Một số khái niệm
Điều dưỡng là một nghề lâu đời, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người Nghề này không chỉ giúp phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị mà còn xoa dịu nỗi đau, đáp ứng nhu cầu chăm sóc của cá nhân, gia đình và cộng đồng Hiện nay, điều dưỡng viên đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, hợp tác với bác sĩ, dược sĩ và các nhân lực khác để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện.
Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội
Viên chức ĐD trong ngành y tế thực hiện và tổ chức các kỹ thuật ĐD cơ bản và chuyên khoa tại các cơ sở y tế Đào tạo liên tục bao gồm các khoá đào tạo ngắn hạn nhằm cập nhật kiến thức, kỹ năng và thái độ chuyên môn, cũng như đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật và các khoá đào tạo chuyên môn khác không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.
Cơ sở đào tạo liên tục của ngành Y tế bao gồm các bệnh viện, viện có giường bệnh, viện nghiên cứu, và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế Ngoài ra, còn có các cơ sở giáo dục khác đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe, cùng với các trung tâm đào tạo nhân lực y tế, tất cả đều được Bộ Y tế thẩm định và công nhận theo quy định.
Nhu cầu đào tạo (NCĐT) có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng hai định nghĩa phổ biến nhất thường được sử dụng để đánh giá NCĐT là: 1) sự cần thiết phải nâng cao kỹ năng và kiến thức cho cá nhân hoặc tổ chức; 2) khoảng cách giữa năng lực hiện tại và năng lực mong muốn trong một lĩnh vực cụ thể.
- Nhu cầu được định nghĩa là sự chênh lệch giữa các mong muốn, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn đặt ra và những thực tế đạt được [29]
Nhu cầu học tập của một người phản ánh những gì họ cần để đạt được mục tiêu trong cuộc sống hoặc công việc Thông thường, nhu cầu này xuất phát từ những mong muốn và nguyện vọng cá nhân của chính họ.
Phân loại điều dưỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dưỡng tại Việt Nam
Đánh giá nhu cầu đào tạo (NCĐT) là quá trình tìm hiểu về người tham gia và năng lực của họ trước khi bắt đầu đào tạo Mục tiêu của đánh giá NCĐT là xác định nhu cầu học tập, tập trung vào sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ hiện tại của người học so với những gì họ cần đạt được Điều này giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của người học.
1.2 Phân loại điều dƣỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dƣỡng tại Việt Nam
1.2.1 Phân loại và nhiệm vụ ĐD
Tại Việt Nam, theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm
2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định nhiệm vụ của các trình độ ĐD như sau:
- Trực tiếp thực hiện chăm sóc toàn diện cho người bệnh (NB);
Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản theo từng chuyên khoa, đồng thời hỗ trợ điều dưỡng viên ở cấp cao hơn trong việc thực hiện các kỹ thuật phức tạp theo chỉ định của bác sĩ điều trị và sự phân công của điều dưỡng viên phụ trách.
- Theo dõi, ghi chép diễn biến hàng ngày của NB, chú ý NB nặng và cấp cứu;
- Thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu;
- Tiếp đón NB đến khám bệnh, vào viện, ra viện, chuyển khoa, chuyển viện;
- Chuẩn bị đủ, đúng và kịp thời các phương tiện, dụng cụ, thuốc, hồ sơ bệnh án;
- Bảo quản thuốc và tài sản (dụng cụ y tế máy móc, trang thiết bị, )
- Chịu trách nhiệm cá nhân về số thuốc và tài sản được quản lý;
- Thực hiện GDSK, đôn đốc, nhắc nhở NB, người nhà NB thực hiện nội quy của khoa và bệnh viện;
- Tham gia hướng dẫn thực hành kỹ thuật ĐD cơ bản cho học sinh ĐD;
- Thực hiện các quy định về y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD
- Lập kế hoạch CSNB toàn diện và trực tiếp thực hiện kế hoạch CSNB theo đúng quy chế chuyên môn
Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và một số kỹ thuật điều dưỡng phức tạp theo chỉ định của bác sĩ điều trị và sự phân công của điều dưỡng phụ trách.
Theo dõi và đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân hàng ngày là rất quan trọng, đặc biệt đối với những bệnh nhân nặng và các trường hợp cấp cứu Việc ghi chép diễn biến của bệnh nhân giúp điều chỉnh kế hoạch chăm sóc kịp thời Đồng thời, phát hiện và báo cáo sớm các diễn biến bất thường sẽ hỗ trợ bác sĩ trong việc xử lý hiệu quả.
- Thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp bệnh nặng
- Tiếp đón NB đến khám bệnh, vào viện, ra viện, chuyển khoa, chuyển viện, đi khám cận lâm sàng;
Để đảm bảo hiệu quả trong công tác cấp cứu, khám và điều trị, cần dự trù và chuẩn bị đầy đủ, chính xác và kịp thời các trang thiết bị, dụng cụ y tế, thuốc và hồ sơ bệnh án.
Vận hành, bảo quản và bảo dưỡng các phương tiện máy móc, trang thiết bị được phân công là rất quan trọng Cần phát hiện kịp thời những hỏng hóc và đề xuất phương án xử lý hiệu quả để đảm bảo hoạt động liên tục và an toàn.
- Chịu trách nhiệm cá nhân về số thuốc và tài sản được quản lý
- Thực hiện tư vấn, GDSK cho NB, gia đình NB và cộng đồng; đôn đốc, nhắc nhở
NB, gia đình NB giữ gìn trật tự vệ sinh
- Hướng dẫn thực hành các kỹ thuật ĐD cho điều dưỡng ở ngạch thấp hơn và tham gia NCKH về lĩnh vực CSNB
- Thực hiện các quy định về y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD
- Lập kế hoạch chăm sóc và phối hợp với bác sĩ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch CSNB toàn diện theo đúng các quy chế chuyên môn
- Tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát các ĐD ở ngạch thấp hơn trong việc thực hiện các y lệnh của bác sĩ và thực hiện kế hoạch CSNB
- Thực hiện thành thạo những kỹ thuật ĐD cơ bản và các kỹ thuật ĐD phức tạp của lĩnh vực chuyên khoa
Tổ chức thực hiện quy trình tiếp đón bệnh nhân (NB) khi đến khám và điều trị, bao gồm các xét nghiệm, chuyển khoa, chuyển viện, ra viện, và thực hiện các thủ tục chăm sóc khi bệnh nhân tử vong theo đúng quy định.
Tổ chức theo dõi và đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân hàng ngày, đặc biệt chú trọng đến những bệnh nhân nặng và cấp cứu Việc ghi chép diễn biến sẽ giúp điều chỉnh kế hoạch chăm sóc và báo cáo kịp thời cho bác sĩ để xử lý các tình huống bất thường.
- Tổ chức thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, điều trị cho NB nặng
Dự trù và tổ chức chuẩn bị đầy đủ, chính xác và kịp thời các dụng cụ, phương tiện, thuốc men và hồ sơ bệnh án là rất quan trọng cho công tác khám bệnh, cấp cứu, điều trị và chăm sóc sức khỏe.
Tổ chức thực hiện việc vận hành, bảo quản và bảo dưỡng các phương tiện, máy móc, trang thiết bị thuộc chuyên khoa Đồng thời, phát hiện các hỏng hóc và đề xuất phương án xử lý hiệu quả.
- Chịu trách nhiệm cá nhân về thuốc và tài sản được quản lý
- Tổ chức thực hiện công tác tư vấn, GDSK và công tác giữ gìn trật tự, vệ sinh, phòng dịch bệnh
Hướng dẫn kỹ thuật đào tạo cho học sinh và sinh viên trong lĩnh vực đào tạo, đồng thời hỗ trợ các cấp độ đào tạo thấp hơn; thực hiện chỉ đạo từ tuyến trên và tham gia vào các đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực đào tạo.
- Tổ chức thực hiện các quy định y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD [5]
Nội dung mô tả nhiệm vụ của ĐD theo văn bằng đào tạo cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa ba đối tượng ĐDTC, ĐDCĐ và ĐDĐH.
Lập kế hoạch chăm sóc chỉ được thực hiện tại ĐDCĐ và các trường đại học, trong khi đó, ĐDĐH còn có nhiệm vụ phối hợp với bác sĩ để tổ chức và thực hiện kế hoạch chăm sóc.
Thủ thuật ĐDTC chỉ được phép thực hiện các thủ thuật ĐD cơ bản và hỗ trợ ĐD ngạch cao hơn trong các kỹ thuật phức tạp ĐDCĐ không chỉ thực hiện các thủ thuật ĐD cơ bản mà còn có khả năng thực hiện một số kỹ thuật phức tạp ĐDĐH cần phải thành thạo cả các kỹ thuật ĐD cơ bản lẫn phức tạp.
- Về giám sát thực hiện kế hoạch chăm sóc: chỉ có ở ĐDĐH
ĐDTC có nhiệm vụ theo dõi và ghi chép diễn biến của người bệnh (NB) để phát hiện và báo cáo kịp thời Trong khi đó, ĐDCĐ không chỉ theo dõi mà còn đánh giá toàn trạng của NB nhằm điều chỉnh kế hoạch chăm sóc ĐDĐH đảm nhận nhiệm vụ cao hơn, tổ chức thực hiện việc theo dõi và đánh giá toàn trạng của NB.
- Về sơ cứu, cấp cứu ban đầu: Tất cả các đối tượng ĐD đều có nhiệm vụ này; riêng ĐDĐH có thêm nhiệm vụ tổ chức thực hiện
Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên Thế giới ĐTLT là hình thức học tập rất phát triển trên thế giới đặc biệt trong ngành Y tế, để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người CBYT phải được cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức lý thuyết và tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý [14] Công
HUPH tác ĐTLT và việc học tập suốt đời của người thầy thuốc ngày càng quan trọng để nâng cao chất lượng hệ thống chăm sóc y tế.
Liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới (WFME) đã khởi xướng các phương pháp học tập và công cụ hướng dẫn mới nhằm cải thiện quản lý giáo dục y học Năm 1998, phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), WFME đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục y học toàn cầu Bộ tiêu chuẩn này bao gồm ba giai đoạn: Giáo dục y học cơ bản, Giáo dục y học sau đại học, và Đào tạo liên tục/phát triển nghề nghiệp Tiêu chuẩn quốc tế đã được công bố tại Hội nghị toàn cầu về Giáo dục y học ở Copenhagen năm 2003 và được dịch ra nhiều ngôn ngữ để áp dụng rộng rãi.
1.3.2 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế ở Việt Nam
1.3.2.1 Tầm quan trọng và một số định hướng ĐTLT CBYT ở Việt Nam
Việc cập nhật kiến thức và kỹ thuật mới là nhiệm vụ bắt buộc trong ngành Y, nơi mà sự chính xác liên quan trực tiếp đến tính mạng con người Để nâng cao chất lượng nhân lực y tế, nhiều hình thức như tập huấn chuyên môn, hội thảo và giao ban đã được triển khai Nghị quyết số 46/NQ-TƯ của Bộ chính trị nhấn mạnh rằng nghề Y cần được tuyển chọn và đãi ngộ đặc biệt Trong 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm cải thiện đào tạo và đãi ngộ cho cán bộ y tế Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định rõ nghĩa vụ học tập liên tục của bác sĩ và điều dưỡng, với hình phạt là thu hồi chứng chỉ hành nghề nếu không cập nhật kiến thức trong 2 năm.
Năm 2008, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT quy định rằng tất cả cán bộ y tế (CBYT) tại Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng và thái độ chuyên môn Tuy nhiên, việc triển khai đào tạo liên tục (ĐTLT) còn chậm, nhiều đơn vị y tế vẫn thụ động và phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ Bộ Y tế và các dự án Đến nay, hệ thống ĐTLT tại Việt Nam đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, năm 2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn ĐTLT cho CBYT và xây dựng Chiến lược ĐTLT giai đoạn 2012 - 2020, định hướng đến năm 2030 ĐTLT nhằm cập nhật kiến thức, kỹ năng mới cho CBYT, đảm bảo họ không bị tụt hậu so với tiến bộ y học và duy trì chất lượng đội ngũ CBYT.
Việc đào tạo liên tục (ĐTLT) trước đây được giao cho các trường Y - Dược, nhưng hiện nay do quá tải về số lượng tuyển sinh, khả năng ĐTLT tại các trường này đã bị hạn chế Với hơn 500.000 cán bộ y tế (CBYT) đang làm việc, nhu cầu ĐTLT thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn là rất lớn Thực tế cho thấy, CBYT được đào tạo tại chỗ thường hiệu quả hơn so với việc trở về trường để học Bộ Y tế đã quyết định giao cho các Sở Y tế, các đơn vị Trung ương và các trường tham gia tổ chức ĐTLT Hiện nay, cơ sở ĐTLT bao gồm: (1) Các trường Y - Dược tổ chức các khóa ĐTLT theo chương trình chính quy để cập nhật kiến thức và kỹ thuật mới, mã số ĐTLT quản lý là mã A; (2) Các bệnh viện, viện nghiên cứu và các cơ sở y tế được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến cùng với các trung tâm đào tạo nhân lực y tế.
HUPH phải tổ chức đào tạo theo hệ thống, theo nhiệm vụ, mã số ĐTLT là mã B; (3) Các
Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc cần tổ chức đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế mà Sở quản lý và hoạt động trên địa bàn, với mã số ĐTLT là mã C [22].
1.3.2.2 Hệ thống cơ sở ĐTLT cán bộ y tế
Theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT và các văn bản hướng dẫn liên quan, hệ thống cơ sở đào tạo lâm sàng (ĐTLT) hiện tại bao gồm các trường Y Dược, các viện và bệnh viện Trung ương có nhiệm vụ đào tạo và chỉ đạo tuyến, cùng với các cơ sở y tế tại tỉnh (bệnh viện, trung tâm) có đơn vị ĐTLT dưới sự quản lý của Sở Y tế.
Các trường Y Dược bao gồm đại học, cao đẳng và trung cấp y tế, là những cơ sở đào tạo chuyên nghiệp được thành lập theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền như Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao nhiệm vụ tuyển sinh và đào tạo chính quy cho các loại hình nhân lực y tế Hiện nay, Bộ Y tế đã công nhận hơn 100 cơ sở đào tạo y tế cho các trường đại học, cao đẳng và trung cấp Y Dược trên toàn quốc.
Các viện nghiên cứu và bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế không phải là đơn vị đào tạo chính quy nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp đào tạo và là cơ sở thực hành cho các trường Y Dược Môi trường đào tạo tại đây rất tốt, với đội ngũ cán bộ y tế và nghiên cứu dày dạn kinh nghiệm cùng trang thiết bị hiện đại, gắn liền với nhiệm vụ thực tiễn của ngành Bộ Y tế đã rà soát và cho phép củng cố các trung tâm đào tạo tại các đơn vị này nhằm nâng cao công tác đào tạo liên tục, đáp ứng nhu cầu học tập Hiện nay, đã có hơn 50 viện và bệnh viện trung ương thành lập các đơn vị đào tạo liên tục và được cấp mã số đào tạo.
Sở Y tế cho biết, các cơ sở đào tạo thường được đặt tại các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh và các trung tâm y tế như dân số, sức khỏe sinh sản, y tế dự phòng Hiện tại, hơn 50% Sở Y tế đã được Bộ Y tế công nhận là cơ sở đào tạo liên tục (ĐTLT) và được cấp mã số đào tạo Hình ảnh dưới đây tóm tắt sơ đồ tổ chức các cơ sở ĐTLT CBYT hiện nay tại Việt Nam.
Hình 1: Sơ đồ Hệ thống tổ chức các cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế
Đánh giá nhu cầu đào tạo
1.4.1 Nhu cầu đào tạo của CBYT
CBYT là những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, được đào tạo chuyên môn tại các trường và cơ sở giáo dục trong hệ thống quốc dân Họ đã hoàn thành các khóa đào tạo và có trình độ chuyên môn được xác định theo các bậc đào tạo như dạy nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học.
Mặc dù đã trải qua quá trình đào tạo, nhưng trong quá trình làm việc, nhân viên vẫn cần được tiếp tục đào tạo để đảm trách tốt các nhiệm vụ được giao, thăng tiến trong sự nghiệp và hoàn thiện quá trình phát triển cá nhân Việc đào tạo liên tục giúp họ cập nhật kiến thức, kỹ năng mới và đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp Điều này không chỉ giúp nhân viên hoàn thiện bản thân mà còn đóng góp vào sự phát triển của tổ chức.
Trong thời đại phát triển của khoa học công nghệ, các nhiệm vụ và kỹ thuật mới thường xuyên được áp dụng vào công việc của cán bộ y tế.
Hiện nay, nếu cán bộ y tế (CBYT) không được đào tạo hoặc không tự cập nhật kiến thức, họ sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
NCĐT không chỉ là nhu cầu cá nhân của người cán bộ y tế mà còn là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng nguồn nhân lực Nếu một đơn vị chỉ dựa vào trình độ chuyên môn hiện tại của nhân viên mà không có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng liên tục, thì sẽ khó phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
1.4.2 Xác định nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế Đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ được xác định là tất cả các hoạt động nhằm bù đắp những thiếu hụt và bổ sung, nâng cao kỹ năng, kiến thức của mình Các hình thức đào tạo lại, bồi dưỡng cho CBYT rất phong phú, có thể là những lớp, khóa đào tạo lại, các cuộc tập huấn, hội thảo về một hay nhiều chủ đề chuyên môn, nghiệp vụ, cũng có thể chỉ là những buổi học, giờ học ngay trong các cuộc giám sát, giao ban, sinh hoạt chuyên đề Xác định NCĐT nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng CBYT cần được đào tạo và đưa ra được chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu cũng như hoàn cảnh thực tế của công việc Xác định NCĐT là bước đầu tiên trong quy trình đào tạo, nó được tiến hành trước khi lập kế hoạch đào tạo [28]
Có nhiều phương pháp và cách tiếp cận để xác định nhu cầu đào tạo (NCĐT), nhưng tất cả đều nhằm mục đích xác định sự chênh lệch giữa hiện tại và tương lai Quy trình đánh giá NCĐT có thể được tóm tắt qua năm bước chính: (1) Thu thập thông tin về nhu cầu từ các chuyên gia và qua khảo sát; (2) Phân tích số liệu để nhận diện sự khác biệt giữa kiến thức, kỹ năng mong muốn và hiện có; (3) Chỉ ra các vấn đề trong quá trình triển khai; (4) Đề xuất định hướng và giải pháp cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo; (5) Xác định cách giải quyết vấn đề hiệu quả, cân nhắc yếu tố chi phí.
Cán bộ điều dưỡng (ĐD) hiện đang là nguồn nhân lực quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe Việc đánh giá trình độ chuyên môn và khắc phục sự thiếu hụt kỹ năng là cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này Do đó, xác định nhu cầu đào tạo (NCĐT) và bồi dưỡng chuyên môn cho người ĐD là rất quan trọng, nhằm đảm bảo mỗi vị trí công việc được đào tạo phù hợp, tránh lãng phí Quá trình xác định NCĐT nên được thực hiện bởi chính người ĐD và các cán bộ quản lý nguồn nhân lực, để đảm bảo tính thiết thực và giá trị thực tế của kế hoạch đào tạo.
Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng
1.5.1 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng trên Thế giới
Ngành Điều dưỡng (ĐD) hiện nay được công nhận là một nghề độc lập, tương đương với các ngành nghề khác, với nhiều trường đào tạo ĐD ở các trình độ khác nhau như trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc và một số nước tiên tiến trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống đào tạo ĐD ổn định và chất lượng Chương trình đào tạo ĐD được thiết kế theo tín chỉ và tập trung vào việc phát triển năng lực, tạo nền tảng bền vững cho hệ thống đào tạo lâu dài Tuy nhiên, các quốc gia này đang đối mặt với tình trạng thiếu sinh viên theo học, dẫn đến thiếu hụt ĐD viên trong bối cảnh dân số già đi và gia tăng các bệnh mạn tính Do đó, việc nhập khẩu ĐD viên trở thành một giải pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Anh, Nhật Bản đang áp dụng chính sách thu hút ĐD viên có trình độ từ các nước đang phát triển thông qua việc cải thiện lương và gia hạn thị thực, nhằm đảm bảo chất lượng chăm sóc y tế theo tiêu chuẩn quốc tế.
Trung tâm đào tạo Điều dưỡng Excellence tại Mỹ áp dụng các nguyên tắc giáo dục người trưởng thành và thực hành dựa trên bằng chứng vào chương trình giáo dục thường xuyên, đáp ứng các tiêu chuẩn hiện hành Đào tạo điều dưỡng bao gồm các kế hoạch học tập có tổ chức nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và kỹ năng, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân và phát triển cá nhân chuyên nghiệp Người học cần liên hệ với đơn vị cung cấp chương trình ít nhất 4 - 6 tuần trước khi bắt đầu học, và sẽ được hỗ trợ hoàn thành đánh giá nhu cầu đào tạo cá nhân Nghiên cứu của Lyn Dyson và cộng sự vào năm 2009 tại New Zealand cho thấy nhu cầu đào tạo của điều dưỡng viên cao hơn về các hoạt động chăm sóc bệnh nhân trực tiếp so với các vấn đề nghề nghiệp khác Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt về nhu cầu đào tạo giữa các nhóm điều dưỡng viên, cho thấy cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu học tập liên tục của từng nhóm.
Chunping Ni và cộng sự (năm 2010) đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá quan niệm và nhu cầu về đào tạo từ xa (ĐTLT), xác định các yếu tố tạo động lực cũng như các rào cản mà người học phải đối mặt trong việc hoàn thành chương trình ĐTLT, từ đó đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của họ.
Nghiên cứu tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc cho thấy 97,3% điều dưỡng (ĐD) đã tham gia các chương trình đào tạo liên tục (ĐTLT) trong 12 tháng qua, với hơn 92,2% ĐD nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT Họ mong muốn tham gia các hoạt động ĐTLT kéo dài 5 ngày, mỗi hoạt động chỉ 2 giờ Các động lực chính thúc đẩy ĐD tham gia ĐTLT bao gồm mong muốn cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng thực hành và duy trì chuyên môn Tuy nhiên, các rào cản như thời gian, cam kết công việc, chi phí khóa học và thiếu kinh nghiệm trước đó đã cản trở sự tham gia của họ ĐD tại Trung Quốc coi ĐTLT là rất quan trọng cho sự phát triển chuyên môn Một nghiên cứu năm 2011 tại New Zealand cho thấy ĐD chăm sóc bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần nhưng chỉ tự tin ở mức tối thiểu về kỹ năng của họ Họ cần được đào tạo và hỗ trợ để cải thiện chăm sóc bệnh nhân, điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các trung tâm y tế, trường đào tạo và các trường đại học.
Nghiên cứu cắt ngang của Mei Chan Chong và cộng sự (2013) nhằm mục đích mô tả thực hành của điều dưỡng tại thời điểm điều tra, đồng thời đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục trong lĩnh vực này.
Nghiên cứu tại Malaysia đã tiến hành trên 792 điều dưỡng (ĐD) tại các bệnh viện công và phòng khám, sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn Kết quả cho thấy 80% ĐD đã tham gia vào hoạt động đào tạo liên tục (ĐTLT) trong 12 tháng qua, với hội thảo là hình thức phổ biến nhất, chiếm 43,6% ĐD nhận thức rõ tầm quan trọng của ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ ĐTLT bắt buộc được xem là giải pháp cần thiết để nâng cao kiến thức và kỹ năng của ĐD Tuy nhiên, nghiên cứu khuyến cáo rằng các nhà hoạch định chính sách và quản lý ĐD cần lập kế hoạch cho các hoạt động ĐTLT phù hợp với nhu cầu thực tế của ĐD, thay vì chỉ dựa vào yêu cầu đào tạo của tổ chức.
1.5.2 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng tại Việt Nam ĐTLT là yếu tố thiết yếu để người ĐD tăng thêm kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của họ Đặc biệt trong ngành ĐD, ĐTLT còn hữu ích hơn cho người ĐD để nâng cao và duy trì nhận thức của họ vì họ phải đối mặt với sự phát triển không ngừng của kiến thức và công nghệ trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Bộ Y tế Việt Nam chú trọng đến việc đào tạo và cập nhật kiến thức cho tất cả cán bộ y tế, bao gồm cả điều dưỡng (ĐD), coi đây là nhiệm vụ bắt buộc Tất cả cán bộ y tế cần được nâng cao kỹ năng và thái độ chuyên môn Nghiên cứu của Phan Quốc Hội và Nguyễn Thị Xuân cho thấy, tại Nghệ An, 90,3% ĐD và 92,7% hộ sinh tự đánh giá năng lực thực hành ở mức tốt và khá Tuy nhiên, chỉ 18,3% ĐD và 25,3% hộ sinh thực hiện tư vấn và giáo dục sức khỏe thường xuyên, trong khi 45,7% cán bộ quản lý cho rằng ĐD và hộ sinh chưa thực hiện công việc này hiệu quả.
Tác giả Phạm Thị Hiếu đã thực hiện đề tài “Đánh giá của cựu sinh viên về
Chương trình đào tạo cử nhân Điều dưỡng hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định được triển khai từ năm 2010 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa định tính và định lượng, với mẫu nghiên cứu gồm 240 người được chọn để trả lời bộ câu hỏi tự điền Một số kết luận quan trọng đã được tác giả đưa ra từ nghiên cứu này.
Trong nhóm kỹ năng điều dưỡng cơ bản, kỹ năng theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp được sử dụng thường xuyên nhất (80,0%) và cựu sinh viên cảm thấy tự tin cao khi sử dụng (90,6%) Kỹ năng tiêm truyền có mức độ sử dụng là 76,8% và mức độ tự tin đạt 94,4% Ngược lại, các kỹ năng chăm sóc vệ sinh, thực hiện chế độ ăn bệnh lý, đưa chất dinh dưỡng vào cơ thể, và thay băng rửa vết thương có mức độ sử dụng thấp hơn, lần lượt là 48,8%, 32,8%, 42,4%, 40,8%, với mức độ tự tin không cao (78,4%, 68,0%, 80,8%, 74,4%) Đối với nhóm kỹ năng điều dưỡng phức tạp trong lĩnh vực chuyên khoa, cả mức độ sử dụng và mức độ tự tin đều giảm xuống dưới 50%, như kỹ năng trợ giúp bác sĩ chọc dò màng phổi (21,6%), màng tim (45,6%), não tủy (17,6%) và kỹ năng trợ giúp bác sĩ đặt ống nội khí quản (38,4%).
Năm 2010, Nguyễn Việt Cường đã đánh giá nhu cầu đào tạo lâm sàng cho cán bộ điều dưỡng tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình, Hà Nội, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng Nghiên cứu khảo sát 56 cán bộ điều dưỡng và 14 trạm trưởng thông qua bộ câu hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn sâu Trong 19 nhiệm vụ chuyên môn, có 5 nhiệm vụ thường xuyên được thực hiện (trên 80%), bao gồm: đón tiếp bệnh nhân, tiêm bắp, đo dấu hiệu sinh tồn, thực hiện khử khuẩn và rửa tay thường quy Một số nhiệm vụ kỹ thuật chuyên sâu như đặt vòng tránh thai và thông tiểu được đào tạo nhưng không thực hiện thường xuyên Mặc dù các điều dưỡng tự tin (trên 70%) về khả năng tiêm tĩnh mạch và thay băng, họ lại không thực hiện những nhiệm vụ này thường xuyên.
Nghiên cứu cho thấy HUPH thông GDSK và các thành viên đều tự tin thực hiện nhiệm vụ, với tỷ lệ đạt trên 70% Tuy nhiên, nghiên cứu cũng gặp một số hạn chế do cỡ mẫu nhỏ, không đủ đại diện cho hệ thống y tế cơ sở, với tổng số 56 đối tượng, trong đó có 01 đối tượng cao đẳng (1,8%), 52 đối tượng trung cấp (92,9%) và 03 đối tượng sơ cấp (5,3%) [14].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính (năm
Năm 2010, Bùi Diệu đã thực hiện một nghiên cứu trên 65 cán bộ, bao gồm bác sĩ, kỹ sư vật lý, kỹ thuật viên xạ trị và điều dưỡng, đang làm việc tại 5 khoa xạ trị của bệnh viện.
K Thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi lập sẵn để phỏng vấn; PVS được tiến hành với các lãnh đạo khoa và ĐD trưởng để đánh giá NCĐT cho khối cán bộ xạ trị trong đó có ĐD Nghiên cứu cho thấy: Khối cán bộ xạ trị của bệnh viện K được đào tạo, đào tạo lại tương đối tốt nhưng chưa đầy đủ và đồng bộ; đa số cán bộ đều gặp khó khăn trong công tác do thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, tình trạng quá tải và thiếu cơ sở, trang thiết bị; 96,3% ĐD viên có NCĐT thêm về CSNB [15]
Năm 2014, nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn trên 261 đối tượng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ đạt chung về năng lực thực hành chăm sóc của điều dưỡng là 86,2% Cụ thể, tỷ lệ đạt của từng nhóm là 90,2% cho điều dưỡng đại học, 78,9% cho điều dưỡng cao đẳng và 86,6% cho điều dưỡng trung cấp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ đạt theo các tiêu chuẩn năng lực thực hành chăm sóc là 89,7% trong việc sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả, cùng với 87,4% trong việc thực hiện các kỹ thuật chăm sóc đúng quy trình.
Giới thiệu về Bệnh viện Phổi Trung ương
Bệnh viện Phổi Trung ương, trước đây là Viện chống Lao, được thành lập theo Nghị định số 273/TTg ngày 24 tháng 6 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ Đây là bệnh viện đầu ngành về chuyên khoa Lao và Bệnh phổi tại Việt Nam, có địa chỉ tại số
463 Hoàng Hoa Thám quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trong hơn 55 năm xây dựng và phát triển, bệnh viện đã khám và chữa bệnh cho hàng triệu người, đồng thời chỉ đạo hoạt động phòng chống lao và các bệnh phổi khác trên toàn quốc Thành công của Chương trình chống lao đã góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân.
Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định Việt Nam là một trong những quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất Vào năm 2011, bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện Phổi Trung ương, trở thành cơ sở chuyên khoa hàng đầu của cả nước về Lao và Bệnh phổi.
Theo Quyết định số 1816/QĐ-BYT ngày 23 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng
Bộ Y tế đã ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Phổi Trung ương, trong đó tóm tắt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bệnh viện.
Cấp cứu, khám và chữa bệnh, phục hồi chức năng, cùng với việc tham mưu và đề xuất các chiến lược phát triển hệ thống chuyên khoa là những nhiệm vụ quan trọng Bên cạnh đó, chỉ đạo tuyến, đào tạo và đào tạo lại nhân lực y tế, cũng như phòng chống dịch bệnh, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học đều góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
HUPH học và công nghệ; quản lý, điều hành các dự án quốc gia và quốc tế về lĩnh vực bệnh phổi và lao
1.6.2 Nhiệm vụ Gồm 9 nhóm nhiệm vụ chính, đó là:
Khám cấp cứu, chữa bệnh và phục hồi chức năng là những hoạt động thiết yếu trong ngành y tế Đồng thời, việc tham mưu và đề xuất chiến lược, chính sách cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ Đào tạo cán bộ y tế là cần thiết để nâng cao năng lực chuyên môn Nghiên cứu khoa học giúp phát triển các phương pháp điều trị mới Chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác y tế Phòng, chống dịch bệnh cần được chú trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng Tổ chức hoạt động liên doanh, liên kết và dịch vụ giúp tối ưu hóa nguồn lực Cuối cùng, quản lý đơn vị hiệu quả là yếu tố quyết định đến sự thành công của các hoạt động y tế.
Bệnh viện Phổi Trung ương, thuộc Bộ Y tế, là bệnh viện chuyên khoa hạng I với cơ cấu tổ chức bao gồm 11 phòng chức năng, 6 trung tâm, 18 khoa lâm sàng và 7 khoa cận lâm sàng.
1.6.4 Công tác ĐTLT cho Điều dưỡng năm 2014
Bệnh viện có nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo liên tục (ĐTLT) cho cán bộ y tế (CBYT), và trong những năm gần đây, lãnh đạo bệnh viện đã chú trọng đến công tác này Năm 2014, Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến đã tổ chức 29 lớp ĐTLT cho 2.339 cán bộ viên chức, chủ yếu dành cho đối tượng điều dưỡng (ĐD) Tuy nhiên, hiệu quả đào tạo chưa cao do nội dung lớp học chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực và hình thức đào tạo còn mang tính truyền thống Số lượng học viên trong mỗi lớp quá đông, dẫn đến việc học tập chủ yếu là nghe giảng lý thuyết, thiếu chú trọng đến thực hành lâm sàng Chương trình đào tạo hiện tại chủ yếu dựa trên yêu cầu từ cấp trên mà chưa đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của học viên Do đó, cần nghiên cứu và khảo sát nhu cầu thực sự của đối tượng ĐD để cải thiện công tác ĐTLT tại bệnh viện.
HUPH những lĩnh vực gì để có kế hoạch ĐTLT cho phù hợp, hiệu quả
Dựa trên tổng quan các tài liệu, chúng tôi tiến hành xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này như sau:
Hình 2: Khung lý thuyết đánh giá nhu cầu đào tạo của điều dƣỡng
Nội dung đào tạo theo các nhóm nhiệm vụ và các lĩnh vực ưu tiên
Trưởng phòngTrưởng khoa Điều dưỡng
- Chuẩn năng lực củaĐD đại học, cao đẳng, trung cấp
- Mức độ thực hiện các nhiệm vụ:
+ ĐD đại học + ĐD cao đẳng + ĐD trung cấp
- Khó khăn và thuận lợi
KHOẢNG CÁCH NHU CẦU ĐÀO TẠO Đối tƣợng đào tạo:
- Điều dưỡng trình độ cao đẳng, đại học
- Điều dưỡng trình độ trung cấp
Cách thức tổ chức đào tạo:
- Địa điểm đào tạo: + Tại bệnh viện + Ngoài bệnh viện
Khung lý thuyết này mô tả quá trình đánh giá năng lực chuyên môn của điều dưỡng (ĐD) thông qua việc thu thập thông tin từ lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa/phòng và tự đánh giá của các ĐD Mục tiêu là phân tích khoảng cách giữa định hướng phát triển và thực tế nhiệm vụ mà ĐD chưa thực hiện hiệu quả trong công tác chăm sóc người bệnh Đồng thời, cần xem xét mong muốn học tập liên tục của họ để đáp ứng nhu cầu đào tạo Từ đó, xác định năng lực chuyên môn và đưa ra định hướng cho công tác đào tạo liên tục, bao gồm đối tượng đào tạo, nội dung, lĩnh vực ưu tiên, hình thức và cách thức tổ chức đào tạo, cùng đội ngũ giảng viên phù hợp.
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015
- Địa điểm nghiên cứu: 15 khoa lâm sàng, bệnh viện Phổi Trung ương.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho phương pháp định lượng
Cỡ mẫu bao gồm 13 ĐD trưởng khoa lâm sàng, với sự thiếu vắng ĐD trưởng khoa ở khoa Dinh dưỡng và Kĩ thuật viên trưởng khoa ở khoa Thăm dò & Phục hồi chức năng, cùng với toàn bộ ĐD viên của 15 khoa lâm sàng, tổng cộng là 224 người.
2.4.2 Cỡ mẫu cho phương pháp định tính
- 03 cán bộ quản lý, gồm:
+ Phó Giám đốc Bệnh viện - Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến; + Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến;
- 05 lãnh đạo khoa lâm sàng cho 01 cuộc thảo luận nhóm;
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ: 13 ĐD trưởng khoa lâm sàng và ĐD viên 15 khoa lâm sàng
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu nhằm chọn lựa Phó Giám đốc Bệnh viện, Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, cùng với Trưởng phòng ĐD, với tổng cộng ba ứng viên.
Trong một cuộc thảo luận nhóm, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 05 lãnh đạo từ tổng số 15 khoa lâm sàng, bao gồm các khoa Cấp cứu, Hô hấp, Lao hô hấp, Khám bệnh và Ung bướu.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng
2.6.1.1.Công cụ thu thập số liệu
Bộ công cụ phát vấn được thiết kế nhằm thu thập thông tin từ ĐD viên và ĐD trưởng khoa lâm sàng, dựa trên tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch viên chức y tế ĐD theo Quyết định số 41/2005/QĐ.
Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ quy định phân cấp nhiệm vụ cho từng ngạch viên chức ĐD theo trình độ đào tạo, với sự khác biệt rõ ràng giữa ba đối tượng ĐDTC, ĐDCĐ và ĐDĐH Tuy nhiên, tại Bệnh viện Phổi Trung ương, nhiệm vụ của các đối tượng ĐD hiện nay không được phân biệt rõ ràng như quy định Các nhà quản lý bệnh viện cũng cho biết chưa có định hướng cụ thể cho việc mô tả và áp dụng nhiệm vụ khác nhau cho từng nhóm đối tượng trong thời gian tới Trong quá trình xây dựng bộ công cụ, ý kiến của các cán bộ đã được thu thập để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.
Bệnh viện HUPH cam kết không phân biệt nhiệm vụ của các đối tượng điều dưỡng (ĐD), với mô tả công việc rõ ràng cho từng vị trí Để đảm bảo điều này, chúng tôi đã xây dựng bộ công cụ thu thập thông tin chung cho tất cả các đối tượng ĐD, bất kể trình độ học vấn, nhằm xác định nhiệm vụ chính trong hiện tại và những năm tới Chúng tôi cũng tham khảo Thông tư 07/2011/TT-BYT để hướng dẫn công tác ĐD trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện.
- Bộ công cụ được xây dựng và thử nghiệm tại bệnh viện với 03 ĐD viên và 03 ĐD trưởng và chỉnh sửa để sử dụng cho thu thập thông tin
2.6.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu viên lập danh sách ĐD trưởng và ĐD viên tham gia nghiên cứu, sau đó liên hệ với ĐD trưởng các khoa để lên lịch thu thập số liệu tại 15 khoa lâm sàng ĐD trưởng tập trung các ĐD vào phòng giao ban vào đầu giờ chiều trước khi thực hiện CSNB Nghiên cứu viên mời các ĐD tham gia phát vấn bằng cách điền vào bộ câu hỏi đã thiết kế, đồng thời thông báo mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát Nghiên cứu viên phát phiếu để ĐD tự điền và nhắc nhở không trao đổi thông tin trong quá trình điền Sau khi hoàn thành, nghiên cứu viên rà soát phiếu và hỏi lại những thông tin chưa hợp lý để ĐTNC bổ sung hoặc điều chỉnh.
Sau mỗi ngày, các nghiên cứu viên tiến hành thu thập và kiểm tra phiếu phát vấn tự điền, đảm bảo số lượng và chất lượng bộ câu hỏi Họ cũng thực hiện kiểm tra xác suất đối với một số đối tượng, đảm bảo không có phiếu nào không đạt yêu cầu.
2.6.2 Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu định tính
Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn PVS, được sử dụng để phỏng vấn các vị trí quan trọng như Phó Giám đốc Bệnh viện, Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, cùng với Trưởng phòng ĐD (Phụ lục 3).
Đặt lịch hẹn phỏng vấn với Phó Giám đốc Bệnh viện và Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, cùng với Phó Giám đốc Trung tâm và Trưởng phòng ĐD Các cuộc phỏng vấn được thực hiện đúng thời gian đã hẹn tại phòng làm việc của người được phỏng vấn và có ghi âm lại.
30 phút/cuộc PVS Nguồn số liệu này do học viên trực tiếp phỏng vấn, ghi biên bản phỏng vấn và gỡ băng
Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn TLN (Phụ lục 4), được điều chỉnh từ phiếu hướng dẫn TLN của Nguyễn Việt Cường để phù hợp với hoạt động đào tạo tại Bệnh viện Phổi Trung ương.
- TLN tập trung đã được thực hiện với các lãnh đạo khoa với khoảng thời gian là
- Cuộc TLN được tổ chức tại phòng Điều dưỡng, bệnh viện Phổi Trung ương
Nghiên cứu viên là người chủ trì cuộc thảo luận, trong khi một nhân viên phòng Điều dưỡng được mời làm thư ký để ghi chép và ghi âm lại diễn biến của cuộc thảo luận.
Các biến số nghiên cứu
Dựa trên khung lý thuyết và tài liệu tổng quan, bảng các biến số nghiên cứu đã được lập (Phụ lục 1) Nghiên cứu sử dụng các nhóm biến chính sau đây.
- Các biến về thông tin chung của ĐD: tuổi, giới, trình độ chuyên môn;
- Các biến về việc đã tham gia các khóa ĐTLT: thời gian khóa đào tạo, nội dung đào tạo…
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng bao gồm nhiệm vụ cấp cứu, kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, kỹ thuật điều dưỡng phức tạp và quản lý giám sát công tác chăm sóc người bệnh Đồng thời, mức độ tự tin của điều dưỡng khi thực hiện các nhiệm vụ này cũng đóng vai trò quan trọng.
- Các biến về NCĐT: Nội dung mong muốn được đào tạo, phương pháp giảng dạy…
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu định lượng: Sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa: Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
+ Các thông tin từ các cuộc PVS và TLN được ghi âm và ghi biên bản, sau đó
HUPH tiến hành gỡ băng
+ Mã hóa và phân tích theo chủ đề.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
ĐTNC sẽ được thông báo về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn, và chỉ thực hiện khi nhận được sự đồng ý hợp tác từ ĐTNC.
Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến ĐTNC được bảo mật tuyệt đối Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo bệnh viện Phổi Trung ương quan tâm và ủng hộ
Kết quả nghiên cứu đã được trình bày cho Giám đốc Bệnh viện và Giám đốc Trung tâm đào tạo, nhằm hỗ trợ trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo lâm sàng và cập nhật kiến thức cho các điều dưỡng đang làm việc tại bệnh viện.
Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục
Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế sẵn có thể gặp sai số do thái độ hợp tác của người tham gia và sự hiểu chưa chính xác về nội dung các câu hỏi.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phổi Trung ương, do đó, kết quả chỉ có thể áp dụng cho bệnh viện này và không thể khái quát cho các bệnh viện khác.
- Bộ câu hỏi được nghiên cứu viên xây dựng và tiến hành điều tra thử nghiệm, và chỉnh sửa trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức
Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá năng lực đào tạo của đội ngũ y bác sĩ, không phải để đánh giá hay xếp loại thi đua Thông tin thu thập được sẽ là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục cho bệnh viện.
Nghiên cứu viên luôn hiện diện tại các khoa trong quá trình thu thập số liệu để giải thích và hỗ trợ ĐTNC Sau khi hoàn thành việc phỏng vấn và thu nhận phiếu, các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra ngay lập tức Những phiếu thông tin nào chưa đầy đủ hoặc không hợp lý sẽ được bổ sung kịp thời.