Khái niệm
Đuối nước, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), được định nghĩa là quá trình con người bị chìm hoặc ngâm trong chất lỏng, thường là nước, dẫn đến suy hô hấp Sự kiện này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, bao gồm cả tử vong hoặc không tử vong.
Thực trạng về đuối nước ở trẻ em trên Thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Thực trạng về đuối nước ở trẻ em trên thế giới Ở Trung Quốc, theo thống kê từ năm 2004-2011 cho thấy đuối nước, tai nạn giao thông đường bộ và té ngã luôn là ba nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em (14) Tỷ lệ tử vong trung bình là 4,05 trên 100.000 người từ năm 2006 đến năm 2013, nam giới và cư dân nông thôn tử vong do đuối nước có tỷ lệ cao hơn nhiều so với phụ nữ và cư dân thành thị tại mọi thời điểm, xu hướng gia tăng tỷ lệ tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em ở nông thôn cao hơn ở thành thị, từ đó cho thấy cần có các chiến lược và biện pháp phòng chống TNTT tốt hơn tại các vùng nông thôn, trẻ em trai, đuối nước, tai nạn giao thông đường bộ và té ngã
Đuối nước là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Bangladesh, đặc biệt là đối với trẻ em Năm 2003, hơn 1/4 trẻ em từ 1-4 tuổi đã tử vong do đuối nước, và con số này đã tăng lên 42% vào năm 2011 Theo báo cáo của WHO, tỷ lệ đuối nước ở các nước thu nhập trung bình thấp như Bangladesh cao hơn so với các nước phát triển, với tỷ lệ tử vong do đuối nước ở Bangladesh cao gấp 2 đến 5 lần so với hầu hết các nước thu nhập trung bình thấp khác.
Năm 2011, nghiên cứu của Lauren A Petrass và cộng sự đã tiến hành hồi cứu các ca tử vong do đuối nước từ năm 2000-2009 tại Australia (18) Có 339
Nghiên cứu về trường hợp tử vong do đuối nước tại HUPH cho thấy 71,7% trường hợp tử vong liên quan đến việc thiếu giám sát từ người chăm sóc trẻ Kết quả này chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa sự quan sát của cha mẹ và nguy cơ đuối nước ở trẻ em.
Từ năm 2008-2012 tại Canada có 2392 ca tử vong do đuối nước (19) Tỷ lệ tử vong (trên 100.000) thay đổi theo nhóm tuổi: 0-4 (1,05), 5-14 (0,57), 15-19
Tỷ suất đuối nước của nam so với nữ là 5:1, với sự khác biệt rõ rệt theo nhóm tuổi Các yếu tố ảnh hưởng đến đuối nước bao gồm giới tính, vùng nước, vị trí thành thị so với nông thôn, thời gian trong năm, loại hoạt động, mục đích hoạt động, liên quan đến rượu, và sử dụng thiết bị nổi cá nhân Hơn 55,7% ca tử vong do đuối nước tại Canada xảy ra vào mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 8, trong đó trẻ em từ 5-14 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 76,6% Điều này cho thấy cần thiết phải có các chiến lược phòng chống đuối nước phù hợp với từng nhóm tuổi cụ thể.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (2008), tai nạn thương tích (TNTT) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em trên toàn cầu, chiếm 68% số ca tử vong ở trẻ dưới 15 tuổi Trong đó, tai nạn giao thông (TNGT) là nguyên nhân chính, với khoảng 22% trẻ em tử vong do TNGT, và tỷ lệ tử vong ở các nước có thu nhập trung bình cao hơn 58% so với các nước thu nhập cao Hơn 90% trường hợp đuối nước ở trẻ em xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, với tỷ lệ cao nhất ở khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi có tỷ lệ đuối nước gấp đôi so với trung bình toàn cầu.
Bảng 1.1 Nguyên nhân TNTT gây tử vong hàng đầu ở trẻ em (20)
Theo báo cáo toàn cầu về đuối nước của Tổ chức Y tế thế giới năm 2014, tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến đuối nước, với tỷ lệ cao nhất ở trẻ em 1–4 tuổi và tiếp theo là trẻ em 5–9 tuổi Tại Khu vực Tây Thái Bình Dương, trẻ em từ 5–14 tuổi thường xuyên tử vong do đuối nước hơn bất kỳ nguyên nhân nào khác Nghiên cứu năm 2016 của Mott TF và Latimer KM đã chỉ ra rằng giáo dục, dạy bơi, các bài học về an toàn dưới nước và rào hồ bơi thích hợp là những can thiệp hiệu quả nhất hiện nay.
Năm 2019, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có gần 236.000 người tử vong do đuối nước toàn cầu, trong đó hơn 50% là người dưới 30 tuổi Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ sáu cho trẻ em từ 5 - 14 tuổi Khoảng 90% số ca tử vong này xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, và đuối nước đứng thứ ba trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích, chiếm 7% tổng số ca tử vong do tai nạn thương tích trên toàn thế giới.
Theo báo cáo của CDC Hòa Kỳ, trung bình có 3.957 ca tử vong do đuối nước không chủ ý mỗi năm từ 2010 đến 2019, tương đương với 11 ca tử vong mỗi ngày Đặc biệt, đối với trẻ em từ 10-14 tuổi, đuối nước là nguyên nhân thứ
2 gây tử vong do tai nạn thương tích, sau tai nạn giao thông đường bộ tại Hoa Kỳ
(3) Theo tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu, năm 2019 thế giới mất đi
HUPH ghi nhận hơn 237.000 người bị ảnh hưởng bởi đuối nước, với tổng gánh nặng bệnh tật do đuối nước đạt trên 13 triệu năm sống điều chỉnh (DALY) Số năm sống mất đi do tàn tật liên quan đến đuối nước là hơn 163.300 năm (YLD).
1.2.2 Thực trạng về đuối nước ở trẻ em tại Việt Nam Đuối nước là nguyên nhân gây tai nạn thương tích hàng đầu cho trẻ em Việt Nam, trung bình có khoảng 5 trẻ tử vong do đuối nước mỗi ngày (23) Theo thống kê của Cục quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y tế, trung bình mỗi năm trong giai đoạn
Từ năm 2010 đến 2015, Việt Nam ghi nhận khoảng 2.800 trẻ em tử vong do đuối nước, với nhóm tuổi từ 5 đến 14 chiếm tỷ lệ cao nhất Đuối nước là nguyên nhân dẫn đến hơn 50% các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em.
Nghiên cứu “điều tra chấn thương quốc gia năm 2010” (VNIS 2010) cho thấy đuối nước là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở tất cả các nhóm tuổi, với tỷ suất tử vong cao nhất ở trẻ em từ 0-4 tuổi (12,9/100.000 dân) và nhóm 5-9 tuổi (11/100.000 dân) Tỷ suất tử vong do đuối nước ở nam giới (10,7/100.000 dân) gấp 2 lần so với nữ giới (5,4/100.000 dân), và tỷ lệ đuối nước ở trẻ em nông thôn cao gấp 2 lần so với thành phố.
Nghiên cứu của Trần Thị Ngân về tình hình tử vong và nguy cơ đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp trong giai đoạn 2012-2014 cho thấy, trong số 132 trẻ tử vong do đuối nước, tỷ lệ trẻ nam chiếm 58% Nhóm trẻ dưới 5 tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất, vượt quá 60%, và 95% trẻ tử vong do đuối nước không biết bơi Địa điểm xảy ra đuối nước chủ yếu là các sông, ao, mương, chiếm 96.2%, với khoảng cách từ nơi xảy ra tai nạn đến nhà ở dưới 100m Thời gian từ tháng 5 đến tháng 11 là giai đoạn có số vụ đuối nước cao nhất.
Tử vong do đuối nước ở Việt Nam là vấn đề nghiêm trọng, với tỷ lệ cao gấp 8 lần so với các nước phát triển và đứng thứ 5 trong khu vực Tây Thái Bình Dương Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2015, Việt Nam ghi nhận hơn 11.500 trẻ em chết đuối mỗi năm, xếp thứ 2 toàn cầu Dữ liệu từ năm 2015-2017 cho thấy đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em tại Việt Nam.
Tỷ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em tại Việt Nam hiện nay là 9,6/100.000 trẻ em, với trẻ em trai có nguy cơ cao gấp đôi so với trẻ em gái Nhóm tuổi 0-4 có tỷ lệ tử vong cao nhất, đặc biệt ở các vùng Tây Nguyên và trung du miền núi phía Bắc, nơi có tỷ suất tử vong lần lượt là 18,69/100.000 và 16,09/100.000 trẻ em Lai Châu dẫn đầu với 37,8/100.000 trẻ em, tiếp theo là Đắc Nông, Điện Biên, Yên Bái, Kon Tum, Đắc Lăk, Gia Lai, Lào Cai, Ninh Bình và Bắc Giang, đều có tỷ lệ trên 17/100.000 trẻ em Từ tháng 5/2021 đến 20/9/2021, cả nước ghi nhận 54 vụ đuối nước, làm 89 trẻ tử vong, trong đó 76,6% xảy ra tại cộng đồng, 22,4% tại gia đình và 1% tại trường học Theo báo cáo năm 2019 của tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu, khoảng 6.000 người tử vong do đuối nước mỗi năm, gây tổn thất lên tới 340.995 (DALY) và trên 3.800 (YLD).
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước ở trẻ em
1.3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước ở trẻ em trên thế giới
Nghiên cứu của Linda Quan và cộng sự (2006) về niềm tin và thực hành phòng chống đuối nước của thanh thiếu niên và phụ huynh người Mỹ gốc Việt tại Quận King, Washington, cho thấy cộng đồng người Việt không nhận thức rõ về nguy cơ đuối nước Qua phỏng vấn với 15 thanh thiếu niên và 20 phụ huynh, kết quả cho thấy họ tin rằng đuối nước chủ yếu do chuột rút hoặc trượt chân, và cách phòng ngừa là tránh xa nước Mặc dù biết các vùng nước như ao, hồ, sông có nguy cơ cao, thanh thiếu niên vẫn chọn đến đó vì miễn phí và cảm thấy thoải mái hơn so với bể bơi Họ thường bơi lội bất chấp thiếu kỹ năng, chịu ảnh hưởng từ bạn bè.
HUPH cho rằng nhiều phụ huynh xem các trường hợp tử vong do đuối nước là do số phận hoặc tin vào quan niệm “linh hồn kéo bạn xuống”, trong khi thanh thiếu niên lại phản bác mạnh mẽ những mê tín này Những người tham gia nhận thấy rằng họ chưa quen với các hoạt động dưới nước và thiếu kỹ năng bơi lội, đồng thời cho rằng các hoạt động này không được coi là môn thể thao giải trí phổ biến ở Việt Nam Họ có thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng áo phao, bể bơi và các lớp học bơi do chi phí, nhưng lại sẵn sàng tham gia các lớp học bằng tiếng Việt Để giảm thiểu tình trạng đuối nước trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cần thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành an toàn thông qua các chương trình và thông điệp bằng tiếng Việt.
Nghiên cứu của Chao Duo (2017) về “Kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) và các yếu tố liên quan đến đuối nước ở học sinh quận Yantian, Thẩm Quyến” nhằm tìm hiểu kiến thức, niềm tin, hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đuối nước ở học sinh tiểu học và trung học Nghiên cứu này cũng cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược và biện pháp can thiệp phòng chống đuối nước Phương pháp nghiên cứu sử dụng mẫu theo cụm ngẫu nhiên, bao gồm sáu trường tiểu học và hai trường trung học cơ sở tại quận Yantian, Thẩm Quyến, với mục tiêu rút ra ba học sinh lớp.
Wu, một học sinh trung học phổ thông, đã thực hiện một khảo sát với 3875 học sinh tiểu học và trung học cơ sở về kiến thức đuối nước Kết quả cho thấy chỉ có 6,56% học sinh nắm vững kiến thức này Đặc biệt, học sinh trung học cơ sở có mức độ hiểu biết về đuối nước cao hơn so với học sinh tiểu học (χ² = 29,30, P < 0,01).
Nếu có biển cảnh báo nguy hiểm, liệu mọi người có tiếp tục đi vào vùng nước đó? Tỷ lệ niềm tin tích cực về việc "chơi hoặc bơi" đạt 89,16%, trong khi tỷ lệ niềm tin về việc "không có người lớn đi cùng bạn bè hoặc bạn cùng lớp sẽ đi bơi hoặc chơi" là 68,96% Đặc biệt, trẻ em gái có tỷ lệ niềm tin và hành vi nguy cơ dẫn đến đuối nước tốt hơn so với trẻ trai.
Tỷ lệ trẻ vị thành niên và trẻ em có hành vi nguy cơ cao bị đuối nước khi đến bể bơi hoặc vùng nước gần nhà là 52,61% Các giá trị P đều nhỏ hơn 0,01, cho thấy sự liên quan đáng kể Vùng nước nguy hiểm trong môi trường xung quanh là một yếu tố quan trọng cần được chú ý.
HUPH xix chỉ ra rằng có nhiều yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến hành vi nguy cơ cao ở trẻ em và thanh thiếu niên (giá trị P 0,001) Đặc biệt, điểm số trung bình về kiến thức và thái độ đã cải thiện rõ rệt sau can thiệp, trong khi không có sự thay đổi đáng kể về thực hành (P50% tổng số điểm) đánh giá là đạt, nếu ĐTNC được ≤ 5 điểm đánh giá là không đạt
Bảng chấm điểm thực hành PCĐN
TT Câu hỏi Đáp án Chấm điểm
Trong tình huống gặp người bị đuối nước em sẽ làm gì ?
Gọi người lớn đến cứu 1 Lấy cành cây, sào…kéo người bị nạn vào bờ 1
Thực hiện sơ cấp cứu (hô hấp nhân tạo) 1
2 Em có biết bơi không ? Có 1
Em có bơi ở nơi có người cứu hộ/ mặc áo phao, phao bơi không ?
Trước khi đi bơi em có xin phép Bố mẹ/ người sống cùng không ?
5 Có bao giờ e đi bơi một mình không ? Đã từng 0
6 Em có khởi động trước khi bơi
7 Có bao giờ em đi bơi khi đang bị ốm, mệt không ?
Em đã từng bơi ở vùng nước có biển cấm bơi hay biển báo nguy hiểm Đã từng 0
Thực hành đạt: >5 điểm Thực hành chưa đạt: ≤ 5 điểm
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu định lượng được làm sạch và nhập vào phần mềm Epidata 3.1, xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
2.7.2 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng kiểm định bình phương 2x2 để so sánh tỷ lệ và xác định mối liên hệ giữa các yếu tố với kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống dịch bệnh (PCĐN) của học sinh Đồng thời, áp dụng tỷ lệ odds (OR) và khoảng tin cậy để đánh giá mức độ mạnh của sự kết hợp này.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo quyết định số 420/2021/YTCC-HD3 vào ngày 06/12/2021, xác nhận việc chấp thuận các vấn đề đạo đức liên quan đến NCYSH.
Nghiên cứu (NC) chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người chăm sóc chính, cùng với sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Quá trình này phải đảm bảo không gây tổn thương về thể chất và tinh thần cho ĐTNC.
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu, bao gồm bố mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ em có nhu cầu đặc biệt, đã được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Thông tin thu thập từ nghiên cứu sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng bởi các nghiên cứu viên cho mục đích nghiên cứu.
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống đuối nước của học
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n75)
Thông tin Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nghiên cứu đã thu hút 375 đối tượng tham gia, với tỷ lệ nam và nữ gần như tương đương (49,1% nam và 50,9% nữ) Trình độ học vấn của các đối tượng được phân bổ đồng đều, trong đó nhóm lớp 7 và lớp 8 chiếm tỷ lệ lần lượt là 28,0% và 27,7%.
6 chiếm 24,8% Chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là lớp 9 với 19,5%
Về nơi sinh sống, 41,9% đối tượng ở thị trấn, tỷ lệ đối tượng sinh sống tại xã
Xã Xuân Hòa và Xã Việt Tiến lần lượt 30,1% và 28,0%
Biểu đồ 3.1 Phân bổ tỷ lệ giới tính học sinh tham gia nghiên cứu
Thông tin chung của cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Kết quả nghiên cứu chỉ ra đa số các đối tượng đang ở cùng bố/mẹ (90,7%)
Trong số các bậc cha mẹ hoặc người chăm sóc chính, có 20,4% chỉ học đến cấp tiểu học, 37,6% đã tốt nghiệp trung học cơ sở, 21,1% có trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học, và 10,6% đã tốt nghiệp trung học phổ thông Về loại hình công việc, 43,5% làm ruộng, 32,3% là công chức/công nhân, và 22,1% làm lao động tự do/buôn bán Đáng chú ý, 91,7% cha mẹ hoặc người chăm sóc chính vẫn đang có vợ hoặc chồng.
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Trình độ học vẫn của Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Trung cấp/ Cao đẳng/ Đại học 79 21,1
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Lao động tự do/ buôn bán 83 22,1
Tình trạng hôn nhân của Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Thông tin về môi trường xung quanh liên quan đến học sinh
(n75) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Khoảng cách đi bộ từ nơi ở đến nguồn nước tự nhiên
Bể bơi trên địa bàn sinh sống
Phần lớn các đối tượng sống cách nguồn nước tự nhiên chỉ từ 5-10 phút đi bộ (57,6%) hoặc từ 10 đến 30 phút (19,7%) Đáng chú ý, 66,9% các em sống trong khu vực không có bể bơi.
Mục đích học sinh đến gần nguồn nước tự nhiên (ao/ hồ/ sông/ suối/ kênh/ rạch) (n75) Đặc điểm
Mục đích ra ao/ hồ/ sông/ suối/ kênh/ rạch nước Đi chơi 45 24,5 52 27,2 97 25,9 Đi bơi 55 29,9 29 15,2 84 22,4 Đi bắt cá 73 39,7 62 32,5 135 36,0
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các em thường ra gần nguồn nước với nhiều mục đích khác nhau, trong đó đi bắt cá chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,0%, tiếp theo là đi chơi với 25,9%, và đi bơi là mục đích ít phổ biến nhất với 22,4%.
3.1.2 Kiến thức của học sinh về phòng chống đuối nước
Kiến thức của học sinh về thông tin đuối nước (n75) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng nghe đến đuối nước Đã từng nghe 363 96,8
Chưa bao giờ được nghe 12 3,2 Địa điểm thường xảy ra đuối nước
Thời gian thường xảy ra đuối nước
Tháng thường xảy ra đuối nước
Không biết 77 20,5 Đối tượng nào có nguy cơ bị đuối nước cao nhất
Nguyên nhân gây đuối nước
Do không mặc áo phao/ phao bơi khi bơi 97 25,9
Do bị ngã xuống nước 72 19,2
Do bơi ở khu vực nước có nguy hiểm 168 44,8
Hậu quả của đuối nước
Trong một nghiên cứu với 375 học sinh THCS, có đến 96,8% học sinh đã nghe về hiện tượng đuối nước Địa điểm mà học sinh cho rằng thường xảy ra đuối nước chủ yếu là sông, suối (74,4%), tiếp theo là ao, hồ, giếng nước (46,4%) và bãi biển (19,7%).
Theo thống kê, 81,3% trường hợp đuối nước xảy ra vào ban ngày, trong khi từ tháng 5 đến tháng 8 chiếm 76,5% tổng số vụ việc Đáng chú ý, có tới 20,5% học sinh không nhận thức được về nguy cơ này.
Tỷ lệ học sinh cho rằng nam giới có nguy cơ bị đuối nước là 5,6%, trong khi cả nam và nữ đều có khả năng bị đuối nước cao lên tới 80,5%.
Theo khảo sát, 64,5% học sinh cho rằng nguyên nhân chính gây đuối nước là do không biết bơi, trong khi 44,8% cho rằng bơi ở khu vực nước nguy hiểm cũng là một yếu tố quan trọng Bên cạnh đó, 27,2% học sinh nhận thức được nguy cơ bị ngạt nước, và 25,9% cho rằng việc không mặc áo phao hoặc phao bơi khi bơi là vấn đề cần được chú ý.
Tỷ lệ học sinh nhận thức về nguy cơ đuối nước có thể dẫn đến tử vong lên tới 94,7% Tuy nhiên, vẫn còn một số ít học sinh (4,0%) chưa hiểu rõ hậu quả của việc này, và một tỷ lệ nhỏ (0,5%) cho rằng đuối nước không gây ra vấn đề gì.
Biểu đồ 3.2 Kiến thức của học sinh về hậu quả của đuối nước
Kiến thức của học sinh về khả năng phòng chống đuối nước Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Khả năng phòng chống đuối nước
Hành động trước khi bơi lội dưới nước
Xin phép người Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính trước khi đi bơi
Bơi ở những nơi được cho phép bơi 178 53,6
Thực hiện khởi động trước khi bơi 202 60,8
Không bơi khi đang bị ốm, mệt 149 44,9
Bơi ở nơi có người cứu hộ 182 54,8 Không bơi ở vùng nước có biến báo nguy hiểm 176 53,0
Tử vong Tàn tật Không bị sao Không biết
Kiến thức của học sinh về hậu quả đuối nước
Hành động khi gặp người bị đuối nước
Gọi người lớn đến cứu 326 86,9
Thực hiện sơ cấp cứu (hô hấp nhân tạo) 64 17,1 Đưa đến trạm Y tế, bệnh viện 53 14,1
Kỹ năng sơ cấp cấp (hô hấp nhân tạo, thổi ngạt) khi gặp người bị đuối nước
Theo nghiên cứu về kiến thức phòng chống đuối nước (PCĐN) của học sinh, có 11,5% đối tượng cho rằng đuối nước không thể phòng tránh Trong số 332 người biết rằng đuối nước có thể được ngăn chặn, 74,7% cho rằng cần xin phép cha mẹ hoặc người chăm sóc trước khi đi bơi Ngoài ra, 60,8% biết cần khởi động trước khi bơi, 54,8% cho rằng nên bơi ở nơi có người cứu hộ, 53,6% chọn bơi ở những khu vực được phép, 53,0% không bơi một mình, 53,0% tránh bơi ở vùng nước có biển báo nguy hiểm, và 44,9% không bơi khi đang ốm hoặc mệt.
Có 86,9% đối tượng nhận thức được cần gọi người lớn khi gặp tình huống khẩn cấp Trong số đó, 19,2% biết cách gọi cấp cứu, 17,1% thực hiện sơ cấp cứu như hô hấp nhân tạo, và 14,1% biết đưa người bị đuối nước đến trạm y tế hoặc bệnh viện Tuy nhiên, 66,1% đối tượng vẫn chưa nắm vững kỹ năng sơ cấp cứu, đặc biệt là hô hấp nhân tạo và thổi ngạt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng điểm kiến thức về phòng chống đuối nước (PCĐN) của 375 học sinh tham gia, điểm kiến thức trung bình đạt 13.3 điểm Điểm cao nhất mà học sinh đạt được là 29, trong khi điểm thấp nhất là 0.
Theo kết quả tính toán về kiến thức PCĐN, chỉ có 26,4% học sinh đạt yêu cầu Trong đó, tỷ lệ học sinh nữ đạt cao hơn một chút so với học sinh nam, lần lượt là 29,3% và 23,4% Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh không đạt kiến thức lên tới 73,6%, với 76,6% là nam và 70,7% là nữ.
Biểu đồ 3.3 Phân bố tỷ lệ kiến thức của học sinh về phòng chống đuối nước
3.1.3 Thực trạng thái độ về phòng chống đuối nước của học sinh
Thái độ của học sinh về phòng chống đuối nước Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Sự quan tâm đến PCĐN Có 347 92,5
Khi được rủ đi chơi gần các nguồn nước tự nhiên
Sẵn sàng sàng khuyên ngăn, giải thích cho mọi người về nguy cơ đuối nước ở những nơi gần sông/ hồ/ ao/ suối/ bể bơi
Sãn sàng tham gia các hoạt động về PCĐN
Yêu thích các hoạt động truyền thông về phòng chống đuối nước
Kết quả nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ nhỏ học sinh (7,5%) vẫn chưa quan tâm đến vấn đề phòng chống đuối nước Trong khi đó, 25,1% học sinh cho biết họ sẵn sàng tham gia khi được rủ đi chơi gần các nguồn nước tự nhiên và có ý thức khuyên ngăn, giải thích cho mọi người về nguy cơ đuối nước.
HUPH có đến 92,5% các địa điểm gần sông, hồ, ao, suối và bể bơi Tỷ lệ người tham gia các hoạt động phòng chống đuối nước đạt 89,6%, trong khi đó, 90,9% trẻ em thể hiện sự yêu thích đối với các hoạt động truyền thông về vấn đề này.
Biểu đồ 3.4 Phân bố tỷ lệ thái độ của học sinh về phòng chống đuối nước
Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng được tiếp cận 349 93,1
Chưa từng được tiếp cận 26 6,9
Vẫn còn 1 tỷ lệ nhỏ học sinh chưa được chưa từng được tiếp cận truyền thông về phòng chống đuối nước (6,9%)
Hình thức, nội dung truyền thông về phòng chống đuối nước được học sinh ưa thích
Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Hình thức tuyên truyền về phòng chống đuối nước được trẻ ưa thích
Hội thi tìm hiểu về phòng chống đuối nước 194 51,7
Hình thức tiếp cận thông tin được học sinh ưa thích
Trực tiếp từ nhà trường 302 80,5
Trên ti vi, internet, mạng xã hội 160 42,7
Tài liệu truyền thông được học sinh ưa thích
Tham gia chương trình truyền thông do ai tổ chức
Hội chữ thập đỏ 3 0,8 Đoàn thanh niên 38 10,1
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống đuối nước 50 Chương 4
Mối liên quan giữa thực hành phòng chống đuối nước và giới tính
HUPH li Đạt Không đạt
Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh nữ có khả năng thực hành phòng chống đuối nước đạt 84,8%, cao hơn học sinh nam là 2,7%
Mối liên quan giữa thông tin của Cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính và thực hành phòng chống đuối nước của học sinh
Thông tin Cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính
Thực hành Đạt Chưa đạt
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Trình độ học vẫn của
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Trung cấp/ Cao đẳng/ Đại học – Sau đại học
Tiểu học - Trung học phổ thông
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
HUPH của Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính
Khác (Ly thân/ Ly hôn/ Góa/ Độc thân)
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ hoặc người chăm sóc chính của học sinh có trình độ tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học có khả năng thực hành cao hơn 2,81 lần so với những người có trình độ tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông (với khoảng tin cậy 95%: 1,33 – 5,91), và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Cha mẹ hoặc người chăm sóc chính của học sinh làm việc trong lĩnh vực công chức/công nhân có khả năng thực hành cao hơn 2,23 lần so với những người làm nghề khác (95% KTC: 1,14 – 4,36), cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Học sinh có Cha Mẹ hoặc người chăm sóc chính đang trong tình trạng hôn nhân có vợ/chồng thực hành tốt hơn gấp 2,25 lần so với học sinh có Cha Mẹ hoặc người chăm sóc chính ở tình trạng hôn nhân khác, với độ tin cậy 95% (KTC: 0,98 – 5,15).
Mối liên quan giữa thông tin về môi trường xung quanh của học sinh và thực hành phòng chống đuối nước của học sinh
Thông tin về môi trường xung quanh
Thực hành Đạt Chưa đạt
Khoảng cách đi bộ từ nơi ở đến
HUPH liii nguồn nước tự nhiên
Bể bơi trên địa bàn sinh sống
Kết quả nghiên cứu cho thấy những người sống cách khu vực có nguồn nước tự nhiên trên 30 phút đi bộ có khả năng thực hành đúng cao hơn 1,74 lần so với những người sống gần nguồn nước, chỉ cách 5 – 10 phút đi bộ (95% KTC: 0,5 – 6,05).
Các đối tượng có bể bơi trên địa bàn sinh sống có khả năng thực hành đúng cao hơn các đối tượng không có bể bơi 2,07 lần (95%KTC: 1,08 – 3,98)
Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng chống đuối nước của học sinh
Thái độ Đạt Chưa đạt
Học sinh có thái độ tốt đạt tỷ lệ kiến thức cao lên đến 27,9%, gấp 8,91 lần so với những học sinh có thái độ chưa tốt, với khoảng tin cậy 95% là từ 1,19 đến 66,87.
Mối liên quan giữa tiếp cận truyền thông và thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh
Thực hành Đạt Chưa đạt
OR 95%KTC p n % n % Đã từng được tiếp cận 294 84,2 55 15,8 1,97
0,79 – 4,91 0,139 Chưa từng được tiếp cận 19 73,1 7 26,9 1
Các đối tượng đã từng tiếp cận truyền thông có khả năng thực hành cao hơn 1,97 lần so với những người chưa từng được tiếp cận, với khoảng tin cậy 95% là từ 0,79 đến 4,91.
Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh 54 1 Kiến thức về phòng chống đuối nước của học sinh
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước (PCĐN) của học sinh tại một số trường Trung học cơ sở ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, nơi có tỷ lệ đuối nước cao Đây là nghiên cứu đầu tiên tại khu vực này, nhằm cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng chính sách và các hoạt động trong chương trình PCĐN cho học sinh.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang để khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của 375 học sinh trung học cơ sở tại ba trường: Trường THCS thị trấn Phố Ràng, Trường THCS xã Xuân Hòa và Trường THCS xã Việt Tiến, thuộc huyện.
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Nghiên cứu được bắt đầu tiến hành từ tháng 10/2021 và đã ghi nhận được kết quả như sau:
Về độ tuổi: NC chọn đối tượng là học sinh THCS tại 3 trường ((Trường
Trường THCS thị trấn Phố Ràng, Trường THCS xã Xuân Hòa và Trường Tiểu học và THCS xã Việt Tiến, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, phục vụ cho lứa tuổi từ 11-14, là độ tuổi có tỷ lệ đuối nước cao Đây là giai đoạn bắt đầu dậy thì, với nhiều thay đổi về thể chất và tâm sinh lý, khi các em bắt đầu thể hiện tính tự chủ trong suy nghĩ và hành động Do đó, việc đánh giá kỹ năng phòng chống đuối nước (PCĐN) là cần thiết để xây dựng các chương trình giáo dục can thiệp sớm và phù hợp, nhằm nâng cao khả năng nhận thức và kỹ năng cho các em.
Về giới tính: Trong tổng số 375 đối tượng tham gia vào nghiên cứu, giới tính của nam và nữ tỷ lệ cân đối (49,1% và 50,9%)
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là học sinh sống cùng bố mẹ, chiếm 90,7% Về trình độ học vấn, 10,6% cha mẹ hoặc người chăm sóc chính đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trong khi 21,1% có trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học Đối với công việc, 43,5% cha mẹ hoặc người chăm sóc chính làm nông, 32,3% là công chức hoặc công nhân, và 22,1% tham gia vào hoạt động buôn bán tự do.
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 thị trấn và xã thuộc huyện Bảo Yên, trong đó đối tượng sinh sống tại thị trấn chiếm tỷ lệ lớn nhất với 41,9% Đáng chú ý, có đến 66,9% các em sinh sống ở khu vực không có bể bơi.
Hầu hết học sinh sống cách nguồn nước tự nhiên chỉ từ 5-10 phút đi bộ (57,6%), tạo điều kiện cho các em có nhiều lý do để đến nguồn nước, như đi bắt cá (36,0%), đi chơi (25,9%) và đi bơi (22,4%).
4.1.1 Kiến thức về phòng chống đuối nước của học sinh
Nghiên cứu cho thấy kiến thức của học sinh về phòng chống đuối nước (PCĐN) còn rất hạn chế, chỉ đạt 26,4% Kết quả này thấp hơn so với 34,9% trong nghiên cứu của Nguyễn Hoài Linh về “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống đuối nước của học sinh trường THCS Nguyễn Văn Huyên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội năm 2020” Hơn nữa, tỷ lệ này cũng thấp hơn so với 48% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phượng.
Nghiên cứu năm 2017 tại phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, Nghệ An cho thấy chỉ có 88,5% học sinh từ 10 đến 15 tuổi nhận thức rằng đuối nước có thể phòng tránh được, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hoài Linh về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước tại trường THCS Nguyễn Văn Huyên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Phượng về “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến phòng tránh đuối nước của trẻ từ 10 – 15 tuổi tại phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò, Nghệ An” cho thấy tỷ lệ nhận thức về phòng chống đuối nước đạt 94% và 91,7% Điểm trung bình về kiến thức của học sinh là 13,3, với điểm cao nhất là 29 và một em học sinh đạt 0 điểm Kết quả cho thấy sự phân bố điểm rất rộng, chứng tỏ kiến thức về phòng chống đuối nước của học sinh còn chưa đồng đều, do đó cần tổ chức các buổi học ngoại khóa và truyền thông để nâng cao nhận thức cho học sinh.
Nhiều học sinh vẫn thiếu kiến thức về phòng chống đuối nước, với 3,2% chưa từng nghe đến vấn đề này Dù các em nhận thức được rằng sông, suối, ao, hồ, và giếng nước là những địa điểm thường xảy ra đuối nước, nhưng chỉ có 7,5% học sinh biết rằng bãi biển và bể bơi cũng là những nơi có nguy cơ cao.
Mức độ nhận thức của học sinh về khả năng phòng chống đuối nước khá tốt, nhưng vẫn có 11,5% học sinh cho rằng đuối nước không thể phòng chống Trong số 332 học sinh nhận thức được khả năng phòng chống, phần lớn biết cần xin phép cha mẹ trước khi bơi (74,7%), thực hiện khởi động (60,8%), và không bơi một mình (53%) Khi gặp người đuối nước, 86,9% học sinh biết cần gọi người lớn, nhưng chỉ 19,2% biết gọi cấp cứu Đáng lưu ý, 6,9% học sinh chọn cách bơi ra cứu người, và 66,1% trong số 375 học sinh tham gia nghiên cứu không có kỹ năng sơ cấp cứu Điều này cho thấy rõ lỗ hổng kiến thức về kỹ thuật sơ cấp cứu và kỹ năng bơi lội Do đó, chương trình can thiệp và tuyên truyền về phòng chống đuối nước cần tập trung vào những vấn đề này.
4.1.2 Thái độ của học sinh về phòng chống đuối nước
Kết quả nghiên cứu cho thấy 92,5% đối tượng tham gia rất quan tâm đến vấn đề phòng chống đuối nước, tương đương với 97,4% trong nghiên cứu của Nguyễn Hoài Linh về kiến thức, thái độ và thực hành của học sinh trường THCS Nguyễn Văn Huyên năm 2020 Khi được mời đi chơi tại các nguồn nước tự nhiên, 74,9% học sinh chọn không tham gia, trong khi 25,1% còn lại quyết định tham gia Hơn nữa, 89,6% học sinh sẵn sàng tham gia các hoạt động phòng chống đuối nước và 92,5% sẵn lòng khuyên ngăn, giải thích cho mọi người về nguy cơ đuối nước tại các khu vực gần sông, hồ, ao, suối.
Các em học sinh thể hiện sự sẵn sàng và mong muốn tham gia các buổi truyền thông về phòng chống đuối nước, với 80,5% học sinh ủng hộ việc tổ chức từ nhà trường Đặc biệt, 87,5% học sinh muốn tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức, 64,8% thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, và 51,7% qua các hội thi tìm hiểu về phòng chống đuối nước Nghiên cứu cho thấy tài liệu truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của học sinh.
Học sinh hiện nay ưa thích tiếp cận thông tin qua video, tiểu phẩm, kịch (61,1%) và sách, báo, truyện (55,7%) Điều này cho thấy tiềm năng tổ chức các chương trình phòng chống đuối nước tại trường học thông qua các buổi học ngoại khóa và hội thi Bên cạnh đó, việc sử dụng ti vi, internet và mạng xã hội là phương thức hiệu quả trong thời đại số hóa, giúp thu hút học sinh và tiết kiệm chi phí cũng như nguồn nhân lực.
Nghiên cứu cho thấy 93,1% học sinh đã tiếp cận thông tin về PCĐN và 90,9% trong số đó yêu thích các hoạt động truyền thông liên quan Điều này tạo ra lợi thế cho các trường học, tổ chức và cơ quan trong việc triển khai các hoạt động PCĐN.
4.1.3 Thực hành của học sinh về phòng chống đuối nước
Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống đuối nước của học
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa thực hành phòng chống đuối nước và giới tính ở học sinh, với tỷ lệ thực hành của học sinh nữ (84,8%) cao hơn so với học sinh nam (82,1%) Mặc dù sự chênh lệch này không lớn, nhưng vẫn cao hơn so với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Minh Phượng năm 2017 (nam 44,1%, nữ 22,3%) và Nguyễn Hoài Linh năm 2020 (nam 7,1%, nữ 5,5%).
Tỷ lệ học sinh nam lựa chọn bơi ra cứu người khi gặp tình huống đuối nước là 17,6%, trong khi tỷ lệ này ở học sinh nữ chỉ là 2,3% Điều này cho thấy thực hành phòng chống đuối nước ở học sinh nam thấp hơn so với học sinh nữ Mặc dù học sinh nam thường biết bơi, bơi nhanh hơn và tự tin hơn, nhưng chính sự tự tin này lại dẫn đến sự chủ quan trong việc thực hành phòng chống đuối nước, làm giảm tỷ lệ thực hành của họ so với học sinh nữ.
Kết quả này hỗ trợ các nhà hoạch định trong việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ đuối nước ở học sinh, đặc biệt cần chú trọng đến nhóm nam sinh.
Mối liên quan giữa thông tin của cha mẹ hoặc người chăm sóc chính và thực hành phòng chống đuối nước cho thấy sự khác biệt rõ rệt Học sinh có cha mẹ hoặc người chăm sóc chính tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng hoặc đại học có khả năng thực hành phòng chống đuối nước cao gấp 2,59 lần so với những học sinh có cha mẹ không có trình độ này Đặc biệt, học sinh có cha mẹ hoặc người chăm sóc chính có trình độ sau đại học có khả năng thực hành cao hơn gấp 8,77 lần so với những học sinh có cha mẹ không có trình độ tương tự.
Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh có cha mẹ hoặc người chăm sóc chính có trình độ học vấn cao hơn sẽ có khả năng thực hành phòng chống đuối nước tốt hơn Sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê với p=0,05, cho thấy tầm quan trọng của trình độ học vấn trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh.
Nghề nghiệp của cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thực hành PCĐN của học sinh Cụ thể, học sinh có người giám hộ là công chức hoặc công nhân có khả năng thực hành cao hơn 2,31 lần so với học sinh có cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính làm ruộng Kết quả này vượt trội hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hoài Linh năm 2020, cho thấy học sinh có người giám hộ là công chức hoặc công nhân có khả năng thực hành cao hơn 1,6 lần so với học sinh có cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính làm nội trợ hoặc không đi làm Điều này khẳng định mối liên quan giữa trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính với khả năng thực hành tốt PCĐN của học sinh Học sinh có cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính có trình độ học vấn và nghề nghiệp tri thức thường có khả năng thực hành tốt hơn so với những học sinh có cha, mẹ hoặc người chăm sóc chính có trình độ học vấn thấp và nghề nghiệp lao động chân tay.
Tỷ lệ thực hành phòng chống đuối nước của học sinh có bể bơi tại nơi sinh sống cao gấp 2,07 lần so với học sinh sống ở khu vực không có bể bơi, với mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p=0.027) Điều này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng và lắp đặt các bể bơi công cộng, nơi học sinh có thể tiếp cận an toàn với nước và tham gia các lớp học bơi an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hành phòng chống đuối nước.
Mối liên quan giữa mục đích của học sinh khi tiếp cận nguồn nước tự nhiên và thực hành phòng chống đuối nước cho thấy rằng những em có mục đích ra hồ, ao, sông, suối, kênh, rạch để bắt cá có khả năng thực hành đạt 88,2% Tương tự, tỷ lệ học sinh đi bơi là 83,3% và đi chơi là 81,4% Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa các mục đích này và thực hành phòng chống đuối nước.
HUPH lxi thống kê giữa mục đích học sinh đến gần nguồn nước tự nhiên và thực thành PCĐN của học sinh
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống đuối nước:
Kiến thức và thái độ là yếu tố quan trọng trong thực hành phòng chống đuối nước (PCĐN) của học sinh (p