PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng viên lâm sàng khối Nội và khối Ngoại
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Điều dưỡng viên đang công tác tại các khoa lâm sàng khối Nội và khối Ngoại
+ Các điều dưỡng làm công tác quản lý hoặc hành chính
Những đối tượng không được tham gia đào tạo liên tục tại bệnh viện bao gồm những người từ chối tham gia nghiên cứu, đang đi học, nghỉ thai sản hoặc nghỉ ốm trong thời gian nghiên cứu.
Nhóm 1: Lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác đào tạo
Nhóm 2: Trưởng phòng Tổ chức cán bộ
+ Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng khối Nội, khối Ngoại
+ Điều dưỡng viên lâm sàng khối Nội, khối Ngoại.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ 10 tháng 3 năm 2021 đến 10 tháng 9 năm 2021
Nghiên cứu được thực hiện tại 12 khoa lâm sàng thuộc khối Nội và Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang Hai khối lâm sàng này hiện chiếm phần lớn số lượng điều dưỡng của bệnh viện, đảm bảo thực hiện đầy đủ hầu hết các thủ thuật và kỹ thuật chuyên môn của ngành điều dưỡng.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: tiến hành chọn mẫu toàn bộ tất cả điều dưỡng 12 khoa lâm sàng
33 khối Nội và khối Ngoại thỏa mãn tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu, thực tế cỡ mẫu nghiên cứu là 246 điều dưỡng
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ (12 khoa lâm sàng khối Nội và khối Ngoại)
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng điều dưỡng ở 12 khoa lâm sàng
Số TT Khoa lâm sàng Số lượng điều dưỡng
10 Ngoại Chấn thương chỉnh hình 18
Phỏng vấn sâu: Chọn mẫu có chủ đích các cán bộ tại bệnh viện, gồm: 2 người
- 01 Lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác đào tạo
- 01 Trưởng phòng tổ chức cán bộ
Thảo luận nhóm: 12 điều dưỡng trưởng khoa và chọn ngẫu nhiên 12 điều dưỡng viên của 12 khoa lâm sàng khối Nội và khối Ngoại
Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ phát vấn được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo Thông tư
Thông tư 26/2020/TT-BYT đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2013/TT-BYT, hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Tài liệu đào tạo thực hành lâm sàng cho điều dưỡng viên mới của Bộ Y tế năm 2020 và Hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2010 cũng được đề cập Ngoài ra, Thông tư số 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, cùng với khung lý thuyết, đã được sử dụng để xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền.
Chúng tôi đã phát triển một bộ công cụ thu thập thông tin chung cho tất cả các đối tượng điều dưỡng, không phân biệt trình độ học vấn Bộ công cụ này bao gồm các nhiệm vụ chính mà điều dưỡng cần thực hiện hiện tại và trong những năm tới Sau khi thử nghiệm tại bệnh viện với 05 điều dưỡng lâm sàng và 03 điều dưỡng trưởng, chúng tôi đã tiến hành chỉnh sửa để tối ưu hóa việc thu thập thông tin.
2.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu viên đã lập danh sách các điều dưỡng trưởng và điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu Họ trực tiếp liên hệ với điều dưỡng trưởng của các khoa lâm sàng để lên lịch thu thập số liệu tại 12 khoa lâm sàng, sau khi nhận được sự đồng ý từ các khoa Điều dưỡng trưởng sẽ tập hợp các điều dưỡng trong khoa tại phòng giao ban vào thời điểm thích hợp.
Các điều dưỡng tham gia nghiên cứu bằng cách hoàn thành bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Trước khi điền phiếu, nghiên cứu viên thông báo mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách điền phiếu khảo sát Sau đó, phiếu được phát cho điều dưỡng để tự điền, đồng thời nhắc nhở họ không trao đổi thông tin trong quá trình này Ngay sau khi phiếu tự điền được hoàn thành, các bước tiếp theo sẽ được thực hiện.
Trong quá trình nghiên cứu, 35 phiếu đã được hoàn thành và các nghiên cứu viên tiến hành rà soát, hỏi lại những thông tin còn thiếu hoặc chưa hợp lý Họ cũng giải thích để các đối tượng nghiên cứu có thể bổ sung và điều chỉnh thông tin cần thiết.
Sau mỗi ngày, các nghiên cứu viên sẽ thu thập và kiểm tra phiếu phát vấn tự điền, đảm bảo rằng số lượng và chất lượng các câu trả lời đều đạt yêu cầu.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu, nhằm phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác đào tạo và trưởng phòng tổ chức cán bộ.
Nghiên cứu viên lên lịch hẹn với đối tượng phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn theo hướng dẫn phỏng vấn sâu Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình 30 phút, diễn ra tại phòng làm việc của người được phỏng vấn và được ghi âm Thông tin thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu được học viên trực tiếp quản lý, ghi biên bản và gỡ băng.
Bộ công cụ thu thập số liệu: phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm tập trung được thực hiện với các 12 điều dưỡng trưởng khoa, 12 điều dưỡng viên với khoảng thời gian là 60 phút
Cuộc thảo luận nhóm được tổ chức tại phòng điều dưỡng bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang
Nghiên cứu viên chủ trì các cuộc thảo luận, trong khi một nhân viên phòng điều dưỡng được mời làm thư ký để ghi chép diễn biến của cuộc thảo luận.
Các biến số và chủ đề trong nghiên cứu
2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu định lượng
Dựa trên khung lý thuyết và các tài liệu tổng quan, các nhóm biến chính sử dụng trong nghiên cứu gồm 2 nhóm biến số chính:
- Các biến về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
- Nhóm biến số về nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại tại bệnh viện
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
- Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân
+ Gánh nặng công việc: Áp lực công việc, nhiệm vụ chuyên môn điều dưỡng đảm nhận và cần phải hoàn thành
+ Vị trí việc làm: vị trí việc làm phân công theo tính chất công việc, theo trình độ hoặc theo quy hoạch chức vụ điều dưỡng
+ Động lực làm việc: sự hứng thú và sự hài lòng với công việc hiện tại của người điều dưỡng
+ Nhu cầu thăng tiến: nhu cầu tiến bộ về chuyên môn, về cấp bậc, địa vị, trong công việc
- Nhóm yếu tố thuộc về bệnh viện
+ Công tác quản lý hoạt động đào tạo liên tục: chính sách đào tạo, quản lý điều hành, nhân lực, cơ sở vật chất…
+ Các văn bản pháp lý: thực hiện chương trình ĐTLT theo thông tư 22/2013/TT-BYT và thông tư 26/2020/TT-BYT của Bộ Y tế
+ Nguồn nhân lực: số lượng, chất lượng điều dưỡng ở các khoa phòng so với số lượng công việc
Tài chính cho điều dưỡng tham gia các lớp ĐTLT tại bệnh viện và tuyến trên bao gồm kinh phí cho ăn ở, đi lại và phí học tập, với các hình thức hỗ trợ như tự túc, hỗ trợ một phần hoặc chi toàn bộ.
Thông tin đào tạo liên tục bao gồm việc cập nhật và thông báo về các lớp ĐTLT, với các chi tiết quan trọng như nội dung đào tạo, thời gian, địa điểm và hình thức đào tạo.
+ Khối lượng công việc: số lượng công việc điều dưỡng phải đảm nhiệm tại các khoa phòng.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi thu thập, số liệu định lượng được nhập vào phần mềm Epi Data 3.1 để làm sạch và mã hóa Toàn bộ số liệu sau khi nhập được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0, sử dụng thống kê mô tả để xác định tần số và tỷ lệ, nhằm đánh giá nhu cầu đào tạo của điều dưỡng.
Số liệu định tính được thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, sau đó được ghi chép biên bản Những thông tin này sẽ được phân tích và trích dẫn phù hợp với chủ đề nghiên cứu định tính.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ các quy định đạo đức, chỉ được thực hiện sau khi được hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 284/2021/YTCC-HD3 ngày 01 tháng 6 năm 2021 và được sự đồng ý của lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) được thông báo rõ về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn, và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của ĐTNC Tất cả thông tin cá nhân của ĐTNC được bảo mật, và dữ liệu thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Kết quả nghiên cứu được trình bày qua Ban Giám đốc bệnh viện, trưởng phòng chỉ đạo tuyến, phòng quản lý chất lượng và phòng điều dưỡng nhằm hỗ trợ xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục cho đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện.
KẾT QUẢ
Thông tin chung về đối tượng nghiêncứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về điều dưỡng đang làm việc tại khoa lâm sàng thực hiện nghiên cứu (n = 246)
TT Thông tin Số lượng
Ngoại Chấn thương chỉnh hình
4 Trình độ điều dưỡng Đại học và sau đại học 86 35,0
Năm làm việc tại khoa đang công tác
Nghiên cứu đã thu hút 246 điều dưỡng, chủ yếu là những người dưới 40 tuổi, với 42,3% trong độ tuổi 20-29 và 42,7% từ 30-39 Tỷ lệ nữ giới chiếm 82,5%, vượt trội hơn so với nam giới Trong số các điều dưỡng đang làm việc tại khối lâm sàng, 75,2% thuộc khối Nội và 24,8% thuộc khối Ngoại Đáng chú ý, 65,0% điều dưỡng tham gia nghiên cứu có trình độ trung cấp và cao đẳng.
Trong nghiên cứu, 34,1% điều dưỡng hạng IV có thâm niên công tác từ 10-20 năm, trong khi 35,0% có trình độ đại học và sau đại học (điều dưỡng hạng III) Tỷ lệ điều dưỡng có thời gian công tác ít hơn 5 năm cũng đạt 34,1%, trong khi những người có thâm niên từ 20 năm trở lên chỉ chiếm 11,4% Đặc biệt, 30,5% điều dưỡng tham gia nghiên cứu có thời gian làm việc từ 10-20 năm, và tỷ lệ điều dưỡng làm việc tại khoa từ 20 năm trở lên là thấp nhất, chỉ 9,8%.
Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang
3.2.1 Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại
Nhu cầu đào tạo liên tục trong ngành điều dưỡng rất cao, với 95,1% điều dưỡng viên cho thấy sự cần thiết phải nâng cao kỹ năng và kiến thức, trong khi chỉ có 4,9% không có nhu cầu này.
3.2.2.Nhu cầu đào tạo liên tục đối với từng nhóm kỹ thuật của điều dưỡng
Bảng 3.2 Nhu cầu đào tạo liên tục đối với từng nhóm kỹ thuật của điều dưỡng (n = 246)
STT Nội dung Số lượng
2 Kỹ thuật chăm sóc người bệnh 226 91,9
3 Kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 217 88,2
4 Kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội 203 82,5
Trong nghiên cứu về nhu cầu đào tạo của điều dưỡng các khoa lâm sàng, có 5 kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại được xác định Kết quả cho thấy nhu cầu đào tạo kỹ năng mềm chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là nhu cầu đào tạo kỹ thuật chăm sóc người bệnh Trong khi đó, nhu cầu đào tạo về kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại lại thấp nhất.
3.2.3 Các lĩnh vực điều dưỡng có nhu cầu đào tạo liên tục
Bảng 3.3 Các kỹ năng mềm điều dưỡng mong muốn được đào tạo (n = 229)
STT Nội dung Số lượng
1 Kỹ năng truyền thông tư vấn GDSK 206 90,0
2 Kỹ năng giao tiếp trong chăm sóc người bệnh 195 85,2
3 Kỹ năng làm việc nhóm 184 80,3
Hầu hết điều dưỡng hai khối lâm sàng tham gia nghiên cứu đều khao khát được đào tạo kỹ năng mềm Cụ thể, 90,0% mong muốn nâng cao kỹ năng truyền thông tư vấn giáo dục sức khỏe, 85,2% muốn cải thiện kỹ năng giao tiếp trong chăm sóc người bệnh, và 80,3% mong muốn phát triển kỹ năng làm việc nhóm.
Bảng 3.4 Các kỹ thuật chăm sóc người bệnh điều dưỡng mong muốn được đào tạo (n = 226)
1 Chăm sóc vệ sinh cá nhân 195 86,3
2 Chăm sóc phục hồi chức năng 186 82,3
3 Hướng dẫn và cho người bệnh uống thuốc 184 81,4
4 Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe 180 79,7
6 Chăm sóc về dinh dưỡng 162 71,7
7 Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật
8 Chăm sóc về tinh thần 151 66,8
Nhiều điều dưỡng tham gia nghiên cứu bày tỏ mong muốn được đào tạo các kỹ thuật chăm sóc người bệnh, trong đó tỷ lệ cao nhất là chăm sóc vệ sinh cá nhân với 86,3%, trong khi kỹ thuật chăm sóc về tinh thần có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 66,8%.
Bảng 3.5 Các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản mong muốn được đào tạo (n = 217)
STT Nội dung Số lượng
1 Quy trình cấp cứu ngưng tuần hoàn 208 95,9
2 Quy trình cấp cứu ngưng hô hấp 208 95,9
3 Quy trình cấp cứu sốc phản vệ 201 92,6
4 Các kỹ thuật vô khuẩn 164 75,6
9 Đo dấu hiệu sinh tồn 110 50,7
Trong một nghiên cứu về nhu cầu đào tạo kỹ thuật điều dưỡng, 49,3% điều dưỡng viên tham gia cho biết họ mong muốn được học các kỹ thuật cơ bản Đặc biệt, có đến 85,9% điều dưỡng viên bày tỏ nhu cầu được đào tạo về quy trình cấp cứu ngưng tuần hoàn và ngưng hô hấp Bên cạnh đó, nhu cầu đào tạo liên tục về các kỹ thuật tiêm truyền cũng dao động từ 49,3% đến 55,3%.
Bảng 3.6 Các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội điều dưỡng mong muốn được đào tạo (n = 203)
STT Nội dung Số lượng
1 Kỹ thuật phụ giúp BS chọc dò màng phổi 165 81,3
2 Kỹ thuật phụ giúp BS chọc dò màng bụng 158 72,8
3 Kỹ thuật phụ giúp BS chọc dò màng tim 148 68,2
4 Kỹ thuật bơm rửa bàng quang 144 70,9
5 Kỹ thuật hút đàm dãi 137 63,1
6 Chăm sóc bàn chân bệnh nhân đái tháo đường 10 4,9
Nhiều điều dưỡng tham gia nghiên cứu bày tỏ nhu cầu được đào tạo các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội, với hơn 68% mong muốn học các kỹ thuật hỗ trợ bác sĩ trong việc chọc dò màng bụng, màng tim và màng phổi Bên cạnh đó, có 4,9% điều dưỡng quan tâm đến việc học kỹ năng chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân đái tháo đường.
Bảng 3.7 Các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại điều dưỡng mong muốn được đào tạo (n = 176)
STT Nội dung Số lượng
1 Kỹ thuật đặt sonde tiểu 135 76,7
2 Kỹ thuật thay băng có vết thương thường 134 76,1
3 Kỹ thuật đặt sonde dạ dày 131 74,4
4 Kỹ thuật thay băng vết thương có ống dẫn lưu 124 70,5
Nghiên cứu cho thấy rằng có tới 76,7% điều dưỡng mong muốn được đào tạo về kỹ thuật đặt sonde tiểu, trong khi tỷ lệ này thấp hơn, chỉ đạt 62,5%, đối với kỹ thuật bó bột.
3.2.4 Mong muốn về cách thức tổ chức lớp đào tạo liên tục của điều dưỡng
Bảng 3.8 Mong muốn về địa điểm, hình thức và thời gian tổ chức lớp ĐTLT (n = 234)
TT Nội dung Số lượng
Bệnh viện đa khoa tỉnh 203 86,8
Kết hợp tập trung và từ xa 67 28,6
Kết hợp lý thuyết và thực hành 170 72,7
Hầu hết điều dưỡng tham gia nghiên cứu ưu tiên chọn địa điểm đào tạo liên tục trong tỉnh, với 86,8% lựa chọn bệnh viện đa khoa tỉnh, trong khi chỉ 3,9% mong muốn đào tạo ngoài tỉnh Thời gian khóa đào tạo phổ biến nhất là dưới một tuần (40,6%), tiếp theo là từ một đến hai tuần (28,6%) Về hình thức đào tạo, 60,3% điều dưỡng chọn học tập trung, trong khi chỉ 16,2% chọn hình thức học từ xa Phương pháp đào tạo được ưa chuộng nhất là kết hợp lý thuyết và thực hành (72,7%), trong khi học lý thuyết đơn thuần có tỷ lệ chọn thấp nhất (12,0%).
Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác ĐTLT của điều dưỡng
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng
3.3.1 Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân
Kết quả thảo luận nhóm điều dưỡng trưởng cho thấy gánh nặng công việc là yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia đào tạo liên tục (ĐTLT) Khi điều dưỡng phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ, họ thường không còn thời gian hoặc mong muốn đăng ký các lớp ĐTLT Một điều dưỡng trưởng khoa Nội cho biết rằng số giường thực kê luôn vượt quá quy định, cùng với nhiều bệnh nhân nặng, dẫn đến việc nhiều điều dưỡng không thể tham gia các lớp ĐTLT tại bệnh viện Chợ Rẫy Tương tự, điều dưỡng trưởng khoa Ngoại cũng nhấn mạnh rằng mặc dù số lượng bệnh không nhiều, nhưng với nhiều bệnh nặng, hầu hết điều dưỡng trong năm nay không thể đi học dù có nhu cầu.
Kết quả thảo luận nhóm cho thấy gánh nặng công việc ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tham gia đào tạo liên tục (ĐTLT) của điều dưỡng viên Áp lực công việc cao khiến họ không có đủ thời gian để tham gia các lớp học ĐTLT Một điều dưỡng viên chia sẻ: “Khối lượng công việc hiện nay rất áp lực, nên khi xong việc, đa số điều dưỡng đều mệt mỏi và không đủ thời gian cho những việc khác Việc đi học trong bối cảnh này thực sự là một thách thức lớn cho bản thân và đồng nghiệp.”
Kết quả thảo luận nhóm cho thấy việc phân công công việc và bố trí phòng khoa cho điều dưỡng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo liên tục của họ Điều dưỡng làm việc ở những vị trí có khối lượng công việc lớn cần được chú trọng hơn trong việc phát triển kỹ năng và kiến thức.
Công việc nặng nhọc ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của điều dưỡng, với những người làm việc ở phòng bệnh nặng có ít động lực hơn để tham gia học so với những người ở phòng bệnh nhẹ Vị trí việc làm đóng vai trò quan trọng trong tâm lý, thái độ làm việc và nhu cầu học tập của điều dưỡng.
Vị trí việc làm ảnh hưởng lớn đến động lực học tập của điều dưỡng; nếu có vị trí tốt, họ sẽ hăng hái nâng cao kiến thức, ngược lại sẽ mất động lực tham gia các khóa đào tạo liên tục Một điều dưỡng viên chia sẻ rằng nhiều đồng nghiệp có trình độ trung cấp cảm thấy việc học nâng cao không mang lại thay đổi trong công việc chuyên môn, dẫn đến việc họ không muốn tham gia vì cho rằng tốn thời gian Tuy nhiên, những điều dưỡng viên được quy hoạch làm lãnh đạo khoa lại tích cực tham gia các khóa đào tạo liên tục hơn.
Nghiên cứu định tính cho thấy rằng động lực làm việc của điều dưỡng ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia đào tạo liên tục (ĐTLT) Điều dưỡng có động lực làm việc tốt thường có nhu cầu cao hơn về việc tham gia các khóa ĐTLT, trong khi điều dưỡng thiếu động lực sẽ không có nhu cầu nâng cao kiến thức Theo ý kiến của các điều dưỡng trưởng, một điều dưỡng có động lực sẽ cảm thấy thoải mái và mong muốn học hỏi để hoàn thiện bản thân Ngược lại, điều dưỡng thiếu động lực có thể cảm thấy bị chèn ép và không có nhu cầu học tập.
Động lực làm việc có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tham gia các lớp học Nhân viên có động lực cao thường có xu hướng muốn nâng cao tay nghề và tham gia học tập Ngược lại, khi động lực làm việc giảm sút, họ sẽ ngại cập nhật kiến thức và không còn nhu cầu tham gia học Đối với các điều dưỡng viên, tình yêu với công việc sẽ tạo ra động lực làm việc mạnh mẽ hơn.
Tham gia các khóa học để nâng cao kiến thức chuyên môn là rất quan trọng Động lực làm việc ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia các lớp đào tạo liên tục Nếu yêu thích công việc, nhân viên y tế sẽ rất mong muốn tham gia các lớp tập huấn và đào tạo ngắn hạn, đặc biệt là các kỹ thuật chuyên khoa.
Nhu cầu thăng tiến trong công việc ảnh hưởng lớn đến sự tham gia của điều dưỡng vào đào tạo liên tục Những điều dưỡng có khát vọng thăng tiến thường mong muốn tham gia các khóa học để nâng cao kiến thức, trong khi những người hài lòng với vị trí hiện tại ít có động lực tham gia học tập hoặc đào tạo.
Để thăng tiến trong công việc, điều dưỡng viên cần có kiến thức chuyên môn vững vàng Việc nâng cao trình độ chuyên môn thông qua học tập là điều thiết yếu Như một điều dưỡng viên đã chia sẻ: “Nhu cầu thăng tiến trong công việc là rất lớn, và để đạt được điều đó, chuyên môn phải tốt Do đó, nhu cầu được đào tạo luôn hiện hữu nếu bản thân mong muốn thăng tiến.”
3.3.2 Nhóm yếu tố thuộc về bệnh viện
3.3.2.1 Công tác quản lý hoạt động đào tạo liên tục
Lãnh đạo bệnh viện luôn chú trọng và nỗ lực tạo điều kiện cho các hoạt động đào tạo liên tục (ĐTLT), nhằm khuyến khích và nâng cao nhu cầu học tập của cán bộ y tế Điều này giúp cải thiện trình độ, chuyên môn và tay nghề của nhân viên Bệnh viện đã phân công các bộ phận phụ trách công tác ĐTLT để xây dựng kế hoạch và theo dõi hoạt động chuyên môn, giao cho phòng Tổ chức thực hiện nhiệm vụ này.
Bệnh viện đã xây dựng kế hoạch đào tạo chiến lược và phân bố nhân sự tham gia các lớp ĐTLT Giám đốc bệnh viện cho biết rằng công tác quản lý ĐTLT tại bệnh viện nhìn chung là tốt, và các bộ phận liên quan sẽ thực hiện kế hoạch đào tạo theo quy định từ đầu năm.
Giảng viên có chất lượng tốt và nội dung giảng dạy phù hợp sẽ làm tăng tỷ lệ học viên tham gia học tập một cách đầy đủ và nghiêm túc hơn, theo thông tin từ lãnh đạo bệnh viện.
Bệnh viện chú trọng đến chất lượng đào tạo, đảm bảo cán bộ giảng dạy có đầy đủ văn bằng chuyên môn và chứng chỉ sư phạm phù hợp Ngoài ra, bệnh viện còn mời giảng viên từ các cơ sở uy tín như bệnh viện Chợ Rẫy và Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bệnh viện luôn chú trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các lớp đào tạo liên tục (ĐTLT) cho nhân viên Hiện tại, bệnh viện có hai hội trường lớn và nhỏ với cơ sở vật chất phù hợp, được trang bị đầy đủ thiết bị giảng dạy như bảng, phấn, hệ thống micro, loa và máy chiếu, nhằm phục vụ tốt nhất cho các lớp ĐTLT.
3.3.2.2 Các văn bản pháp lý
BÀN LUẬN
Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Theo một nghiên cứu, 95,1% điều dưỡng bày tỏ mong muốn tham gia đào tạo liên tục, cho thấy tinh thần học hỏi và nhu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng lâm sàng để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe Việc luân chuyển vị trí làm việc trong khoa hoặc giữa các khoa khác cũng yêu cầu điều dưỡng phải được đào tạo toàn diện hơn Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Nhung tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ với tỷ lệ 93,0% và nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà tại một số bệnh viện thành phố Hải Dương năm 2017 với tỷ lệ 84,9%.
Nghiên cứu cho thấy điều dưỡng trẻ có tỷ lệ cao trong việc mong muốn được đào tạo liên tục, phản ánh nhu cầu nâng cao kiến thức Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ phía bệnh nhân, điều dưỡng cần được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng trong thực hành chăm sóc.
4.1.1 Nhu cầu đào tạo liên tục kỹ năng mềm
Kỹ năng mềm đóng vai trò quan trọng trong công việc hàng ngày của điều dưỡng, bên cạnh kiến thức chuyên môn Theo khảo sát, 93,1% điều dưỡng mong muốn được đào tạo thêm các kỹ năng mềm, cho thấy sự quan tâm đến việc hoàn thiện bản thân Các kỹ năng mềm mà điều dưỡng cần được đào tạo bao gồm kỹ năng giao tiếp trong chăm sóc người bệnh và kỹ năng truyền đạt thông tin hiệu quả.
Kỹ năng truyền thông tư vấn GDSK và làm việc nhóm là những yếu tố thiết yếu trong chăm sóc người bệnh, theo Thông tư 07/2011/TT-BYT Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2016 cho thấy 75% điều dưỡng mong muốn được đào tạo kỹ năng này Tương tự, Đặng Thị Luyến ghi nhận 61% điều dưỡng tại các Bệnh viện đa khoa huyện Bắc Giang giai đoạn 2017-2018 cần đào tạo kỹ năng tư vấn, giáo dục sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2015-2017 cho thấy tỷ lệ mong muốn đào tạo kỹ năng giao tiếp và truyền thông tư vấn GDSK ở điều dưỡng đại học và cao đẳng lần lượt là 59,2% và 76,5%, trong khi ở nhóm trung cấp là 54,0% và 72,2% Mặc dù tỷ lệ mong muốn đào tạo kỹ năng mềm ở các nghiên cứu trên đều cao, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ này còn cao hơn, có thể do 42,3% điều dưỡng trong nghiên cứu dưới 30 tuổi, nhóm tuổi trẻ với thâm niên công tác ngắn, dẫn đến việc chưa đáp ứng tốt yêu cầu trong thực hành chăm sóc người bệnh.
4.1.2 Nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ thuật chăm sóc người bệnh Đây là nhóm kỹ thuật được điều dưỡng tham gia nghiên cứu có mong muốn đào tạo nhiều thứ hai sau nhóm kỹ năng mềm, với 91,9% điều dưỡng có nhu cầu được học một trong các kỹ thuật này Đây là các kỹ thuật mà người điều dưỡng đã được học và thực hành thường xuyên trên người bệnh, tuy nhiên với mong muốn chăm sóc chu đáo hơn cho người bệnh và tự tin hơn khi thực hiện các kỹ thuật này nên hầu hết điều dưỡng có nhu cầu được trau dồi thêm kiến thức, kỹ năng kỹ thuật chăm sóc người bệnh Các kỹ thuật người học muốn
Đào tạo chăm sóc người bệnh bao gồm các lĩnh vực như chăm sóc tinh thần, vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, tư vấn sức khỏe, phục hồi chức năng, và hướng dẫn sử dụng thuốc Tỷ lệ nhân viên y tế mong muốn học các kỹ thuật này dao động từ 61,4% đến 79,3% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương (2015-2017) cho thấy nhu cầu đào tạo kỹ năng chăm sóc người bệnh cũng nằm trong khoảng 60% đến 80% Đặc biệt, nghiên cứu của Bùi Diệu trên 65 cán bộ tại Bệnh viện K cho thấy 96,3% điều dưỡng mong muốn được đào tạo thêm về chăm sóc người bệnh.
4.1.3 Nhu cầu đào tạo liên tục kỹ thuật điều dưỡng cơ bản Điều dưỡng tham gia nghiên cứu thuộc hai khối lâm sàng Nội, Ngoại có tỷ lệ mong muốn được đào tạo các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản là 88,2%, trong đó nhóm các kỹ thuật thực hiện quy trình cấp cứu sốc phản vệ, cấp cứu ngưng tuần hoàn, ngưng hô hấp, các kỹ thuật vô khuẩn là nhóm kỹ thuật được đối tượng tham gia nghiên cứu nghiên cứu có mong muốn được đào tạo liên tục cao nhất, tỷ lệ này từ 66,7% đến 84,6% Ngoài ra các kỹ thuật tiêm truyền như tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm trong da, tiêm dưới da, truyền tĩnh mạch cũng được điều dưỡng mong muốn đào tạo liên tục với tỷ lệ từ 43,5% đến 48,8%
Mặc dù các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản rất quan trọng, nhưng việc đào tạo vẫn cần thiết để nâng cao kỹ năng nghề và thực hiện đúng quy trình Điều này giúp điều dưỡng tự tin hơn và phục vụ bệnh nhân một cách an toàn và hiệu quả Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương đã chỉ ra tầm quan trọng của việc này trong giai đoạn hiện nay.
Từ năm 2015 đến 2017, nhu cầu đào tạo các kỹ thuật cấp cứu ban đầu trong ngành điều dưỡng, như ép tim ngoài lồng ngực và kỹ thuật bóp bóng Ambu, đã ghi nhận tỷ lệ cao, lần lượt là 84,1% và 77,6% Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung ương năm 2017 và Nguyễn Thị Thu Hằng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2016 cũng cho thấy tỷ lệ mong muốn học các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản này rất cao.
55 muốn được đào tạo cao (50), (6)
4.1.4 Nhu cầu đào tạo liên tục kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội
Có đến 82,5% điều dưỡng tham gia nghiên cứu mong muốn được đào tạo các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội như chọc dò màng bụng, màng tim, màng phổi và bơm rửa bàng quang, mặc dù đây là những kỹ thuật khó và phức tạp Tỷ lệ mong muốn tham gia khóa đào tạo các kỹ năng này dao động từ 55,7% đến 67,1% Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2017, cho thấy 82,5% điều dưỡng trung cấp, cao đẳng và 61,2% điều dưỡng đại học, sau đại học có nhu cầu tham gia khóa đào tạo kỹ thuật chọc dò màng tim Đặc biệt, kỹ thuật “Chăm sóc bàn chân bệnh nhân đái tháo đường” đang được quan tâm, nhưng hầu hết điều dưỡng chưa được học Với số lượng bệnh nhân đái tháo đường ngày càng tăng và biến chứng bàn chân gia tăng, nhu cầu chăm sóc bàn chân cho bệnh nhân đái tháo đường là rất lớn, đòi hỏi bệnh viện cần tổ chức đào tạo cho điều dưỡng.
4.1.5 Nhu cầu đào tạo liên tục kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại
Kết quả khảo sát cho thấy 71,5% điều dưỡng mong muốn được đào tạo các kỹ thuật chuyên khoa Ngoại, mặc dù họ đã được học và thực hành lâm sàng Nhiều điều dưỡng cảm thấy chưa tự tin và thành thạo trong các thao tác kỹ thuật do không thực hành thường xuyên Các kỹ thuật như thay băng vết thương có ống dẫn lưu, thay băng vết thương thường, bó bột, đặt sonde tiểu và đặt sonde dạ dày đều có tỷ lệ nhu cầu đào tạo từ 44,7% đến 54,9% Nghiên cứu của Đặng Thị Luyến tại các Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2017 – 2018 cũng cho thấy hơn 55,0% điều dưỡng mong muốn được đào tạo các kỹ thuật liên quan đến ống dẫn lưu và thay băng.
4.1.6 Địa điểm, hình thức và thời gian tổ chức lớp đào tạo liên tục
Theo khảo sát, 65,8% điều dưỡng chọn khóa đào tạo ngắn hạn dưới hai tuần, trong đó 38,6% mong muốn tham gia khóa học dưới một tuần Việc tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn giúp điều dưỡng dễ dàng sắp xếp thời gian, cập nhật kiến thức và kỹ năng cần thiết mà vẫn đảm bảo công việc tại khoa Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu khác, như của Lưu Thị Nguyệt Minh với 81,1% và Trần Thị Tuyết Nhung tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ với 71,4% Nghiên cứu của La Đức Phương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang cho thấy 51,7% điều dưỡng mong muốn tham gia khóa học dưới một tuần.
57 cũng chỉ ra rằng ngay cả những kỹ thuật khó thời gian đào tạo cũng chỉ nên là
Hình thức học tập trung tại Bệnh viện đa khoa tỉnh được lựa chọn nhiều nhất với tỷ lệ 82,5% và 57,3% cho thấy sự ưu việt của phương pháp này Việc học tại nơi công tác giúp giảm chi phí ăn ở và cho phép điều dưỡng vừa học vừa làm, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng kiến thức vào thực tiễn Nhờ đó, hiệu quả của khóa học được nâng cao đáng kể.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Nhung tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, cho thấy 90,4% người tham gia có nhu cầu đào tạo trực tiếp tại bệnh viện Tương tự, nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung ương cũng ghi nhận 95,7% có nhu cầu đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc.
Nghiên cứu của La Đức Phương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang cho thấy 74,0% người tham gia mong muốn được đào tạo tại bệnh viện.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng
Lao động của nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, mang tính chất đặc thù với những điều kiện làm việc riêng biệt theo từng chuyên khoa Nhiều chuyên khoa phải đối mặt với các yếu tố nguy cơ như hóa chất, phóng xạ, máu và bệnh phẩm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tăng nguy cơ lây nhiễm Mặc dù chức trách của điều dưỡng khác nhau giữa các khoa, họ đều có cường độ lao động cao, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, với trách nhiệm lớn và thời gian làm việc kéo dài, bao gồm cả ca trực đêm Nghiên cứu cho thấy ca kíp làm việc có tác động rõ rệt đến tình trạng rối loạn tim mạch, hệ thần kinh và bệnh lý dạ dày tá tràng.
Tại bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang, điều dưỡng phải đối mặt với khối lượng công việc lớn và áp lực cao, dẫn đến việc họ không có đủ thời gian tham gia học tập để nâng cao chuyên môn và kỹ năng Gánh nặng công việc này hạn chế nhu cầu tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy kết quả tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nghị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2017, trong đó gánh nặng công việc được xác định là lý do chính khiến điều dưỡng lâm sàng từ chối tham gia các khóa đào tạo liên tục.
Vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức được xác định bởi chức danh, chức vụ và cơ cấu công chức, nhằm bố trí biên chế hợp lý Nghiên cứu cho thấy, những điều dưỡng làm quản lý tại các khoa hoặc được quy hoạch vào vị trí lãnh đạo thường tham gia nhiều khóa đào tạo liên tục hơn so với các điều dưỡng viên ở các bộ phận khác.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Út Hiền về nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ y tế tại trung tâm y tế huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An trong giai đoạn 2017 – 2019 cho thấy rằng nhu cầu tham gia các khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) của điều dưỡng tăng lên khi họ làm việc ở những vị trí thuận lợi hơn Kết quả cũng chỉ ra rằng cán bộ có trình độ sau đại học thường được đề bạt lên vị trí lãnh đạo, dẫn đến thái độ tích cực hơn trong việc tham gia các khóa học.
Nghiên cứu định tính cho thấy động lực làm việc ảnh hưởng lớn đến nhu cầu học tập và nâng cao trình độ chuyên môn của điều dưỡng Khi điều dưỡng có động lực, họ có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các lớp đào tạo liên tục để cải thiện tay nghề Ngược lại, sự giảm sút động lực sẽ tác động tiêu cực đến nhu cầu học tập của họ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hồ Văn Lập tại bệnh viện đa khoa huyện Krông Ana năm 2019, cho thấy khi được tạo điều kiện học tập, nhân viên y tế sẽ có động lực làm việc cao hơn và mong muốn cống hiến cho tổ chức.
Nhu cầu thăng tiến trong công việc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của điều dưỡng vào đào tạo liên tục Khi điều dưỡng có khát vọng thăng tiến, họ sẽ có động lực học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn để đạt được vị trí cao hơn Ngược lại, một số điều dưỡng lại cảm thấy hài lòng với vị trí hiện tại và không có mong muốn thăng tiến.
Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên y tế, đặc biệt là những người trẻ và có năng lực, thường ít có xu hướng tham gia học tập hoặc các lớp đào tạo liên tục khi họ đạt 60 tuổi Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thủy Tiên tại bệnh viện Thủ Đức năm 2020, chỉ ra rằng cơ hội học tập và thăng tiến đứng thứ hai trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng và gắn bó của nhân viên y tế với cơ sở y tế Do đó, việc tạo ra cơ hội thăng tiến là rất quan trọng để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám và phát triển nghề nghiệp cho cán bộ Các cán bộ trẻ thường xuyên được tạo điều kiện học tập, điều này không chỉ thúc đẩy sự tham gia tích cực mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành y tế.
4.2.2.1 Công tác quản lý hoạt động đào tạo liên tục
Ban giám đốc bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang luôn quan tâm đến công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) nhằm nâng cao chuyên môn và kỹ năng cho điều dưỡng Bệnh viện có kế hoạch đào tạo ngắn hạn và dài hạn dựa trên nhu cầu của người học và đơn vị, với kế hoạch được thẩm định và phê duyệt hàng năm Chất lượng ĐTLT được chú trọng thông qua việc mời giảng viên có trình độ cao và nội dung giảng dạy phù hợp, cùng với cơ sở vật chất được đầu tư để tổ chức các lớp học hiệu quả Nghiên cứu của Lê Thị Út Hiền cũng cho thấy rằng quản lý ĐTLT tốt sẽ thúc đẩy nhu cầu học tập của điều dưỡng.
4.2.2.2 Các văn bản pháp lý
Nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính trị khẳng định rằng nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn và đãi ngộ đặc biệt Luật khám chữa bệnh quy định rằng người hành nghề Y phải cập nhật kiến thức y khoa liên tục, nếu không sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Do đó, nhu cầu đào tạo cán bộ y tế trên cả nước là rất lớn Sở Y tế Tiền Giang đã triển khai Thông tư 22/2013/TT-BYT và Thông tư 26/2020/TT-BYT, hướng dẫn đào tạo trong lĩnh vực y tế, tổ chức tập huấn chuyên môn và xét duyệt chương trình đào tạo hàng năm tại bệnh viện Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã được cấp mã số đào tạo và thực hiện đúng quy trình đào tạo theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các khóa ĐTLT Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Chi về thực trạng ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Thủ Đức năm 2016 cho thấy vẫn còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng.
Năm 2019, các quy định pháp lý của Bộ Y tế và Sở Y tế đã gây khó khăn trong việc tổ chức các lớp đào tạo liên tục (ĐTLT) và ảnh hưởng tiêu cực đến nhu cầu tham gia ĐTLT của điều dưỡng Sự khác biệt trong kết quả này xuất phát từ tính cứng nhắc của các quy định và chính sách của Sở Y tế, dẫn đến khó khăn trong việc xét duyệt chương trình đào tạo, từ đó tác động đến công tác ĐTLT.
Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang, một cơ sở y tế hạng I, được đánh giá cao về chất lượng dịch vụ trong khu vực, đang đối mặt với tình trạng gia tăng nhanh chóng số lượng bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú Tuy nhiên, nguồn nhân lực điều dưỡng hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến việc điều dưỡng phải đảm nhận nhiều chức năng và kiêm nhiệm thêm công việc Tình trạng thiếu hụt nhân lực này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc bệnh nhân.
Nhu cầu tham gia đào tạo liên tục (ĐTLT) của điều dưỡng bị ảnh hưởng bởi việc thiếu hụt nhân lực, đặc biệt khi họ cần tham gia các lớp ĐTLT ở tuyến trên Khi một điều dưỡng đi học, người còn lại phải gánh vác công việc, dẫn đến xu hướng chọn các lớp đào tạo tại chỗ với thời gian ngắn hơn Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Chi tại bệnh viện quận Thủ Đức (2016 – 2019) cho thấy nguồn nhân lực thiếu hụt làm giảm nhu cầu tham gia ĐTLT Tương tự, nghiên cứu của Lê Thị Út Hiền tại trung tâm y tế huyện Tân Thạnh (2017 – 2019) cũng ghi nhận rằng tình trạng thiếu nhân lực ảnh hưởng tiêu cực đến việc tham gia ĐTLT của cán bộ y tế.
Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang hiện đang thực hiện tự chủ tài chính, với kinh phí cho đào tạo liên tục (ĐTLT) chủ yếu từ quỹ phát triển sự nghiệp và sự tài trợ của các công ty Tuy nhiên, kinh phí hàng năm từ quỹ này không đủ, chỉ hỗ trợ một phần cho điều dưỡng tham gia ĐTLT, dẫn đến sự e ngại về tài chính khi đăng ký các khóa học Kết quả phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện cho thấy điều dưỡng tham gia đào tạo ngắn hạn gặp khó khăn về kinh phí, chỉ được hỗ trợ học phí cho các khóa học cần thiết Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với tác giả Nguyễn Như Bình, cho thấy nguồn kinh phí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo của điều dưỡng tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017.
Năm 2011 đã chỉ ra rằng hỗ trợ tài chính có ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia các khóa đào tạo liên tục, với nhiều đối tượng nghiên cứu mong muốn tham gia các khóa miễn phí Tương tự, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Tín về nhu cầu đào tạo cán bộ, công chức tại Cần Thơ năm 2015 cũng cho thấy nguồn kinh phí đào tạo hàng năm hạn chế, cùng với khối lượng công việc lớn, khiến hầu hết công chức không thể tham gia đào tạo đồng thời, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo liên tục.
4.2.2.5 Thông tin đào tạo liên tục
Việc cập nhật thông tin đầy đủ về các khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) là yếu tố quan trọng giúp điều dưỡng tham gia nghiêm túc Khi học viên được thông báo liên tục về nội dung và tầm quan trọng của khóa học, họ sẽ dễ dàng quyết định tham gia Tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, lãnh đạo bệnh viện rất chú trọng mở các lớp ĐTLT và thường xuyên thông báo thông tin qua các buổi sinh hoạt chuyên đề hàng tuần, từ đó thúc đẩy nhu cầu học tập của điều dưỡng Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác giả Nguyễn Xuân Chi tại Bệnh viện quận Thủ Đức giai đoạn 2016-2019, cho thấy nhóm điều dưỡng được cập nhật thông tin đầy đủ có tỷ lệ tham gia cao hơn Tương tự, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Như Bình tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017 cũng cho kết quả tương tự.
Hạn chế nghiên cứu và các biện pháp khắc phục
Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn đã được thiết kế sẵn có thể gặp sai số do thái độ hợp tác của người tham gia và sự hiểu biết chưa chính xác về nội dung các câu hỏi.
Nội dung nghiên cứu chỉ được đánh giá từ góc độ chủ quan của các đối tượng tham gia Việc đánh giá hiện tại chỉ dừng lại ở phần định lượng mà chưa có phân tích định tính, dẫn đến việc chưa thể đánh giá thực trạng cũng như khoảng trống so với tương lai.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang, do đó, kết quả chỉ có thể áp dụng cho bệnh viện này và không thể khái quát cho các bệnh viện khác.
4.3.2 Các biện pháp khắc phục
Nghiên cứu viên đã xây dựng bộ câu hỏi và tiến hành điều tra thử nghiệm, chỉnh sửa trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu, nhấn mạnh rằng nó không nhằm đánh giá hay xếp loại thi đua của điều dưỡng, mà chỉ nhằm đánh giá năng lực điều trị để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo lâm sàng cho bệnh viện.
Nghiên cứu viên luôn hiện diện tại các khoa để thu thập dữ liệu và hỗ trợ ĐTNC Họ kiểm tra các phiếu điều tra ngay sau khi hoàn tất việc phỏng vấn và thu nhận phiếu, đảm bảo rằng những phiếu thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý được bổ sung kịp thời.