1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KIẾN THỨC, THÁI độ, THỰC HÀNH và một số yếu tố LIÊN QUAN đến THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG của NGƯỜI CHĂM sóc CHÍNH của TRẺ dưới 05 TUỔI tại xã tân TIẾN HUYỆN CHƯƠNG mỹ

69 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 499,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH CỦA TRẺ DƯỚI 05 TUỔI TẠI XÃ TÂN TIẾN HUYỆN CHƯ

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG

ĐỀ TÀI: KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH CỦA TRẺ DƯỚI 05

TUỔI TẠI XÃ TÂN TIẾN HUYỆN CHƯƠNG MỸ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

NĂM 2019

DƯƠNG ĐỨC MẠNH

Lớp: YTCC21-1B

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Đại cương về bệnh tay chân miệng 4

1.1.2 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 5

1.2 Thực trạng mắc bệnh Tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam 5

1.2.1 Tình hình bệnh tay chân miệng ở thế giới 5

1.2.2 Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 7

Bảng 1.1: Số trường hợp mắc và tử vong do bệnh TCM ở Việt Nam giai đoạn 2007-2016 (Nguồn Bộ Y tế) [11] 7

1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng 8

1.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh 8

1.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng bệnh tay chân miệng 10

1.3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh tay chân miệng 11

1.4 Một số đặc điểm của xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ 11

1.5 Khung lý thuyết 12

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 13

2.5 Phương pháp chọn mẫu 14

Áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn 14

2.6 Các biến số nghiên cứu 14

Trang 3

2.6.1 Nhóm biến số về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM:

14

2.6.2 Nhóm biến số về các yếu tố liên quan đến trạng kiến thức, thái độ, thực

hànhphòng bệnh 15

2.7 Các tiêu chuẩn đánh giá 15

2.8 Phương pháp thu thập số liệu 16

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 16

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 17

2.11 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục 17

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 18

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 18

3.2 Kiến thức của ĐTNC về phòng TCM 19

3.3 Thái độ của ĐTNC với phòng TCM 23

3.4 Thực hành phòng bệnh TCM 24

3.5 Hoạt động hỗ trợ y tế tại xã 28

Bảng 3.5.4 : Bảng phân bố tỷ lệ ĐTNC đánh giá hiệu quả hoạt động TT-GD-TT của địa phương 31

3.6 Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành phòng bệnh TCM của NCSC cho trẻ 31

3.6.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh tay chân miệng 31

CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN KẾT LUẬN, BÀN LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 33

4.1 Kết luận 33

4.2 Bàn luận 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 37

PHỤ LỤC 1: PHIẾU PHỎNG VẤN NHANH 37

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN VỀ BỆNH TAY – CHÂN – MIỆNG 38

Trang 4

PHỤ LỤC 3: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 39 PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ CHO ĐIỂM 56 PHỤ LỤC 5: BIẾN SỐ 59

Trang 5

TTYT: Trung tâm Y tế

VSRM: Vệ sinh răng miệng

WHO: Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Số trường hợp mắc và tử vong do bệnh TCM ở Việt Nam giai đoạn

2007-2016 (Nguồn Bộ Y tế) [11] 7

YBảng 3 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 18

Bảng 3 2: Kiến thức chung về bệnh TCM ở đối tượng nghiên cứu 19

Bảng 3 3: Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh TCM 22

Bảng 3 4: Kiến thức chung của đối tượng nghiên cứu về bệnh TCM ở trẻ em dưới 5 tuổi 23

Bảng 3 5: Thái độ về thông tin phòng bệnh TCM 23

Bảng 3 6: Thái độ về quan điểm phòng bệnh TCM trong cộng đồng 23

Bảng 3.7: Bảng đánh giá thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ 24

Bảng 3 8: Bảng đánh giá thực hành rửa tay bằng xà phòng 24

Bảng 3 9: Bảng đánh giá thực hành lau rửa đồ chơi, lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ 26

Bảng 3.10: Bảng đánh giá thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ 27

Bảng 3 11: Bảng đánh giá thực hành xử lý phân cho trẻ 27

Bảng 3 12: Đánh giá điểm thực hành phòng bệnh TCM 28

Bảng 3 13: Bảng đánh giá hoạt động hỗ trợ y tế tại địa phương 28

Bảng 3.14: Phân bố tỷ lệ ĐTNC đánh giá hiệu quả hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM của xã 29

Bảng 3.15: Hoạt động thông tin- giáo dục-truyền thông của xã để phòng bệnh TCM 30

Bảng 3 16: Bảng phân bố tỷ lệ ĐTNC đánh giá hiệu quả hoạt động TT-GD-TT của địa phương 31

Bảng 3 17: Mối liên quan giữa nghề nghiệp với thực hành phòng bệnh TCM 31

Bảng 3 18: Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh TCM 32

Bảng 3 19: Mối liên quan giữa thái độ với thực hành phòng bệnh TCM 33

Bảng 3 20: Mối liên quan giữa hoạt động Thông tin-giáo dục-truyền thông của địa phương đến thực hành phòng bệnh TCM 33

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, tay chân miệng (TCM) đã trở thành một trongnhững bệnh truyền nhiễm cấp tính thường gặp ở trẻ em và có nguy cơ bùng phátdịch hàng đầu trên toàn thế giới [22] Ca bệnh TCM được phát hiện đầu tiên tạiCalifornia, Hoa Kỳ năm 1969, hiện nay đã xuất hiện trên toàn cầu và đang có xuhướng tập trung ở châu Á trong những năm gần đây Năm 2012 tại Campuchia đãghi nhận 52 trường hợp trẻ em tử vong chỉ trong 3 tháng bùng phát dịch, trong quýđầu tiên của năm 2015, WHO đã thống kê trên 150.000 trường hợp mắc bệnh và cótới 14 trường hợp tử vong tại Trung Quốc [23] Có thể thấy nhiều quốc gia phải đốidiện với nguy cơ bùng phát và lây lan mạnh của dịch TCM trên khắp cả nước vàkhu vực

Tại Việt Nam, theo báo cáo của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, trong 9tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 53.529 trường hợp mắc TCM, trong đó có25.845 trường hợp nhập viện và đã có 6 trường hợp tử vong Số mắc TCM chủ yếu

ở trẻ dưới 10 tuổi (chiếm 99,5%), trong đó trẻ ở độ tuổi mầm non là cao nhất [10]Cho đến nay bệnh TCM chưa có vaccine phòng và chưa có thuốc điều trị đặchiệu nên mặc dù hầu hết ca bệnh đều diễn biến nhẹ nhưng một số trường hợp bệnhthể nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm (viêm não - màng não, viêm cơ tim, phùphổi cấp ) thậm chí dẫn đến tử vong [2] TCM chủ yếu xảy ra đối với trẻ nhỏ, vìthế người chăm sóc trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác phòng bệnhtại cộng đồng

Chương Mỹ là một huyện ngoại thành Hà Nội, theo số liệu thống kê của trungtâm y tế huyện, trong năm 2017 toàn huyện có 14 ca mắc bệnh TCM, và trong 6tháng đầu năm 2018, cũng có 37 trường hợp mắc bệnh TCM được thống kê từ cácCSYT trên địa bàn [7] Tân Tiến là một xã thuộc huyện Chương Mỹ, người dân tại

xã chủ yếu kiếm sống bằng nghề làm nông, dân trí chưa cao Trong 6 tháng đầunăm 2018 xã Tân Tiến có 11 ca mắc bệnh TCM với đối tượng là trẻ dưới 5 tuổichiếm đến 29.7% số ca mắc trên toàn huyện Xã có địa hình trũng, dễ ngập, tháng

Trang 9

7/2018 xã chịu cảnh ngập lụt kéo dài [23] Những vấn đề sau lụt như ô nhiễm môitrường, ô nhiễm nguồn nước là nguy cơ có thể gây bệnh TCM cao

Trước nguy cơ cao bùng phát dịch bệnh TCM tại xã Tân Tiến và để tìm hiểukiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phòng bệnh TCMcủa những người chăm sóc chính cho trẻ em tại xã, học viên xin đề xuất tiến hành

nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực

hành phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 05 tuổi tại

xã Tân Tiến huyện Chương Mỹ, thành phố Hà nội năm 2019.’’

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng của người chămsóc trẻ dưới 5 tuổi tại xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội năm2019

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnhtay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Tân Tiến, huyệnChương Mỹ, thành phố Hà Nội năm 2019

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Đại cương về bệnh tay chân miệng

Bệnh TCM là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch

do virus đường ruột gây ra Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 (EV71) Biểu hiện chính là tổn thương da, niêm mạcdưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòngbàn chân, mông, gối Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiệnsớm và xử trí kịp thời [13]

Bệnh lây truyền chủ yếu bằng đường “phân-miệng” và tiếp xúc trực tiếp,nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nướcbọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhântrên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà Đặc biệt khi bệnh nhân mắc bệnhđường hô hấp, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho virus lây lan trựctiếp từ người sang người Mọi người đều có cảm nhiễm với virus gây bệnh, khôngphải tất cả mọi người nhiễm virus đều có biểu hiện bệnh; bệnh thường gặp ở trẻ emdưới 15 tuổi, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi [13]

Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu TCM nào được tìm ra Khi pháthiện trẻ bị nhiễm TCM chỉ điều trị hỗ trợ các triệu chứng như: bù nước, điện giải,chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm, tăng cường dinh dưỡng, nâng cao thể trạngcủa trẻ, theo dõi sát để phát hiện sớm và điều trị các triệu chứng nếu có.[2]

Để phòng bệnh TCM tại cộng đồng, Bộ Y tế khuyến cáo: [10]

- Rửa tay thường xuyên với xà phòng trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi

cho trẻ nhỏ ăn, sau khi sử dụng nhà vệ sinh và sau khi thay đồ đặc biệt là sau khitiếp xúc với các bóng nước, thông gió nhà cửa hằng ngày

Trang 12

- Làm sạch môi trường bị ô nhiễm và các vật dụng bẩn (bao gồm cả đồ chơi)

rửa bằng xà phòng và nước, sau đó khử trùng bằng các chất tẩy rửa thông thường

- Tránh tiếp xúc gần (ôm, hôn, dùng chung đồ dùng…) với trẻ em bị bệnh

cũng có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh

- Không cho trẻ em bị bệnh đi nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, nơi đông người

cho tới khi khỏe hẳn

- Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh và chăm sóc y tế kịp thời nếu trẻ sốt cao,

mất tỉnh táo

- Che miệng và mũi khi hắt hơi và ho.

- Xử lý khăn giấy, tã lót đã dùng bằng cách bỏ vào thùng rác và thải bỏ đúng

cách

- Luôn lau dọn nhà cửa, nhà trẻ, trường học sạch sẽ.

1.1.2 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

Người chăm sóc chính là người có thời gian chăm sóc, gần kề với trẻ nhiều

nhất Đồng thời là người thực hiện hầu hết các thao tác chăm sóc trẻ: Vệ sinh răngmiệng, vệ sinh thân thể cho trẻ; Vệ sinh chỗ ở, đồ chơi cho trẻ; Chế biến thức ăncho trẻ, cho trẻ ăn; Cho trẻ đi vệ sinh…

Nhà tiêu hợp vệ sinh: Nhà tiêu hợp vệ sinh là nhà tiêu đảm bảo cô lập đượcphân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp xúc với động vật, côn trùng

Có khả năng tiêu diệt được các mầm bệnh có trong phân, không gây mùi khó chịu

và làm ô nhiễm môi trường xung quanh [1]

1.2 Thực trạng mắc bệnh tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Tình hình bệnh tay chân miệng ở thế giới

Kể từ khi tác nhân gây bệnh là Enterovirus thược nhóm virus đường ruột, lầnđầu tiên được phát hiện tại Mỹ vào năm 1969, bệnh lây sang nhiều nước và gâythành những vụ dịch lớn nhỏ tại các nước Châu Âu trong đó có Bulgaria, Hungari

và Thụy Điển Vào những năm 1990 của thế kỷ trước dịch xuất hiện ở Bulgaria đã

Trang 13

có tới 1.505 ca mắc và 45 ca tử vong Những nước khác như Pháp, Ý, Hà Lan, TâyBan Nha, Rumani, Braxin, Canada, Đức cũng thường xuyên xuất hiện dịch [21]Trong những năm gần đây nhiều vụ dịch tay chân miệng được thông báo xảy ra tạicác nước thuộc khu vực Châu Á và Đông Nam Á như: Đài Loan (1997-2008), NhậtBản (2002-2004), Malaysia (1997-2008), Singapro (1997-2002), Thái Lan (2006-2008) v.v… mà nguyên nhân chủ yếu do chủng EV71 gây nên Theo số liệu cậpnhật ngày 29/11/2016 của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, bệnh TCM vẫntiếp tục được ghi nhận tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, có một sốquốc gia tăng cao hơn năm trước như Trung Quốc, Triều Tiên, Macau, Singapore.[19]

Nghiên cứu trong một thời gian dài các nhà khoa học phát hiện ra rằng EV71 type

A lây lan mạnh hơn ở California Trong khi đó type B và type C lại lây lan mạnh ởĐông Nam Á thậm chí còn lan rộng ra toàn thế giới Nói cách khác, TCM khôngxảy ra chỉ ở 1 nước mà còn là vấn đề chung của toàn cầu [19]

Đến ngày 31/8/2015, Trung Quốc đã ghi nhận tổng số 1,427,751 ca mắc, trong đó

103 ca tử vong do TCM Riêng trong tháng 8/2015 ghi nhận 180,813 ca mắc Sốmắc TCM trong năm 2015 tiếp tục tuân theo xu hướng mùa của dịch TCM như cácnăm 2012, 2013 và 2014 (biểu đồ 1.1) [15]

Biểu đồ 1.: Phân bố ca mắc tay chân miệng theo tháng từ 2012 - 2015 tại Trung

Quốc [15]

Trang 14

Theo thống kê, Nhật Bản đã ghi nhận 316,377 trường hợp mắc TCM từ đầunăm 2015 Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015, số mắc tay chân miệng có xu hướngtăng liên tục đến tháng 8 năm 2015 có xu hướng giảm dần (biểu đồ 1.2) Tương tựtại Singapore, đến 12/9/2015, Singapore ghi nhận tổng số 20,334 ca mắc TCM, caohơn số mắc cùng kỳ năm 2014 (n =15,450) [17]

Biểu đồ 1.: Phân bố ca mắc TCM theo tuần từ 2012-2015 tại Nhật Bản [17]

1.2.2 Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh TCM lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1997 Năm

2003, vụ dịch TCM lần đầu được báo cáo tại miền Nam, Việt Nam Những năm gầnđây, bệnh có xu hướng gia tăng và đang trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộngđồng Trong năm 2006-2007; 305 ca nhập viện tại BV Nhi đồng I có biểu hiện bệnh

lý thần kinh; trong đó 36 ca (11%) và 3 ca tử vong (0.01%) được xác định do EV71

Kể từ năm 2006, số trường hợp mắc TCM ở Việt Nam tăng với con số đáng kể [12]

Bảng 1.: Số trường hợp mắc và tử vong do bệnh TCM ở Việt Nam giai đoạn 2007-2016 (Nguồn Bộ Y tế) [11]

Trang 15

2012 với số ca mắc hàng năm trên 100.000 người Cũng theo báo cáo của Cục Y tế

dự phòng 9 tháng đầu năm 2017, cả nước ghi nhận 43.162 trường hợp mắc bệnhTCM tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 20.063 trường hợp nhập viện [10]

Bệnh TCM vẫn tiếp diễn với số lượng mắc cao và diễn biến thất thường vềbệnh, cho thấy tính cấp thiết để có biện pháp kịp thời, hiệu quả phòng bệnh Kể từtháng 1 năm 2018, hơn 53.000 ca nhập viện và 6 ca tử vong do bệnh đã xảy ra trênkhắp Việt Nam với hầu hết các trường hợp từ tháng 9 trở đi [18]

1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng

1.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh

Một nghiên cứu mô tả của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự về kiến thức vàthực hành phòng bệnh TCM trong suốt vụ dịch trên 388 người chăm sóc trẻ ở cáctrung tâm tâm chăm sóc trẻ và trường học mẫu giáo được tiến hành tại Thành phốKhon Kaen năm 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người chăm sóc có đủkiến thức để sàng lọc và kiến thức phòng bệnh TCM tương ứng là 95% và 39.8%.Trong phần kiến thức phòng bệnh TCM, tỷ lệ đối tượng biết phải rửa tay cho trẻ vớinước sạch trước mỗi bữa ăn chỉ chiếm 3,5% và tỷ lệ biết sử dụng đúng chất tẩy rửa

để làm sạch bàn tay cho trẻ với nước sạch bàn tay, bàn chân, khử trùng miệng là43% [14]

Với mục tiêu thu thập thông tin kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đếnbệnh TCM trên 02 nhóm đối tượng đích là người chăm sóc trẻ ở HGĐ và ở cácđiểm giữ trẻ không chính thức tại cộng đồng, năm 2011 VNRC đã phối hợp cùngIFRC tiến hành khảo sát ban đầu tại 08 tỉnh miền Nam: An Giang, Bến Tre, Long

An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quảng Ngãi và Đà Nẵng Khảo sát đượctiến hành bằng phương pháp thu thập thông tin định lượng kết hợp với phỏng vấn

Trang 16

sâu ở 146 NCS trẻ chính dưới 5 tuổi tại HGĐ và 70 NCS trẻ tại các điểm giữ trẻ.Kết quả cho thấy, tổng nhóm NCSC trẻ tại nhà có đến 21,2% không biết về đườnglây truyền của bệnh; 16,5% không hoặc ít quan tâm ngay cả khi trong thôn xóm cóngười bị bệnh TCM; chỉ có 45,9% luôn luôn sử dụng xà phòng hoặc các dung dịchsát khuẩn khi rửa tay cho trẻ; 64,2% lau chùi sàn nhà và 36,2% lau chùi đồ chơi củatrẻ mỗi ngày [16]

Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích của Cao Thị Thúy Ngân mô tả kiếnthức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM của 292 bà mẹ có con dưới 3 tuổi tạiphường Trung Liệt quận Đống Đa năm 2012 Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phòng bệnhTCM ở bà mẹ có kiến thức đạt là 41,5% Các nghiên cứu cũng đã xác định đượcmột số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê: những ĐTNC là CBCNV có kiến thứcphòng bệnh TCM đạt cao hơn những ĐTNC không phải là CBCVN là 6,1 lần;những đối tượng có trình độ học vấn trên THPT có kiến thức phòng bệnh TCM đạtcao gấp 2,3 lần các đối tượng có trình độ học vấn dưới THPT; những ĐTNC làCBCNV có khả năng thực hành phòng bệnh TCM cao gấp 4,4 lần các đối tượngkhông phải là CBCNV; những ĐTNC có trình độ trên THPT có khẳ năng thực hànhphòng bệnh TCM đạt cao gấp 4,7 lần những ĐTNC có trình độ học vấn dưới THPT.[8]

Nghiên cứu của Trần Hữu Quang tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm

2013 với NCSC trẻ dưới 5 tuổi đưa ra kết quả có tới 37,2% ĐTNC có kiến thứcphòng bệnh TCM không đạt Trình độ học vấn của người chăm sóc, số năm kinhnghiệm chăm sóc trẻ, dân tộc, số lượng nguồn thông tin ĐTNC nhận được về bệnhTCM Về trình độ học vấn, các nghiên cứu trước đó thường chỉ ra những nhómngười chăm sóc chính có trình độ học vấn cao hơn sẽ có kiến thức tốt hơn nhữngnhóm có trình độ học vấn thấp Chẳng hạn nghiên cứu của Mai Văn Phước và cộng

sự năm 2013 đã chỉ ra rằng ĐTNC có trình độ học vấn THPT trở lên có kiến thứcphòng bệnh TCM cao gấp 3,2 lần các ĐTNC có trình độ học vấn THPT trở xuống[9] Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thùy Chi về kiến thức, thái độ, thực hành

và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh TCM của giáo viên ở các trường mầmnon tại Lương Sơn, Hòa Bình năm 2013 cũng cho thấy: Giáo viên có trình độ cao

Trang 17

đẳng có kiến thức dịch tễ học về bệnh tốt hơn 2,548 lần nhóm có trình độ dưới caođẳng Bên cạnh đó trong nghiên cứu này có chỉ ra: giáo viên có kinh nghiệm trên 5năm có kiến thức về biện pháp phòng ngừa bằng 2,084 lần so với nhóm dưới 5 năm.[6]

Về dân tộc của đối tượng nghiên cứu cũng là một trong những yếu tố liên quan ảnhhưởng đến kiến thức phòng bệnh TCM của người chăm sóc trẻ Nghiên cứu mô tảcắt ngang của Trần Thị Anh Đào và cộng sự năm 2012 cho thấy: bà mẹ là ngườiKinh có kiến thức phòng bệnh tốt hơn bà mẹ là người dân tộc Chơ Ro (p<0,05) [4]Trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Quốc Tuyên năm 2016 về “Kiến thức, thựchành về phòng TCM và một số yếu tố liên quan của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ngườiđồng bào dân tộc thiểu số tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” tìmthấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số lượng nguồn thông thông tin bà mẹđược tiếp cận TCM so với kiến thức của họ Những bà mẹ tiếp cận từ 2 nguồnthông tin trở lên có kiến thức đạt gấp 5,77 lần những bà mẹ chỉ nghe được từ 1nguồn thông tin [5]

1.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng bệnh tay chân miệng

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ về bệnh TCM ở giữa các phụ huynh học sinhcủa 2 trường tiểu học ở Thành Đô, Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy kiếnthức về bệnh TCM của ĐTNC chưa cao với điểm số trung bình đạt được 41,79điểm Thái độ của cha mẹ phụ thuộc rất nhiều vào các báo cáo, truyền thông Nhưvậy có thể thấy truyền thông là rất cần thiết để thiết lập các khái niệm về bệnh TCMcũng như thực hành phòng bệnh TCM trong các bậc cha mẹ cũng như người chămsóc chính trẻ [20]

Nghiên cứu của Đặng Quang Ánh và cộng sự năm 2013 tại quận Thanh Khê, thànhphố Đà Nẵng đối với 370 NCSC trẻ dưới 5 tuổi cho kết quả chỉ có có thái độ đúng

về bệnh Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan chặt chẽ giữa nghề nghiệp vớithực hành phòng bệnh TCM của NCSC trẻ [3]

1.3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh tay chân miệng

Nghiên cứu của Jakrapong Aiewtrakun và cộng sự cũng chỉ ra rằng fối vớithực hành phòng bệnh, chỉ có 3,5% đối tượng biết rửa tay với xà phòng trước khi

Trang 18

ăn và sau khi đi vệ sinh Trong thời gian dịch bùng phát một số người chăm sóc trẻ(23,7%) không giảm hoạt động tiếp xúc gần gũi giữa các trẻ bệnh và khi có trẻ bịbệnh, 19,1% người chăm sóc không báo cho cơ quan y tế công cộng biết , một trongnhững hạn chế của nghiên cứu này mà tập trung tìm hiểu về thực hành trong khi xảy

ra dịch mà vẫn chưa khai thác được nhiều thông tin về thực hành về phòng bệnhTCM, không phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành [14]

Trình độ học vấn cũng là một trong số những yếu tố liên quan đến thực hànhphòng bệnh TCM của ĐTNC Nghiên cứu của Mai Văn Phước năm 2014 chỉ rarằng ĐTNC có trình độ THPT trở lên đạt về thực hành phòng bệnh TCM cao gấp3,2 lần các ĐTNC có trình độ học vấn dưới THPT [9] Năm 2016, trong nghiên cứucủa Đỗ Quốc Tuyên cũng cho thấy: Những bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trởlên có thực hành cao gấp 7,64 lần những bà mẹ có trình độ học vấn dưới THPT.Nghiên cứu này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa số lượng nguồn thông tin mà bà mẹtiếp nhận được về bệnh TCM so với thực hành của họ Những bà mẹ tiếp cận từ 2nguồn thông tin trở lên có thực hành đạt gấp 3,16 lần những bà mẹ chỉ nghe được 1nguồn thông tin Sự khác biệt này có ý nghĩa thông kê với p<0,05 [6]

Về mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành chung về phòng bệnhTCM của ĐTNC Kết quả nghiên cứu của Mai Văn Phước: Người chăm sóc trẻ cókiến thức đạt thì thực hành đạt cao gấp 5,8 lần đối tượng có kiến thức không đạt [9].Kết quả nghiên cứu của Đỗ Quốc Tuyên cũng tương tự Những bà mẹ có kiến thứcđạt thì có thực hành đạt cao gấp 5,56 lần những bà mẹ có kiến thức không đạt, sựkhác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [5]

1.4 Một số đặc điểm của xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ

Tân Tiến là một xã thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, xã có diệntích 13,12 km², dân số năm 1999 là 8591 người, mật độ dân số đạt 655 người/ km²

Xã có 6 thôn: Việt An, Đông Tiến, Gò Chè, Phương Hạnh, Tân Hội, Tiến Tiên

Xã Tân Tiến là một trong những xã phải chịu hậu quả nặng nề nhất trong cácđợt ngập lụt của huyện Chương Mỹ, đặc biệt là vào đợt lụt tháng 7/2018 Đặc biệt,

Trang 19

trong xã hiện có 200 hộ dân thuộc xóm Khúc Bằng, thôn Việt An và xóm Nằng,thôn Tiên Tiến hiện bị ngập sâu, người dân phải di chuyển bằng xuồng do xã cungcấp Cũng như nhiều xã khác tại huyện Chương Mỹ nói chung và xã Tân Tiến nóiriêng, hiện nay nguy cơ bùng phát dịch bệnh TCM đang là vấn đề nổi cộm nhất cần

ưu tiên can thiệp trong tình hình hiện nay

1.5 Khung lý thuyết Thực hành phòng bệnh TCM

Thực hành vệ sinh nhà cửa Thực hành vệ sinh đồ chơi

Vệ sinh cá nhân cho trẻ

Vệ sinh cho người chăm sóc trẻ

Vệ sinh chăm sóc khi trẻ bệnh

Yếu tố từ phía gia đình

Thông tư về Giáo dục/Đào tạo/Y tế về TCM

Trang 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người chăm sóc chính của trẻ dưới 5 tuổi sống tại xã Tân Tiến, huyệnChương Mỹ, Hà Nội, đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng hợp tác trả lờiphỏng vấn

Nghiên cứu lựa chọn người chăm sóc trẻ chính là người dành nhiều thời gianchăm sóc trẻ nhất trong gia đình và là người quyết định phương pháp chăm sóc trẻ.Trong trường hợp nhà có nhiều trẻ dưới 5 tuổi hoặc có nhiều NCSC, chỉ tiến hànhphỏng vấn 1 NCSC

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 11/2018 đến tháng 11/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo công thức:

n=

Z2 1-α/2 p(1-p)

d2

Trong đó: z: Hệ số tin cậy

d=0,05: Độ chính xác tuyệt đối

p: là tỷ lệ người chăm sóc chính trẻ có thực hành tốt về phòng bệnh TCM, lấy p= 0.297 (Theo nghiên cứu của Đặng Quang Ánh năm 2013 [3]

Z=1,96(tương đương với mức ý nghĩa 95%)

Trang 21

Ta có cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là n=326 người Dự trù 10% người chămsóc chính trẻ dưới 5 tuổi bỏ cuộc trong quá trình nghiên cứu, thực tế nghiên cứu trênn=360 đối tượng.

2.5 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theocác bước sau

- Bước 1: Lập danh sách các hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi sắp xếp theo thứ

tự từ 1 đến 627 (theo danh sách tiêm chủng mở rộng của xã năm 2017)

- Bước 2: Chọn ngẫu nhiên các HGĐ vào mẫu nghiên cứu theo phươngpháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, tính hệ số k=627/360 xấp xỉ 2

- HGĐ được chọn đầu tiên là hộ có thứ tự từ 1 đến k, chúng tôi chọn HGĐ

có thứ tự là 1, HGĐ thứ 2 được chọn vào mẫu là: 1+k= 1+2=3, lần lượt như vậycho đến khi đủ 360 HGĐ

- Bước 3: Sau khi đã chọn được HGĐ, chọn ĐTNC trong hộ gia đình.ĐTNC là NCSC với trẻ, là người có thời gian chăm sóc trẻ nhiều nhất trongngày Xác định NCSC trẻ bằng cách hỏi chủ hộ gia đình( hoặc những thànhviên trong gia đình có mặt) Nếu NCSC trẻ không có mặt tại thời điểm thu thập

số liệu hẹn lịch quay lại sau hoặc chuyển sang hộ gia đình khác theo cách chọn

hộ gia đình như trên

2.6 Các biến số nghiên cứu

2.6.1 Nhóm biến số về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM:

- Thông tin chung: tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn

- Thực trạng về kiến thức: nguyên nhân, độ tuổi mắc bệnh, dấu hiệu nhận biết,triệu chứng, đường lây truyền, nguy cơ, biện pháp phòng tránh

Trang 22

- Thực trạng về thái độ về phòng bệnh TCM: tìm hiểu về bệnh, quan tâm đếnbệnh, quan niệm

- Thực trạng về thực hành: vệ sinh răng miệng, sử dụng xà phòng, thời điểmrửa tay, vệ sinh đồ chơi

2.6.2 Nhóm biến số về các yếu tố liên quan đến trạng kiến thức, thái độ, thực hànhphòng bệnh

- Các yếu tố liên quan đến kiến thức: dấu hiệu của bệnh, phổ biến kiến thức, tài liệu, thông tin về bệnh

- Các yếu tố liên quan đến thái độ: Mức độ hài lòng…

- Các yếu tố liên quan đến thực hành: phun hóa chất, khử trùng, vệ sinh môitrường…

Chi tiết bảng biến số tại phụ lục 5

2.7 Các tiêu chuẩn đánh giá

Kiến thức đúng về bệnh TCM: Đánh giá dựa trên việc cho điểm các câu trả lờiphần kiến thức về bệnh TCM, có 10 câu hỏi cà điểm tối đa là 52 Dựa theo nghiêncứu của Đặng Quang Ánh , “Kiến thức, thái độ thực hành và các yếu tố liên quanđến thực hành phòng bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi trên địa bànquận Thanh Khê-thành phố Đà Nẵng năm 2013, qui định điểm đạt trên 75% điểmtối đa là đạt kiến thức đúng Vậy tổng điểm từ 39 trở lên là có kiến thức đúng vềbệnh TCM, dưới 39 điểm là chưa đạt (Thang điểm chấm theo mục 4.1, phụ lục 4)Thái độ: Đánh giá dựa trên việc cho điểm các câu trả lời phần thái độ phòngbệnh TCM Có 6 câu hỏi và điểm tối đa là 6 Điểm 6 là có thái độ đúng, điểm dưới

6 là có thái độ chưa đúng (Thang điểm chấm theo mục 4.2, phụ lục 4)

Thực hành đúng về phòng bệnh TCM: Đánh giá dựa trên việc cho điểm cáccâu trả lời phần thực hành phòng bệnh TCM Có 17 câu hỏi và điểm tối đa là 43.Tổng điểm từ 33 trở lên là có thực hành đạt về phòng bệnh TCM, từ 32 trở xuống là

có thực hành chưa đạt (Thang diểm chấm theo mục 4.3, phụ lục 4)

Trang 23

Hiệu quả hoạt động hỗ trợ phòng bệnh TCM của xã: Đánh giá dựa trên việccho điểm các câu trả lời Có 8 câu hỏi và điểm tối đa là 8, đạt 8 điểm là hoạt động

có hiệu quả, dưới 8 điểm là chưa hiệu quả (Thang diểm chấm theo mục 4.4, phụ lục4)

Hiệu quả hoạt động TT – GD – TT Có 5 câu hỏi với điểm tối đa là 22 Đạt từ

17 điểm trở lên là có hiệu quả, dưới 17 điểm là chưa hiệu quả (Thang diểm chấmtheo mục 4.5, phụ lục 4)

Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên mục tiêu, phần chấm điểm đánhgiá nghiên cứu có tham khảo dựa trên nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành vàcác yếu tố liên quan đến thực hành phòng, bệnh TCM của NCSC trẻ dưới 5 tuổi trênđịa bàn Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng năm 2013.” [3]

2.8 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra viên: Học viên cùng với 4 điều tra viên và 3 cán bộ Y tế xã Các ĐTVđược tập huấn về kĩ năng phỏng vấn và nội dung bộ câu hỏi trước khi chính thứcthu thập số liệu tại thực địa Sau mỗi buổi phỏng vấn, tất cả các phiếu được tập hợplại để học viên kiểm tra Nếu có thiếu sót sẽ được yêu cầu bổ sung kịp thời

Chia làm 4 nhóm điều tra Các nhóm đến các hộ gia đình và thực hiện phỏngvấn nhanh để xác định được NCSC trẻ trong nhà Sau đó thực hiện phỏng vấn theo

bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn (Phụ lục 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn)

Đối với trường hợp không gặp được ĐTNC ở lần 1, nhóm sẽ quay lại vào lần 2 vànếu tiếp tục không gặp ĐTNC thì sẽ bỏ qua HGĐ đó và thực hiện phỏng vấn vớiHGĐ tiếp theo

2.9 Phương pháp phân tích số liệu

- Sau khi thu thập số liệu hàng ngày, học viên kiểm tra lại tất cả các phiếu thuthập, làm sạch và xử lý thông tin trên các phiếu thu thập trước khi bắt đầu nhậpliệu

Trang 24

- Tất cả các số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu được học viên mã hóa

và nhập vào phần mềm Epidata 3.1 đến khi hoàn thành quá trình thu thập số liệu.Học viên tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

- Với mục tiêu 1: Sử dụng thống kê mô tả, cho thông tin chung từng biến,dùng tần số, tỷ lệ biểu diễn các biến số, đánh giá thực trạng kiến thức,thái độ thựchành về phòng TCM ở địa bàn nghiên cứu

- Với mục tiêu 2: Dùng kiểm định khi bình phương để xác định các mối liênquan của các yếu tố đến thực hành về phòng bệnh TCM Các mối liên quan nàyđược khẳng định qua giá trị p < 0,05 và giá trị OR chạy qua 95% khoảng tin cậy(không chạy qua giá trị 1)

2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu phải được sự phê duyệt của Hội đồng đạo đức trường đại học Y

tế Công cộng

- Trước khi tiến hành phát vấn, đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giảithích về mục đích của nghiên cứu và điền vào Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu

- Trong trường hợp ĐTNC không sẵn sàng tham gia nghiên cứu này, họ có thể

từ chối bất kỳ lúc nào mà không phải chịu bất kỳ ảnh hưởng nào

- Tên và danh tính ĐTNC không được ghi nhận lại bất kỳ văn bản nào

- Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu

- Có sự đồng ý tham gia nghiên cứu của UBND xã Tân Tiến

2.11 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

Hạn chế:

- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên phạm vi một xã nên chưa thể khái quát cho tất

cả các xã khác trong huyện Chương Mỹ cũng như các huyện khác của Hà Nội

- Trong quá trình làm nghiên cứu có thể sẽ có một lượng ĐTNC bỏ nghiên cứugiữa chừng Mặc dù quá trình tập huấn cho điều tra viên điều tra kỹ càng nhưngtrong quá trình điều tra các điều tra viên có thể chưa giải thích thấu đáo những câu

Trang 25

hỏi trong bộ câu hỏi mà học sinh thắc mắc hoặc chưa theo dõi sát sao sự nghiêm túccủa học sinh trong quá trình trả lời câu hỏi Do đó sẽ có sai lệch thông tin xảy ra khithu thập thông tin vì phụ thuộc vào sự nghiêm túc trả lời của ĐTNC.

- Khi phỏng vấn có thể gặp sai số: do người phỏng vấn, hoặc sai số nhớ lạihoặc không muốn hợp tác của người phỏng vấn

Cách khắc phục:

- Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu, trước khi tiến hành có điều trathử và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho hợp lý Trước khi phỏng vấn giải thích rõ mục đích

ý nghĩa của nghiên cứu để đối tượng phỏng vấn vui lòng hợp tác

- Trao đổi học hỏi thêm kỹ năng, kinh nghiệm khai thác thông tin của đối tượng

để phục vụ cho nghiên cứu Trong bộ câu hỏi phát vấn cần thiết kế chi tiết vềhướng dẫn ghi phiếu, cách điền phiếu, chuyển câu cụ thể (với các câu nhảy,chuyển) Đồng thời giải thích các thuật ngữ mới cũng như các thuật ngữ chuyênmôn để đối tượng nghiên cứu hiểu đúng và đủ ý của người làm bộ câu hỏi thuthập thông tin

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, KẾT LUẬN VÀ

KHUYẾN NGHỊ

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 : Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm mẫu nghiên cứu Tần số (N) Tỉ lệ (%)

Trang 26

Anh/chị/em/họ hàngNgười giúp việcKhác

Nghiệp

Làm nôngBuôn bánCBCC

Ở nhà, nội trợKhác

Học vấn

Cấp 1Cấp 2Cấp 3Trung cấp/Cao đẳng/

Đai họcSau Đại học

Trang 27

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu

Dấu hiệu nhận biết bệnh trở nặng

Sốt cao(trên 39 độ), sốt trên 2 ngày

Ngủ gà,ngủ li bì

Giật mình, khóc quấy, khó ngủ

Đi đứng loạng choạng, run, yếu taychân

Khó thở, thở nhanh, thở không đều

Nôn ói nhiều

Trang 28

Viêm cơ tim

Phù phổi

Tử vong

Không có biến chứng

Không biết

Đường lây truyền

Tiếp xúc với chất tiết

Qua tay, đồ ăn

Qua người chăm sóc

Yếu tố làm cho trẻ dễ bị lây bệnh

Lây từ người chăm sóc

Trang 29

Chưa đúng (<39điểm)

Tổng n

3.3 Thái độ của ĐTNC với phòng TCM

Bảng 3 : Thái độ về thông tin phòng bệnh TCM

Từng nghe nói đến bệnh TCM

Hỏi thăm, tìm hiểu về bệnh TCM

Tin về khả năng mắc bệnh TCM của trẻ

Có quan tâm đến trẻ bị bệnh TCM xung

Trang 30

Rất không đồng ý

3.4 Thực hành phòng bệnh TCM

Bảng 3.: Bảng đánh giá thực hành vệ sinh răng miệng cho trẻ

VSRM cho trẻ Có

KhôngThời điểm VSRM

cho trẻ

Khi trẻ ngủ dậySau khi trẻ ănTrước khi trẻ đi ngủKhi cảm thấy miệng trẻ bẩnNhiều lần trong ngày

Không để ý/Không trả lời

Bảng 3 : Bảng đánh giá thực hành rửa tay bằng xà phòng

(n)

Tỷ lệ (%)

Sử dụng xà phòng

khi rửa tay của

ĐTNC

Có Không

Sau khi xỉ mũi, ho hoặc hắt hơi vàotay

Sau khi àm vệ sinh, chăm sóc cho trẻKhi thấy tay mình bẩn

Nhiều lần trong ngày

Trang 31

Trước khi chăm sóc, tiếp xúc với trẻ

Sử dụng xà phòng

khi rửa tay cho trẻ

Có KhôngThời điểm sử dụng

xà phòng để rửa

tay cho trẻ

Trước khi cho trẻ ănChiều tối trước khi trẻ ngủSau khi trẻ đi vệ sinhSau khi trẻ chơi, tiếp xúc với đồ dùngSau khi trẻ ngủ dậy

Khi thấy tay trẻ bẩnKhông nhớ/không trả lờiQuy trình rửa tay

bằng xà phòng

Sư dụng nước sạch, nước để rửa tyaLàm ướt cả 2 tay

Thoa xà phòng khắp 2 bàn tayChà xát, kỳ cọ, làm sạch 2 lòng bàntay

Chà xát, kỳ cọ, làm sạch 2 lưng bàntay

Chà xát, kỳ cọ, làm sạch các ngón tayChà xát, kỳ cọ, làm sạch các kẽ giữangón tay

Chà xát, kỳ cọ, làm sạch kẽ móng tayRửa sạch xà phòng trong thau, chậunước

Xả sạch xà phòng dưới vòi nước chảyLau khô tay bằng khăn hoặc giấysạch

Trang 32

Không nhớ/không trả lời

Bảng 3 : Bảng đánh giá thực hành lau rửa đồ chơi, lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ

(n)

Tỷ lệ (%)

Lau rửa đồ chơi

của trẻ bằng xà

phòng

CóKhông

Tần suất lau rửa

Lau chùi sàn nhà,

nơi chơi đùa của

trẻ bằng xà phòng

Có Không

Tần suất lau chùi

Bảng 3.: Bảng đánh giá thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ

Trang 33

Nội dung Lựa chọn Người

(n)

Tỷ lệ (%)

Dùng riêng vật

dụng ăn uống cho

trẻ

Có Không

Đun sối nước cho

trẻ uống

Luôn luônLúc đun lúc khôngKhông hề đun bao giờKhông để ý/không nhớĐậy kín thức ăn

của trẻ

Luôn luônLúc đậy lúc khôngKhông để ý/không trả lời

Bảng 3 : Bảng đánh giá thực hành xử lý phân cho trẻ

(n)

Trả lời (%)

Nhà tiêu hợp vệ

sinh

CóKhôngCách cho trẻ đi vệ

sinh

Luôn luôn đi vào bô hoặc nhà vệ sinhLúc sử dụng bô hoặc nhà vệ sinh lúckhông

Không hề sử dụng bô hoặc nhà vệsinh

Không để ý/không nhớ

Xử lí phân của trẻ Đổ vào nhà vệ sinh chung của gia

đình

Trang 34

Đổ vào nơi chứa rác sinh hoạt của giađình

Chưa đúng (<33điểm)

Tổng n

3.5 Hoạt động hỗ trợ y tế tại xã

Bảng 3 : Bảng đánh giá hoạt động hỗ trợ y tế tại địa phương

(n)

Tỷ lệ(%)

Trong năm CBYT xã có tiến hành phun hóa

chất khử trùng cho nhà để phòng TCM

Có KhôngTrong năm CBYT có phổ biến cho các dấu

hiệu của bệnh TCM

Có KhôngTrong năm CBYT có phổ biến cho các biện

pháp phòng bệnh TCM

Có KhôngTrong năm CBYT có đến tận nhà để giám sát

thực hành phòng bệnh TCM

CóKhôngTrong năm CBYT có đến cấp xà phòng rửa

tay cho nhà để phòng bệnh TCM

CóKhôngTrong năm CBYT có đến cấp phát tranh ảnh, Có

Ngày đăng: 30/12/2021, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w