ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người dân sinh sống tại thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long
Người dân trên 18 tuổi, đang sinh sống tại địa bàn Thị trấn Tân Quới ít nhất
Người từ 03 tháng tuổi trở lên đóng vai trò là người thu gom chính và quản lý việc sử dụng, thu gom, cũng như xử lý chất thải nhựa dùng một lần trong hộ gia đình.
- Những người vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Những người từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 06/2021 đến tháng 10/2022
Thời gian thu thập số liệu diễn ra từ tháng 04/2022 đến tháng 05/2022, tại 12 khóm/ấp thuộc thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng thực hiện trước:
Nghiên cứu định lượng năm 2022 tại thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, cùng với các yếu tố liên quan đến thực hành này.
Nghiên cứu định tính năm 2022 tại thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành của người dân trong việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước tính từ một tỷ lệ, cụ thể: n = 2
Trong đó: n: kích thước cỡ mẫu
Để xác định cỡ mẫu cho nghiên cứu về thực hành sử dụng nhựa dùng một lần, chúng tôi áp dụng công thức Z(1 – α/2) = 1,96 với hệ số tin cậy 95% và sai số tuyệt đối cho phép d = 0,05 Tỷ lệ thực hành đúng được chọn là p = 0,354, dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thương và cộng sự (2021) tại Huế Kết quả tính toán cho thấy cỡ mẫu cần thiết là n = 352 người.
Cỡ mẫu tối thiểu được chọn là 352 người, và sau khi cộng thêm 16% để dự phòng mất mẫu, cỡ mẫu nghiên cứu cuối cùng là n = 408 người Nghiên cứu đã thu thập thông tin từ 408 người, tất cả đều đồng ý tham gia.
Thực hiện phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, cụ thể:
Bước 1: Sắp xếp danh sách hộ gia đình theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt dựa trên tên của chủ hộ, và đánh số thứ tự từ 1 đến hết.
Bước 2: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để xác định hộ gia đình tham gia nghiên cứu bằng cách tính khoảng cách mẫu theo công thức k = N/n, trong đó N là tổng số hộ gia đình và n là cỡ mẫu nghiên cứu Kết quả tính được k = 5.347/408 ~ 13 Tiến hành bốc thăm một số ngẫu nhiên r trong khoảng từ 1 đến 13, chúng tôi chọn được số 09 Để chọn đối tượng tiếp theo vào mẫu nghiên cứu, sử dụng công thức số thứ tự 09 + 13xi (với i từ 0 đến n-1) cho đến khi đạt đủ số mẫu nghiên cứu.
Bước 3: Tại mỗi hộ gia đình đã được chọn như trên (tại Bước 2), chọn ngẫu nhiên 01 thành viên để tham gia nghiên cứu
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định tính
Chúng tôi đã chọn mẫu có chủ đích từ những đối tượng đã tham gia nghiên cứu định lượng để thực hiện 06 cuộc phỏng vấn sâu trong nghiên cứu định tính tại 03 khóm của thị trấn Tân.
Quới, huyện Bình Tân gồm: khóm Tân Thuận, khóm Tân Lợi và khóm Thành Nhân, trong đó:
- Hộ kinh doanh: 03 hộ, chọn 01 hộ/khóm
- Hộ gia đình: 03 hộ, chọn 01 hộ/khóm (không phải hộ kinh doanh)
Chúng tôi đã tiến hành chọn mẫu định tính tại ba khóm, nơi có nhiều hộ kinh doanh, tiểu thương và chợ, nhằm nghiên cứu đặc điểm kinh tế của thị trấn Tân Quới.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
* Bộ công cụ thu thập thông tin định lượng
Xây dựng bộ công cụ
Công cụ thu thập số liệu về kiến thức, thái độ và thực hành được thiết kế dựa trên các nghiên cứu trước đây và các nghị định, chính sách liên quan đến việc sử dụng sản phẩm nhựa một lần tại Việt Nam.
- Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
- Phần 2: Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về sản phẩm nhựa sử dụng một lần
- Phần 3: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về sản phẩm nhựa sử dụng một lần
Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ
Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, nghiên cứu viên đã tiến hành phỏng vấn 32 hộ gia đình tại khóm Thành Nhân và khóm Thành Công thuộc thị trấn Tân Quới bằng hình thức phát vấn, không nằm trong danh sách hộ gia đình được chọn trong cỡ mẫu Dựa trên các ý kiến đóng góp, bộ công cụ đã được chỉnh sửa và hoàn thiện để phù hợp với thực tế.
Bộ câu hỏi thu thập thông tin định tính được xây dựng dựa trên bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần của người dân.
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Quới cho phép thực hiện
12 khóm/ấp trên địa bàn
Bước đầu tiên trong nghiên cứu là lựa chọn 04 cán bộ y tế từ Trạm Y tế thị trấn Tân Quới làm điều tra viên Nghiên cứu viên sẽ trực tiếp tập huấn cho các điều tra viên trước khi tiến hành thu thập số liệu và giám sát quá trình này Buổi tập huấn sẽ bao gồm việc giới thiệu mục đích nghiên cứu, bộ công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu.
Trước khi tiến hành điều tra chính thức trên đối tượng nghiên cứu, bước 2 yêu cầu thực hiện một cuộc điều tra thử với 32 hộ gia đình không nằm trong danh sách mẫu tại khóm Thành Nhân và khóm Thành Công.
Cộng tác viên, là tổ trưởng các tổ dân phố trong ấp/khóm, sẽ dẫn đường cho điều tra viên để đảm bảo phỏng vấn đúng đối tượng theo danh sách hộ gia đình đã được chọn Thời gian tiếp cận đối tượng sẽ linh hoạt tùy thuộc vào tình hình thực tế Trước khi trả lời câu hỏi, đối tượng nghiên cứu sẽ được điều tra viên giới thiệu rõ về mục đích và sự bảo mật thông tin trong nghiên cứu.
Bước 4: Dựa vào danh sách hộ gia đình đã chọn theo từng khóm/ấp, điều tra viên tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn (Phụ lục 2) trong khoảng thời gian 45-60 phút Sau khi nhận phiếu khảo sát, điều tra viên sẽ kiểm tra tính phù hợp và logic của thông tin Nếu phiếu khảo sát chưa đầy đủ hoặc thông tin không hợp lý, điều tra viên sẽ yêu cầu đối tượng nghiên cứu bổ sung ngay tại chỗ.
Bộ công cụ thu thập phần định tính được xây dựng dựa trên mục tiêu và khung lý thuyết của nghiên cứu (Phụ lục 3)
Tiến hành thu thập thông tin
Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên sẽ liên hệ với ĐTNC để thống nhất thời gian và địa điểm phỏng vấn Nghiên cứu viên sẽ thực hiện phỏng vấn trực tiếp.
HUPH thực hiện phỏng vấn các đối tượng dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (Phụ lục 3), đảm bảo tính bảo mật trong quá trình phỏng vấn và giảm thiểu ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường bên ngoài.
- Thời gian tiến hành phỏng vấn sâu kéo dài trong khoảng 60 phút
Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu, nghiên cứu viên cần xin phép ghi âm hoặc ghi chép lại câu trả lời của đối tượng nghiên cứu bằng thiết bị ghi âm hoặc sổ ghi chép.
Biến số nghiên cứu
Các biến số và chủ đề nghiên cứu được phát triển dựa trên khung lý thuyết, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực nghiên cứu.
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
- Nhóm biến số về thông tin chung của ĐTNC, bao gồm 06 biến số
- Các biến số mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần của người dân
+ Nhóm biến số về kiến thức về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, bao gồm 12 biến số
+ Nhóm biến số về thái độ của người dân về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, bao gồm 08 biến số
- Nhóm biến số về thực hành của người dân về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, bao gồm 06 biến số
- Nhóm biến số về khả năng tiếp cận và những chính sách quản lý sản phẩm nhựa sử dụng một lần của địa phương, bao gồm 04 biến số
2.6.2 Chủ đề chính trong nghiên cứu định tính
2.6.2.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về sản phẩm nhựa dùng một lần
- Kiến thức: Những khó khăn, thuận lợi trong việc tiếp cận kiến thức về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần
- Thái độ: Những khó khăn, thuận lợi trong việc nhận thức đúng về nguyên nhân, tác hại của sản phẩm nhựa dùng một lần
- Thực hành: Những khó khăn, thuận lợi trong thực hiện phân loại, giảm thiểu tác hại do sản phẩm nhựa dùng một lần gây ra tại hộ gia đình
2.6.2.2 Khả năng tiếp cận và những chính sách quản lý sản phẩm nhựa dùng một lần của địa phương
Người dân gặp nhiều khó khăn và thuận lợi trong việc tiếp cận chính sách quản lý sản phẩm nhựa dùng một lần của địa phương, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hành đúng các quy định.
Để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của người dân trong việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, cần triển khai các đề xuất và kiến nghị cụ thể Việc tổ chức các buổi tuyên truyền, giáo dục về tác hại của nhựa dùng một lần và khuyến khích sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường là rất quan trọng Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, từ đó tạo ra thói quen tiêu dùng bền vững.
Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá kiến thức Đánh giá kiến thức của người dân về sản phẩm nhựa dùng một lần dựa trên
Bài viết đề cập đến 12 câu hỏi từ B1 đến B12, trong đó câu B5 là câu hỏi liệt Điểm số cho từng câu hỏi được quy định tại Phụ lục 4, với tổng điểm tối đa là 12 Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thương và cộng sự (2021), điểm cắt được xác định là 50% tổng điểm, tức là 6 điểm Nếu đối tượng nghiên cứu trả lời đúng câu B5 và tổng điểm lớn hơn 6, thì kiến thức được coi là đạt Ngược lại, kiến thức sẽ không đạt nếu đối tượng trả lời sai câu B5 hoặc tổng điểm bằng hoặc nhỏ hơn 6.
2.7.2 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá thái độ Đánh giá thái độ của người dân về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần dựa trên 07 câu hỏi (C1, C2, C4-C8) Điểm từng câu hỏi về thái độ được quy định cụ thể tại Phụ lục 4, tổng điểm tối đa đánh giá thái độ là 07 điểm Tham khảo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thương và cộng sự (2021) lấy 50% tổng điểm làm điểm cắt
Nếu tổng điểm của đối tượng lớn hơn 3,5, thì thái độ của họ đối với việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần được coi là đạt Ngược lại, nếu tổng điểm nhỏ hơn hoặc bằng 3,5, thái độ của họ sẽ được xem là không đạt.
2.7.3 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá thực hành Đánh giá thực hành của người dân về sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần dựa trên 04 câu hỏi về (D2, D3, D5, D6) Mỗi câu trả lời “Đúng” được tính 01 điểm, trả lời
Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là 04 điểm, trong đó "Không đúng" sẽ nhận 00 điểm Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thương và cộng sự (2021), điểm cắt được xác định là 50% tổng điểm Nếu đối tượng trả lời đúng hơn 02 câu hỏi (tương đương 02 điểm), thì được xem là thực hành đạt; ngược lại, nếu trả lời đúng 02 câu hỏi trở xuống, sẽ được coi là chưa đạt.
Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu định lượng: số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
+ Thống kê mô tả: số liệu được trình bày bằng các giá trị số tuyệt đối, giá trị trung bình và tỷ lệ phần trăm (%)
Phân tích thống kê được thực hiện để xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và các yếu tố như kiến thức, thái độ, cũng như đặc điểm nhân khẩu học Kiểm định Chi-square (χ²) được áp dụng với mức ý nghĩa thống kê p