1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận Hình sự cụm 4

35 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Thảo Luận Môn Luật Hình Sự Phần Chung
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Bài Tập
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 905,67 KB
File đính kèm NHÓM-5_TL-HS-CỤM-4 (1).rar (783 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÌNH SỰ BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG Học kỳ II, Năm học 2022 2023 A PHẦN TRẮC NGHIỆM 1 Án tích là một trong những hình thức của trách nhiệm hình sự Đúng Vì căn cứ vào các đặc điểm của TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm có tính cưỡng chế cao nhất mà các cá nhân người PT, PNTMPT phải gánh chịu trước NN thông qua bản án hoặc quyết định của TA có hiệu lực và tuân theo một trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTH.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG

Học kỳ II, Năm học: 2022-2023

Trang 2

A PHẦN TRẮC NGHIỆM

1 Án tích là một trong những hình thức của trách nhiệm hình sự

Đúng Vì căn cứ vào các đặc điểm của TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm có tính cưỡng chế cao nhất mà các cá nhân người PT, PNTMPT phải gánh chịu trước NN thông qua bản án hoặc quyết định của TA có hiệu lực và tuân theo một trình

tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS Trong đó, án tích lại là hậu quả pháp lý bất lợi và cũng chính là hậu quả của việc thực hiện TP Do đó, án tích là một trong những hình thức của trách nhiệm hình sự

2 Hình phạt là một trong những hình thức của TNHS

Đúng Vì căn cứ tại Điều 30 BLHS năm 2015, thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó Trong khi đó, căn cứ vào các đặc điểm của TNHS là hậu quả pháp

lý của việc thực hiện TP có tính cưỡng chế cao nhất mà các cá nhân người PT, PNTMPT phải gánh chịu trước NN thông qua bản án hoặc quyết định của TA có hiệu lực và tuân theo một trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS Do đó, hình phạt là một trong những hình thức của TNHS

3 Trách nhiệm hình sự chấm dứt khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt

Sai Vì không phải lúc nào khi trách nhiệm hình sự chấm dứt khi người phạm tội chấm hành xong hình phạt Trong trách nhiệm hình sự thì người phạm tội có 3 hình thức chịu trách nhiệm pháp lý gồm: hình phạt, BPTP, và án tích Trên thực tế nếu như có người bị phạm tội bị tuyên án phạt đồng thời sẽ bị án tích Nếu như người phạm tội chấp hành xong hình phạt nhưng vẫn còn án tích, thì người này vẫn chưa chấm dứt TNHS vì chưa xoá án tích Hay ví dụ theo quy định khoản 3 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 thì Chủ tịch nước có thẩm quyền đặc xá xét đơn xin ân giảm án tử hình Trong trường hợp này người PT được miễn giảm trách nhiệm hình sự nghĩa là trách nhiệm hình sự đó sẽ chấm dứt khi người phạm tội vẫn chưa chấp hành xong hình phạt

4 Ngăn ngừa người khác phạm tội là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt

Sai Vì căn cứ Điều 31 BLHS năm 2015 thì mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt hướng đến mục đích là: Trừng trị người, PNTM phạm tội; Giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; Ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Trong mục đích phòng ngừa chung mới có mục đích ngăn ngừa người khác phạm tội, đó là 1 trong những mong muốn cao nhất của nhà nước khi áp dụng hình phạt Và trong mục đích phòng ngừa riêng, thì chỉ có trừng trị và giáo dục người PT, PNTM phạm tội và ngăn ngừa PT mới

5 Người phạm một tội có thể phải chịu nhiều hình thức của TNHS

Trang 3

Đúng Vì các hình thức của TNHS bao gồm: HP, BPTP và án tích Trong đó, BPTP

có một trong những đặc điểm là áp dụng nhằm để hỗ trợ hoặc thay thế cho HP Chẳng hạn như trường hợp tại khoản 3 Điều 49 BLHS năm 2015 thì người phạm tội phải chịu BPTP là bắt buộc chữa bệnh trong trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và tiếp tục chấp hành hình phạt sau khi khỏi bệnh nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt Như vậy, tùy trường hợp mà người phạm một tội có thể phải chịu nhiều hình thức của TNHS

6 TNHS chỉ áp dụng đối với người phạm tội

Sai vì TNHS còn áp dụng thêm 1 đối tượng nữa chứ không phải chỉ áp dụng đối với người phạm tội Quy định tại Đ2 BLHS2015 quy định về cơ sở của TNHS thì có 2 đối tượng phải chiụ TNHS là : người phạm tội (K1Đ2) và pháp nhân thương mại phạm tội (K2Đ2)

7 Người phạm tội làm tiền giả theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLHS thì có thể

bị áp dụng hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Sai Vì theo Đ41 về “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc

nhất định” thì “Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.” Trong khi đó, đối với trường hợp người phạm tội làm tiền giả thì bị phạt tù từ 3-

>7 năm (Đ207), là tù có thời hạn (điềm đ, K1Đ32 về hình phạt chính đối với người phạm tội Không thuộc 1 trong 4 trường hợp được nêu (vì hình phạt chính của tội làm tiền giả là tù có thời hạn, thuộc hình phạt chính không cần hình phạt bổ sung nên ở đây cũng không được áp dụng hình phạt cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

8 Mọi trường hợp áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đều phải khấu trừ thu nhập của người bị kết án

Sai Vì không phải trường hợp nào áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì đều phải khấu trừ thu nhập của người bị kết án Ví dụ như đối với trường hợp gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước công nhận, hoặc bản thân người bị kết án là lao động chính, hoặc là người bị kết án thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập nhưng không đáng kể, hay người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, thì không

bị khấu trừ thu nhập khi đang bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ (K3Đ36 BLHS 2015)

9.Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo Điều 41 BLHS chỉ được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật

Sai Vì căn cứ Đ41 BLHS 2015 thì Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là từ 1->5 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo Vì vậy,

Trang 4

thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định có thể được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù chứ không nhất thiết là phải được tính

từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật

10 Có thể áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân cho người thực hiện tội phạm khủng bố theo quy định tại Điều 299 BLHS

Đú ng Theo khoản 5 Điều 299 BLHS "Người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản" Như vậy, người thực hiện tội phạm khủng bố có thể bị áp

dụng hình phạt tước một số quyền công dân

*Đây là đối với trường hợp công dân là người VN trong BLHS 2015, còn đối với công dân là người nước ngoài thì không thể áp dụng hình phạt tước 1 số quyền công dân đối với tội phạm khủng bố là công dân nước ngoài Mà chỉ có thể phạt tù theo Đ113*

11 Hình phạt quản chế được tuyên kèm với tất cả các loại hình phạt chính

Sai Vì quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương Hình phạt quản chế có tính nghiêm khắc cao và trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý rời khỏi nơi cư trú, và bị tước 1 số quyền công dân quy định tại Đ44 và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Vì tính nghiêm khắc cao nên hình phạt quản chế không thể tuyên kèm với 1 số hình phạt chính nhưng tính nghiêm khắc không cao như: cảnh cáo, phạt tiền,…Đồng thời, căn cứ vào Đ43 thì

“Thời hạn quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.”

Đây là quy định áp dụng cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, nếu người phạm tội có hình phạt chính như tù chung thân hay tử hình thì không thể tuyên kèm với hình phạt quản chế này tuyên kèm với tất cả các loại hình phạt chính

12 Biện pháp “tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” (Điều 47 BLHS) chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội

Sai Căn cứ vào K3 Đ47 BLHS 2015: “Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.” Như vậy, biện pháp “tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm”

(Điều 47 BLHS) không chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội mà còn được áp dụng với người có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng Vật, tiền, tài sản vào việc thực hiện tội phạm Ví dụ như nhân viên công ty thiếu trách nhiệm trong việc bảo quản tiền trong két sắt của công ty, vô tình để chiếc kềm ở chỗ két sắt, khiến cho trộm đột nhập, dùng kềm và lấy đi số tiền trong két sắt và khiến công ty bị hao hụt 1 số tiền khổng lồ Thì người nhân viên đó đã gián tiếp để cho tên trộm thực hiện tội phạm, chiếc kềm sẽ

bị tịch thu vật chứng (chiếc kềm)

13 Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng thay thế cho hình phạt

Trang 5

Đúng Vì biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng

hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt Như vậy, việc quy định các biện pháp tư pháp và việc áp dụng các biện pháp đó trong thực tiễn có khả năng tác động hỗ trợ trong việc giáo dục người phạm tội hoặc trong nhiều trường hợp còn có thể thay thế cho hình phạt, rút ngắn được tố tụng, giải quyết nhanh chóng các vụ án Ví dụ: Điều 96 BLHS 2015 quy định biện pháp tư pháp được áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội giáo dục tại trường giáo dưỡng

*Trường hợp có khả năng thay thế cho hình phạt: xem ở K4Đ91*

14 Tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 của BLHS chỉ được áp dụng khi chính người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả

Sai Vì không phải tình tiết “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” nào cũng áp dụng khi chính người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả , mà còn có thể do người dám hộ tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Căn cứ theo K1 Đ1 NĐ 01/2006 về người

thành niên: “Có thể áp dụng khi cha, mẹ của người từ đủ 14 đến dưới 15 đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hoặc cha, mẹ của người từ đủ 15 đến dưới 18 đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu người đó không có tài sản.”

15 Không áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” (Điểm i Khoản

1 Điều 52 BLHS) trong trường hợp phạm tội do lỗi vô ý

Đúng Vì phạm tội do lỗi vô ý là phạm tội không mong muốn, tức là phạm tội phát sinh ngoài ý chí của chủ thể, nên không thể áp dụng những tình tiết tăng nặng nói chung

và tình tiết phạm tội đối với người dưới 16t để căn cứ mức độ xử phạt đối với trường hợp phạm tội do lỗi vô ý Chỉ áp dụng tình tiết đối với tội phạm là người dưới 16t trong trường hợp phạm tội do lỗi cố ý( mục 2 NQ 01/2006/NQ-HĐTP )

16 Phạm tội nhiều lần là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Sai Theo định nghĩa, thì phạm tội nhiều lần là hành vi thực hiện một tội phạm mà trước đó chủ thể đã phạm tội đó ít nhất là một lần và chưa bị xét xử Còn phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một trong những tình tiết được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm b K1Đ52) Ngoài ra, căn cứ vào mục 5 NQ 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng 1 số quy định về tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp như

sau: “Chỉ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi có đầy đủ các điều kiện sau: Cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng 1 tội phạm khộng phân biệt đã truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc ch được xoá án tích Ng phạm tội đều lấy các lần phạm tội là nghề sinh sống và lấy kq của vc phạm tội là nguồn sống chính” Tóm lại, phạm tội có nhiều lần không phải là tội có tính

Trang 6

chất chuyên nghiệp Vì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có tính nguy hiểm cao hơn phạm tội nhiều lần

17 Một trong những điều kiện để áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 52 BLHS là phải cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm

Đúng Căn cứ mục 5 NQ 01/2006/NQ-HĐTP, chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

 Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; (với trường hợp đã xoá án tích thì không cộng dồn làm 5 lần, và chỉ có thể tính được khi nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc ch được xoá án tích Nếu đến 5 lần mà xa nhau đủ để xoá án tích rồi thì không thể đếm đủ là 5 lần được)

 Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính

18 Mọi trường hợp đã bị kết án đều có án tích

Sai Theo định nghĩa, Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội và là một trong những hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự Đây là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án nhưng không có tính vĩnh viễn Án tích tồn tại trong quá trình người phạm tội bị kết án về một tội phạm cho đến khi được xóa án tích Tuy nhiên cũng có 1

số trường hợp người phạm tội bị kết án nhưng không có án tích Ví dụ, đối với trường hợp là người dưới 18 tuổi thuộc một trong các trường hợp tại điểm a,b,c,d K1 Đ107 thì

do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý thì mới được xem là tái phạm Trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng có hành vi phạm tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng với lỗi vô ý thì không được coi là tái phạm

20 Đang chấp hành bản án mà phạm tội mới là tái phạm

Sai Vì tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý (K1Đ53) Theo đó, điều kiện tiên quyết để xem xét có là tái phạm hay không đó là người phạm tội phải đang còn án tích, chưa được xóa

Trang 7

án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới Tuy nhiên vẫn có trường hợp, người phạm tội đang chấp hành bản án mà phạm tội mới thì vẫn không được coi là tái phạm

Ví dụ về trường hợp người dưới 18t bị kết án nhưng dc coi là không có án tích nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây(K1Đ107):

a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;

c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này

Vì vậy, người dưới 18 tuổi khi đang chấp hành bản án mà lại phạm tội mới thì không được xem là tái phạm (đơn giản là trường hợp về người dưới 18t không có án tích thì cũng không được coi là tái phạm nếu phạm tội mới vì điều kiện chủ chốt là phải có án tích, tuy nhiên trường hợp này thì không nên đồng nghĩa với việc không có phạm tội tái phạm)

21 Mọi trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì Toà án được áp dụng Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt

Sai, vì không phải mọi trường hợp nào có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS thì TA được

áp dụng Đ54 BLHS khi quyết định hình phạt Căn cứ vào K1Đ54 về quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thì điều kiện áp dụng

là khi người phạm tội có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại K1 Đ51 Do vậy, dù người bị kết án có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 nhưng chỉ có một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 thì được xác định là không đủ điều kiện và không được quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định Tuy nhiên, nếu các tình tiết tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt

Ví dụ: Tình tiết “giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ ngưới phạm tội” là dấu hiệu định tội được quy định tại Điều

126 Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội này, toà án không được coi tình tiết “phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” là tình tiết giảm nhẹ nữa

22 Trong trường hợp có nhiều bản án, thời gian thực tế mà người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn có thể trên 30 năm

Đúng Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 55 BLHS 2015 quy định hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với cải tạo không giam giữ và không quá 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn Tuy nhiên trên thực tế, tại khoản 2 Điều 56 BLHS quy định một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới thì

có trường hợp tuy bản án hình phạt tù không quá 30 năm nhưng trên thực tế người phạm tội phải ở trong tù hơn 30 năm

Trang 8

Ví dụ: A phạm tội cướp tài sản theo Khoản 2 Điều 168 BLHS 2015 và bị Tòa tuyên phạt

15 năm tù Chấp hành hình phạt được 03 năm thì A phạm tội mới là Tội giết người theo Khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 Về hành vi giết người thì A bị tuyên phạt 20 năm tù Như vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 56 BLHS 2015 về tổng hợp hình phạt của 2 bản án là 30 năm tù, tuy nhiên thời gian thực tế là 32 năm

23 Trong luật hình sự Việt Nam, phương pháp thu hút hình phạt được sử dụng để tổng hợp hình phạt tù có thời hạn với hình phạt cải tạo không giam giữ

Sai Vì theo nguyên tắc thu hút, hình phạt chung là hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên Nguyên tắc này được áp dụng trong trường hợp không thể cộng hết các hình phạt lại với nhau do có một trong các hình phạt đã tuyên là hình phạt nặng nhất trong hệ thống hình phạt hay do các hình phạt không thể cùng chấp hành Phương pháp thu hút hình phạt được sử dụng với trường hợp hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc

tử hình

VD: A phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 và tội trộm cắp theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 A bị Tòa án tuyên phạt mức án tù có thời hạn là 05 năm đối với hành vi trộm cắp tài sản và tử hình đối với hành vi giết người Như vậy, hình phạt chung trong trường hợp này là tử hình Căn cứ theo Điều 55 BLHS năm 2015

24 Có thể quyết định mức hình phạt 12 năm tù cho người phạm tội giết người chưa đạt thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS

Sai Vì căn cứ tại K2 Đ123 BLHS 2015 về tội giết người, mức hình phạt được quy định đối với trường hợp phạm tội không thuộc quy định tại K1 điều này thì bị phạt từ 07 đến

15 năm Như vậy, mức hình phạt tối đa mà người phạm tội chưa đạt và đi tù có thời hạn thì mức hình phạt là không quá ¾ mức phạt tù điều luật quy định là 11 năm 3 tháng Căn cứ theo khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015

25 Mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt

là 20 năm tù

Đúng K3 Đ57

26 Nếu trong thời hạn luật định, người phạm tội cố tình trốn tránh thì thời gian trốn tranh không được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Sai Vì nếu trong thời hạn luật định, người phạm tội cố tình trốn tránh và có lệnh truy

nã thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu truy cứu TNHS Còn trong

Trang 9

trường hợp người phạm tội cố tình trốn tránh nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không ra quyết định truy nã hoặc không đúng trình tự, thủ tục luật định thì thời gian trốn tránh vẫn được tính vào thời hiệu truy cứu TNHS Căn cứ theo khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015; Khoản 5 Điều 60 BLHS năm 2015

27 Thời hiệu thi hành bản án theo Điều 60 BLHS là thời hiệu thi hành đối với quyết định về hình phạt và các quyết định khác của bản án hình sự

Sai Áp dụng tinh thần nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì thời hiệu thi hành bản án là thời hiệu thi hành bản

án hành sự về quyết định hình phạt Còn đối với các quyết định khác như bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự Chứ không phải của bản án hình sự

28 Trong trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành hình phạt tù thì thời hiệu thi hành bản án hình sự được tình từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật

Sai Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP điều 1.7: “Trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù và khi hết thời hạn hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù mà Chánh án tòa án đã cho hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù không ra quyết định thi hành án hình phạt tù theo quy định tại khoản 2 Điều 261 hoặc quyết định thi hành án phạt tù đối với phần hình phạt tù còn lại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc có ra quyết định thi hành án phạt tù, nhưng người bị kết án không trốn tránh, thì cũng được hưởng thời hiệu thi hành bản án Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính kể từ ngày hết hạn hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù và căn cứ vào mức hình phạt từ còn lại

mà người bị kết án chưa chấp hành.”

Do đó trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành hình phạt tù thì thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính từ ngày hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù

29 Người được miễn trách nhiệm hình sự thì không có án tích

Đúng Vì người được miễn trách nhiệm hình sự là người có hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu TNHS trong những trường hợp nhất định chứ không phải người không phạm tội Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể do cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án áp dụng (tùy theo từng giai đoạn của vụ án) Người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc

Trang 10

phạm tội do mình thực hiện (như: Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội) Do đó, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên dẫn đến hậu quả pháp lý không để lại án tích cho người bị kết án, nghĩa là tất cả trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đểu không có án tích (K2Đ69)

30 Thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự chỉ thuộc về Tóa án

Sai Căn cứ vào Đ92 BLHS 2015 thì thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự thuộc về

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án

Ví dụ như trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định điểm b Khoản 1 Điều 29:

“Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: Khi có quyết định đại xá.” Đại xá là biện pháp khoan hồng của Nhà nước có nội dung tha tội, thường là hoàn toàn và triệt để cho hành loạt người phạm những tội nhất định, và quyết định đại xá là thuộc thẩm quyền của Quốc hội Còn thẩm quyền miễn hình phạt mới do Tòa án quyết định

31 Đặc xá là một trường hợp miễn trách nhiệm hình sự

Đúng Vì theo định nghĩa thì đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của NN do CTN quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong THĐB Ngoài ra thì theo quy định

tại Khoản 1 Điều 62 BLHS về Miễn chấp hành hình phạt thì: “Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.” Nên nhận định này đúng

32 Đặc xá là biện pháp chỉ được áp dụng cho người bị kết án phạt tù có thời hạn

Sai Vì Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt Đặc xá được áp dụng cho cả tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá (quy định tại Luật đặc xá 2018)

33 Người được đặc xá thì không có án tích

Sai Vì Người được đặc xá thì vẫn có án tích cho đến khi được xóa án tích theo quyết định của Tòa án hoặc được đương nhiên xóa án tích sau khi chấp hành xong hình phạt,

Trang 11

thời gian thử thách và các điều kiện khác theo quy định; các trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 70,71,72 ở BLHS 2015

Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành

xong hình phạt được quy định tại khoản 4 điều 73 BLHS 2015: “Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.” Người

bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn theo quy định tại Điều 70 BLHS Do đó người được đặc xá vẫn có án tích

34 Đại xá có thể được áp dụng cho người đã thực hiện hành vi phạm tội mà chưa

bị kết án

Đúng Vì quyết định đại xá chỉ có hiệu lực với những hành vi phạm tội đã xảy ra trước khi ban hành văn bản đại xá và có hiệu lực đối với các đối tượng và trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào Do đó, đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội ở giai đoạn nào thì cũng có thể được áp dụng kể cả thực hiện hành vi phạm tội mà chưa bị kết án

35 Đại xá là biện pháp chỉ được áp dụng cho người đang chấp hành hình phạt

Sai Vì Đại xá là biện pháp khoan hồng của NN có nội dung tha tội, thường là hoàn toàn

và triệt để cho hàng loạt người phạm những tội nhất định là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự và miễn chấp hành hình phạt Về áp dụng, đại xá là biện pháp được áp dụng với đối tượng là những người phạm tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) hoặc đang thực hiện việc thi hành án Như vậy, đại xá còn áp dụng với đối tượng

là những ng phạm tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng

36 Thẩm quyền miễn hình phạt chỉ thuộc về Tòa án

Đúng Căn cứ vào K1 Đ30: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.” Vì vậy, Thẩm quyền miễn hình phạt chỉ thuộc

về Tòa án

37 Chấp hành bản án là chấp hành hình phạt

Sai Vì Chấp hành bản án là việc người bị kết án phải chấp hành theo quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, có một số trường

Trang 12

hợp quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án có thể là án treo, và án treo không được coi là hình phạt hoặc được hiệu là miễn chấp hành HP tù có điều kiện Hoặc nếu

là bản án dân sự, thì có những trường hợp chấp hành bản án không phải là chấp hành hình phạt, chẳng hạn như quyết định phân chia tài sản thừa kế

38 Người bị kết án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi đều hoãn chấp hành hình phạt tù

Sai Vì nếu đối tượng người bị kết án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi (điểm b K1 Đ67) Tuy nhiên, chỉ được hoãn trong trường hợp bị xử phạt lần đầu Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này (K2 Đ67)

39 Án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn

Sai Vì án treo là biện pháp miễn chấp hành HP tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị xử phạt tù không quá 3 năm, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ mà thấy không cần phải bắt chấp hành HP tù (Điều 65 BLHS) Như vậy, án treo là một hình phạt nhẹ hơn so phạt tù có thời hạn không quá 3 năm

40 Chấp hành thời gian thử thách của án treo là chấp hành hình phạt

Sai Vì theo định nghĩa, án treo là biện pháp miễn chấp hành HP tù có điều kiện, được

áp dụng đối với người bị xử phạt tù không quá 3 năm, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ mà thấy không cần phải bắt chấp hành HP tù (Điều 65 BLHS) Đây là 1 biện pháp cưỡng chế hình sự chứ không được coi là hình phạt Nên chấp nhận thời gian thử thách của án treo không phải là chấp hành hình phạt

41 Điều kiện thử thách của án treo chỉ là người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thử thách

Sai Vì trong điều kiện thử thách của án treo, ngoài việc người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thử thách, mà còn phải không được cố ý vi phạm nghĩa vụ quá 2 lần và không được vi phạm tội mới Căn cứ vào K5 Đ65 BLHS, quy định rõ về điều

kiện thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo

cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên , thì Tòa

án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó

Trang 13

phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.”

42 Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Đúng K5 Đ65 BLHS

43 Án treo chỉ áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng

Sai Vì theo khoản 1 Điều 65 BLHS thì về mức hình phạt tù bị Tòa án xử phạt tù không quá 3 năm không kể về tội gì (tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng – NQ01/2013) là điều kiện đầu tiên để xem xét cho hưởng án treo

44 TA có thể áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo

Đúng Vì TA có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt

bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này, theo K3 Đ65 BLHS

2015 Trong trường hợp người được hưởng án treo phải chịu hình phạt bổ sung thì thời hạn chấp hành loại hình phạt bổ sung có thời hạn được tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo mà có hình phạt bổ sung đó

45 Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày bản án treo có hiệu lực pháp luật

Sai Thời gian thử thách của án treo là thời hạn mà Toà án quyết định buộc người bị kết án được cho hưởng án treo phải tuân thủ các điều kiện của án treo Thời gian thử thách phải gấp đôi hình phạt tù và có thời hạn từ 1->5 năm Về hiệu lực của thời gian thử thách của án treo sẽ được tính từ ngày tuyên bản án đầu tiên cho hưởng án treo Chứ không phải tính từ ngày bản án treo có hiệu lực pháp luật

46 Thời gian thử thách của án treo tối thiểu phải bằng mức hình phạt tù mà Toà

án tuyên đối với người được hưởng án treo

Sai Vì thời gian thử thách của án treo do Toà án ấn định, với thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm, căn cứ Điều 4 NQ 02/2018/NQ-HĐTP Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt thì Toà án có thể ấn định thời gian ngắn hơn mức được hướng dẫn tại điểm a và b mục 6.4, nhưng phải ghi rõ trong bản án

Trang 14

47 Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo bị đưa ra xét xử về 1 tội phạm khác thì phải chấp hành hình phạt tù đã được cho hưởng án treo

Sai Vì Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó vẫn phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều

56 của Bộ luật này

Sai Vì trong thời gian thử thách án treo mà thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa

án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này, căn cứ K5 Điều 65 BLHS

2015 Như vậy, việc phải chấp hành hình phạt tù đã được cho hưởng án treo chỉ xảy ra

khi phạm tội mới, nếu phạm tội khác thì phải căn cứ vào K1 Đ56 để xử lý : “Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau

đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.”

48 Người bị kết án đương nhiên được xoá án tích khi chấp hành xong bản án

Sai Vì không phải người bị kết án nào cũng đương nhiên được xoá án tích khi chấp hành xong bản án Căn cứ vào K1 Đ70 có quy định nếu người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII và chương XXVI thì dù sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án thì người bị kết án cũng không được đương nhiên xoá án tích Ngoài ra, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó thực hiện hành vi phạm tội mới thì cũng không được đương nhiên xoá

án tích (K3Đ70)

49 Mọi người bị kết án đều có án tích

Trang 15

Sai Vì không phải tất cả người bị kết án đều có án tích Ví dụ như căn cứ vào K2 Đ69, Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích

50 Người được hưởng án treo đương nhiên được xoá án tích khi hết thời gian thử thách của án treo

Sai Vì sau thời gian được hưởng án treo, thì cần phải xét 1 năm người phạm tội đã

chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn được quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 70 BLHS

52 Mọi trường hợp có án tích đều đương nhiên được xóa án tích

Theo điều 71,

Sai Không phải trường hợp nào có án tích cũng đương nhiên được xoá án tích Căn

cứ tại Điều 70 BLHS 2015 thì có 1 số trường hợp như:

 Không áp dụng đương nhiên được xoá án tích nếu người bị kết án thuộc các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật HS khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản

án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 70 BLHS

 Người bị kết án không được xoá án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại điểm a,b,c,d K2Đ70

 Người bị kết án không được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản

án, người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản

2 Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Trang 16

a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều

299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;

b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này

54 Trong mọi trường hợp, để có thể được áp dụng biện pháp tha tù trước thời hạn

có điều kiện thì người đang chấp hành án phạt tù phải đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Sai Vì theo điểm c khoản 1 Điều 66 thì việc được giảm thời hạn chấp hành hình phạt

tù chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng trở lên Tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thì không cần đáp ứng điều kiện này

Sai Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện tại Điểm a,b,c,d,đ,e Khoản 1 Điều 66 BLHS, không cần thiết phải được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

55 Trong thời gian thử thách, nếu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện

bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác thì Tòa án buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành

Sai Vì căn cứ vào khoản 4 Điều 66 nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo qui định tại Điều 56 của bộ luật này Và nếu một tội phạm khác diễn ra trước tội phạm đang phải chịu hiện tại thì Toà án quyết định hình phạt với tội đang xét xử rồi tổng hợp hình phạt chung, sau đó trừ đi phần hình phạt

đã chấp hành

56 Trong thời gian thử thách, nếu người được tha tù trước thời hạn bị xử phạt vi phạm hành chính hai lần trở lên thì Tòa án buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành

Sai Vì theo khoản 4 Điều 66 người được tha tù trước thời hạn bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần trở lên trong thời gian thử thách thì Tòa án có quyền hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc ngườ đó phải chấp nhận hình phạt tù còn lại chưa chấp hành

57 Thời gian thử thách đối với người tha tù trước thời hạn có điều kiện bằng hai lần mức thời gian còn lại của phần hình phạt tù chưa chấp hành

Sai Vì theo khoản 3 Điều 66 quy định: “Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình

sự có thẩm quyền, tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị

Trang 17

kết án Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thực hành Thời gian thực hành bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.” Như

vậy, thời gian thử thách đối với người tha tù trước thời hạn có điều kiện bằng mức thời gian còn lại của phần hình phạt tù chưa chấp hành

58 Án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

Sai Vì theo khoản 7 Điều 91 BLHS 2015 quy đinh thì án đã tuyên đối với người chưa

đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Do

đó, án đã tuyên đối với độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi vẫn được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Tóm lại, vẫn có trường hợp án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

59 Tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm không được áp dụng đối với người dưới

18 tuổi phạm tội

C2: Sai Án đã tuyên đối với hành vi phạm tội của người từ đủ 16 đến dưới 18t vẫn được dùng để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm (K7Đ91) Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà đã thực hiện hành vi phạm tội mới theo quy định tại Điều 53 thì vẫn là tái phạm, tái phạm nguy hiểm Do đó, tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm vẫn được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

60 Các biện pháp giám sát giáo dục chỉ được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp người này được miễn trách nhiệm hình sự

đúng, chỉ áp dụng khi ng này đc miễn trách nhiệm hình sự, k2 điều 91 hoặc điều

92

Sai Vì các biện pháp giám sát giáo dục là những biện pháp đặc thù, chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự khi có căn cứ nêu tại khoản 2 Điều 91 BLHS Nói cách khác, nếu người phạm tội dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự theo những căn cứ áp dụng chung đối với người phạm tội bao gồm người đã thành niên, thì họ không bị áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục

61 Để áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì phải được sự đồng ý của người phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của

họ

Đúng Vì theo Điều 92 BLHS quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa

án chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp du ̣ng biê ̣n pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nếu người dưới 18 tuổi phạm tô ̣i hoặc người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ho ̣ đồng ý với viê ̣c áp du ̣ng một trong các

Ngày đăng: 09/07/2022, 13:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

KHOA LUẬT HÌNH SỰ - Thảo luận Hình sự cụm 4
KHOA LUẬT HÌNH SỰ (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w