Một số định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính do thiếu insulin hoặc tác dụng insulin không hiệu quả, dẫn đến tăng glucose máu, gây tổn thương cho nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt là mạch máu và thần kinh Đái tháo đường thai kỳ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc cuối thai kỳ, không có tiền sử ĐTĐ típ 1 hoặc típ 2 Nếu phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu phát hiện tăng glucose huyết, sẽ áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ như ở người không mang thai.
Chi phí trong lĩnh vực y tế đại diện cho giá trị của nguồn lực cần thiết để sản xuất và cung cấp dịch vụ y tế cụ thể hoặc tổng thể.
Tổng chi phí là tổng hợp tất cả các chi phí sản xuất tại một mức sản lượng nhất định, bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Chi phí cố định là những khoản chi không thay đổi theo sản lượng đầu ra, thường liên quan đến việc khởi động hoạt động sản xuất Các chi phí này được gọi là tổng chi phí hành chính, bao gồm chi phí cho nhà cửa và trang thiết bị.
Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi theo mức sản lượng đầu ra, chẳng hạn như chi phí thuốc men và đội ngũ nhân viên phục vụ, sẽ thay đổi dựa trên số lượng bệnh nhân.
Chi phí biên là khoản chi phí tăng thêm để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm, không bao gồm chi phí cố định vì chúng không thay đổi theo mức sản lượng Chi phí biên được tính bằng sự biến thiên của chi phí biến đổi chia cho số lượng sản phẩm tăng thêm.
Chi phí trung bình là tổng chi phí chia cho số lượng sản phẩm đầu ra Ví dụ, chi phí trung bình cho một người bệnh điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh năm 2020 được tính bằng tổng chi phí của khoa khám bệnh trong năm đó chia cho số lượng bệnh nhân điều trị tại đây.
Chi phí trực tiếp trong y tế là những khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân Các ví dụ về chi phí trực tiếp bao gồm dịch vụ điều dưỡng, thuốc, vật tư y tế, chẩn đoán hình ảnh, phục hồi chức năng và dịch vụ ăn uống.
Có nhiều phương pháp phân loại chi phí, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào mục đích và thiết kế nghiên cứu Trong một nghiên cứu, có thể kết hợp nhiều phương pháp phân loại khác nhau Trong lĩnh vực y tế, chi phí được chia thành ba nhóm chính: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí vô hình.
Trong lĩnh vực y tế, chi phí trực tiếp đề cập đến các khoản chi phát sinh cho hệ thống y tế, cộng đồng và gia đình người bệnh trong quá trình điều trị bệnh Chi phí này được phân thành hai loại.
Chi phí trực tiếp cho y tế bao gồm các khoản chi cho chẩn đoán, điều trị, theo dõi và phục hồi chức năng, như chi phí thuốc, ngày giường bệnh và xét nghiệm Nghiên cứu này đánh giá chi phí điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ, bao gồm chi phí khám chữa bệnh, chi phí thuốc, chi phí cận lâm sàng (CLS) và vật tư tiêu hao.
Chi phí trực tiếp không dành cho y tế bao gồm các khoản chi tiêu mà bệnh nhân và người nhà phải bỏ ra trong quá trình điều trị, chẳng hạn như chi phí đi lại, ăn uống, nơi ở và các dịch vụ chăm sóc không chính thức khác.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chi phí trực tiếp cho y tế bao gồm viện phí, bao gồm cả chi phí do bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả và chi phí mà người bệnh tự chi trả khi sử dụng dịch vụ Cụ thể, các chi phí này bao gồm chi phí khám bệnh, cận lâm sàng (CLS), và điều trị, chẳng hạn như thủ thuật, phẫu thuật và thuốc.
Chi phí gián tiếp trong y tế bao gồm các nguồn lực phát sinh trong quá trình điều trị, không trực tiếp liên quan đến bệnh nhân Những chi phí này bao gồm chi phí cho các phòng ban chức năng, bảo trì máy móc, văn phòng phẩm, và điện nước tại cơ sở y tế cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Chi phí gián tiếp không dành cho y tế là các khoản chi phí liên quan đến mất khả năng lao động do tàn tật hoặc tử vong Đây là chi phí cơ hội của người bệnh và người chăm sóc, được tính bằng thu nhập mất đi do nghỉ việc, tàn tật, tử vong sớm hoặc giảm khả năng lao động.
Biến chứng của đái tháo đường
Đái tháo đường (ĐTĐ) nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể tiến triển nhanh chóng, dẫn đến các biến chứng cấp tính và mạn tính Những biến chứng này có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh.
Biến chứng cấp tính do đường huyết tăng cao có thể dẫn đến hôn mê nhiễm toan ceton hoặc hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể gây ra nguy cơ tử vong.
Biến chứng mạn tính của bệnh tiểu đường chủ yếu ảnh hưởng đến các mạch máu lớn, bao gồm bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh lý mạch máu ngoại biên Ngoài ra, các mạch máu nhỏ cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến các bệnh như bệnh võng mạc, đục thủy tinh thể, bệnh thận và bệnh thần kinh do tiểu đường Đặc biệt, tiểu đường thai kỳ có thể gây ra nhiều nguy hiểm cho sức khỏe.
Thai phụ mắc ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao hơn về sẩy thai, thai lưu, sinh non, và các biến chứng như tăng huyết áp, đa ối, nhiễm trùng tiết niệu, viêm đài bể thận, và cần mổ lấy thai Ngoài ra, họ cũng có khả năng sinh con to hơn Về lâu dài, những thai phụ này có thể tiến triển thành ĐTĐ típ 2.
Phụ nữ mang thai mắc đái tháo đường thai kỳ có nguy cơ cao gặp phải các biến chứng, đặc biệt là biến chứng tim mạch, trong suốt quá trình mang thai so với những thai phụ bình thường.
Phương pháp tính chi phí
Nguyên tắc tính chi phí: Khi phân tích chi phí, cần đảm bảo 4 nguyên tắc sau:
- Khi liệt kê, tính đầy đủ chi phí/ chi phí thay thế
- Tính giá trị hiện tại của chi phí
- Phân bổ các chi phí sử dụng chung cho từng hoạt động riêng
- Khấu hao/ phân chia chi phí đầu tư cho các năm
Xác định góc độ đánh giá chi phí
Nghiên cứu phân tích chi phí có thể được thực hiện từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến các kết luận khác nhau Các góc độ nghiên cứu bao gồm: (a) góc độ của cơ sở cung cấp dịch vụ, phản ánh chi phí của các nhà cung cấp y tế như bệnh viện; (b) góc độ cá nhân/hộ gia đình, bao gồm chi tiêu từ túi người bệnh, giảm thu nhập do tham gia can thiệp, chi phí đi lại, chăm sóc trẻ nhỏ, và những mất mát về tinh thần; (c) góc độ của cơ quan chi trả, như chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả; và (d) góc độ xã hội, bao gồm tất cả nguồn lực mà xã hội sử dụng để điều trị bệnh.
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích chi phí điều trị ngoại trú cho bệnh nhân ĐTĐ tại phòng khám Nội tiết bệnh viện, dựa trên dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và phiếu thanh toán Các chi phí được xem xét bao gồm chi phí khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật, thủ thuật, thuốc và vật tư tiêu hao Tuy nhiên, nghiên cứu không bao gồm các chi phí như khấu hao tài sản cố định, sửa chữa, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, và đầu tư cơ sở vật chất.
Các bước phân tích chi phí (30)
Bước 1: Liệt kê các hoạt động dịch vụ y tế (loại chi phí) cần thiết để thực hiện một chương trình
Bước 2: Đo lường tức là cụ thể hóa số lượng những hoạt động dịch vụ y tế được sử dụng
Bước 3: Định giá là xác định hoặc ước tính chi phí mỗi hoạt động dịch vụ y tế này
Bước 4: Tình tổng chi phí của dựa trên các thông tin trên.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.6.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chuyển hóa và Nội tiết Iran vào tháng 3 năm 2011 đã phân tích chi phí điều trị bệnh ĐTĐ ở 2.898 bệnh nhân, trong đó 63,8% là nữ giới Bệnh nhân được chia thành 4 nhóm dựa trên phác đồ điều trị: không dùng thuốc (nhóm I), dùng thuốc uống (nhóm II), dùng thuốc uống và insulin (nhóm III), và chỉ điều trị bằng insulin (nhóm IV) Kết quả cho thấy nhóm III có chi phí cao nhất với 192,3 USD/năm, trong khi chi phí y tế trực tiếp trung bình cho bệnh nhân ĐTĐ ngoại trú là 155,8 USD/năm Bệnh thận (72,4%) và bệnh thần kinh (39%) là hai biến chứng phổ biến nhất Tác giả kết luận rằng chi phí y tế trực tiếp cho quản lý bệnh ĐTĐ ngoại trú đang gia tăng tại Iran, với chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất Ước tính, Iran cần khoảng 4,05 triệu USD mỗi năm để quản lý 5,2 triệu bệnh nhân ĐTĐ.
Nghiên cứu của Bahia LR và các cộng sự (2007) đã ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc chăm sóc ngoại trú cho bệnh nhân Đái tháo đường típ 2 trong Hệ thống Chăm sóc Sức khỏe Cộng.
Nghiên cứu năm 2007 tại 8 thành phố Brazil cho thấy chi phí chăm sóc ngoại trú hàng năm trung bình cho một bệnh nhân ĐTĐ là 2.108 USD, trong đó chi phí trực tiếp chiếm 63,3% (1.335 USD) và chi phí gián tiếp chiếm 36,7% (773 USD) Bệnh nhân có cả biến chứng vi mạch và đại mạch có chi phí cao hơn (3.199 USD) so với những người chỉ có biến chứng vi mạch (2.062 USD) hoặc ít nhất một biến chứng vi mạch (2.517 USD) Chi phí thuốc chiếm 48,2% trong tổng chi phí trực tiếp Nghiên cứu nhấn mạnh rằng điều trị ĐTĐ làm tăng chi phí cho hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng Brazil và xã hội, với chi phí tăng theo thời gian mắc bệnh và sự xuất hiện các biến chứng mãn tính Do đó, cần tăng cường đầu tư cho các can thiệp phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với ĐTĐ và các biến chứng của nó.
Nghiên cứu năm 2010 tại Trung Quốc chỉ ra rằng các chương trình bảo hiểm và điều trị bằng insulin có ảnh hưởng lớn đến chi phí y tế trực tiếp hàng năm của bệnh nhân đái tháo đường típ 2, với chi phí cao hơn so với các nhóm khác Mỗi khi số lượng biến chứng gia tăng, chi phí y tế trực tiếp hàng năm tăng khoảng 33% Điều này cho thấy rằng các chương trình bảo hiểm có mối liên hệ đáng kể với việc gia tăng chi phí y tế trực tiếp.
Phần lớn các nghiên cứu trong nước về chi phí điều trị bệnh nhân ĐTĐ chủ yếu tập trung vào người bệnh nội trú Chỉ có một nghiên cứu đáng chú ý từ tác giả
Huỳnh Thị Anh Thư (2009) đã nghiên cứu chi phí điều trị ngoại trú cho bệnh nhân ĐTĐ tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Nhân Dân Gia Định và Trung tâm Chẩn đoán Y khoa ở TP Hồ Chí Minh, với 180 bệnh nhân tham gia Kết quả cho thấy chi phí điều trị ở nhóm không có bảo hiểm y tế (BHYT) cao hơn so với nhóm có BHYT, và các biến chứng làm tăng thêm chi phí Chi phí điều trị chiếm khoảng 24% thu nhập hàng tháng của bệnh nhân, trong đó chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất, gấp 27 lần so với tiền khám bệnh trung bình và 4,6 lần so với tiền xét nghiệm trung bình.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012) về chi phí điều trị nội trú cho bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định năm 2011 cho thấy chi phí điều trị trung vị cho một bệnh nhân ĐTĐ là 2.245.603 đồng, với chi phí thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (61,9%) Trong số 381 hồ sơ bệnh án, chi phí cho các dịch vụ y tế (CLS) chiếm 25,2%, vật tư tiêu hao 5,8%, giường bệnh 5,5%, và phẫu thuật thủ thuật 1,6% Bệnh nhân có Bảo hiểm Y tế có chi phí trung vị là 2.314.975 đồng, trong khi nhóm không có BHYT là 2.065.559 đồng Đối với bệnh nhân có biến chứng, chi phí trung vị là 2.510.184 đồng, trong khi bệnh nhân có bệnh kèm theo là 2.070.830 đồng Chi phí điều trị cho bệnh nhân có biến chứng mạch máu lớn là 3.919.649 đồng, và cho bệnh nhân có biến chứng mạch máu nhỏ là 1.700.443 đồng, với tỷ lệ chi phí thuốc luôn chiếm trên 55% tổng chi phí.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy và cộng sự (2013) tại Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội, đã phân tích chi phí điều trị nội trú cho 198 bệnh nhân ĐTĐ có và không có biến chứng Chi phí điều trị bao gồm các khoản chi trả trực tiếp cho bệnh viện như chi phí giường bệnh, thuốc, dịch truyền, phẫu thuật, và các dịch vụ xét nghiệm Kết quả cho thấy chi phí trung bình cho một đợt điều trị nội trú là 4.540.846 đồng, trong đó chi phí thuốc chiếm 56,4%, chi phí cho chẩn đoán hình ảnh 29,5%, và chi phí vật tư tiêu hao 4,59% Ngoài ra, chi phí ngoài y tế như tiền ăn và đi lại của bệnh nhân và người chăm sóc cũng đáng kể, với tiền ăn chiếm 40,6% tổng chi phí ngoài y tế.
Nghiên cứu năm 2020 của Phạm Huy Tuấn Kiệt và cộng sự về chi phí y tế liên quan đến bệnh ĐTĐ và các biến chứng tại Việt Nam được thực hiện từ góc độ của cơ quan bảo hiểm xã hội (quỹ BHYT) Chi phí y tế trực tiếp được ước tính thông qua việc tổng hợp và phân tích dữ liệu chi trả BHYT năm 2017 của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Nghiên cứu đã thu thập thông tin về chi trả BHYT cho 1.395.204 người mắc bệnh ĐTĐ típ 2 trong hệ thống dữ liệu.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị trực tiếp cho người bệnh đái tháo đường ngoại trú
Chi phí cho các xét nghiệm chiếm 23%, trong khi các chi phí khác như tiền khám và thủ thuật chỉ chiếm khoảng 27% Nghiên cứu cho thấy biện pháp hiệu quả nhất để giảm chi phí điều trị là thông qua các giải pháp chăm sóc phòng ngừa Việc tổng hợp kết quả từ toàn bộ các bệnh viện trên toàn quốc là rất quan trọng để có số liệu cụ thể cho từng bệnh viện nhằm so sánh Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và chỉ tập trung vào đối tượng sử dụng thẻ BHYT, không tính đến chi phí của những người không có thẻ BHYT.
1.7 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị trực tiếp cho người bệnh ĐTĐ ngoại trú
1.7.1 Yếu tố liên quan đến người bệnh
Nghiên cứu của Liaquat A Khowaja và các cộng sự (2017) chỉ ra rằng tại Pakistan, chi phí bệnh tật liên quan đến đái tháo đường (ĐTĐ) tăng lên đáng kể khi tuổi tác cao, số lượng biến chứng nhiều và thời gian mắc bệnh kéo dài, với giá trị p < 0,001.
Nghiên cứu cho thấy rằng nhóm người bệnh nghèo nhất đang phải chi tới 18% tổng thu nhập của gia đình cho việc chăm sóc bệnh tiểu đường.
Nghiên cứu năm 2010 tại Trung Quốc cho thấy tỉ lệ chi phí y tế trực tiếp được thanh toán thấp hơn 7% và số lượt khám tại phòng khám tăng 23%.
Tại bệnh viện trung học, tỷ lệ người bệnh nhập viện là 1,232 với p < 0,001 so với bệnh viện đại học Nhóm có thu nhập cao hơn (> 2.000 nhân dân tệ/tháng) chi trả từ túi ít hơn 23% so với nhóm thu nhập thấp Số ca biến chứng cũng tăng đáng kể, với số lần khám bệnh ngoại trú có tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,064 và p < 0,001.
Nghiên cứu của Louis Jacob và cộng sự (2017) về chi phí điều trị bệnh ĐTĐ típ
Nghiên cứu tại Đức phân tích mẫu kê đơn và chi phí thuốc hạ đường huyết cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2, với 36.382 người từ 40 tuổi trở lên Chi phí điều trị hàng năm được tính dựa trên giá bán lẻ thuốc, cho thấy tỉ lệ và chi phí điều trị khác nhau theo giới tính, độ tuổi, mức HbA1c, chỉ số khối cơ thể và số lượng biến chứng Cụ thể, nam giới có tỉ lệ cao hơn nữ giới với chênh lệch 22 Euro, trong khi chi phí hàng năm giảm dần theo độ tuổi Đáng chú ý, chi phí này tăng lên cùng với mức HbA1c và chỉ số khối cơ thể.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định năm 2011 cho thấy chi phí điều trị bệnh nhân đái tháo đường ở nông thôn cao hơn so với thành phố, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy và cộng sự (2013) tại khoa Nội tiết, Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) về chi phí điều trị nội trú bệnh ĐTĐ liên quan đến tình trạng biến chứng Theo diễn tiến tự nhiên của bệnh, tuổi bệnh càng cao thì số lượng biến chứng càng nhiều, dẫn đến việc điều trị trở nên phức tạp và khó khăn hơn, từ đó làm tăng chi phí điều trị.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định năm 2011 cho thấy rằng người bệnh có bảo hiểm y tế (BHYT) có thể giảm chi phí điều trị, đặc biệt là những người được thanh toán 100%.
1.7.2 Yếu tố đặc điểm liên quan đến điều trị
Nghiên cứu năm 2015 về chi phí điều trị bệnh ĐTĐ típ 2 tại Đức cho thấy chi phí hàng năm cho việc điều trị của người bệnh ĐTĐ tăng lên theo số lượng các biến chứng.
Loại biến chứng, mắc bệnh kèm theo
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định cho thấy chi phí điều trị của người bệnh có biến chứng và bệnh kèm theo cao gấp 4 lần so với người không có biến chứng Cụ thể, chi phí điều trị cho người có biến chứng cao gấp 3,2 lần và cho người có bệnh kèm theo cao gấp 2,6 lần Đặc biệt, chi phí điều trị cho người bệnh có biến chứng mạch máu lớn cao gấp 2,3 lần, trong khi chi phí cho người có cả biến chứng mạch máu lớn và nhỏ cao gấp 2,1 lần so với người chỉ có biến chứng mạch máu nhỏ.
1.7.3 Yếu tố thuộc về bệnh viện
Nghiên cứu của S Yu và cộng sự (2018) cho thấy việc không tuân thủ điều trị và ngừng điều trị làm tăng chi phí trực tiếp, với tỉ lệ ngừng thuốc sớm là 27% và tỉ lệ không tuân thủ từ 13,9% đến 31,1% trong 12 tháng đầu Chi phí tăng lên lần lượt là 220,289 USD và 21,775 USD cho mỗi 100 bệnh nhân, so với con số dự tính ban đầu là 72,648 USD và 5,675 USD Để giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị tại bệnh viện, mô hình phòng quản lý bệnh mãn tính, đặc biệt là quản lý bệnh ĐTĐ, đã được xây dựng Mô hình này giúp nhân viên y tế dễ dàng theo dõi bệnh nhân, từ đó giảm chi phí điều trị trực tiếp cho người bệnh.
Các đơn vị y tế cơ sở đang triển khai khám sàng lọc tại cộng đồng để phát hiện sớm người mắc ĐTĐ và tiền ĐTĐ, từ đó quản lý, tư vấn và điều trị kịp thời Hoạt động này bao gồm sàng lọc, kiểm tra đường huyết và tư vấn chế độ ăn uống, tập luyện cho những đối tượng có nguy cơ cao, nhằm hạn chế nguy cơ bệnh tật Đặc biệt, công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, áp phích và tranh cổ động đã nâng cao nhận thức của người dân về cách phòng ngừa và sống chung an toàn với bệnh ĐTĐ.
Một nghiên cứu tại Đức (2018) cho thấy việc khuyến khích bệnh nhân ĐTĐ sử dụng máy đo đường huyết cá nhân hàng ngày giúp giảm nguy cơ biến chứng và chi phí điều trị Cụ thể, mức HbA1c giảm 0,69% trong 6 tháng liên quan đến việc giảm 3% nguy cơ nhồi máu cơ tim trong 10 năm, tiết kiệm 4,90 euro mỗi bệnh nhân/năm Với 2,3 triệu bệnh nhân điều trị bằng insulin ở Đức, việc giảm 3% nhồi máu cơ tim có thể tiết kiệm 11,27 triệu euro hàng năm Nếu kết hợp với việc giảm 10% các trường hợp hạ đường huyết nghiêm trọng, tổng chi phí tiết kiệm sẽ tăng lên 30,61 euro mỗi bệnh nhân mỗi năm, tương đương 70,4 triệu euro cho 2,3 triệu bệnh nhân.
Chính sách về viện phí và chính sách BHYT
Nghiên cứu năm 2015 về chi phí điều trị bệnh tiểu đường típ 2 tại Đức nhằm phân tích các mẫu kê đơn và chi phí thuốc hạ đường huyết cho bệnh nhân.
2 Tác giả chỉ ra rằng chính sách BHYT, đặc biệt giữa loại hình BHYT tư nhân và BHYT xã hội, có ảnh hưởng đến chi phí điều trị (37)
Yếu tố liên quan đến thuốc và phương pháp điều trị
Một số đặc điểm tại Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang 22
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang tọa lạc tại số 02, đường Hùng Vương, Phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, trên diện tích 27.493 m² Đây là bệnh viện hạng I với quy mô 1000 giường bệnh, hiện thực kê 1302 giường.
22 khoa lâm sàng, 7 khoa CLS và 8 phòng chức năng Tổng số cán bộ viên chức hiện tại là 984 người
Theo báo cáo từ năm 2016 đến 2018, Phòng khám Nội tiết tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang ghi nhận số lượt khám tăng dần, với 39.666 lượt, 40.762 lượt và 42.135 lượt trong các năm tương ứng Đối tượng chủ yếu là bệnh nhân ĐTĐ típ 2, gần 100% có bảo hiểm y tế (BHYT) với các loại thẻ 80%, 95% và 100% Hàng tháng, bệnh nhân đến khám thông qua sổ khám bệnh và hồ sơ bệnh án ngoại trú để theo dõi kết quả điều trị Trong năm 2020, tổng số lượt khám hàng tháng ước tính khoảng 2.480 lượt.
Khung lý thuyết
Chi phí điều trị trực tiếp cho người bệnh ĐTĐ ngoại trú:
- Chi phí xét nghiệm, cận lâm sàng
- Chi phí vật tư tiêu hao
- Chính sách của bệnh viện
- Chương trình quản lý người bệnh ĐTĐ
- BHYT (có/không, tỉ lệ chi trả)
- Chính sách về viện phí,
- Yếu tố liên quan đến thuốc và phương pháp điều trị ĐTĐ Đặc điểm liên quan đến điều trị:
- Loại biến chứng, bệnh kèm theo