề

tài “Hoạt động của Trung tâm TGPL – qua thực tiễn ở Hải Phòng ”, tác giả sẽ

đi sâu phân tích làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan đến hoạt động TGPL trên

cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn tại Hải Phòng, góp phần tìm ra giải pháp khoa học đưa hoạt động TGPL trong thời gian tới gần với người dân nhất, đảm bảo tốt nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh đặc biệt khác, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của Luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống

những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình hoạt động Trung tâm trợ giúp

pháp lý, bao gồm khái niệm, mục tiêu, đặc điểm, thực trạng hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước trong phạm vi Thành phố Hải Phòng trong thời gian qua; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các Trung tâm TGPL, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu sô và các đối tượng yếu thế khác trong xã hội

Thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và cơ sở thực tiễn về hoạt động của Trung tâm TGPL;

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động TGPL Nhà nước thành phố Hải Phòng, tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất

Trang 14

cập và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập đó cũng như tình hình quản lý, đánh giá hoạt động của các Trung tâm TGPL ở Hải Phòng trong thời gian qua

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TGPL Nhà nước ở Hải Phòng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, pháp lý về hoạt động TGPL ở Việt Nam

- Thực tiễn hoạt động của Trung tâm TGPL ở Hải Phòng

- Giải pháp đảm bảo, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TGPL trong thời gian tới tại Hải Phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lenin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích – tổng hợp, logic- lịch sử, so sánh, đối chiếu Đồng thời tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn; các chuyên đề nghiên cứu trong và ngoài nước; kết quả khảo sát để hoàn thành Luận văn

6 Ý nghĩa của Luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu trên cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn về hoạt động của Trung tâm TGPL Nhà nước Hải Phòng

- Luận văn góp phần khẳng định sự quan tâm sâu sắc và triệt để của Đảng và Nhà nước về mặt công lý cho tầng lớp người nghèo, các đối tượng

Trang 15

yếu thế trong xã hội, người dân tộc thiểu số và những người có công với đất nước Đồng thời, có sự đánh giá sát tình hình hoạt động của Trung tâm TGPL, nêu và phân tích yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn đối với vấn đề hoạt động của Trung tâm TGPL trong thời gian tới

- Luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần bảo đảm

và nâng cao chất lượng TGPL trong thời gian tới

7 Bố cục Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì Luận văn được kết cấu thành 03 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về trợ giúp pháp lý

Chương 2: Thực trạng của hoạt động trợ giúp pháp lý tại Hải Phòng Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo chất lượng hiệu quả hoạt

động trợ giúp pháp lý

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm, đối tượng và hình thức về trợ giúp pháp lý

1.1.1 Khái niệm Trợ giúp pháp lý

Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20, xuất phát từ tiếng anh là “legal aid” Theo nghĩa phổ biến thì “legal aid” được

hiểu là “tiền lấy từ quỹ công để trả chi phí cho việc cố vấn hoặc làm đại diện pháp lý” [25, tr.998] “legal aid” trong cụm từ “legal aid schem” có nghĩa là

“bảo trợ tư pháp” [25] Ngoài ra, trong một số tài liệu khác còn gọi là “hỗ trợ

pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”

Theo Đại từ điển tiếng việt – Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hóa –

Thông tin, 1999 thì “trợ giúp” là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc

gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến” [58] Từ điển từ và

ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh giải thích: trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ

mà không lấy tiền công

Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau, cách gọi khác nhau về thuật ngữ này, nhưng cụm từ “trợ giúp” có nghĩa chung nhất, bao hàm nội dung sự

“sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ” Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động

“Legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là“Trợ giúp pháp lý” đang được sử

dụng chính thức trong các văn bản pháp luật và sách báo ở Việt Nam hiện nay

Ở các nước trên thế giới, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước tư sản và được coi là chức năng xã hội của nhà nước, là một trong nhữmg tiêu chí bảo vệ quyền con người của nhà nước pháp quyền Việc

Trang 17

thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý ở Việt Nam năm 1997 là xuất phát từ chính những nguyên tắc Hiến định chủ quyền thuộc về nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và bản chất của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trên thế giới rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Vì vậy, chưa có quan niệm chung, thống nhất về trợ giúp pháp lý

Do có nhiều mô hình trợ giúp pháp lý, với những quan niệm khác nhau

về đối tượng, phạm vi, phương thức và chi phí trợ giúp pháp lý trên thế giới, nên ở mỗi nước đều có quan niệm riêng của mình và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nói chung các khái niệm của các nước đều thể hiện tính kinh tế, nhân đạo và tính pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý Tính kinh tế, nhân đạo thể hiện ở chỗ giúp đỡ cho đối tượng không có khả năng thanh toán cho các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý Tính pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý thể hiện ở chỗ giúp đỡ đối tượng giải quyết các vụ, việc có liên quan đến pháp luật (luật nội dung và luật hình thức )

Dưới góc độ kinh tế mang tính nhân đạo một số nước (như Đức) quan niệm trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước toà án [18]

Dưới góc độ pháp lý, theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì Trợ giúp pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho việc tư vấn, hỗ trợ và đại diện pháp lý [18]

Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp luật năm 1995 của Singapore cũng giải thích rằng trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý [18, Điều 2]

Nhìn dưới góc độ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý, người Úc cho rằng trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và

Trang 18

điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận với pháp luật, tức là tạo

ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật [18]

Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” (sau đây xin được viết tắt là TGPL) được sử dụng trong các tài liệu từ năm 1995, khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Đến năm 1996, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ tư pháp Năm 1997, thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách Năm 2006, Luật TGPL đã có quy định chính thức về khái niệm TGPL:

TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [43, Điều 3]

1.1.2 Đặc điểm của trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp,

có đầy đủ những đặc trưng của dịch vụ công như: được xác định là một trong những chức năng xã hội của nhà nước và là trách nhiệm của nhà nước; đối tượng được TGPL là những người yếu thế, không có đủ điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu tiền, cần có sự trợ giúp của nhà nước Các chi

phí cho hoạt động TGPL chủ yếu do ngân sách bảo đảm (Người được trợ

giúp pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí hay thù lao nào dưới bất

kỳ hình thức nào Kinh phí hoạt động trợ giúp pháp lý do ngân sách Nhà nước

Trang 19

Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện:

Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là các tổ chức trợ giúp pháp lý Nhà

nước và các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp Như vậy, hoạt động trợ

giúp pháp lý là một loại hoạt động vừa có tính chất nhà nước, vừa mang tính chất xã hội

Người thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 là

Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư, tư vấn viên pháp luật của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp

Thực hiện trợ giúp trên cơ sở pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại… TGPL được coi là một loại hình dịch vụ pháp lý bởi hình thức và phương thức thực hiện tương tự như dịch vụ pháp lý nói chung Điểm khác biệt ở đây là TGPL có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực trợ giúp, tổ chức, người thực hiện hẹp hơn; việc thực hiện TGPL cũng được thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định khác so với trình

tự, thủ tục cung cấp dịch vụ pháp lý chung do tổ chức và cá nhân khác thực hiện Người thụ hưởng TGPL không phải trả bất kỳ một khoản phí nào

Trợ giúp pháp lý còn là một loại hình dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt cần phải được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ (Đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí là người thuộc hộ nghèo; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số thường trú ở các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; người

Trang 20

già cô đơn, người tàn tật, người nhiễm HIV, nhiễm chất độc hóa học, trẻ

em không nơi nương tựa

Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu

thế, góp phần tạo sự công bằng trong tiếp cận công lý

Lĩnh vực trợ giúp pháp lý: hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện

đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại

Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt động và mục đích hướng tới của nó Tính chất pháp lý của TGPL thể hiện ở chỗ, TGPL là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống bởi nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra các cơ chế để giúp người dân biết các quy định của pháp luật để thực hiện, sử dụng, tuân thủ trong cuộc sống để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp phá của mình Đặc biệt khi Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật và giải quyết các vấn đề phát sinh hang ngày trên cơ sở pháp luật thì yêu cầu cần phải giúp cho người dân hiểu biết pháp luật trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị - xã hội: TGPL được xác định

là trách nhiệm của nhà nước, nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thuộc chức năng

xã hội của nhà nước nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật Thông qua đó, góp phần thiết lập

sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân vào chế độ TGPL là một trong những phương thức có hiệu quả để nhà nước giải quyết các mối quan hệ

xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết công đồng, bảo đảm ổn định trật tự và

an toàn xã hội

Trang 21

1.1.3 Đối tượng của trợ giúp pháp lý

Theo quy định của pháp luật về TGPL, người được TGPL là người thuộc một trong các đối tượng sau đây:

Người nghèo là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật Chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chuẩn nghèo hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dung cho giai đoạn 2011-2015

Người có công với cách mạng bao gồm: người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hung; Anh hung lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; người hoạt động kháng chiến

bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cách mạng, gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến và người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến (Điều 32 Pháp lệnh về người có công với cách mạng năm 2005); cha, mẹ, chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ

Đây là những người đã có nhiều cống hiến về sức lực, tài năng, trí tuệ

và cả tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo

vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế trong thời chiến cũng như trong thời bình, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật Phần lớn những đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do bị ảnh hưởng của thương tật, suy giảm sức khỏe và khả năng lao động (thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh), mất chỗ dựa

Trang 22

chính trong gia đình (thân nhân liệt sĩ), … chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có thu nhập ổn định Với nhóm dân cư này, chính sách TGPL của nhà nước chủ yếu thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi, sự biết ơn của xã hội nói chung đối với những cống hiến của họ chứ không căn cứ vào điều kiện thu nhập

Người già cô đơn không nơi nương tựa: là những người từ 60 tuổi trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng

Trẻ em không nơi nương tựa: là người dưới 16 tuổi, không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường

về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng

Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn theo quy định của pháp luật Ngày 5/3/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ban hành danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn làm căn cứ thực hiện một số chế

độ, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh – quốc phòng, xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các vùng khác trong cả nước Các dân tộc thiểu số sinh sống ở tất cả các vùng, miền của đất nước, nhưng tập trung phần lớn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, bị cô lập về mặt địa lý, thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và các dịch vụ xã hội cơ bản Thu nhập của đồng bào chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Ngoài một số dân tộc có mặt bằng dân trí cao, mức sống khá như người Hoa (sống ở Thành phố Hồ Chí Minh), người Khơ-

me (sống ở đồng bằng song Cửu Long), người Chàm (sống ở một số tỉnh Nam Trung Bộ và Nam bộ), còn lại các dân tộc thiểu số khác đều có trình độ dân trí thấp Hầu hết các tộc người không có chữ viết riêng, phần đông không

có chữ quốc ngữ Luật tục (tập quán pháp) giữ vai trò rất quan trọng trong đời

Trang 23

sống cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số, quy định các chuẩn mực ứng

xử của con người, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng, gần như thay thế cho pháp luật của nhà nước Do không có điều kiện tiếp cận để tìm hiểu pháp luật của nhà nước nên trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của người dân tộc thiểu số còn hạn chế

- Người tàn tật: là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận của cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn, hoặc là người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV hoặc các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự và không có nơi nương tựa

- Các đối tượng khác, gồm: Phụ nữ: là nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị bóc lột sức lao động hoặc bị xâm hại tình dục; phụ nữ đang trong quá trình chuẩn bị thủ tục kết hôn và ly hôn; phụ nữ

có tranh chấp, vướng mắc pháp luật, người bị hại, bị can, bị cáo trong thời gian mang thai, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng; phụ nữ là người khuyết tật hoặc đang bị các bệnh hiểm nghèo; phụ nữ là người lao động bị sa thải trái pháp luật hoặc nạn nhân bị lừa đảo trong quan hệ lao động, trong quan hệ hôn nhân gia đình hoặc bị tước đoạt tài sản trái pháp luật

Các đối tượng khác được TGPL theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Hiện Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp với các nước: Cu Ba, Bungari, Hungari, Ba Lan, Lào, Nga, Trung Quốc, Pháp, Ucraina, Mông Cổ, Beelarut Công dân của các nước này cũng có thể được xem xét hưởng TGPL miễn phí nếu họ đang ở việt Nam

1.1.4 Hình thức Trợ giúp pháp lý

Theo quy định của Luật TGPL, TGPL được thực hiện thông qua các hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, các hình thức TGPL khác

Trang 24

- Tư vấn pháp luật:

Tư vấn pháp luật là một loại hình dịch vụ trí tuệ, trong đó người có trình độ hiểu biết sâu rộng đưa ra những ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể nào đó có liên quan đến pháp luật Những ý kiến đó không mang tính chất bắt buộc (tính cưỡng chế) người được tư vấn phải thực hiện, nhưng nên thực hiện bởi những lời tư vấn đó đều là những quy định của pháp luật

Trong TGPL, tư vấn pháp luật là một hình thức TGPL Luật TGPL

2006 quy định: “Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật thực hiện tư vấn pháp luật cho người được TGPL bằng việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc TGPL” [43, Điều 28] Như vậy, hoạt động tư vấn

pháp luật do người thực hiện TGPL thực hiện bao gồm: giải đáp pháp luật, hướng dẫn soạn thảo, góp ý kiến cho đơn từ, văn bản có liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của công dân, hướng dẫn những thủ tục cần thiết, cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, cung cấp những thông tin pháp

lý, đưa ra những lời khuyên về những vấn đề có liên quan đến pháp luật và hướng dẫn đối tượng ứng xử phù hợp với pháp luật nhằm giúp cho người yêu cầu tư vấn nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật để họ thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Tư vấn pháp luật không phải là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật một cách chung chung hoặc chuyển tải thông tin pháp lý về các văn bản pháp luật mới, bở đối tượng của hoạt dộng tư vấn pháp luật là một tổ chức hoặc một cá nhân cụ thể; nội dung hoạt động tư vấn có liên quan đến một vụ việc cụ thể theo yêu cầu của đối tượng Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, người tư vấn tuyên truyền, phổ biến pháp luật có liên quan trực tiếp đến vụ việc cụ thể đó nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng Hoạt động tư vấn pháp luật cũng giúp cho người được tư vấn hiểu được đúng bản chất về

Trang 25

quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện và ứng xử phù hợp với pháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp luật

Tư vấn pháp luật trong TGPL được thực hiện tại trụ sở và ngoài trụ sở Tai trụ sở, tổ chức thực hiện TGPL tiếp nhận yêu cầu tư vấn trực tiếp hoặc thông qua thư tín, điện thoại, fax hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng khác Ở ngoài trụ sở, tư vấn được thực hiện thông qua các chuyến TGPL lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, sinh hoạt câu lạc bộ TGPL và thông qua các phương thức TGPL khác Đối với những vụ việc tư vấn đơn giản, người thực hiện TGPL sẽ phải tư vấn ngay Đối với những vụ việc phức tạp, cần có thời gian nghiên cứu, xác minh hoặc các vụ việc thiếu những giấy

tờ, tài liệu liên quan cần thiết cho việc tư vấn thì người thực hiện TGPL sẽ viết phiếu hẹn hoặc yêu cầu bổ sung

- Tham gia tố tụng

Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được TGPL là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được TGPL là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự

Trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính

Giám đốc trung tâm TGPL nhà nước hoặc trưởng chi nhánh có trách nhiệm cử người tham gia tố tụng Khi tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư xuất trình giấy chứng nhận tham gia tố tụng, thẻ Trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư và có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật

tố tụng, được sử dụng các biện pháp quy định trong luật tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL

Trang 26

- Đại diện ngoài tố tụng

Khi người được TGPL không thể tự mình bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì Trung tâm TGPL nhà nước, tổ chức hành nghề luật sư

cử người thực hiện TGPL đại diện ngoài tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Khi thực hiện đại diện ngoài tố tụng, người đại diện có thể sử dụng các biện pháp phù hợp với các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL

Các hình thức TGPL khác bao gồm: hỗ trợ thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính; hỗ trợ người được TGPL trong quá trình thực hiện thủ tục khiếu nại theo quy định của Luật TGPL; cung cấp thông tin pháp luật, tờ gấp, sách bỏ túi, cẩm nang pháp luật, các ấn phẩm tài liệu pháp luật khác qua các đợt TGPL lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, cung cấp bản sao các điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc TGPL, cung cấp địa chỉ làm việc của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà pháp luật quy định có thẩm quyền giải quyết vụ việc

1.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động trợ giúp pháp lý tại Việt Nam

Ở các nước trên thế giới, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người yếu thế bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước tư sản (như Na uy và Đa Mạch là hai quốc gia có hoạt động trợ giúp pháp lý đã ra đời từ thế kỷ 17) và được coi là chức năng xã hội của nhà nước, là một trong những tiêu chí bảo vệ quyền con người của nhà nước pháp quyền So với các quốc gia khác thì trợ giúp pháp lý ở Việt Nam ra đời có muộn hơn và cũng còn là hoạt động tương đối mới mẻ Hoạt động này mới chỉ ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển vượt bậc của 10 năm đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của

Trang 27

dịch vụ pháp lý, đặc biệt là nghề luật sư ở Việt Nam Có thể nói, quan điểm của Đảng lấy con người làm trung tâm trong mọi định hướng phát triển của đất nước đã tạo cơ hội cho sự hình thành và phát triển, dần đi đến hoàn thiện của dịch vụ pháp lý ở Việt Nam Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,

do dân và vì dân và nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một cao đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy trợ giúp pháp lý

ra đời và phát triển

Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước, từ năm 1945 đến nay, dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước ta đã trải qua các bước phát triển khác nhau phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng đặt ra trong từng giai đoạn của đất nước Từ năm 1945 đến năm 1996, hoạt động dịch vụ pháp lý miễn phí phát triển gắn liền với hoạt động của luật sư và của các cơ quan tư pháp Mặc dù trợ giúp pháp lý mới chính thức được khẳng định là một chế định pháp luật độc lập từ mười năm trở lại đây nhưng những hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý đã manh nha hình thành và phát triển từ khá lâu trong lịch sử lập pháp nước nhà Với

sự ra đời của Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán; Sắc lệnh 163/SL ngày 23/3/1946 về tổ chức các Toà án binh và Sắc lệnh số 69-SL ngày 18/6/1949, Sắc lệnh số 113/SL ngày 28/6/1946, những hoạt động mang tính chất trợ giúp pháp lý đã ra đời dưới hình thức “tư pháp bảo trợ”, gắn liền với yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa của "người bị can, bị cáo" Hoạt động này chủ yếu do các luật sư, cán bộ, công chức nhà nước và các công dân khác không phải là luật sư thực hiện dưới sự trợ giúp, bảo đảm kinh phí từ phía nhà nước Theo đó, nếu muốn được “tư pháp bảo trợ” thì phải làm đơn Nếu “người đương sự” được kiện thì việc được hưởng “tư pháp bảo

Trang 28

trợ” có hiệu lực cho đến khi thi hành xong hẳn bản án mà “người đương sự” không phải nộp một khoản lệ phí nào, kể cả việc cấp trích lục án, phí tổn này

sẽ do công khố chịu Có thể nói dịch vụ pháp lý miễn phí giai đoạn này đã thể hiện sâu sắc bản chất "dân chủ" của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà non trẻ Tuy vậy, hoạt động “tư pháp bảo trợ” mới chỉ tập trung ở bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo mà chưa mở rộng bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật cho các đối tượng đặc thù như một số nước trên thế giới vì đất nước

ta phải gồng mình tập trung mọi sức lực, của cải cho cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc

Trên nền tảng Hiến pháp 1946, các bản Hiến pháp tiếp theo (1959,

1980, 1992) vấn đề "tư pháp bảo trợ" được tiếp tục thể hiện qua nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Năm 1982, Việt Nam tham gia 2 Công ước lớn: Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và Công ước

về các quyền dân sự và chính trị Theo Điều 14, điểm 3 Phần d Công ước về các quyền dân sự và chính trị, quá trình xét xử một tội hình sự, mỗi người đều

có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu là:

Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ

sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có đủ điều kiện trả [27, Điều 14, điểm 3 Phần d]

Việc tham gia các Công ước này đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy về quyền được tiếp cận luật sư, người có kiến thức pháp luật của mọi công dân không phân biệt giàu nghèo, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định tư pháp bảo trợ với nội dung và phương thức mới, không chỉ dừng lại ở bảo đảm quyền bào chữa mà còn gắn với quyền được tiếp cận và

Trang 29

sử dụng pháp luật của công dân, nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có đủ điều kiện trả tiền) nhằm bảo đảm công bằng xã hội

Trước bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc mở rộng quan hệ đầu tư, hợp tác với nước ngoài ngày càng đòi hỏi phải phát triển thị trường dịch vụ pháp lý Trước yêu cầu đó, ngày 18/5/1995, tại phiên họp Ban Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng Bí thư

Đỗ Mười khẳng định:

Chúng ta cần chú ý đến các biện pháp để tăng cường hoạt động pháp lý mang tính kinh doanh, dịch vụ phục vụ đầu tư nhưng cũng cần chú trọng công tác tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho nhân dân, mà đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc ít người Công tác này chưa được quan tâm đúng mức Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu và làm ngay trong thời gian tới [46]

Ngày 31/5/1995, Văn phòng Trung ương Đảng đã có Công văn số 485/CV-VPTW thông báo ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư gửi Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp đề nghị:

Xác định phạm vi thích hợp hoạt động tư vấn pháp luật của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, trước hết chú trọng tổ chức tư vấn pháp luật của nhà nước…; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật [55]

Trong thư ngày 20/12/1995 gửi cán bộ, nhân viên ngành Tư pháp nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập ngành, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười một lần nữa nhấn mạnh: Nhà nước phải nghiên cứu sớm thành lập một hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật không mất tiền dành cho người nghèo, các gia đình thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số Chỉ đạo này đã định hướng để đổi mới tư duy về công tác cung ứng dịch vụ pháp lý, đặt mốc cho

Trang 30

quá trình chuyển biến sâu sắc, mạnh mẽ và toàn diện trong nhận thức và hoạt động của đời sống pháp luật, tạo tiền đề về mặt chính trị - pháp lý cho sự ra đời và phát triển của công tác trợ giúp pháp lý

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ động nghiên cứu, tham mưu giúp Chính phủ triển khai thí điểm thành lập các Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tại một số tỉnh Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Cần Thơ được thành lập ngày 13/7/1996, Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh Hà Tây được thành lập ngày 28/01/1997 Trải qua 01 năm thu được một số kết quả đáng khích lệ (trên 700 vụ/2 địa phương), số vụ việc ngày càng tăng, nhiều đối tượng đã gửi thư cảm ơn Lãnh đạo hai tỉnh đánh giá cao và coi đây

là một trong những loại hình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống hiệu quả nhất Kết quả thí điểm là tiền đề rất quan trọng cho sự ra đời của công tác trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước Theo đó, ở Trung ương, Cục Trợ giúp pháp lý thuộc

Bộ Tư pháp được thành lập (Điều 1), ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập (Điều 4)

Sau 03 năm triển khai hoạt động, để thúc đẩy hoạt động trợ giúp pháp

lý phát triển, ngày 01/03/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/2000/CT-TTg về việc tăng cường công tác trợ giúp pháp lý Chỉ thị đã đánh giá:

Trong thời gian qua (1997-2000) các Bộ, ngành và UBND các cấp đã nỗ lực, công tác trợ giúp pháp lý đã được triển khai thực

Trang 31

hiện khẩn trương, nghiêm túc và có hiệu quả, tạo điều kiện cho nhiều người nghèo và đối tượng chính sách hiểu biết pháp luật, giúp

họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp [47]

Chỉ thị xác định trợ giúp pháp lý là một bộ phận trong tổng thể chính sách thực hiện dân chủ ở cơ sở; thiết lập quan hệ phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc trả lời các kiến nghị của tổ chức trợ giúp pháp lý, thiết lập cơ chế để hướng dẫn các tổ chức chính trị - xã hội tham gia công tác này Thủ tướng nhấn mạnh:

Công tác trợ giúp pháp lý đã và đang trực tiếp hướng dẫn nhân dân sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, thực hiện nghĩa

vụ công dân, giữ đoàn kết trong cộng đồng, bảo đảm cho các quyền của công dân được tôn trọng trong thực tế, góp phần ổn định trật tự

xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [47]

Năm 2001 Pháp lệnh Luật sư được thông qua, Pháp lệnh đã thiết lập

cơ chế pháp lý khuyến khích, huy động đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách [41, Điều 6] Ngày 05/8/2002, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc mẫu về đạo đức hành nghề

Kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối và chính sách của Đảng

về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp đỡ pháp luật cho nhân dân theo tinh thần, nội dung nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X và các Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007) Sự ra đời của Đạo luật này đã thể hiện nhất quán chính sách của Đảng

Trang 32

và Nhà nước trong việc giúp đỡ pháp luật, hỗ trợ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách, đánh dấu bước chuyển về chất và đưa công tác trợ giúp pháp lý lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước

1.3 Vai trò của trợ giúp pháp lý

Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới ra đời

và phát triển từ nhiều năm nay, như Na uy và Đa Mạch là hai quốc gia có hoạt động trợ giúp pháp lý đã ra đời từ thế kỷ 17, ở đó, ban đầu hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện dưới hình thức từ thiện của các luật sư như bào chữa cho bị can, bị cáo, bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự miễn phí trước toà án Ở Việt nam, hoạt động về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách tuy mới ra đời gần 10 năm trở lại đây, nhưng bước đầu đã đem lại nhiều kết quả và khẳng định vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp

lý cho người nghèo và đối tượng chính sách là không thể thiếu được trong đời sống pháp luật của xã hội Việt nam hiện nay

Hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức trợ giúp pháp lý thật sự đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý, chủ yếu người nghèo và đối tượng chính sách và hàng triệu lượt người được phổ biến, giáo dục pháp luật miễn phí, kịp thời hòa giải nhiều vụ việc xích mích, tư vấn và hướng dẫn cho người thực hiện trợ giúp pháp lý và kịp thời bài chữa, đại diện hàng nghìn vụ việc của người dân

Nghiên cứu tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở nước ta hiện nay, bước đầu cho thấy trợ giúp pháp lý có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Cụ thể là:

Trang 33

Thứ nhất, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý nói chung và cho người nghèo và đối tượng chính sách nói riêng góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tư tưởng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam được

hình thành từ lâu, nó được thể hiện và ghi nhận trong 4 bản Hiến pháp (1946,

1959, 1980, 1992) Đặc biệt, tư tưởng Nhà nước pháp quyền được tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn qua các kỳ Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, và IX và nhất là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN:

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN Cần có cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực

hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [20]

Điều 2 Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” [40]

Về bản chất, Nhà nước pháp quyền là nhà nước dân chủ, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Trong Nhà nước pháp quyền mọi công dân điều phải bình đẳng trước pháp luật, ở đó các quyền con người được tôn trọng và bảo đảm thực thi Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có nhiệm vụ phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của

đất nước, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Cho nên tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý với mục tiêu

là nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao dân trí pháp lý, tạo điều kiện cho người yếu thế trong xã hội, mà cụ thể người nghèo và đối tượng chính sách vươn lên trong việc tiếp cận pháp luật, tạo ra cơ chế công bằng trong mỗi

Trang 34

công dân khi thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, do đó quá trình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã làm bộc lộ được bản chất và những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN

Ngoài ra, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ góp phần mở rộng việc thực thi dân chủ ở cơ sở, nhất là mở rộng dân chủ trực tiếp; thông qua nhận thức pháp luật của người được trợ giúp pháp lý (chủ yếu người nghèo và đối tượng chính sách), họ biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo đảm sự bình đẳng của công dân trước pháp luật Thông qua việc tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý sẽ tạo ra một môi trường pháp

lý rộng rãi cho người được trợ giúp pháp lý có những hành vi ứng xử hợp pháp; bảo đảm cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý sử dụng các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình, thực hiện tốt nguyên tắc “mọi công dân bình đẳng trước pháp luật”

Thứ hai, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính nước ta hiện nay: Nghị quyết

48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24.5.2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

khẳng định: "Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ thông tin, tư vấn, hỗ trợ pháp luật đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nhân dân và phù hợp pháp luật Đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách…” [01] Với tính cách là một hoạt động bổ trợ

tư pháp, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý còn nhằm nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật trong nhân dân, tránh sự tùy tiện lạm quyền từ phía cơ quan, cán

bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi nhiệm vụ, góp phần quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời tạo cơ chế hữu hiệu thực thi nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật

Trang 35

không phân biệt vị thế xã hội Nó còn đóng vai trò là người hướng dẫn pháp luật cho người nghèo và đối tượng chính sách, bảo đảm cho người được trợ giúp pháp lý miễn phí đều được tiếp cận, sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo ra điều kiện để công lý và công bằng

xã hội được thực thi, thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân biết quyền và nghĩa vụ của họ theo pháp luật trợ giúp pháp lý đó là bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình thông qua tổ chức trợ giúp pháp lý Chính vì vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý đã có những đóng góp quan trọng cho công cuộc cải cách tư pháp

Thông qua tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ giúp cho người dân hiểu hơn các trình tự, thủ tục hành chính cần thiết, tránh đi lại nhiều lần, tốn kém tiền bạc và công sức của người dân, mà trước hết là người được trợ giúp pháp lý Những vụ việc liên quan đến pháp lý của người nghèo, đối tượng chính sách, người già cô đơn, trẻ em không nơi nương tựa, dân tộc thiểu số, phụ nữ trong gia đình bạo lực được những người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn, đại diện, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc nhanh chóng, đúng pháp luật, góp phần rất lớn vào công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay Đồng thời, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý còn làm cầu nối giúp chính quyền các cấp tháo gỡ, khắc phục những vướng mắc và tạo ra diễn đàn đối thoại giữa chính quyền với dân Ngoài ra tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan Nhà nước giải quyết công việc một cách chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật; góp phần tích cực thực hiện cải cách tư pháp, mở rộng điều kiện để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trước toà, bảo đảm cho người nghèo, đối tượng chính sách, người già cô đơn, trẻ em không nơi nương tựa, dân tộc thiểu số, phụ nữ trong gia đình

Trang 36

bạo lực không có điều kiện thuê luật sư cũng có luật sư (với tư cách cộng tác viên) hoặc Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ, bào chữa miễn phí quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trước các cơ quan tố tụng

Thứ ba, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý góp phần quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và

xóa đói giảm nghèo đến năm 2010 của Việt nam (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số 2685/VPCP ngày 21/5/2002) là chương trình hành động thực hiện định hướng tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Để phục

vụ cho mục đích chung của Chiến lược là "tạo môi trường tăng trưởng nhanh, bền vững và xóa đói giảm nghèo", công tác trợ giúp pháp lý được coi là một trong những chính sách của Chiến lược trong đó xác định: "Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp lý và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật”[48]

Đồng thời, Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý góp phần còn thực hiện một số chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 Theo đó, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ hỗ trợ về trợ giúp pháp lý, nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo: hỗ trợ một số hoạt động tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại xã; tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại

xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; cung cấp thông tin pháp luật (tờ gấp, băng catset) miễn phí cho người nghèo

Thực tế qua gần 10 năm tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã góp

Trang 37

phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đối tượng chính sách, người già cô đơn, trẻ em không nơi nương tựa, dân tộc thiểu số, phụ nữ trong gia đình bạo lực Nó góp phần tăng cường khả năng tiếp cận pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa Hoạt động trợ giúp pháp lý thời gian qua không ngừng mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật về cơ sở thông qua các hình thức và phương pháp tiến hành như thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động, trợ giúp pháp lý qua các phương tiện thông tin đại chúng…

để người nghèo, đối tượng chính sách ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật miễn phí Chính vì vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý góp phần đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, không phân biệt dân tộc, địa bàn sinh sống… Chính vai trò này đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp xu thế phát triển của thế giới, trước hết chú trọng người nghèo và các đối tượng bị thiệt thòi khác trong xã hội

Thứ tư, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý người được trợ giúp pháp lý còn làm cho các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được triển khai và thực thi trên thực tế Tổ chức thực hiện

các hoạt động về trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý là quá trình hiện thực hóa các quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý trên thức tế,

mà pháp luật về trợ giúp pháp lý là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, nên quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý cũng là quá trình triển khai các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tế cuộc sống Hay nói cách khác, hoạt động trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý nhằm bảo đảm thực hiện chính sách nhất quán của Đảng ta là đặc biệt quan tâm đến người nghèo, đối tượng chính sách, trong đó có việc

“xóa mù, xóa nghèo” về mặt pháp lý

Trang 38

Pháp luật về trợ giúp pháp lý được ban hành trong thời gian qua sẽ làm

cơ sở cho việc tiếp tục triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trên phạm vi toàn quốc, tạo ra cơ chế đưa chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo đảm thực hiện bình đẳng dân tộc và công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, đáp ứng kịp thời nhu cầu cần được giúp đỡ pháp luật miễn phí của người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới

Thứ năm, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ góp phần đắc lực vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Thông qua tổ chức và hoạt

động trợ giúp pháp lý sẽ giúp cho các tổ chức trợ giúp pháp lý đã phát hiện những vướng mắc, bất cập từ các quy định pháp luật, nhất là những quy định pháp luật liên quan đến người được trợ giúp pháp lý, để kiến nghị cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm làm hoàn thiện hơn trong việc xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật Đồng thời, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý còn thúc đẩy cho đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý hoạt động chuyên nghiệp hơn, cũng như nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ và tu dưỡng đạo đức phẩm chất của người thực hiện trợ giúp pháp lý thực tế gần 10 năm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học từ thực tiễn để xây dựng cơ chế, chính sách cho việc nâng cao hoạt động trợ giúp pháp lý; nhất là việc hoàn thiện chức năng, tiêu chuẩn, điều kiện của từng người thực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước đối hoạt động trợ giúp pháp lý

Thứ sáu, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý có vai trò củng cố, bảo vệ và phát triển các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc

Tâm lý chung của người Việt Nam chúng ta ngại tham gia kiện tụng, hoạt động hòa giải cơ sở là hình thức do pháp luật trợ giúp pháp lý cho phép đã vận động, thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết vướng mắc trên cơ sở

Trang 39

pháp luật và đạo đức xã hội Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý còn đóng vai trò bảo vệ tính công bằng, tự do và nhân đạo, lòng tin vào công lý của con người Các nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý được ghi nhận trong Luật trợ giúp pháp lý sẽ chống lại các biểu hiện vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp, không tuân thủ pháp luật và quy tắc trợ giúp pháp lý, hoặc việc quy định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý, tôn trọng sự thật khách quan, không thu phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý cho thấy, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò giúp cho người nghèo, đối tượng chính sách, và đối tượng khác nắm bắt những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt nam, đồng thời củng cố bảo vệ và làm cho nó không ngừng phát triển trong cuộc sống xã hội

Tóm lại, từ những vấn đề trên, có thể nói, tổ chức và hoạt động trợ giúp

pháp lý có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nó không những đem lại nhiều lợi ích cho người nghèo và đối tượng chính sách và một số đối tượng yếu thế khác, mà còn giúp cho các cơ quan chức năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân từ cơ sở, nhất là những nguyện vọng chính đáng của người nghèo và đối tượng chính sách, qua đó, Nhà nước sẽ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của mình Do vậy, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.4 Các điều kiện đảm bảo trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL, nhằm giúp họ bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật,ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội , phòng ngừa , hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật Muốn

Trang 40

công tác TGPL phát huy được tính ưu viê ̣t của nó thì trên thực tế từ phía cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo mô ̣t số điều sau:

1.4.1 Cần có hê ̣ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đầy đủ

Hoạt động TGPL trong thời gian qua đã góp phần đáng kể vào việc thụ hưởng quyền tiếp cận công lý và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của những người nghèo, đối tượng chính sách, người dân tộc thiểu số, trẻ em và phụ nữ Nó góp phần quan trọng trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, nhất

là ở địa phương, và tới những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội, nhờ

đó họ nâng cao được nhận thức về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ dân sự và hình sự có liên quan Hoạt động TGPL đã làm thay đổi nhận thức và hành vi của cán bộ, công chức và người dân về pháp luật cũng như quyền và nghĩa vụ liên quan của cán bộ, công chức đối với nhân dân Theo ý nghĩa đó, TGPL tăng cường việc bảo đảm và hiện thực hoá các quyền con người và quyền công dân của các cá nhân

Cùng với sự ra đời của Luật TGPL và Luật Luật sư, các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật đã góp phần tích cực vào cải thiện nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi pháp luật cũng như việc nâng cao vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của những người tham gia hoạt động tố tụng và các trợ giúp viên pháp lý, các cộng tác viên đối với việc bảo đảm quyền được TGPL của đối tượng thụ hưởng Chẳng hạn, Mục I của Thông tư liên tịch của

Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 hướng dẫn áp dụng một

số quy định về TGPL trong hoạt động tố tụng quy định về trách nhiệm của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án cần phải cung cấp thông tin và hướng dẫn tiếp cận TGPL cho bị can, bị cáo và các đương sự liên quan Cơ quan tố tụng khi giải thích cho người đang bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w