tin, nhiều chương trình nâng cao sức khỏe cho trẻ em trong đó bao gồm việc tuyên truyền nuôi conbằng sữa mẹ và hướng dẫn nuôi trẻ nhỏ đúng cách đã được thực hiện nhằm giảm tỷ lệ suy dinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 7
Câu hỏi nghiên cứu 8
Mục tiêu nghiên cứu 8
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Các thời kỳ phát triển của trẻ em 10
1.2 Tình trạng dinh dưỡng 10
1.3 Nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng 13
1.4.1 Khái niệm 17
1.5 Tình hình dinh dưỡng trẻ em và thực hành cho trẻ ăn bổ sung 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số 26
2.5 Xử lý và phân tích số liệu 31
2.6 Vấn đề y đức 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 33
3.1 Đặc điểm dân số - xã hội của bà mẹ 33
3.2 Nguồn cung cấp thông tin cho bà mẹ về cho con ăn bổ sung 35
Trang 43.3 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung 36
3.4 Kiến thức của bà mẹ về việc cho con ăn bổ sung 37
3.5 Thái độ của bà mẹ về vấn đề ăn bổ sung 38
3.6 Đặc điểm của trẻ và tình trạng dinh dưỡng 39
3.7 Mối liên quan kiến thức của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của con 41
3.8 Mối liên quan giữa thái độ của các bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ 44
3.9 Mối liên quan về thực hành của bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung và tình trạng dinh dưỡng của trẻ 49
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Đặc điểm dân số -xã hội 51
4.2 Nguồn thông tin 51
4.3 Thực hành ăn bổ sung của bà mẹ 52
4.4 Kiến thức cho con ăn bổ sung của các bà mẹ 53
4.5 Thái độ của bà mẹ về việc cho trẻ ăn bổ sung 54
4.6 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 55
4.6.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi 55
4.6.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng gầy còm 56
4.8 Những hạn chế và tính ứng dụng của đề tài 57
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 59 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chỉ số CN/T với Z-score 7
Bảng 1.2 Chỉ số CC/T với Z-score 7
Bảng 1.3 Chỉ số CN/CC với Z-score 8
Bảng3.1: Đặc điểm xã hội của mẹ 31
Bảng 3.2: Tần suất các bà mẹ tính theo Dân tộc, tôn giáo 32
Bảng 3.3: Tần suất các bà mẹ tính theo nghề nghiệp, thu nhập 32
Bảng 3.4: Mô tả các đặc điểm gia đình 33
Bảng 3.5: Tỷ lệ các nguồn thông tin bà mẹ nhận đƣợc 33
Bảng 3.6: Mô tả thực hành của bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung 34
Bảng 3.7: Số cữ ăn của trẻ bú mẹ và bú bình 34
Bảng 3.8: Tần suất có sử dụng các loại thực phẩm 35
Bảng 3.9 Mô tả kiến thức về cho trẻ ăn bổ sung 35
Bảng 3.10: Sự tự tin bà mẹ khi cho trẻ ăn bổ sung 36
Bảng 3.11: Thái độ của bà mẹ về những thuận lợi trong việc ăn bổ sung 37
Bảng 3.12: Thái độ của bà mẹ về những khó khăn khi cho con ăn bổ sung 37
Bảng 3.13: Mô tả đặc điểm trẻ 38
Bảng 3.14: Số đo nhân trắc trung bình 38
Bảng 3.15: Tình trạng dinh dƣỡng chung của trẻ 39
Bảng 3.16: Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ theo giới 40
Bảng 3.17: Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ theo tuổi 41
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa kiến thức của mẹ và tình trạng dinh suy dinh dƣỡng nhẹ cân của con 42
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa kiến thức của mẹ và tình trạng dinh suy dinh dƣỡng thấp còi của con 43
Bảng 3.20: Mối liên quan của tình trạng dinh dƣỡng suy dinh dƣỡng gầy còm của trẻ và kiến thức cho ăn bổ sung của mẹ 44
Trang 6Bảng 3.21 : Mối liên quan giữa thái độ của các bà mẹ và tình trạng suy dinh
dƣỡng nhẹ cân của trẻ 45
Bảng 3.22: Mối liên quan giữa thái độ về những rào cản của các bà mẹ và tình
trạng suy dinh dƣỡng nhẹ cân của trẻ 46 Bảng 3.23: Mối liên quan giữa thái độ của các bà mẹ và tình trạng suy dinh
dƣỡng thấp còi của trẻ 47 Bảng 3.24: Mối liên quan giữa thái độ về những rào cản của các bà mẹ và tình trạng suy dinh dƣỡng thấp còi của trẻ 48 Bảng 3.25: Mối liên quan giữa thái độ của các bà mẹ và tình trạng suy dinh
dƣỡng gầy còm của trẻ 48
Bảng 3.26: Mối liên quan giữa thái độ về những rào cản của các bà mẹ và tình
trạng suy dinh dƣỡng gầy còm của trẻ 48 Bảng 3 27: Mối liên quan giữa thực hành cho trẻ ABS của mẹ và tình trang SDD thấp còi của trẻ 49 Bảng 3.28 : Mối liên quan giữa thực hành cho trẻ ABS của mẹ và tình trang SDD gầy còm của trẻ 49
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀDinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ em đặc biệt là trong nhữngnăm tháng đầu đời Đầu tư cho dinh dưỡng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
để góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chiến lược quốc gia vềdinh dưỡng giai đoạn 2011- 2020 đề ra chương trình tiếp tục cải thiện tình trạng dinh dưỡng củangười dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ và trẻ em góp phần nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ củangười Việt Nam[17] Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm trên thế giới có
13 triệu trẻ mới sinh bị chậm phát triển trong bào thai; 178 triệu trẻ em bị thấp còi, chiếm 32% trẻ
em toàn thế giới và có 19 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng thể nặng Tại Việt Nam, hiện có trên 7triệu trẻ em dưới 5 tuổi tuy nhiên, cứ 5 trẻ thì có 1 trẻ bị thiếu cân và cứ 3 trẻ thì có 1 trẻ bị thấpcòi Nguyên nhân do trẻ không được nuôi dưỡng hợp lý và đầy đủ trong những năm đầu đời[5].Suy dinh dưỡng làm suy yếu hệ thống miễn dịch, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất và tinhthần, làm giảm sự phát triển và tăng trưởng của cơ thể, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyềnnhiễm[8] Mặc dù tình trạng suy dinh dưỡng đã giảm dần trong các năm qua nhưng Việt Nam tiếptục đương đầu với những thách thức lớn về dinh dưỡng đó là tình trạng thừa cân - béo phì và một
số bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng đang có xu hướng gia tăng, vấn đề trên đượcxem như gánh nặng kép về dinh dưỡng
Cơ thể trẻ em có những đặc điểm riêng về cấu tạo sinh lý Trong những năm đầu sau sinh trẻphát triển rất nhanh về thể chất, tâm thần, vận động Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá cung cấpcho trẻ năng lượng, đề kháng chống lại các bệnh nhiễm trùng nhưng từ tháng thứ 6 trở đi sữa mẹkhông còn đáp ứng đủ nhu cầu cho trẻ Trong thời gian này trẻ không chỉ lớn nhanh mà còn tậpngồi, bò, trườn, đứng, đi, tập nói, giao tiếp với người lớn và môi trường xung quanh Bên cạnh đótrẻ bắt đầu mọc răng nên thức ăn cung cấp cho trẻ cần đặc dần và cứng hơn để trẻ có thể tập nhai,
sử dụng men tiêu hóa của nước bọt để tiêu hóa các chất Do đó ngoài sữa mẹ trẻ cần chuyển dầnsang thức ăn của người lớn để đảm bảo năng lượng cho sự phát triển[18]
Chế độ dinh dưỡng đầy đủ về số lượng, cân đối chất lượng trong thời kì này không chỉ giúptrẻ phát triển toàn diện mà còn giúp trẻ phòng tránh các bệnh mạn tính và tình trạng thiếu vi chấtdinh dưỡng [1] Việc cho trẻ ăn bổ sung là một trong các yếu tố quyết định đến tăng trưởng pháttriển của trẻ hiện tại và hình thành thói quen ăn uống của trẻ trong tương lai, tuy nhiên có rất nhiềuyếu tố tác động đến hành vi chăm sóc trẻ của bà mẹ như kiến thức, thái độ, tác động từ môi trườngxung quanh Tìm hiểu về các yếu tố tác động đến hành vi cho trẻ ăn có thể giúp hướng dẫn bà mẹcho ăn đúng, giảm bớt những khó khăn cho bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ, xây dựng những chươngtrình chăm sóc sức khỏe trẻ em hiệu quả hơn
Huyện Củ Chi nằm ở phía Tây Bắc TP.Hồ Chí Minh, gồm 21 xã và một thị trấn với 43 450,2
ha diện tích tự nhiên, bằng 20,74% diện tích toàn Thành Phố, địa bàn huyện không chỉ có tương đốinhiều ruộng, đất đai thuận lợi để phát triển nông nghiệp mà còn có những khu công nghiệp lớn tậptrung đông lực lượng lao động sản xuất Những năm gần đây với sự phát triển của công nghệ thông
Trang 8tin, nhiều chương trình nâng cao sức khỏe cho trẻ em trong đó bao gồm việc tuyên truyền nuôi conbằng sữa mẹ và hướng dẫn nuôi trẻ nhỏ đúng cách đã được thực hiện nhằm giảm tỷ lệ suy dinhdưỡng trẻ em, thay đổi hành vi chăm sóc trẻ của bà mẹ nhưng chưa có một số liệu cụ thể nào phảnánh thực tế về kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung Đứng trước nhu cầu cấpthiết, thực tiễn chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành tác động đếnhành vi cho trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi ăn bổ sung của bà mẹ ở huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh”nhằm cung cấp số liệu thực tế về vấn đề trên, qua đó có thể xây dựng những chương trình truyềnthông, giáo dục sức khỏe phù hợp.
Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng của bà mẹ cho trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi ăn bổ sungtại huyện Củ Chi là bao nhiêu?
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi tại huyện Củ Chi hiện nay là bao nhiêu?
Có hay không các yếu tố liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ với tỷ lệ suydinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi tại huyện Củ Chi?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng của bà mẹ cho trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi ăn
bổ sung và tỷ lệ trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi suy dinh dưỡng, tại huyện Củ Chi, TP Hồ ChíMinh, năm 2017
Trang 9Thái độ cho trẻ ăn dặm
Sự tự tin khi chuẩn bị thức ăn cho
Đủ số lần cho ăn tối thiểu
Cho trẻ ăn thực phẩm giàu sắt
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các thời kỳ phát triển của trẻ em
Trẻ em là một cơ thể đang lớn lên và phát triển Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng thành trẻ trảiqua 2 hiện tượng đó là sự tăng trưởng, một hiện tượng phát triển về số lượng và kích thích của các
tế bào; và sau đó là sự trưởng thành của các tế bào và mô (cấu trúc và chức năng hoàn chỉnh dần).Quá trình lớn lên và phát triển này có tính chất toàn diện và qua nhiều giai đoạn Theo WHO trẻ embao gồm từ 0 đến 18 tuổi, cụ thể như sau:
Sơ sinh (Newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng
Trẻ bú mẹ (Infant): 1 đến 23 tháng
Trẻ tiền học đường (Preschool child): 2 đến 5 tuổi
Trẻ em nhi đồng (Child): 6 đến 12 tuổi
Trẻ vị thành niên (Adolescent): 13 đến 18 tuổi
1.2.2 Một số phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Nhân trắc học
Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
Khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo
và rõ ràng.
Các xét nghiệm chủ yếu là hoá sinh (máu, nước tiểu ).
Trang 11 Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng.
Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng.
Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ.
1.2.3 Đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
Có nhiều chỉ số để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em Đó là các chỉ số chiều cao, cânnặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là số
đo về chiều cao, cân nặng của trẻ dùng để tính toán các chỉ số cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều caotheo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) và chỉ số khối cơ thể (BMI)
Để xác định tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của trẻ em trong một quần thể, người ta so sánhcác chỉ số nói trên với các chỉ số tương ứng của quần thể chuẩn Năm 2006 Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) đã chính thức khuyến cáo sử dụng quần thể chuẩn (WHO Child Growth Standars) để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ, thay thế cho quần thể NCHS (National Center for Health Statistics) được dùng trước đó WHO Child Growth Standars là kết quả nghiên cứu từ năm 1977
đến năm 2003 được thực hiện bởi WHO với mục tiêu phát triển một chuẩn quốc tế để đánh giá sựphát triển thể chất, TTDD và theo dõi sự phát triển của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi Nghiên cứu này là dự
án đa quốc gia, chuẩn mới mô tả sự phát triển bình thường của trẻ trong môi trường tối ưu và có thểdùng để đánh giá TTDD của trẻ em bất kỳ nơi nào, bất kể dân tộc, tình trạng kinh tế xã hội và tậpquán nuôi dưỡng Tại Việt Nam (VN), Viện Dinh dưỡng (VDD) cũng đã sử dụng quần thể thamchiếu này từ năm 2006
Giá trị Z- Score được tính theo công thức: Z-score =
Trong đó:
X: Kích thước đo được thực tế
M: số trung bình quần thể tham chiếu
SD: độ lệch chuẩn của quần thể
Chỉ số Z-score được tính theo các số đo nhân trắc bao gồm:
- Cân nặng theo tuổi (CN/T Z-score) (WAZ): việc theo dõi cân nặng đơn
giản hơn nên tỷ lệ nhẹ cân vẫn được xem là tỷ lệ chung của thiếu dinh dưỡng Phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng nói chung, chỉ tiêu cân nặng theo tuổi phản ánh tốc
Trang 12độ phát triển của đứa trẻ Đây là một chỉ tiêu nhạy, dễ thu thập và xử lý, thường được áp dụng trong các nghiên cứu được triển khai tại cộng đồng Tuy nhiên nhược điểm là không phân biệt được suy dinh dưỡng mới xảy ra hay kéo dài đã lâu.
Bảng 1.1 Chỉ số CN/T với Z-score
<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ nặng
<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, mức độ vừa-2SD≤ Z-score≥ 2SD Trẻ bình thường
- Chiều cao theo tuổi (CC/T Z-score) (HAZ):
Chỉ số này phản ánh tiền sử dinh dưỡng, có thể dùng để đo lường suy dinh dưỡng mạn tính ở trẻ.Việc thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ có thể làm trẻ thấp còi
Bảng 1.2 Chỉ số CC/T với Z-score
<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ nặng
<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, mức độ vừa-2SD≤ Z-score≥ 2SD Trẻ bình thường
- Cân nặng theo chiều cao (CN/CC Z-score) (WHZ):
Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại, gần đây, làmcho đứa trẻ ngừng lên cân hoặc tụt cân nên bị còm (wasting) Chỉ số WHZ có thể dùng để đo lườngsuy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em
Bảng 1.3 Chỉ số CN/CC với Z-score
Trang 13<-3SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ nặng
<-2SD Trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm, mức độ vừa-2SD≤ Z-score≥ 2SD Trẻ bình thường
1.3 Nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng
1.3.1 Nhu cầu năng lượng
Nhu cầu năng lượng của trẻ thay đổi theo tuổi và các tình trạng khác nhau của cơ thể Đốivới trẻ nhỏ nhu cầu cho sự tăng trưởng cao hơn nhu cầu vận động[1]
Năng lượng và ba chất dinh dưỡng chính sinh năng lượng gồm có:
Protid/protein hay còn gọi là chất đạm
Lipid hay còn gọi là chất béo
Carbonhydrates
1.3.2 Nhu cầu chất đạm
Chất đạm có vai trò quan trọng, nó là thành phần cơ bản của tế bào, cấu tạo các men, các nộitiết tố và tổng hợp kháng thể Có 24 loại acid amin cấu trúc thành protein, trong số đó có 9 loạiquan trọng thiết yếu cho trẻ em đó là thereonine, valine, leucine, isoleucine, lysine, tryptophan,phenylalanine, methionine, histidine[1] Đạm có trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu nành Nếu thiếu chấtđạm có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, thoái hóa mỡ gan, teo các tuyến tiêu hóa, dễ mắc các bệnhnhiễm trùng[8]
Nhu cầu protid đối với trẻ trên 6 tháng là 12g/ngày với yêu cầu tỷ lệ protid động vật là100%[9]
1.3.3 Nhu cầu chất béo
Chất béo là chất thiết yếu cho cấu trúc da, tóc, điều hòa chuyển hóa cholesterol, giảm kếtdính tiểu cầu và cần thiết cho quá trình sinh sản Chất béo không chỉ là nguồn cung cấp năng lượngcho cơ thể mà nó còn là môi trường tan của các vitamin như A, D, E, K Nguồn gốc chất béo cótrong mỡ động vật, dầu thực vật, bơ trong sữa Thiếu chất béo có thể dẫn đến chậm lớn, da khô dễ
bị viêm[1]
Nhu cầu chất béo cho trẻ từ 0 đến 6 tháng tuổi là 31g/ ngày, trẻ từ 7 đến 12 tháng là30g/ngày[44]
Trang 14Ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do chất béo của sữa mẹ cung cấp, nên khitrẻ bắt đầu ăn bổ sung, nhất là khi trẻ ăn bổ sung cần hết sức chú ý ngăn ngừa tình trạng giảm lipidđột ngột do được bú mẹ ít hơn hoặc không còn được bú sữa mẹ nữa Thiếu hụt lipid trong bữa ănhằng ngày ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan tổ chức trong cơ thể, đặc biệt là não bộ và thầnkinh Theo FAO/WHO năm 1994 và các nước khu vực, nước ta đã áp dụng các mức khuyến nghịsau: đối với tất cả trẻ dưới 6 tháng tuổi, năng lượng do lipid cung cấp là 45-50% năng lượng tổng
số, đối với trẻ 6-11 tháng năng lượng do lipid cung cấp là 40%, và đối với trẻ 1-3 tuổi năng lượng
do lipid cung cấp là 35-40% Do cơ thể trẻ đang phát triển nhanh, rất cần acid arachidonic, mộtacid béo không no có nhiều trong mỡ động vật, do đó tỷ lệ cân đối giữa lipid động vật và lipid thựcvật nên là 70% và 30% Tuy trong các thức ăn bổ sung của trẻ thường được cho thêm thịt, cá, trứngvốn đã có một lượng nhất định lipid động vật nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về lipid cho lứatuổi này, vì thế vẫn cần phải cho thêm vào khẩu phần của trẻ các loại dầu ăn hoặc mỡ theo tỷ lệmột bữa dầu, một bữa mỡ[9]
1.3.4 Nhu cầu Carbonhydrates
Carbohydrates gồm các loại chính: đường đơn hay còn gọi là monosaccharides (glucose, galactose,fructose và mannose), đường đôi hay disaccharides (sucrose, lactose, và maltose) và carbohydratesphức tạp hay polysaccharides (tinh bột, dextrins, glycogen, và carbohydrate phức tạp như pectin,lignin và cellulose) [44]
Trong giai đoạn ăn dặm, trẻ sơ sinh lấy carbohydrate từ nguồn ngũ cốc và các loại khác sản phẩm ngũ cốc, hoa quả và rau.
Nhu cầu carbonhydrates cho trẻ từ 0 đến 6 tháng tuổi là 60 gam/ngày; trẻ từ 7 đến
12 tháng là 95 gam/ngày.[44]
1.3.5 Nhu cầu chất xơ
Chất xơ được tìm thấy trong các loại đậu, nguyên hạt thực phẩm, hoa quả và rau Sữa mẹ không chứa chất xơ và trẻ sơ sinh nói chung không tiêu thụ chất xơ trong 6 tháng đầu đời Khi trẻ ăn bổ sung chất xơ cần được đưa vào chế độ ăn uống Mỗi ngày trẻ từ 6 đến 12 tháng cần 5 gam chất xơ
1.3.6 Nhu cầu về nước
Nước là thành phần cơ bản của cơ thể sống Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cơ thể là thức
ăn và và thức uống Ở trẻ em nước dành cho việc điều hòa nhiệt độ cơ thể, bài tiết ở thận và dự trữtrong tế bào Mức tiêu thụ nước trẻ em là 10 – 15% trọng lượng cơ thể Nhu cầu nước của trẻ emđược xác định là 1,5ml/1kg cân nặng/ngày[9]
1.3.7 Nhu cầu muối khoáng
Trang 15Muối khoáng cần cho quá trình cấu tạo chất trong cơ thể Muối khoáng có trong nhiều loạithức ăn khác nhau, nhu cầu muối khoáng hằng ngày cho trẻ như sau: Sodium 200mg/ngày;Chloride 300mg/ngày; Potassium 700mg/ngày; Ca: 0,3 – 0,6g; P: 0,15 – 0,3g; Fe: 1mg/kg[9]Tất cả các quá trình chuyển hoá trong cơ thể đều cần Canxi, nó giúp cơ thể hình thành hệxương và răng vững chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu bình thường Thiếu Canxitrong khẩu phần, hấp thu Canxi kém và/hoặc mất quá nhiều Canxi dẫn đến tình trạng rối loạnkhoáng hoá tại xương Thức ăn giàu Canxi bao gồm sữa, phomai, các sản phẩm khác từ sữa, rau
có màu xanh thẫm, sản phẩm từ đậu (ví dụ đậu hũ), cá cả xương các loại có thể ăn được
Photpho (P) là chất khoáng có nhiều thứ hai trong cơ thể,vừa có vai trò hình thành và duy trì
hệ xương và răng vững chắc và duy trì các chức phận của cơ thể Tất cả các thực phẩm nguồn độngvật và thực vật đều chứa nhiều Photpho Photpho trong thức ăn nguồn động vật có giá trị sinh họccao hơn Photpho trong thức ăn thực vật
Sắt trong cơ thể cùng với protein tạo thành huyết sắc tố (hemoglobin), vận chuyển O2 và
CO2, phòng bệnh thiếu máu và tham gia vào thành phần các men oxy hóa khử Sắt rất cần thiết đốivới mọi người, đặc biệt là trẻ em Thông thường thiếu sắt nói chung là do nguyên nhân ăn uốngthấp hơn so với nhu cầu Tuy nhiên, ở một số nước đang phát triển, khả năng tiếp cận các nguồnthực phẩm nguồn động vật có lượng sắt giá trị sinh học cao rất thấp và khẩu phần hàng ngày chủyếu gồm các thực phẩm nguồn gốc thực vật nên nguy cơ bị thiếu sắt cao
Iod là một chất cần thiết trong cơ thể với một lượng rất nhỏ (WHO 1994) Iod giúp tuyếngiáp hoạt động bình thường, phòng bệnh bướu cổ và thiểu năng trí tuệ Khoảng 70% đến 80%lượng iod của cơ thể ở trong tuyến giáp, còn lại nồng độ iod cao nhất tìm thấy ở tuyến nước bọt,tuyến tiết dịch tiêu hóa và các mô liên kết, chỉ có một lượng rất nhỏ phân bố đều trong toàn bộ cơthể Thiếu iod xảy ra ở rất nhiều vùng trên thế giới, là nguyên nhân chính của bệnh bướu cổ Thiếuiod ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng và phát triển, đặc biệt là não bộ Hàm lượng iod trong thựcphẩm phụ thuộc vào hàm lượng của iod trong đất và nước của nơi sản xuất thực phẩm này, thựcphẩm giàu iod bao gồm cá, rong biển, các thực phẩm thịt, trứng, sữa cũng là nguồn cung cấp iodđáng kể Nhu cầu iod cần cho trẻ dưới 24 tháng là 90mcg/ngày[9]
1.3.8 Nhu cầu vitamin
Mỗi loại vitamin đóng vai trò khác nhau trong chuyển hoá chất của cơ thể đồng thời giúp cơthể chống lại bệnh tật Có 2 loại vitamin: vitamin tan trong nước và vitamin tan trong dầu Vitamintan trong nước đó là các vitamin nhóm B (B1, B6, B3, B12) và vitamin C Những vitamin này đượchấp thụ vào máu, nếu thừa nó sẽ được đào thải qua nước tiểu Chính vì vậy, nếu thừa vitamin tantrong nước biểu hiện triệu chứng ít nguy hiểm Có 4 vitamin tan trong dầu là A, D, K, E Đặc điểmcủa vitamin tan trong dầu là khi được hấp thu vào cơ thể nó sẽ được tích lũy trong cơ thể ở gan vàcác mô mỡ, chính vì vậy nó có khả năng gây ngộ độc nguy hiểm nếu dùng vitamin liều cao, khôngđúng chỉ định.[9]
Trang 16Vitamin A
Giúp tăng trưởng, lớn lên; Có vai trò trong quá trình nhìn thấy của mắt, biểu hiện sớm củathiếu vitamin A là giảm khả nǎng nhìn thấy lúc ánh sáng yếu Vitamin A còn bảo vệ sự toàn vẹncủa các biểu mô, giác mạc mắt, biểu mô da, niêm mạc Khi thiếu vitamin A, biểu mô và niêm mạc
bị tổn thương Tổn thương ở giác mạc mắt dẫn đến hậu quả mù lòa Vitamin A còn tǎng cường khảnǎng miễn dịch của cơ thể Thiếu vitamin A làm giảm sức đề kháng với bệnh tật, dễ bị nhiễm trùngnặng.[9]
Nhu cầu vitamin A cho trẻ từ 0 đến 6 tháng là 400microgam/ngày; trẻ từ 7 đến 12 tháng là
500 microgam/ngày[44]
Vitamin nhóm B
Đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể, đặc biệt là quá trình chuyển hóa carbohydrate thành đường và chuyển hóa chất béo Người ta phân ra 8 loại vitamin thuộc nhóm B, mỗi loại thực hiện một chức năng khác nhau, đồng thời chúng cũng kết hợp với nhau để làm cho cơ thể khỏe mạnh Vitamin B1 (Thiamine) có vai trò quan trọng trong hệ thống thần kinh, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn Vitamin B6 (Pyridoxine) là một thành phần không thể thiếu trong quá trình sản xuất tế bào máu của cơ thể Nó giúp cơ thể phá vỡ và tiêu hóa protein Vitamin B12 hình thành DNA, sản xuất hồng cầu, tốt cho hệ thần kinh Cơ thể thiếu vitamin B12 gây ảnh hưởng đến não, và tủy sống Vitamin B3 hỗ trợ quá trình trao đổi chất béo và carbohydrate, còn đóng một vai trò quan trọng đối với sức khỏe thinh thần, sản xuất năng lượng và nuôi dưỡng da.
Nhu cầu vitamin B1 cho trẻ từ 0 đến 6 tháng là 0,2mg/ngày; trẻ từ 7 đến 12 tháng là 0,3 mg/ngày
Nhu cầu vitamin B6 cho trẻ từ 0 đến 6 tháng là 0,1mg/ngày; trẻ từ 7 đến 12 tháng là 0,3 mg/ngày
Nhu cầu vitamin B1 cho trẻ từ 0 đến 6 tháng là 0,4microgam/ngày; trẻ từ 7 đến 12 tháng là 0,5 microgam/ngày[44]
Vitamin C
Chống oxy hóa, tạo collagen, giúp thành mạch máu vững chắc, đặc biệt quan trong đối với mạch máu nuôi tim, Tăng cường hệ miễn dịch, Tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh, Thải độc, hỗ trợ và giúp cơ thể hấp thu sắt, canxi và acid
Trang 17folic.Thiếu vitamin C thường dẫn đến cơ thể mệt mỏi, xuất huyết dưới da, bệnh về nướu răng, chậm tăng trưởng, đau cơ, khớp, vết thương lâu lành sẹo, gia tăng quá trình lão hóa và gia tăng nguy cơ mắc bệnh mãn tính không lây như ung thư, tim mạch và thoái hóa khớp.[9]
Nhu cầu vitamin C cho trẻ từ 0 đến 6 tháng là 40mg/ngày; trẻ từ 7 đến 12 tháng 50mg/ngày[44]
Vitamin D
Vitamin D có 3 vai trò: thúc đẩy quá trình tạo thành phức hợp protein - Canxi
từ đó tăng cường hấp thu Canxi từ thức ăn Cùng với hormon cận giáp bảo đảm cho quá trình tạo xương, bảo đảm các chức năng sinh lý (có liên quan đến nồng độ Canxi) hoạt động bình thường.[9]
Nhu cầu vitamin D cho trẻ từ 0 đến 12 tháng tuổi là 200UI/ngày[44]
1.4 Ăn bổ sung
1.4.1 Khái niệm
Ăn bổ sung là quá trình cho trẻ ăn các thức ăn khác bổ sung cho sữa mẹ Trong giai đoạn ăn
bổ sung, trẻ quen dần với thức ăn gia đình và ở cuối giai đoạn này (thường trẻ được 2 tuổi) sữa mẹđược thay thế hoàn toàn bằng thức ăn gia đình [1]
1.4.2 Thời điểm cho ăn bổ sung
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Theo khuyến cáo của WHO
và của Viện dinh dưỡng trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên của cuộc đời Tuynhiên từ 6 tháng tuổi trở đi sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu phát triển của trẻ, trẻ bắt đầumọc răng, cơ nhai phát triển tốt hơn, trẻ cần nhiều năng lượng hơn để tập vận động, giao tiếp Do
đó, để đáp ứng các nhu cầu phát triển, trẻ sơ sinh cần được bổ sung các thực phẩm dinh dưỡng đầy
đủ và an toàn từ 6 tháng tuổi và tiếp tục bú mẹ đến hai tuổi
Cho ăn bổ sung quá sớm sẽ nguy hiểm vì hệ tiêu hóa và thận của trẻ chưa phát triển hoànchỉnh, trẻ có nguy cơ bị tiêu chảy tăng do nhiễm khuẩn từ thực phẩm, cho ăn bổ sungmuộn cũng cónhững hệ quả của nó, trẻ bị thiếu hụt năng lượng cho quá trình tăng trưởng và phát triển dẫn đếnsuy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng
1.4.3 Bốn nhóm thức ăn bổ sung cơ bản
Nhóm thức ăn cung cấp chất bột (lương thực): Là nguồn thức ăn cung cấp nhiệt lượng trongkhẩu phần ăn; chủ yếu cung cấp tinh bột, chứa ít protein và nghèo các vi chất dinh dưỡng, vì vậyngoài lương thực, bữa ăn cần có các thực phẩm khác để trẻ có đủ chất dinh dưỡng Gồm các loạigạo, ngô, khoai, củ, các loại đậu, đỗ
Trang 18Nhóm thức ăn cung cấp chất đạm: Là nguồn thức ăn xây dựng cơ thể, tham gia vận chuyểncác chất dinh dưỡng và kích thích ăn ngon miệng, điều hòa các chuyển hóa và bảo vệ cơ thể Gồmcác thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật:
Thức ăn nguồn gốc động vật: có giá trị dinh dưỡng cao, bao gồm trứng, sữa, các loại thịt, cá, tôm, cua, lươn, nhộng, phủ tạng (gan, tim ).
Thức ăn nguồn gốc thực vật: Khi cho trẻ ăn hỗn hợp với ngũ cốc sẽ trở thành những thức ăn
giàu dinh dưỡng như thức ăn động vật mà thường rẻ tiền hơn Bao
gồm các loại đậu (đậu đen, đậu xanh, đậu nành )
Nhóm thức ăn cung cấp chất béo: Là nguồn thức ăn bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ,giúp trẻ hấp thu dễ dàng các loại vitamin tan trong dầu như Vitamin A, E, D, K và làm cho thức ănmềm hơn và dễ ăn hơn Gồm dầu, bơ, mỡ, trong đó dầu dễ hấp thu hơn mỡ
Nhóm thức ăn cung cấp vitamin và chất khoáng: Là nguồn thức ăn rất tốt để cung cấp cácloại vitamin và chất khoáng cho trẻ Các loại rau có lá màu xanh thẫm, quả và các loại rau củ cómàu vàng giúp trẻ có đôi mắt sáng và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
1.4.4 Đặc điểm của thức ăn bổ sung tốt cho trẻ ăn hàng ngày
Theo khuyến cáo của WHO thức ăn bổ sung cho trẻ cần phải giàu năng lượng, giàu protein và các
vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là sắt, kẽm, vitamin A, vitamin C Bên cạnh đó đảm bảo sạch và antoàn cho trẻ (không có tác nhân gây bệnh, không có các hóa chất độc hại, không có xương hoặc cácvật cứng có thể gây tổn thương cho trẻ) Thức ăn không quá nóng, không quá cay, mặn và phù hợpvới trẻ Thức ăn nên có nguồn sẵn có ở địa phương, giá hợp lý, thuận lợi cho việc chuẩn bị và chếbiến món ăn cho trẻ.[45]
1.4.5 Độ đậm đặc của thức ăn bổ sung
Dạ dày của trẻ rất nhỏ Tại thời điểm 8 tháng tuổi, dạ dày của trẻ mỗi bữa có thể chứakhoảng 200 ml Các loại thức ăn lỏng và loãng nhanh chóng chiếm đầy thể tích dạ dày của trẻ khitrẻ chưa nhận đủ năng lượng Vì vậy, cần quan tâm đến độ đậm đặc của thức ăn cho trẻ ăn bổ sung
Độ đậm đặc hợp lý của thức ăn bổ sung sẽ giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ và phù hợp vớisức chứa của dạ dày trẻ Ở các nước phát triển, đậm độ năng lượng của thức ăn bổ sung thường là 2kcal/1g, trong khi đó ở các nước đang phát triển chỉ là 1 kcal/1g, đó là lý do gây nên tình trạngthiếu năng lượng kéo dài Sữa mẹ là một thức ăn lỏng, nên trẻ đang bú sữa mẹ khi chuyển sang giaiđoạn ăn bổ sung, thức ăn cho trẻ phải chuyển dần từ dạng lỏng sang dạng sền sệt rồi đặc dần Bátbột nấu xong khi còn nóng ở dạng lỏng, càng nguội càng đặc lại Nếu pha thêm nước để đạt độlỏng thích hợp thì sẽ làm giảm đậm độ năng lượng, nên sẽ không đảm bảo nhu cầu năng lượng củatrẻ
Trang 191.4.6 Cách cho trẻ ăn
Trẻ cần được ăn, cần sức khỏe và được chăm sóc để trưởng thành và phát triểntoàn diện Thái độ và thực hành của người chăm sóc trẻ, của gia đình khi cho trẻ ăn, khi chăm sóctrẻ, kích thích và hỗ trợ tinh thần trẻ sẽ giúp trẻ phát triển và khỏe mạnh Thời điểm quan trọng đểthực hành cho trẻ ăn là thời gian ăn của trẻ Trẻ cần học cách ăn, tập ăn các thức ăn mới, thức ăn lạ;học cách nhai, cách nuốt thức ăn, cách uống; học cách cầm thìa, cầm bát, cách tự lấy thức ăn và
Bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ và gia đình cần dành thời gian hỗ trợ trẻ ăn đúng cách Bữa ăn làthời gian để trẻ tập ăn Trẻ sẽ thích ăn, ăn ngon miệng và ăn nhiều hơn nếu không khí bữa ăn vui
vẻ, thoải mái, trẻ được yêu thương, được khuyến khích và hỗ trợ khi trẻ ăn Cần theo dõi từng bữa
ăn của trẻ từ khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung cho đến khi trẻ 24 tháng tuổi
1.5 Tình hình dinh dưỡng trẻ em và thực hành cho trẻ ăn bổ sung
Các cuộc điều tra các vùng lãnh thổ của Unicef cho thấy tỷ lệ trẻ thấp còi ở khu vực ĐôngNam Á đã giảm dần, năm 2016 hiện đang có 15,1 (25,8%) triệu trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi, tuynhiên vẫn còn cao so với khu vực châu Á Một nghiên cứu gồm 300 trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi đượcchọn từ vùng ngoại ô thành phố Kuala Lumpur và Putrajaya, theo các khuyến cáo của WHO chỉ sốnuôi dưỡng trẻ nhỏ được tính cho kết quả các đối tượng cho thấy trẻ được thời điềm cho trẻ ăn bổsung từ 6 đến 8 tháng (97,9%); tần suất uống sữa đối với những trẻ không bú mẹ từ 6 đến 23 thángtuổi (95,2%), ăn thực phẩm giàu sắt hoặc bổ sung sắt từ 6 đến 23 tháng (92,3%); khẩu phần ănđúng và đủ (78,0%) Tại Ấn Độ tỷ lệ ăn bổ sung đúng khá cao có tới 77,5% bà mẹ sống tại vùngbiển cho con ăn bổ sung đúng thời điểm theo như khuyến nghị, tuy nhiên chỉ có 32% trẻ được ăn
bổ sung đa dạng các loại thực phẩm[49]
Nghiên cứu về thực hành bổ sung thức ăn cho bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ sơ sinh
ở Nigeria [59], trẻ từ 6-8 tháng tuổi được ăn bổ sung là 85,4%, tỷ lệ khẩu phần ăn đúng và đủ là31,5%, tỷ lệ ăn đủ bữa là 7,3% Có 33,3% trẻ sơ sinh bị thiếu cân và 24,6% suy dinh dưỡng gầycòm Kết quả cho thấy trẻ không được ăn bổ sung kịp thời có tỷ lệ bị gầy còm cao hơn (OR 5.15,KTC 95% 1,50 -17,73) Trẻ em có khẩu phẩn đa dạng trong chế độ ăn tối thiểu có tỷ lệ gầy còmthấp hơn so với trẻ được nhận thức sự đa dạng trong chế độ ăn uống tối thiểu (OR 2,07; KTC 95%1,17-3,70) Trẻ được cho ăn ít cữ có nhiều khả năng bị gầy còm hơn những trẻ cùng độ tuổi đượccho ăn đủ bữa (OR 1,57; KTC 95% 1,53 - 4,03) [51]
Cho con ăn bổ sung là việc hầu như mọi bà mẹ trên thế giới đều làm, ở mỗi quốc gia khácnhau việc ăn bổ sung cũng khác nhau Nghiên cứu 110 bà mẹ đang cho con bú ở nông thônTumkur, Karnataka, Ấn Độ được thực hiện để đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về ăn bổ sungcủa bà mẹ đang cho con bú và người ta thấy rằng Đã có 40 hai bà mẹ (36,36%) cho con ăn bổ sungtrước 6 tháng tuổi Thức ăn bổ sung chủ yếu là bột yến mạch (57,35%), ngũ cốc (9,83%), bánh quy
Trang 20(8,19%), sữa bò (34,91%), thực phẩm đóng gói sẵn (3,27%) và sữa dê (1,63%), 45,9% bà mẹ chotrẻ ăn bổ sung 2 lần/ngày và 31,14% bà mẹ chỉ được cho một lần/ngày, 24,59% bà mẹ là nhữngngười ra quyết định chính về ăn bổ sung của trẻ, 91,8% thích sử dụng thực phẩm chế biến sẵn,68,85% bà mẹ đã không giới thiệu trái cây cho trẻ và 62,29% không cho con ăn rau các loại trongsuốt nghiên cứu[37].
Từ một nghiên cứu khác được thực hiện ở vùng nông thôn là Karimnagar, Ấn Độ 500 bà mẹđược khảo sát về ăn bổ sung, người ta nhận thấy rằng đa số các bà mẹ (62%) đều biết rằng ăn bổsung nên được bắt đầu từ 4-6 tháng tuổi nhưng chỉ 35% bắt đầu ở độ tuổi này, 81% người thích chotrẻ ăn thức ăn lỏng và 85% bà mẹ đồng ý rằng bé nên ăn các thức ăn đặc sau 1 tuổi Nghiên cứuđược thực hiện tại Nepal được bởi Dipty Duppa và cộng sự năm 2014 cho kết quả cũng cho thấy74% trẻ không có nguy cơ sức khoẻ trong khi ăn bổ sung nhưng vẫn có 26% trẻ gặp khó khăn vềsức khỏe thời kỳ này, 54% trẻ có bị tiêu chảy khi ăn bổ sung Cũng theo kết quả nghiên cứu trên có56% bà mẹ có thông tin về ăn bổ sung từ bạn bè hoặc hàng xóm và 6% từ đài phát thanh Hầu nhưtất cả các bà mẹ trong nghiên cứu thích sử dụng thực phẩm tự làm khi cho con ăn bổ sung hơn làcác thực phẩm thương mại có sẵn trên thị trường với 93.5% lý do được đưa ra là thực phẩm tự làmtươi ngon hơn và vệ sinh hơn[35, 39]
Việc cho trẻ ăn bổ sung của các bà mẹ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau Nghiên cứuđược thực hiện ở Hồng Kông cho thấy các yếu tố khác nhau liên quan đến ăn bổ sung sớm baogồm: tuổi (OR hiệu chỉnh = 1,84, KTC 95%, 1,05 - 3,21), làm mẹ lần đầu tiên, sống ở Hồng Kôngvới ≥5 năm (OR hiệu chỉnh = 2,56; KTC 95% 1,50 - 4,38), người mẹ không được bú sữa mẹ, sự tácđộng của người chồng, mổ lấy thai khẩn cấp và vấn đề trở lại làm việc sau khi sinh (OR hiệu chỉnh
= 1,75, KTC 95% 1,25 - 2,46) Trong nghiên cứu này giáo dục mẹ và thu nhập gia đình cho thấy có
sự liên quan với thời điểm ăn bổ sung của trẻ Lý do cho trẻ ăn bổ sung sớm từ 1 đến 3 tháng hoặc
từ 3 đến 6 tháng phổ biến nhất đó là sữa không đầy đủ, lý do thứ hai là mẹ quay lại làm việc Các lý
do khác cho việc mẹ cho trẻ ăn bổ sung sớm đó là bé luôn đói, mẹ có bệnh lý, mẹ mệt mỏi và căngthẳng, đau đầu vú và /hoặc ngực và trẻ bị bênh Từ nghiên cứu này có các yếu tố liên quan đến việctiếp tục cho con bú sữa mẹ hoặc ăn bổ sung bao gồm học vấn của mẹ, bà mẹ có bằng đại học (ORhiệu chỉnh = 0,36, KTC 95%; 0,27 - 0,50) hoặc bằng sau đại học (OR hiệu chỉnh = 0,44; KTC95%; 0,21-0,90).[48]
Tại Sudan, một đất nước kém phát triển ở Châu Phi, tỷ lệ ăn bổ sung sớm ở trẻ dưới 23 thángkhá cao, theo nghiên cứu trong 2 năm từ 2008 – 2010 trên nhóm trẻ từ 6 -59 tháng cho thấy có6,9% trẻ được ăn bổ sung trước 4 tháng, 63,5% trẻ em ăn bổ sung từ tháng thứ 4 – 5, và 29,6% trẻ
em được ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi[47]
Các bà mẹ sử dụng các loại thực phẩm khác nhau và có lý do khác nhau trong khi bắt đầucho trẻ ăn bổ sung Trong khi nghiên cứu thực hiện ở huyện Okala, Cameroon về thực hành ăn bổsung của các bà mẹ cho thấy rằng 63% bà mẹ cho trẻ ăn thức ăn hỗn hợp trước 3 tháng tuổi vì lý do
Trang 21sữa không đủ để đáp ứng nhu cầu của trẻ, thức ăn bổ sung phổ biến là bột bắp hoặc đậu nành, gạohoặc bột bắp lên men, số bữa ăn được dao động từ 1-3 bữa ăn mỗi ngày [36].
Một nghiên cứu khảo sát đã được tiến hành trên 500 bà mẹ ở đảo Mauritius năm 2011 để đưa
ra thông tin về thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ cho thấy ăn bổ sung thường bắt đầu khoảng 4-6tháng tuổi (75,2%) và số cữ ăn bổ sung thường là một hoặc hai lần Người ta thấy rằng việc ăn bổsung bắt đầu với rau cải hoặc trái cây nghiền là 66,9% do dễ làm và hợp vệ sinh (93,5%) Ngoài ra,86,4% số bà mẹ cho rằng chất lượng dinh dưỡng của thức ăn tự chế biến cao hơn thực phẩmthương mại Người ta cũng thấy rằng 68,7% bà mẹ không gặp khó khăn với trẻ trong giai đoạn ăn
bổ sung Những người trả lời khác (21,7%) nhấn mạnh rằng con cái của họ không muốn ăn thựcphẩm cứng [25]
Nghiên cứu cũng tiến hành so sánh các tiêu chí đánh giá thực hành ăn bổ sung cho trẻ giữacác nước trong khu vực cho thấy tỷ lệ đáp ứng các tiêu chí thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ thấy có sựkhác nhau ở các nước khu vực Nam Á Các tiêu chí về đa dạng bữa ăn bổ sung của Nepal cao hơn
so với Ấn Độ (15,2%) nhưng thấp hơn so với Bangladesh (41,9%) và Sri Lanka (71,1%) Tương tựnhư vậy, tần số bữa ăn tối thiểu cũng thấp hơn ở Bangladesh (81,1%) và Sri Lanka (88,3%)[50]Các kết quả của nghiên cứu được thực hiện tại Shah Di Khohi, Lahore để đánh giá kiến thức
và thói quen cho con ăn bổ sung của 100 bà mẹ cho thấy (97%) phụ nữ đi làm bắt đầu cho con ăn
bổ sung lúc 6 tháng và 45% bà mẹ làm công việc nội trợ bắt đầu choăn bổ sung lúc 4-6 tháng Kếtquả nghiên cứu thấy có đối tượng 58% sử dụng thức ăn chế biến sẵn và 20% sử dụng tự nấu thức
ăn bổ sung Ba mươi chín phần trăm bà mẹ cho rằng ăn bổ sung cải thiện sự tăng trưởng của trẻ,27% cho ăn như một truyền thống và kết luận rằng các kỹ thuật cho con ăn bổ sung không đượcthực hiện một cách đầy đủ do một số lý do như tình trạng nghèo đói, trình độ học vấn của mẹ thấp
và thiếu hiểu biết về cách thức cho ăn[34]
Một nghiên cứu ở Suddan cho thấy phần lớn bà mẹ (91,6%) cho con ăn bổ sung trước sáu thángtuổi, trong khi chỉ có 8,4% bắt đầu cho ăn vào lúc sáu tháng hoặc hơn Bên cạnh đó cũng tìm thấy
đã tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa trình độ học vấn của các bà mẹ và độ tuổi giới thiệu cácloại thực phẩm bổ sung (p = 0.002)[38]
Ở nước ta Bộ Y tế đã khuyến cáo rằng trẻ em cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
và bắt đầu ăn bổ sung từ khi trẻ tròn 6 tháng Tuy nhiên, hiện nay các bà mẹ thường có xu hướngcho con ăn bổ sung sớm hơn so với khuyến nghị[10]
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 330 trẻ từ 12 - 24 tháng tuổi và các bà mẹ thuộc 8
xã của huyện Tiên Lữ - tỉnh Hưng Yên nhằm mục tiêu đánh giá kiến thức, thực hành chăm sóc trẻcủa bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ Kết quả cho thấy có 1,5% bà mẹ cho rằng nên cho trẻ
ăn sớm trước 6 tháng tuổi, 68,5% bà mẹ cho rằng nên cho trẻ ăn bổ sung từ 6 - 9 tháng tuổi và 30%
bà mẹ cho rằng nên cho ăn bổ sung sau 9 tháng tuổi Nhưng kết quả thực hành cho thấy có 80% bà
Trang 22mẹ cho trẻ ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi Số bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung sau 6 tháng tuổi chiếm tỷ lệ19,4%[15]
Nghiên cứu của Đặng Tuấn Đạt và cộng sự tìm hiểu tập quán nuôi con của các bà mẹ dân tộcthiểu số của Tây Nguyên cũng cho thấy một số kết quả về thực hành ăn bổ sung sớm ở trẻ nhỏ khi
có tới 34,1% bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung trước 3 tháng tuổi trong đó có tới 8,8% trẻ được ăn bổ sungtrong tháng đầu tiên, 25,3% trẻ được ăn bổ sung trong tháng thứ 2 hoặc thứ 3 và 65,9% trẻ được ăn
bổ sung từ tháng thứ 4[11]
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 322 trẻ từ 5-6 tháng tuổi được tiến hành tại huyện Phổ Yên,tỉnh Thái nguyên nhằm mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, ăn bổ sung, nuôi dưỡng và bệnh tậtcủa trẻ Kết quả nghiên cứu cho khoảng 90% trẻ bắt đầu ăn bổ sung dưới 4 tháng tuổi; 10,4 % trẻ từ4-5 tháng và 0,7 % từ 5-6 tháng tuổi, trung bình trẻ bắt đầu ăn bổ sung là 3,4 tháng; thực phẩm phổbiến cho trẻ ăn bổ sung là các loại bột gạo, bột ăn liền (70,3%), các loại thịt, cá, trứng chỉ chiếm(32,8%), lí do chủ yếu trẻ được cho ăn bổ sung sớm là do mẹ bận công việc (54,9%) và mẹ không
đủ sữa (16,9%); thực hành chăm sóc trẻ bệnh chưa phù hợp: 52,2% bà mẹ cho con bú nhiều hơnkhi trẻ bị bệnh và vẫn còn 5,3% bà mẹ cho bú ít hơn khi con họ bị ốm[24]
Qua nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tiêu chảy của trẻ dưới 05 tuổi tại thị xã Hương Thuỷ - tỉnhThừa Thiên Huế năm 2011 trên 413 trẻ dưới 5 tuổi có 53 trẻ mắc tiêu chảy chiếm tỷ lệ 12,8% trong
đó nam chiếm 10,7%, nữ chiếm 15,4% Tỷ lệ tiêu chảy của trẻ dưới 24 tháng chiếm tỷ lệ cao hơn.Trong nghiên cứu này các yếu tố liên quan đến tiêu chảy trong đó thấy có mối liên quan giữa tiêuchảy và thời điểm ăn bổ sung của trẻ[13]
Nghiên cứu tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quantỉnh Thừa Thiên Huế năm 2009 cho kết quả rằng lứa tuổi <12 tháng tỷ lệ thiếu máu là 62% Tìnhtrạng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ còn hạn chế, tỷ lệ trẻ ăn bổ sung từ 5-6 tháng tuổi là 33,6% Thiếumáu dinh dưỡng ở trẻ nhỏ <12 tháng ảnh hưởng đến tình trạng phát triển thể lực của trẻ đặc biệt vềchiều cao
Nghiên cứu mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện
Di Linh, Lâm Đồng năm 2013 được tiến hành trên 1198 bà mẹ có con dưới 5 tuổi Kết quả cho thấycác chỉ số thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tương đối tốt: 74,2% trẻ dưới 24 tháng tuổi được bú trongvòng 1 giờ đầu sau sinh; 85,0% trẻ được tiếp tục bú sữa mẹ tại thời điểm trẻ được 12 tháng tuổi;90,9% trẻ 6-8 tháng tuổi được ăn bổ sung Tuy vậy, mới có 20,3% trẻ dưới 6 tháng tuổi được búsữa mẹ hoàn toàn và 54,2% trẻ 6-23 tháng tuổi được ăn đa dạng thức ăn
Nghiên cứu can thiệp về hiệu quả của truyền thông giáo dục dinh dưỡng lên kiến thức, thựchành của người chăm sóc trẻ góp phần giảm suy dinh dưỡng thấp còi ở huyện Tam Nông, Phú Thọ
từ năm 2011 – 2014 cho thấy tỷ lệ trẻ 6 – 23 tháng được ăn đúng thời điểm theo khuyến nghị củaWHO là 23,3%, còn lại 76,7% trẻ được cho ăn sớm trước 6 tháng[4]
Trang 23Theo kết quả của nghiên cứu mới đây nhất của Viện Nghiên cứu Y xã hội học kết hợp với tổchức Alive & Thrive tiến hành tại 11 tỉnh của Việt Nam năm 2011 về thực hành nuôi dưỡng chămsóc trẻ nhỏ cho cho thấy 82,6% trẻ trong độ tuổi 6 – 23,9 tháng có khẩu phần ăn đa dạng, 94,4% trẻtrong độ tuổi này được ăn đủ số bữa theo khuyến nghị, 87,2% trẻ được ăn các thức ăn giàu sắt hoặc
bổ sung sắt[19] Tuy nhiên vẫn còn hơn một phần tư số trẻ (29,1%) không có khẩu phần ăn đủ bữa
và đa dạng, và một phần ba số trẻ (31,5%) không có chế độ ăn đáp ứng tất cả các tiêu chí về ăn đủbữa, đa dạng về thức ăn và ăn thức ăn giàu sắt Nghiên cứu cũng cho thấy chất lượng bữa ăn bổsung của trẻ khác nhau đáng kể tùy theo từng tỉnh[19]
Như vậy tình hình ăn bổ sung cho trẻ dưới 24 tháng tuổi trẻ thường được ăn bổ sung sớm trungbình là tháng thứ ba hoặc thứ tư Loại thức ăn mà trẻ nhận được cũng khác nhau ở từng vùng, tạicác tỉnh miền núi của Việt Nam trẻ thường được cho ăn cơm khi bắt đầu ăn bổ sung Chất lượngbữa ăn bổ sung và số lượng các bữa ăn của trẻ chưa đáp ứng theo khuyến nghị, trẻ không được ăn
đa dạng các loại thực phẩm thường là chỉ một đến hai loại trong bữa ăn bổ sung tình trạng này kháphổ biến ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác Do đó cần phải có những giải pháp để tăng
số lượng và chất lượng bữa ăn bổ sung bên cạnh việc tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu
Vì vậy việc xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lý, dựa trên nguồn thực phẩm sẵn có tạiđịa phương, dễ áp dụng và khả thi là giải pháp can thiệp dài hạn, bền vững góp phần phòng chốngsuy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em
Trang 24CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Dân số mục tiêu
Bà mẹ trong độ tuổi từ 19 tới 49 tuổi có con từ 6 đến 12 tháng tuổi ở huyện Củ Chi, TP Hồ ChíMinh và trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi là con của các bà mẹ này
2.2.2 Dân số nghiên cứu
Bà mẹ trong độ tuổi từ 19 tới 49 tuổi có con từ 6 đến 12 tháng tuổi (tính đến ngày khảo sát) sống tại
06 xã thuộc huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh tại thời điểm nghiên cứu và trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi
là con của các bà mẹ này
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính dựa vào công thức:
Trong đó:
n: cỡ mẫu ước lượng
Z: trị số phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
α: Xác xuất sai lầm loại 1, chọn α= 0,05.
d: sai số cho phép, d= 0,05
p= 0,73 Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về ăn dặm trong nghiên cứu của
Hà Ngọc Linh, Đỗ Văn Dũng (2001) [6]
Tính được n = 211, hệ số thiết kế là 1,5 ta có tổng mẫu cần lấy là n = 317
Ước lượng tỷ lệ mất mẫu 10% N cho thiết kế nghiên cứu là
2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Z 2 (1- α/2) p(1-p)
d 2
n =
Trang 25Phương pháp chọn mẫu cụm 3 giai đoạn được áp dụng để chọn các đối tượng tham gianghiên cứu:
Giai đoạn 1: Chọn ngẫu nhiên 6 xã trong huyện Củ Chi là Tân Phú Trung, Thị Trấn, Phước
Thạnh, Trung An, Phú Hoà Đông, An Phú
Giai đoạn 2: Chọn 30 cụm đơn vị nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu theo tỷ lệ dân số
(PPS) các ấp trong mỗi xã cụm được chọn với xác suất tỷ lệ theo cỡ dân số Dựa vào bảng báo cáo
số trẻ em từ 6 đến 12 tháng tại 6 xã Tân Phú Trung, Thị Trấn, Phước Thạnh, Trung An, Phú HoàĐông, An Phú là 1427 trẻ, chia thành 30 cụm mỗi cụm chọn 12 đối tượng nghiên cứu, như vậykhoảng cách mẫu là 1427/30=47 Số ngẫu nhiên được chọn có 2 chữ số nhỏ hơn 47 Cụm đượcchọn sẽ được mô tả chi tiết ở phần phụ lục
Giai đoạn 3: mỗi cụm chọn 12 đối tượng nghiên cứu phỏng vấn vào ngày chích ngừa tại
Trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi không bị dị tật bẩm sinh, sinh đủ tháng
Tiêu chí loại trừ
Bà mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con
Bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn do bị mù, câm điếc, tâm thần…
2.3.4 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Mẫu được lấy bằng phương pháp cụm được nhân hệ số thiết kế để đảm bảo tính đại diện
Định nghĩa rõ ràng đối tượng và biến số cần khảo sát căn cứ trên tiêu chuẩn chọn vào và loại ra
2.3.5 Kiểm soát sai lệch thông tin
Định nghĩa rõ ràng và cụ thể các biến số
Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, rõ ràng, ngắn gọn dễ hiểu
Trang 26 Điều tra viên được tập huấn kỹ về cách hướng dẫn bà mẹ trả lời câu hỏi
Tiến hành nghiên cứu thử trước khi nghiên cứu trên quy mô rộng để phát hiện những phát sinh, trở ngại
Chuẩn bị tốt công cụ thu thập dữ kiện, khi nhận lại phiếu điều tra kiểm tra xem đã được điền hoàn chỉnh chưa, đánh mã số phiếu, mã cụm
Xử lý số liệu sau khi đã được làm sạch
Sử dụng cân, thước đo được chuẩn hóa
Phương thức thu thập dữ kiện
Công cụ thu thập dữ liệu
Cân đồng hồ và thước đo chiều dài nằm tại các trạm y tế đã được hiểu chỉnh
Bộ câu hỏi được dịch từ Guidelines for assessing nutrition-related Knowledge, Attitudes and Practices của FAO và được nghiên cứu thử, hiệu chỉnh.[53]
Kỹ thuật thu thập dữ liệu
Cân trẻ: Đặt cân ở nơi bằng phẳng, không đặt trên thảm hoặc chiếu Không đặt cân ở nơi: có độ ẩm cao, nơi nước có thể bắn vào, không đặt cân trực tiếp dưới ánh nắng, dưới điều hòa không khí hoặc gần lửa Đặt trẻ lên cân: đón trẻ cẩn thận, nhẹ nhàng, lưu ý là cởi bỏ áo ngoài, giày dép, mũ, đồ chơi…Đọc số hiển thị Kết quả cân được ghi với một số lẻ.
Đo chiều dài nằm của trẻ: đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang, tháo bỏ giày dép hay thứ gì có thể ảnh hưởng đến việc đo chiều dài Đặt trẻ nằm thẳng trên ván của thước đo Hướng mắt trẻ vuông góc với mặt thước Người trợ giúp: tay duỗi tự do, hai tay áp hai tai để giữ trẻ nhìn thẳng, một tay áp thanh chạy vào bàn chân trẻ Lưu ý giữ bàn chân thẳng đứng và áp sát với thanh chạy trên
mặt thước Đọc kết quả và ghi số cm với một số lẻ thập phân.
2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số
Biến số về đặc điểm kinh tế - xã hội liên quan đến mẹ
Nhóm tuổi mẹ: là biến số thứ tự, gồm có 4 giá trị
Trang 27 Cao đẳng/ Đại học hoặc cao hơn
Trình độ học vấn của chồng: là biến số thứ tự gồm có 4 giá trị
Không biết chữ/ Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trung cấp/ Cao đẳng/ Đại học hoặc cao hơn
Nghề nghiệp: là biến số danh định, có 6 giá trị:
Trang 28 Thấp: thu nhập trung bình dưới 1triệu đồng/ tháng
Trung bình: thu nhập trung bình từ 1 đến dưới 3 triệu đồng/ tháng
Khá: thu nhập trung bình từ 3 tới dưới 7 triệu đồng/ tháng
Cao: thu nhập trung bình từ 7 triệu đồng/ tháng
Tình trạng hôn nhân: là biến số danh định gồm 4 giá trị
Độc thân
Đã kết hôn
Ly thân/ ly dị/ góa
Sống chung như vợ chồng
Biến số liên quan đến con
Tuổi con: Là biến số định lượng, được tính dựa vào ngày sinh của trẻ và ngày điều tra
Sử dụng cách tính tuổi của WHO đang áp dụng tại Việt Nam Dữ liệu ngày sinh thu được là dươnglịch hoặc âm lịch sau đó quy đổi lại dương lịch
Trẻ đẻ ra sống 1 ngày đến 29 ngày: 1 tháng tuồi
Trẻ 1 tháng 1 ngày tuổi đến 1 tháng 29 ngày: 2 tháng tuổi
……
Giới tính: là biến số nhị giá gồm có 2 giá trị
Nam
Nữ
Tình trạng dinh dưỡng là biến danh định gồm 5 giá trị dựa vào chỉ số Z-score:
Suy dinh dưỡng thấp còi khi chỉ số cân nặng theo chiều cao Z-score <-2SD
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân khi chỉ số cân nặng theo tuổi Z-score <-2SD
Suy dinh dưỡng thể gầy còm khi chỉ số chiều cao theo tuổi Z-score <-2SD
Bình thường khi chỉ số Z-score trong khoảng -2SD≤ Z-score ≥ 2SD
Béo phì khi chỉ số BMI theo tuổi Z-score >2SD
Biến số về kiến thức cho trẻ ăn bổ sung
Trang 29Thời điểm cho ăn bổ sung/ăn dặm : là biến số nhị giá gồm có 2 giá trị là:
Đúng: khi bà mẹ trả lời là 6 tháng tuổi
Sai: Các ý trả lời dưới 6 tháng hoặc trên 7 tháng trở lên
Thời gian cho trẻ bú mẹ (thời điểm cai sữa): là biến số nhị giá gồm 2 giá trị:
Đúng: khi bà mẹ trả lời 24 tháng hoặc càng lâu càng tốt[53]
Sai: Các ý trả lời dưới 24 tháng
Tầm quan trọng của ăn bổ sung là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
Đúng: khi bà mẹ trả lời chỉ riêng sữa mẹ không đủ năng lượng cho trẻ/ trẻ cần thêm chất dinh dưỡng ngoài sữa mẹ
Sai: khi bà mẹ trả lời là không biết hoặc ý khác.
Độ đậm đặc của thức ăn là biến nhị giá gồm 2 giá trị
Đúng: khi bà mẹ trẻ lời là cháo đặc (hình 2)
Sai: khi bà mẹ chọn hình 1 hoặc không biết
Sự đa dạng của chế độ ăn là biến nhị giá gồm có 2 giá trị:
Đúng: khi bà mẹ trả lời được năm nhóm thực phẩm thêm vào cháo/ bột là thịt/cá/trứng/gan, đậu, rau lá xanh, rau củ giàu vitamin A, dầu ăn/bơ
Sai: khi bà mẹ trả lời không biết hoặc chọn dưới 5 nhóm thực phẩm
Biết cách khuyến khích trẻ tập ăn là biến nhị giá gồm 2 giá trị
Đúng: khi bà mẹ trả lời có
Sai: khi bà mẹ trả lời không hoặc không biết
Biến số về thái độ cho trẻ ăn bổ sung
Sự tự tin khi chuẩn bị thức ăn cho con là biến danh định giá gồm 2 giá trị:
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời không tự tin hoặc bình thường
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời tự tin
Lợi ích cho con ăn nhiều loại thực phẩm mỗi ngày là biến danh định giá gồm 2 giá trị:
Thái độ không đúng khi bà mẹ trả lời không tốt hoặc không chắc chắn
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời tốt
Lợi ích cho trẻ ăn nhiều bữa mỗi ngày là biến danh định giá gồm 2 giá trị:
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời không tốt hoặc không chắc chắn
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời tốt
Lợi ích cho trẻ bú mẹ sau 6 tháng là biến danh định gồm 2 giá trị:
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời không tốt hoặc không chắc chắn
Trang 30 Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời tốt
Khó khăn khi cho con ăn nhiều loại thực phẩm mỗi ngày là biến danh định có 2 giá trị
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời không khó khăn
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời bình thường hoặc khó khăn
Khó khăn khi cho con ăn nhiều lần mỗi ngày là biến danh định có 2 giá trị
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời không khó khăn
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời bình thường hoặc khó khăn
Khó khăn khi cho con bú mẹ sau 6 tháng là biến danh định có 2 giá trị
Thái độ đúng khi bà mẹ trả lời không khó khăn
Thái độ chưa đúng khi bà mẹ trả lời bình thường hoặc khó khăn
Biến số về thực hành ăn bổ sung
Trẻ tiếp tục bú mẹ là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
Đúng khi bà mẹ trả lời Có
Sai khi bà mẹ trả lời không
Sự đa dạng về chế độ ăn là biến nhị giá gồm 2 giá trị
Nhóm 6: Củ quả có màu cam hoặc vàng cam (giàu vitamin A)
Nhóm 7: Rau xanh và các loại trái cây khác
Sai: khi bà mẹ chọn dưới 4 nhóm thực phẩm hoặc bé không ăn gì ngoài sữa mẹ
Trẻ được ăn bổ sung lúc 6 tháng là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
Đúng khi bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung lúc 6
Sai khi bà mẹ cho trẻ ăn khi dưới 6 tháng hoặc 7 tháng trở lên
Trẻ được ăn thực phẩm giàu sắt là biến nhị giá gồm 2 giá trị:
Đúng khi trẻ được cho ăn nhóm thực phẩm thịt/cá hoặc rau xanh đậm vào ngày hôm qua
Sai khi trẻ không được cho ăn thực phẩm thịt/cá hoặc rau xanh đậm vào ngày hôm qua
Trang 31Được nghe thông tin hướng dẫn về ăn bổ sung mà bà mẹ nhận được là biến nhị giá gồm 2 giá trị
Thống kê mô tả:
Đối với biến định tính: mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm
Đối với biến định lượng: mô tả bằng trung bình và độ lệch chuẩn hoặc trung
vị với khoảng tứ phân vị.
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về:
+ Mục tiêu nghiên cứu và việc sử dụng kết quả nghiên cứu
Trang 32+ Tính bảo mật: mọi thông tin cá nhân chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và bảo đảm hoàntoàn được giữ bí mật Các đối tượng tham gia nghiên cứu không điền họ tên của mình vào bộ câuhỏi thu thập số liệu.
+ Trong quá trình khảo sát, đối tượng được phỏng vấn có quyền từ chối trả lời bất kì câu hỏi nàokhông muốn trả lời hoặc ngưng trả lời
+ Bảng câu hỏi thu thập sẽ không mất quá nhiều thời gian ảnh hưởng đến công việc của bà mẹ.Các đối tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện thông qua xác nhận phiếu đồng thuậnnghiên cứu Thông tin chỉ phục vụ cho nghiên cứu khoa học Người được phỏng vấn có quyềndừng tham gia bất kì lúc nào và không có áp lực nào cho họ
Trang 33CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Đây là nghiên cứu cắt ngang được khảo sát bao gồm 346 bà mẹ qua bộ câu hỏi soạn sẵn và cân đo
346 trẻ, kết quả khảo sát được trình bày trong các phần sau
3.1 Đặc điểm dân số - xã hội của bà mẹ
Bảng3.1: Đặc điểm xã hội của mẹ (n=346)
3,5 46,6 45,05 4,86
42,61 43,94 13,45 Trình độ học vấn
1 341 4 0
10,7 41,6 31,2 5,8 10,7
0,3 98,5 1,2 0Trong 346 bà mẹ được khảo sát, độ tuổi từ 20 đến 29 chiếm chủ yếu (46,4%), đa số các bà
mẹ có 2 con với tỷ lệ 44,2%
Trang 34Về trình độ học vấn đa số các bà mẹ có trình độ cấp 2 với tỷ lệ 41,6%, tỷ lệ bà mẹ đạt trình
độ trung cấp chiếm tỷ lệ thấp nhất (20%)
Tỷ lệ bà mẹ độc thân và đã ly thân/ ly dị/goá chiếm tỷ lệ rất thấp theo thứ tự là 0,3% và 1,2%
Bảng 3.2: Tần suất các bà mẹ tính theo dân tộc, tôn giáo (n=346)
96,8 3,2 Tôn giáo
16,2 7,2 1,5 75,1
Đa số các bà mẹ là người dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 96,8%
Tỷ lệ bà mẹ không theo tôn giáo nào chiếm tỷ lệ 75,1%, ít hơn là đạo Phật với tỷ lễ 16,2% vàthấp nhất là số bà mẹ theo các tôn giáo khác như Tin Lành, Cao Đài chiếm tỷ lệ 1,5%
Bảng 3.3: Tần suất các bà mẹ tính theo nghề nghiệp, thu nhập
0 0 51 295
2,0 39,3 15,9 10,9 32,0
0 0 14,7 85,3
Tỷ lệ bà mẹ làm công nhân chiếm đa số với 39,3%, đứng thứ 2 là các bà mẹ làm nội trợ có tỷ
lệ 32%, thấp nhất là bà mẹ làm nông chiếm 2%
Về kinh tế gia đình không có gia đình có thu nhập cao cao nhất chiếm tỷ lệ 83%
Trang 35Bảng 3.4: Mô tả các đặc điểm gia đình (n=346)
187 154 5
2,0 39,3 15,9 10,9 32,0
54,1 44,5 1,6
Tỷ lệ ba của trẻ trong cuộc khảo sát có trình độ học vấn cấp 2 cao nhất với 39%, tỷ lệ khôngbiết chữ hoặc cấp 1 chiếm tỷ lệ thấp nhất với 2.0%
Số lượng nhân khẩu trong gia đình thường từ 4 người trở xuống với tỷ lệ 54,1%, tỷ lệ giađình có số nhân khẩu cao trên 8 người ít nhất chiếm tỷ lệ 1,6%
3.2 Nguồn cung cấp thông tin cho bà mẹ về cho con ăn bổ sung
Bảng 3.5: Tỷ lệ các nguồn thông tin bà mẹ nhận được (n=346)
Có nghe về ăn bổ sung
Không nghe về ăn bổ sung
Nguồn thông tin
4 95 22 132 6
75,13 24,87
1,63 36,94 8,21 50,77 2,44
Tỷ lệ bà mẹ được nghe các thông tin về ăn bổ sung là 75,13%, nguồn cung cấp thông tinnhiều nhất cho các bà mẹ là phương tịn thông tin đại chúng như sách, báo, tivi, truyền thông,
Trang 36internet, đứng thứ hai là người thân bạn bè với 36,94%, chỉ có một số ít bà mẹ nghe thông tin quatrường lớp
3.3 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung
Bảng 3.6: Mô tả thực hành của bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung (n=346)
257
43,16 66,23
73,89
Đa số các trẻ từ 6 tuổi được ăn bổ sung chiếm tỷ lệ 43,16%
Tỷ lệ các bà mẹ cho con ăn đa dạng nhóm thực phẩm là 66,23%
Tỷ lệ trẻ được ăn thực phẩm giàu sắt là 74,28%
Bảng 3.7: Số cữ ăn của trẻ theo tháng tuổi (n=346)
Số cữ ăn
Trẻ 6-8 tháng (n=146)
Trẻ 9-11 tháng (n=172)
Trẻ 12 tháng (n=28) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
19,18 31,51 36,30 13,01
8 34 92 38
4,65 19,77 53,49 22,09
0 3 24 1
0 10,71 85,71 3,57
Tỷ lệ trẻ từ 6 đến 8 tháng ăn dưới 2 cữ/ngày là 19,18%
Tỷ lệ trẻ từ 9 đến 11 tháng ăn 3 cữ trong ngày là 53,49%
Tỷ lệ trẻ ăn 4 cữ trở lên là 22,09%
Tỷ lệ trẻ 12 tháng ăn dưới 3 cữ trong ngày là 10,71%
Bảng 3.8: Tần suất có sử dụng các loại thực phẩm (n=346)
Trang 3795,32 16,94 5,59 74,38 4,64 11,74 8,84 5,05 42,51 28,83 1,40 3,55 46,15 35,48 19,1 3,45 11,40 5,71
Đa phần các bà mẹ cho con ăn cơm/cháo/bột với tỷ lệ 95,32%
Tỷ lệ trẻ đƣợc dùng sữa công thức là 74,38% Trong nhóm đạm trẻ đƣợc cho ăn thịt là chủyếu chiếm tỷ lệ 42,51% Tỷ lệ trẻ dùng loại rau quả giàu vitamin A là 46,15% Chỉ có 3,45% trẻđƣợc cho ăn các loại dầu hoặc chất béo khác trong cữ ăn Số bà mẹ dùng các loại gia vị khi nấu ăncho trẻ chiếm tỷ lệ 5,71%
3.4 Kiến thức của bà mẹ về việc cho con ăn bổ sung
Bảng 3.9 Mô tả kiến thức về cho trẻ ăn bổ sung (n=346)
Thời điểm cai sữa
Thời điểm bắt đầu cho ăn bổ sung
Sự cần thiết của ăn bổ sung
Đậm độ và đa dạng của thức ăn
Thực phẩm có lợi
Khuyến khích trẻ ăn
75 271 281 206 170 322
21,6 77,89 81,2 58,84 49,86 93,46
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm cai sữa là 21,6%
Tỷ lệ các bà mẹ biết thời điểm cho con ăn bổ sung vào 6 tháng tuổi là 77,89%
Tỷ lệ các bà mẹ biết về sự cần thiết việc ăn bổ sung là 81,2%
Tỷ lệ các bà biết thức ăn bổ sung của trẻ có các nhóm thực phẩm khác nhau trong chéncháo/bột cần phải và có đậm độ thích hợp là 58,84%
Tỷ lệ bà mẹ biết các loại thực phẩm tốt cho bé là 49,86%
Tỷ lệ đa số các bà mẹ biết rằng khi cho con ăn cần phải khuyến khích trẻ chiếm 93,46%
Trang 383.5 Thái độ của bà mẹ về vấn đề ăn bổ sung
Bảng 3.10: Sự tự tin bà mẹ khi cho trẻ ăn bổ sung (n= 346 )
Đa số các bà mẹ tự tin rằng mình có thể cho con ăn bổ sung tốt với tỷ lệ 93,3%
Bảng 3.11: Thái độ của bà mẹ về những thuận lợi trong việc ăn bổ sung (n=346)
Cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn trong ngày
Cho bé ăn nhiều lần trong ngày
Tiếp tục cho trẻ bú mẹ sau 6 tháng
302 264 302
86,51 76,03 87,49
Đa số các bà mẹ nghĩ rằng cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm mỗi ngày là tố với tỷ lệ 86,51% Tỷ lệ
bà mẹ có thái độ tốt về việc cho trẻ ăn nhiều lần mỗi ngày là 76,03%
Tỷ lệ bà mẹ có thái độ tốt về việc tiếp tục cho con bú sau 6 tháng là 87,49%
Bảng 3.12: Thái độ của bà mẹ về những khó khăn khi cho con ăn bổ sung (n=346)
Cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn trong ngày
Cho bé ăn nhiều lần trong ngày
Tiếp tục cho trẻ bú mẹ sau 6 tháng
255 245 265
73,78 70,56 76,61
Đa số các bà mẹ cảm thấy không khó khăn khi cho con ăn nhiều loại thực phẩm trong ngàychiếm tỷ lệ 73,78%
Tỷ lệ bà mẹ không cảm thấy khó khăn khi cho con ăn nhiều lần trong ngày là 70,56%
Tỷ lệ bà mẹ cho biết không khó khăn khi cho con tiếp tục bú mẹ sau 6 tháng là 76,61%
Trang 393.6 Đặc điểm của trẻ và tình trạng dinh dƣỡng
148 155 43
146 172 28
52,28 47,72
43,02 44,5 12,48
42,21 49,56 8,22Trong nghiên cứu này số trẻ nam chiếm tỷ lệ 52% cao hơn số trẻ em gái Đa số thuộc nhómtuổi 9 đến 11 tháng chiếm tỷ lệ 49,56%
3.2.2 Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ
Bảng 3.14: Chỉ số Z-score trung bình (n= 346)
Chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi (HAZ) là -1,06
Chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi (WAZ) là -1,9
Chỉ số Z-score cân nặng theo chiều cao (WHZ) là -0,07
Trang 40Bảng 3.15: Tình trạng dinh dƣỡng chung của trẻ (n=346)
Tần số Tỷ lệ (%)
Suy dinh dƣỡng thể gầy còm
Béo phì
165
4,621,45
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng nhẹ cân chiếm 2,6 %
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể thấp còi là 8,67 %
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể gầy còm là 4,62%
Tỷ lệ trẻ thừa cân - béo phì chiếm 1,45%
Bảng 3.16: Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ theo giới (n=346)
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Suy dinh dƣỡng gầy còm
Béo phì
124
3,461,15
41
1,150,28
p>0,05
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng thấp còi bé trai là 4,33%
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng gầy còm ở bé trai là 3,46%
Tỷ lệ suy dinh dƣỡng nhẹ cân bé trai là 1,44%
Tỷ lệ béo phì ở bé trai là 1,15%
Tỷ lệ các thể suy dinh dƣỡng và béo phì ở bé trai cao hơn bé gái nhƣng không có ý nghĩa về mặtthống kê