THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 3 CỤM 2 CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI Bài tập 18 A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi) Cuộc sống gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn A thường...
Trang 1THẢO LUẬN HÌNH SỰ LẦN 3 CỤM 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM CON NGƯỜI
Bài tập 18: A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi) Cuộc sống gia đình khó khăn,
vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B Đêm 29/7, sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc
dù ngoài trời đang mưa bão Chị B khóc van xin A mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy
nhảy xuống sông cứu hai mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước Trong tình huống
trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?
Trong tình huống trên, A và B là người phạm tội
- Tội danh mà A đã phạm là Tội bức tử (Điều 130, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội bức tử:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mạng, quyền được sống của mẹ con chị B.
- Đối tượng tác động: Chị B và C (8 tháng tuổi)
Mặt khách
quan
- Hành vi: A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B Đêm 29/7, sau khi
đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão Như vậy, A đã có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi người lệ thuộc mình là mẹ con chị B
- Hậu quả: chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát và khiến cháu C
tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi đánh đập, đuổi mẹ con chị
B ra khỏi nhà của A là nguyên nhân trực tiếp khiến chị B bế con ra sông tự sát và khiến cháu C tử vong
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho mẹ con chị B và thấy được hậu quả sẽ xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện
- Tội danh mà B đã phạm là Tội giết người (Điều 123, BLHS)
Hành vi của B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:
Trang 2Dấu hiệu
Khách thể
- Khách thể: tính mạng, quyền được sống của cháu C
- Đối tượng tác động: cháu C – con người đang sống (lúc này đã 8 tháng tuổi nên loại bỏ trường hợp chị B phạm Tội giết con mới đẻ tại Điều 124, BLHS)
Mặt khách
quan
- Hành vi: chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát
- Hậu quả: cháu C tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát là nguyên nhân trực tiếp khiến cháu C tử vong Chủ thể B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
B thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp B nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho cháu C và thấy được hậu quả là cháu C sẽ chết nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Bài tập 19: A và B yêu nhau nhưng bị cha mẹ B phản đối vì cho rằng không môn đăng hộ đối Sau nhiều
lần thuyết phục nhưng cha mẹ vẫn không thay đổi ý kiến, thất vọng, A và B bàn nhau cùng tự sát Họ chuẩn bị sẵn hai sợi dây thừng rồi cùng nhau đến khúc sông vắng người A giúp B trói người lại, sau đó
tự trói mình để cùng nhau nhảy xuống sông Hãy xác định A có phải chịu TNHS hay không trong các tình huống sau và nếu có thì phạm tội gì?
1 A và B cùng nhảy xuống sông sau khi đã bị trói Do A tự trói nên dây thừng trói A lỏng ra nên A
không chết
Tội danh mà A đã phạm là Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS):
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mang, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: A đã trói tay của B lại để giúp B tự sát A đã có hành vi tạo điều kiện
về vật chất cho B tự tước đoạt tính mạng của mình
- Hậu quả: B tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A trói tay B và cả hai cùng nhảy xuống sông là nguyên nhân trực tiếp khiến B tử vong
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ quan A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức được hành vi của mình là
nguy hiểm cho B và thấy được hậu quả là B sẽ tử vóng nhưng vẫn mong muốn
Trang 3thực hiện.
2 Do bị trói quá chặt, B không thể tự nhảy được nên đã nhờ A đẩy mình xuống sông trước Kế đến A cũng nhảy xuống sông B chết, A được cứu sống
Tội danh mà A đã phạm là Tội giết người (Điều 123, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mạng, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: A đã có hành vi trói tay B và đẩy B xuống sông
- Hậu quả: B có hành động tự sát và vì tự sát nên B tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi trói tay và đẩy B xuống sông của A là việc tạo điều kiện cho B tự sát, và việc B tự sát là nguyên nhân trực tiếp khiến B tử vong
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
Hành vi trói tay B của A là hành vi cố ý, A biết rõ hành vi của mình là ngụy hiểm đến tính mạng của B, thấy trước được hành vi của mình sẽ dẫn đến hậu quả là B tự sát những A mong muốn việc tự sát đó diễn ra Ở đây hành vi của A không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của B, nên ta không nên xét lỗi của A đối với cái chết của B
Bài tập 20: Ông K mắc bệnh hiểm nghèo nằm liệt giường gần 1 năm Ông mong cho cái chết sớm đến
nhưng không biết làm cách nào Ông đem tâm sự của mình than thở với B là một y tá thường chăm sóc sức khỏe cho ông Sau đó ông đề nghị B giúp ông sớm kết thúc sự sống của mình B đồng ý và thống nhất cùng với ông K về việc chích cho ông một liều thuốc độc Sau khi nhất trí, B mang xi-lanh và hai
ống thuốc đến tiêm cho ông K Sáng hôm sau, ông K chết do bị chích thuốc độc Hãy xác định hành vi
của B có phải là tội phạm không? Nếu có là tội gì?
Tội danh mà B đã phạm là Tội giết người (Điều 123, BLHS)
Hành vi của B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giết người:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mạng, quyền được sống của K.
- Đối tượng tác động: ông K – con người đang sống
Mặt khách - Hành vi: B mang xi-lanh và hai ống thuốc đến tiêm một liều thuốc độc cho ông K
Trang 4Mặc dù là ông đề nghị B giúp ông sớm kết thúc sự sống của mình nhưng pháp luật Việt Nam không cho phép thực hiện hành vi này Do vậy, B đã có hành vi giết người,
- Hậu quả: K tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của chị B là nguyên nhân trực tiếp khiến K tử vong
Chủ thể B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan B thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
Bài tập 21: A là người thường dậy sớm mang cây gậy dài có gắn vợt đi vợt ốc nhồi ở các ao bèo Một
hôm A đang đi vợt ốc như thế thì phát hiện B là người hàng xóm đang sắp chết đuối dưới ao Tuy A biết
rõ B là người không biết bơi (lội) nhưng vì trong cuộc sống B thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau với gia đình A, thậm chí có lần B đã ném cả phân vào bể nước ăn nhà A nên khi thấy B sắp chết đuối A không
thò gậy xuống cứu B Hãy xác định tội danh cho hành vi của A trong các tình huống sau:
a A đứng yên trên bờ ao chờ tới khi B chìm xuống hẳn rồi bỏ đi Theo kết quả giám định pháp y B chết
do bị ngạt nước
Tội danh mà A đã phạm là Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội này:
Dấu hiệu
Khách thể
- Khách thể: xâm phạm đến nghĩa vụ bảo vệ tính mạng của B mà quy tắc đạo đức trong cuộc sống và pháp luật đòi hỏi mọi người phải tuân theo
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: A phát hiện B là người hàng xóm đang sắp chết đuối dưới ao Tuy A biết rõ B là người không biết bơi (lội) nhưng vì trong cuộc sống B thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau với gia đình A nên khi thấy B sắp chết đuối A không thò gậy xuống cứu B Như vậy, A đã có hành vi (không hành động) không cứu giúp người
bị nạn trong trường họp nhìn thấy người đó đang ở trong tình trạng nguy hiếm đến tính mạng Nghĩa là mặc dù người phạm tội đã nhìn thấy có người bị tai nạn hoặc trong trường hợp khác đang bị nguy hiểm có thể dẫn đến bị chết nhưng đã không thực hiện (không có hành động gì) việc cứu giúp nạn nhân
- Hậu quả: B tử vong
Trang 5- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của A là nguyên nhân trực tiếp khiến B tử vong
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ quan A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
b Ngay lúc B gần chìm (A vẫn đứng trên bờ ao) thì có anh C (chủ ao) nhảy xuống vớt B lên và B đã được cứu sống
Không phạm tội Vì tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng có cấu thành vật chất nên hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu bắt buộc, nhưng B được cứu sống
Bài tập 22: Sáng ngày 20/7, N (40 tuổi) đi ra đồng làm ruộng, khi qua chiếc cầu ở giữa đồng thì nghe
thấy tiếng kêu cứu của mấy đứa trẻ chăn trâu báo có người sắp chết đuối, nhìn xuống dưới kênh thì N phát hiện có một đứa trẻ khoảng 12 tuổi chới với dưới nước như đang sắp chìm N liền nhảy xuống kênh để cứu đứa trẻ Khi N nhảy xuống thì đứa trẻ lập tức bơi nhanh vào bờ rồi chạy ra phía mấy đứa trẻ chăn trâu đang cười khoái chí vì có người bị mắc lừa chúng N bực bội quay về nhà thay đồ và tiếp tục đi làm Chiều tối hôm đó, khi N đi làm về qua chiếc cầu thì cũng có mấy đứa trẻ kêu
có người chết đuối dưới kênh và nhìn xuống thì N cũng thấy có người đang ngụp lặn như sắp chết đuối giống lúc sáng Vì cho rằng lũ trẻ lại lừa mình nên N bỏ về Khoảng 8 giờ tối, N nghe tin có một đứa trẻ chết đuối ở dưới kênh Lúc này, N mới biết việc có người sắp chết đuối ở dưới kênh là có
thật Hôm sau, đám trẻ chăn trâu khai với công an là đã nhờ ông N cứu nhưng ông N không cứu Hãy
xác định hành vi của N có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội danh mà A đã phạm là Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 132, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội này:
Dấu hiệu
Khách thể
- Khách thể: xâm phạm đến nghĩa vụ bảo vệ tính mạng của người khác mà quy tắc đạo đức trong cuộc sống và pháp luật đòi hỏi mọi người phải tuân theo
- Đối tượng tác động: đứa trẻ – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: khi N đi làm về qua chiếc cầu thì cũng có mấy đứa trẻ kêu có người chết đuối dưới kênh và nhìn xuống thì N cũng thấy có người đang ngụp lặn như sắp chết đuối giống lúc sáng Vì cho rằng lũ trẻ lại lừa mình nên N bỏ về Hôm sau, đám trẻ chăn trâu khai với công an là đã nhờ ông N cứu nhưng ông N không cứu Như vậy,
N đã có hành vi (không hành động) không cứu giúp người bị nạn trong trường họp
Trang 6nhìn thấy người đó đang ở trong tình trạng nguy hiếm đến tính mạng Nghĩa là mặc
dù người phạm tội đã nhìn thấy có người bị tai nạn hoặc trong trường hợp khác đang bị nguy hiểm có thể dẫn đến bị chết nhưng đã không thực hiện (không có hành động gì) việc cứu giúp nạn nhân
- Hậu quả: B tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của N là nguyên nhân trực tiếp khiến đứa trẻ tử vong
Chủ thể N thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan N thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Bài tập 23: M (39 tuổi) là tổ trưởng quản lý điện ở địa phương với nhiệm vụ trông giữ, đóng cắt điện và
thu tiền điện của người sử dụng Gần đây, ông C là người sử dụng điện thường xuyên cố tình không nộp tiền điện Sau nhiều lần nhắc nhở mà vẫn không thu được tiền điện của ông C, M đã thông báo cắt điện Thấy bị mất điện, ông C cầm một thanh sắt cùng với em trai là Đ trên tay có một thanh gỗ chạy ra xông vào đánh vào người M Lúc đó, M sẵn có trong tay một cây kiếm (M mang theo người dùng để phát cành cây bảo vệ đường dây điện) chống cự lại C và Đ bỏ chạy M đuổi theo chém nhiều nhát từ phía sau lưng
của C Hãy xác định tội danh trong vụ án này với các tình huống như sau:
1 Thương tích gây ra cho C có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%;
Tội danh mà M đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS)
Hành vi của M đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của C.
- Đối tượng tác động: C
Mặt khách
quan
- Hành vi: Khi bị C và Đ tấn công thì lúc đó, M sẵn có trong tay một cây kiếm (M mang theo người dùng để phát cành cây bảo vệ đường dây điện) chống cự lại C
và Đ bỏ chạy M đuổi theo chém nhiều nhát từ phía sau lưng của C Như vậy, M
đã có hành vi cố ý gây thương tích cho C
- Hậu quả: C bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của M là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thể chất cho C
Chủ thể M thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự)
Trang 7Mặt chủ quan M thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
2 Thương tích gây ra cho M có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%, thương tích gây ra cho C có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%
- Đối với thương tích gây ra cho M có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8% và cũng không thuộc một trong các trường hợp gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% tại các điểm từ a đến k, Khoản 1, Điều
134, BLHS nên không đủ điều kiện để cấu thành Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS) là từ 11% trở lên
- Tội danh mà M đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS)
Hành vi của M đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của C.
- Đối tượng tác động: C
Mặt khách
quan
- Hành vi: Khi bị C và Đ tấn công thì lúc đó, M sẵn có trong tay một cây kiếm (M mang theo người dùng để phát cành cây bảo vệ đường dây điện) chống cự lại C
và Đ bỏ chạy M đuổi theo chém nhiều nhát từ phía sau lưng của C Như vậy, M
đã có hành vi cố ý gây thương tích cho C
- Hậu quả: C bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của M là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thể chất cho C
Chủ thể M thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự)
Mặt chủ quan M thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
Bài tập 24: T là kẻ sống lang thang Ngày 01/7, T đã cho kẹo để rủ một cháu bé 3 tuổi đi theo và đưa
cháu vào TP.HCM Để có thể xin tiền được nhiều, T đã dùng tay đánh vào đầu cháu bé cho đến khi chảy máu rồi đưa vào bệnh viện cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy xác định cháu bị chấn thương sọ não Sau khi bệnh viện băng bó và cấp thuốc cho cháu, T đã bế cháu ra khỏi bệnh viện rồi đưa đi ăn xin trên các phố Ngày 19/7, T lại bẻ gẫy chân trái của cháu và đưa vào bệnh viện Nhi đồng I bó bột rồi tiếp tục dẫn cháu
đi ăn xin Ngày 13/8, T lại bẻ gãy tay cháu, đồng thời rạch mặt nhiều nơi, cắt môi trên của cháu và đưa vào bệnh viện Nhi đồng II bó bột, sau đó lại tiếp tục đưa cháu đi ăn xin Đến ngày 15/8, thấy cháu bé bị
T đánh đập rất dã man trên đường phố, nhiều người dân đã báo công an bắt giữ.
Trang 8Qua giám định kết luận: “Cháu bé bị gãy kín các xương đoạn 1/3 dưới xương cánh tay phải và trái, bị
di chứng lệch trục chi phải, vỡ đầu trên xương chày trái, di chứng cứng gối trái, mặt bị dị dạng Tỷ lệ tổn thương cơ thể mà cháu bé phải gánh chịu là 55%” Hãy xác định T phạm tội gì? Tại sao?
- Tội danh mà T đã phạm là Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153, BLHS)
Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153, BLHS):
Dấu hiệu
Khách thể
- Khách thể: quyền được sống chung với cha mẹ, được hưởng sự trông nom, chăm sóc của cha mẹ
- Đối tượng tác động: cháu bé 3 tuổi (người dưới 16 tuổi)
Mặt khách
quan
- Hành vi: T cho kẹo để rủ một cháu bé 3 tuổi đi theo và đưa cháu vào TP.HCM nhằm chiếm đoạt bé, buộc bé phải đi ăn xin
Chủ thể T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
- Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp T nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm đến quyền lợi chính đáng và gây nguy hiểm cho cháu bé đồng thời T thấy được hậu quả sẽ xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện
- Mục đích: T chiếm đoạt cháu bé 3 tuổi với mục đích kiếm tiền
- Tội danh mà T đã phạm là Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS).
Hành vi của T đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội cố ý gây thương tích (Điều 134, BLHS):
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của cháu bé.
- Đối tượng tác động: cháu bé 3 tuổi
Mặt khách
quan
- Hành vi: Để có thể xin tiền được nhiều, T đã dùng tay đánh vào đầu cháu bé cho đến khi chảy máu rồi đưa vào bệnh viện cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy xác định cháu bị chấn thương sọ não Sau khi bệnh viện băng bó và cấp thuốc cho cháu, T đã bế cháu
ra khỏi bệnh viện rồi đưa đi ăn xin trên các phố Ngày 19/7, T lại bẻ gẫy chân trái của cháu và đưa vào bệnh viện Nhi đồng I bó bột rồi tiếp tục dẫn cháu đi ăn xin Ngày 13/8, T lại bẻ gãy tay cháu, đồng thời rạch mặt nhiều nơi, cắt môi trên của cháu và đưa vào bệnh viện Nhi đồng II bó bột, sau đó lại tiếp tục đưa cháu đi ăn xin Đến ngày 15/8, thấy cháu bé bị T đánh đập rất dã man trên đường phố
- Hậu quả: Cháu bé bị gãy kín các xương đoạn 1/3 dưới xương cánh tay phải và trái,
bị di chứng lệch trục chi phải, vỡ đầu trên xương chày trái, di chứng cứng gối trái, mặt
Trang 9bị dị dạng Tỷ lệ tổn thương cơ thể mà cháu bé phải gánh chịu là 55%.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc T dùng vũ lực đánh vào đầu cháu bé và bẻ gãy chân, tay đồng thời rạch mặt nhiều nơi của cháu bé là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cháu bé bị thương với tỷ lệ thương tật là 55%
Chủ thể T thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
Lỗi: T thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp T nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm đến quyền lợi chính đáng và gây nguy hiểm cho cháu bé đồng thời T thấy được hậu quả sẽ xảy ra nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Bài tập 25: Do bị ông X - Phó công an xã lập biên bản về các hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công
cộng nên A nuôi lòng thù hận, đến nhà ông X để hành hung Khi đến nơi, A xông vào đánh và đạp làm
ông X bật ngửa xuống nền nhà và chết do chấn thương sọ não Hãy xác định hành vi của A có phạm tội
hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội cố ý gây thương tích tình tiết tăng nặng dẫn đến chết người (hỗn hợp lỗi)
Tội danh mà A đã phạm là Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS)
Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội giúp người khác tự sát (Điều 131, BLHS):
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: tính mang, quyền được sống của B.
- Đối tượng tác động: B – con người đang sống
Mặt khách
quan
- Hành vi: A đã trói tay của B lại để giúp B tự sát A đã có hành vi tạo điều kiện về vật chất cho B tự tước đoạt tính mạng của mình
- Hậu quả: B tử vong
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Việc A trói tay B và cả hai cùng nhảy xuống sông là nguyên nhân trực tiếp khiến B tử vong
Chủ thể A thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ
quan
A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho B và thấy được hậu quả là B sẽ tử vóng nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Bài tập 26: Do có mâu thuẫn từ trước, A đang điều khiển xe máy chở B thì bị một số thanh niên chặn xe,
dùng mũ bảo hiểm đánh vào đầu A và B bỏ chạy về nhà lấy một cái ná cao su rồi đến chỗ bị đánh lúc nãy tìm đám thanh niên để trả thù Lúc này, thấy X đang điều khiển chạy ngược chiều, A hô to: “Dừng
Trang 10xe lại” rồi A và B cùng chạy ra chặn xe với mục đích là nếu đúng người trong đám thanh niên kia thì đánh X không dừng xe mà kéo ga bỏ chạy Thấy vậy, A dùng ná cao su bắn trúng vào đầu X Còn B, trước đó đã nhặt một viên gạch (loại gạch xây 4 lỗ), khi xe của X chạy đến thì B dùng viên gạch ném trúng vào ngực X làm X loạng choạng gục xuống Sau đó, X được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh
viện nhưng do vết thương nặng nên X đã chết Tại bản kết luận pháp y, kết luận nguyên nhân tử vong
của X là trụy tim mạch cấp do vỡ tim Ngoài ra còn có vết thương đỉnh trán phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?
Tội danh mà A và B đã phạm là Tội cố ý gây thương tích tình tiết tăng nặng dẫn đến chết người (hỗn hợp lỗi) (Điều 134, BLHS)
Hành vi của A và B đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội này:
Dấu hiệu
Khách thể - Khách thể: quyền được bảo vệ sức khoẻ của của X.
- Đối tượng tác động: X
Mặt khách
quan
- Hành vi: A dùng ná cao su bắn trúng vào đầu X Còn B, trước đó đã nhặt một viên gạch (loại gạch xây 4 lỗ), khi xe của X chạy đến thì B dùng viên gạch ném trúng vào ngực X làm X loạng choạng gục xuống Sau đó, X được mọi người đưa
đi cấp cứu tại bệnh viện nhưng do vết thương nặng nên X đã chết
- Hậu quả: X tử vong vì trụy tim mạch cấp do vỡ tim và ra còn có vết thương đỉnh trán phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%
- Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi: Hành vi của A và B là nguyên nhân trực tiếp khiến B bị tổn hại sức khoẻ Tuy nhiên, đối với hậu quả chết người thì hành vi của A và B chỉ là nguyên nhân gián tiếp
Chủ thể A và B thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội danh này – chủ thể thường (có năng
lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định)
Mặt chủ quan A và B thuộc trường hợp hỗn hợp lỗi A và B chỉ cố ý làm X bị thương chứ không
cố ý giết X mà chỉ vô ý với hậu quả chết người
Bài tập 27: A chở vợ là B (đang mang thai 2 tháng) đi công việc về Đến một hẻm nhỏ thì A bị T và
H chặn lại gây sự do hai bên có mâu thuẫn trước đó T và H cầm nón bảo hiểm đập vào đầu A làm A ngã gục ngay bờ tường cạnh lối vào của một dãy nhà trọ Thấy chồng bị đánh nhiều, B lao đến đỡ đòn cho chồng T và H dùng nón bảo hiểm đánh luôn B Thấy vậy, A hét lên: “Chạy!” và chạy vào trong một phòng trọ A nhìn lại thấy vợ mình không chạy kịp mà đang bị T và H đấm đá Xót vợ, A lấy con dao lao