1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối nội và khối ngoại của bệnh viện đa khoa tỉnh kiên giang năm 2017

109 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối nội và khối ngoại của bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang năm 2017
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Đởm
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý chăm sóc và đào tạo y tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: một khóa học về quản lý sẽ thích hợp cho các bác sĩ chịu trách nhiệm quản lý một cơ sở chăm sóc sức khỏe; một khóa học về phương pháp giảng dạy sẽ thích hợp cho các bác sĩ giảng d

Trang 1

LA ĐỨC PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG KHỐI NỘI VÀ KHỐI NGOẠI CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

ĐỒNG THÁP, 2017

HUPH

Trang 2

LA ĐỨC PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG KHỐI NỘI VÀ KHỐI NGOẠI CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy Ts Bs Phạm Văn Đởm và ThS Bùi Thị Mỹ Anh đã tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học quý báu, định hướng và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này;

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, tập thể cán bộ và anh chị em đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang đã tạo điều kiện, quan tâm và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, cung cấp thông tin trong cả quá trình hoàn thiện luận văn;

Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, các anh/chị, em đồng nghiệp

và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên: La Đức Phương Lớp QLBV K8 Đồng Tháp

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số định nghĩa……….4

1.1.1 Đào tạo liên tục (ĐTLT): 4

1.1.2 Nhu cầu đào tạo: 5

1.1.3 Điều dưỡng……….6

1.1.4 Lý thuyết khoảng cách trong đánh giá nhu cầu đào tạo[38] 6

1.1.5 Đánh giá nhu cầu đào tạo 8

1.2 Nhiệm vụ, tiêu chuẩn chuyên môn của ĐD theo chức danh nghề nghiệp 9

1.2.1 Điều dưỡng hạng III – Mã số: V.08.05.12 9

1.2.2 Điều dưỡng hạng IV – Mã số: V.08.05.13 9

1.3 Công tác đào tạo liên tục của cán bộ y tế 10

1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên Thế giới 10

1.3.2 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam 11

1.3.3 Hệ thống cơ sở ĐTLT cho CBYT tại Việt Nam 11

1.4 Các nghiên cứu về xác định nhu cầu đào tạo liên tục cả điều dưỡng 13

1.4.1 Một số nghiên cứu về ĐTLT trên thế giới 13

1.4.2 Các nghiên cứu về nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại Việt Nam 14

1.5 Nhu cầu đào tạo liên tục 17

1.5.1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế 17

1.5.2 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng 18

1.6 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Kiên Giang 19

1.6.1 Thông tin chung về bệnh viện 19

1.6.2 Công tác ĐTLT cho Điều dưỡng tại Bệnh viện trong năm 2015-2016 20

HUPH

Trang 5

KHUNG LÝ THUYẾT 22

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.1 Nghiên cứu định lượng 23

2.1.2 Nghiên cứu định tính 23

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu……… 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu……… 23

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu……… 23

2.4.1 Phương pháp định lượng 23

2.4.2 Phương pháp định tính……… 23

2.5 Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu……… 24

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 24

2.5.2 Thu thập số liệu định tính 25

2.6 Các biến số trong nghiên cứu……… 26

2.7 Các chủ đề nghiên cứu định tính ……… 26

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu……… 27

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu……… 27

2.10 Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục……… 27

2.10.1 Hạn chế 27

2.10.2 Cách khắc phục 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu……… 29

3.2 Mức độ thực hiện, tự tin trong hoạt động chuyên môn của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại của BVĐK Tỉnh Kiên Giang……… 31

3.3 Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Kiên Giang 39

3.3.1 Các lĩnh vực ưu tiên đào tạo liên tục của điều dưỡng 39

3.3.2 Nhu cầu về tổ chức các khóa đào tạo liên tục của điều dưỡng 44

Chương 4: BÀN LUẬN………47

4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 47

HUPH

Trang 6

4.2 Mức độ thực hiện, tự tin trong hoạt động chuyên môn của điều dưỡng 48

4.2.1 Thực hiện chăm sóc người bệnh 48

4.2.2 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 49

4.2.3 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội……… 51

4.2.4 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại……….51

4.3 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại bệnh viện……… 52

4.3.1 Các lĩnh vực ưu tiên đào tạo liên tục của ĐD 52

4.3.2 Nhu cầu về tổ chức các khóa đào tạo liên tục của ĐD……… 54

KẾT LUẬN 56

KHUYẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 63

Phụ lục 1: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 63

Phụ lục 2: PHIẾU ĐIỀU TRA NHU CẦU ĐÀO TẠO 70

Phụ lục 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 78

Phụ lục 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 80

Phụ lục 5: NHIỆM VỤ, TIÊU CHUẨN CHUYÊN MÔN CỦA ĐIỀU DƯỠNG THEO CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP 82

HUPH

Trang 7

ĐTLT Đào tạo liên tục

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

GDSK Giáo dục sức khỏe

NB Người bệnh

NCĐT Nhu cầu đào tạo

NCKH Nghiên cứu khoa học

PVS Phỏng vấn sâu

PHCN Phục hồi chức năng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thông tin chung về điều dưỡng đang làm việc tại khoa lâm sàng thực hiện nghiên cứu (n=300) 29 Bảng 3.2: Mức độ thực hiện và tự tin của ĐD khi thực hiện chăm sóc người bệnh (n=300) 31 Bảng 3.3: Mức độ thực hiện và tự tin của ĐD khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng

cơ bản (n=300) 33 Bảng 3.4: Mức độ thực hiện và tự tin của ĐD khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội 35 Bảng 3.5: Mức độ thực hiện và tự tin của ĐD khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại 37 Bảng 3.6: Các lĩnh vực ĐD mong muốn đào tạo về lĩnh vực thực hiện các kỹ thuật CSNB 39 Bảng 3.7: Các lĩnh vực ĐD mong muốn đào tạo về lĩnh vực thực hiện các kỹ thuật

ĐD cơ bản 40 Bảng 3.8: Các lĩnh vực ĐD mong muốn đào tạo về thực hiện các kỹ thuật ĐD chuyên khoa Nội (n=145) 42 Bảng 3.9: Các lĩnh vực ĐD mong muốn đào tạo về lĩnh vực thực hiện các các kỹ thuật ĐD chuyên khoa Ngoại (n=155) 43 Bảng 3.10: Nhu cầu đào tạo một số nội dung chuyên môn của ĐD (n=300) 44 Bảng 3.11: Mong muốn về địa điểm, hình thức và thời gian ĐTLT của điều dưỡng (n=300) 45Bảng 3.12: Một số lý do từ chối tham gia ĐTLT của điều dưỡng 46

HUPH

Trang 9

Kết quả nghiên cứu như sau:

Thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐD: Có 2/7 nhiệm vụ thực hiện thường xuyên và mức độ tự tin trên 70% là: (1) Tư vấn-hướng dẫn GDSK (2) nhiệm vụ hướng dẫn cho người bệnh uống thuốc

Thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản: nhiệm vụ đo dấu hiệu sinh tồn được đối tượng ĐD đánh giá thực hiện và tự tin ở mức cao trên 90%, có 6/10 nhiệm vụ được

ĐD đánh mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin cao 60% đến 80% Và có 3 quy trình cấp cứu sốc phản vệ, quy trình cấp cứu ngưng tuần hoàn, ngưng hô hấp mức

độ thường xuyên thực hiện dưới 50%

Thực hiện các kỹ thuật ĐD chuyên khoa Nội:

Điều dưỡng hạng III có 2/05 kỹ thuật đạt mức độ thực hiện thường xuyên và

tự tin trên 60% (kỹ thuật hút đàm dãi và bơm rửa bàng quang) 03/05 kỹ thuật đạt mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin dưới 50% (kỹ thuật phụ giúp bác sĩ chọc

dò màng bụng, màng phổi, màng tim)

HUPH

Trang 10

Điều dưỡng hạng IV kỹ thuật hút đàm dãi có mức độ thực hiện thường xuyên

và tự tin trên 50% Có 04/05 kỹ thuật có mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin dưới 50% (phụ giúp bác sĩ chọc dò màng bụng, màng phổi, màng tim và bơm rửa bàng quang)

Thực hiện các kỹ thuật ĐD chuyên khoa Ngoại: Có 01/05 kỹ thuật thay băng vết thương có mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin cao 97% (điều dưỡng hạng III), 92% (điều dưỡng hạng IV) Kỹ thuật bó bột mức độ thực hiện thường xuyên và

tự tin dưới 25% ở hai hạng

Nội dung điều dưỡng có nhu cầu ĐTLT, chăm sóc người bệnh: (1) Tư hướng dẫn GDSK (2) Chăm sóc về tinh thần

vấn-Kỹ thuật điều dưỡng cơ bản: (1) Quy trình cấp cứu sốc phản vệ (2) Quy trình cấp cứu ngưng hô hấp (3) Quy trình cấp cứu ngưng tuần hoàn (4) Kỹ thuật truyền dịch tĩnh mạch (điều dưỡng hạng IV)

Kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội: (1) Phụ giúp BS chọc dò màng tim (2) Phụ giúp BS chọc dò màng bụng (3) Phụ giúp BS chọc dò màng phổi;

Kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại: (1) Kỹ thuật thay băng vết thương

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành Y là một ngành đặc biệt, đòi hỏi những người làm ngành y phải liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn, kỹ thuật mới nhằm đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh, sự thay đổi về mô hình bệnh tật Vì vậy, việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên ngành y tế luôn được Lãnh đạo Trung ương, Lãnh đạo ngành Y tế quan tâm chỉ đạo về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế[13]

Công tác ĐTLT đã được Bộ Y tế triển khai từ năm 1990, tuy nhiên đến 2008 mới ban hành văn bản chính thức (Thông tư số 07/2008/TT-BYT), năm 2013 đã thay thế bằng Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn về công tác đào tạo liên tục đối với nhân viên ngành y tế (cá nhân làm công tác khám chữa bệnh phải cập nhật kiến thức y khoa liên tục tối thiểu 48h/02 năm liên tục) Ngoài ra, Luật Khám, chữa bệnh cũng qui định người hành nghề y không cập nhật kiến thức y khoa trong 02 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề[4]

Diễn biến mô hình bệnh tật trong những năm gần hết sức phức tạp và đa dạng, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật y học đòi hỏi đội ngũ thầy thuốc luôn luôn được đào tạo và rèn luyện trao dồi kiến thức thường xuyên hơn Nhu cầu đào tạo (NCĐT) của CBYT là rất cần thiết bởi không phải chỉ có nhu cầu của bản thân người CBYT mà còn là nhu cầu, trách nhiệm của các nhà quản lý đang sử dụng nguồn nhân lực y tế [11] Xác định được nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế là rất cần thiết đối với cơ quan quản lý, hình thức đào tạo phù hợp với nhân viên y tế nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết thực của người học, đảm bảo chất lượng đào tạo, đồng thời tránh lãng phí về thời gian, kinh phí đào tạo[15]

Kết quả từ một số nghiên cứu trước đây cho thấy sự cần thiết phải xác định nhu cầu ĐTLT của CBYT làm cơ sở cho việc thực hiện ĐTLT phù hợp nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ này Điều này càng đặc biệt cần thiết với đội ngũ ĐD vì đây là nhân lực chiếm tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe của hệ thống y tế [13] Ở Việt Nam, ĐD đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế, cấp bậc, trình độ đã được quy định cụ thể theo Quyết định

HUPH

Trang 12

số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/4/2005 [9] Tuy nhiên trong thực tế tại các cơ sở y tế, người ĐD thường có đặc thù riêng về công việc mà họ được đảm nhận [13]

Đội ngũ điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc người bệnh,

hỗ trợ và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giúp người bệnh được chăm sóc tốt nhất trong quá trình khám, điều trị tại các cơ sở y tế, đặc biệt là điều dưỡng các khoa lâm sàng Điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng là người tiếp xúc, theo dõi, chăm sóc người bệnh từ khi người bệnh đến cơ sở y tế khám bệnh cho đến khi được xuất viện Trình độ chuyên môn của điều dưỡng thể hiện qua mức độ tự tin trong việc tiếp cận, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng trên người bệnh và tư vấn, hỗ trợ cho người bệnh trong quá trình khám, chữa bệnh[3]

Tình hình nhân lực của Bệnh viện đa khoa Kiên Giang rất ít thay đổi trong năm[1] Trong những năm qua, mặc dù bệnh viện luôn quan tâm đến việc duy trì, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo cho cán bộ viên chức nhưng công tác đào tạo của ĐD lâm sàng tại bệnh viện vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Ngoài ra, đội ngũ giảng viên, giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo chưa cao [2] Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã quy định người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải cập nhật kiến thức y khoa thường xuyên, nhưng chưa quy định rõ về hình thức cập nhật kiến thức, đơn vị nào có thể tổ chức, triển khai cũng như thời lượng cần tham gia các tập huấn, hội nghị, hội thảo cho từng năm hoặc từng hai năm[4]

Các thực trạng trên đang tồn tại ở bệnh viện, nhưng từ trước tới nay tại Bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đề cập tới mức độ thực hiện nhiệm vụ của ĐD và khảo sát xem nhu cầu thực sự của họ cần đào tạo về những lĩnh vực gì và tổ chức đào tạo như thế nào trong thời gian tới để có kế hoạch ĐTLT phù hợp?

Để trả lời các câu hỏi trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cho Điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Kiên Giang năm 2017”

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Lãnh đạo bệnh viện có bằng chứng khoa học để xây dựng nguồn nhân lực ĐD, sử dụng nhân lực hiệu quả, xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, thiết thực, đúng nhu cầu để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1) Mô tả mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin trong các hoạt động chuyên môn của Điều dƣỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Kiên Giang năm 2017

2) Mô tả nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dƣỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Kiên Giang

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số định nghĩa

1.1.1 Đào tạo liên tục (ĐTLT):

Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục được nâng cấp để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế để cung cấp dịch

vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng Nghĩa rộng hơn của ĐTLT bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế để hành nghề một cách có hiệu quả hơn Ví dụ: một khóa học về quản lý sẽ thích hợp cho các bác sĩ chịu trách nhiệm quản lý một cơ sở chăm sóc sức khỏe; một khóa học về phương pháp giảng dạy sẽ thích hợp cho các bác sĩ giảng dạy tại một trường y tế; một khóa học về lâm sàng sẽ thích hợp cho các nhân viên y tế trong việc cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người bệnh[35]

Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (1998) định nghĩa về ĐTLT trong lĩnh vực ĐD như sau: “là những hoạt động đào tạo có kế hoạch được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm và kiến thức của những điều dưỡng chuyên nghiệp để tăng cường khả năng thực hành, đào tạo, quản lý, nghiên cứu, phát triển lý thuyết nhằm mục tiêu cuối cùng là cải thiện sức khỏe cộng đồng”[35]

Theo Bộ Y tế Việt Nam (Theo Thông tư 22/2013/TT-BYT) thì ĐTLT: “là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education – CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development – CPD); thái độ thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân” [6]

HUPH

Trang 15

Cơ sở đào tạo liên tục của ngành Y tế là các bệnh viện, viện có giường bệnh;

viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm

có đào tạo nhân lực y tế, được Bộ Y tế thẩm định và công nhận theo quy định[19]

1.1.2 Nhu cầu đào tạo:

Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Nhu cầu học thường xuất phát từ mong muốn hay nguyện vọng của chính người học, nhưng đôi khi người học không tự mình nhận thấy nhu cầu đó mà có thể do cơ quan, tổ chức đào tạo hay đơn vị sử dụng lao động tư vấn, định hướng Đó chính là những kiến thức,

kỹ năng, phương pháp mà người học cần đào tạo để phục vụ cho công việc, cuộc sống của cá nhân[15]

Hiện nay NCĐT không phải chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người CBYT mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân

sử dụng nguồn nhân lực Nếu một đơn vị chỉ trông chờ vào trình độ chuyên môn hiện có của đội ngũ nhân viên mà không có kế hoạch và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng liên tục nguồn nhân lực của mình thì khó có thể phát hiển được một đơn vị, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân [13]

Thực hiện nhiều phương pháp và cách tiếp cận khác nhau để xác định NCĐT Tuy nhiên các phương pháp đều có một mục đích chung là nhằm đưa ra được những chênh lệch giữa những gì hiện có và những gì cần có cho hiện tại và tương lai Có thể tổng hợp quy trình đánh giá NCĐT theo các bước chính sau đây: (1) Bước 1: Thu thập các thông tin về nhu cầu (ý kiến của các chuyên gia tư vấn, thông qua điều tra bằng bộ câu hỏi, PVS, TLN ); (2) Bước 2: Phân tích số liệu (phân tích những khác biệt, chênh lệch giữa những kiến thức, kỹ năng mong muốn

và những kiến thức, kỹ năng mà những cán bộ thực hành đang có); (3) Bước 3: Chỉ

ra những vấn đề trong triển khai/thực hiện; (4) Bước 4: Đưa ra những định hướng

và giải pháp khắc phục (những cải tiến trong nội dung, phương pháp đào tạo); (5)

HUPH

Trang 16

Bước 5: Xác định cách tốt nhất để giải quyết vấn đề, trong đó cân nhắc đến cả các yếu tố về chi phí hiệu quả [36]

1.1.3 Điều dưỡng

Là một nghề có lịch sử lâu đời gắn gắn với sự phát triển xã hội loài người, là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe và các khả năng phòng bệnh, xoa dịu nỗi đau qua dự phòng, chẩn đoán và điều trị đáp ứng nhu cầu của con người, tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội Ngày nay điều dưỡng được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và cả loại hình nhân lực khác trong hệ thống y

tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội

Theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm

2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế [7]

Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng theo Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/11/2011 về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện[23]

Theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y tế quy định chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam gồm 03 lĩnh vực (1) năng lực thực hành căm sóc; (2) năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp; (3) năng lực thực hành theo Pháp luật đạo đức nghề nghiệp[3]

1.1.4 Lý thuyết khoảng cách trong đánh giá nhu cầu đào tạo[38]

Phương pháp phân tích khoảng cách do Beckhard và Harris(1987) đề xuất Phương pháp này dựa vào quan điểm của tác giả cho rằng “điều hiển nhiên” thay đổi cần 3 điều kiện: (1)Tình trạng tương lai – Mong muốn của cộng đồng, tổ chức/cơ quan đạt được trong tương lai; (2) Tình trạng hiện tại – Tình trạng của cộng đồng, tổ chức/cơ quan trong thời điểm hiện tại và (3) Tình trạng quá độ - Các điều kiện và hoạt động mà cộng đồng, tổ chức/cơ quan cần phải trải qua để chuyển từ tình trạng hiện tại sang tương lai

HUPH

Trang 17

Mô hình phân tích khoảng cách bắt đầu bằng câu hỏi “tại sao thay đổi?”, xác

định nhu cầu thay đổi và mức độ lựa chọn cho việc thay đổi Có nhu cầu thay đổi nếu như một hay nhiều điều kiện cơ bản của tổ chức/cơ quan được mô tả là có chất lượng kém Điều quan trọng là cần xác định cụ thể điều kiện nào cần thay đổi bằng

cách đặt câu hỏi: “điều gì cần phải thay đổi hoặc cần phải tốt hơn?” Thay đổi có

thể bắt nguồn từ môi trường bên ngoài hoặc bên trong tổ chức/cơ quan Trong

trường hợp “bắt đầu từ môi trường bên ngoài” lãnh đạo của tổ chức/cơ quan có ít

cơ hội lựa chọn có thay đổi hay không Thay vào đó, họ đi thẳng vào vấn đề “thay

đổi như thế nào” Trong trường hợp “bắt nguồn từ bên trong của tổ chức/cơ quan”,

có thể có cơ hội để xem xét có xúc tiến thay đổi hay không và làm thế nào để quản

lý được sự thay đổi

Xác định tình trạng tương lai của tổ chức/cơ quan nghĩa là xác định Viễn

cảnh - Sứ mệnh - Mục đích - Mục tiêu của tổ chức/cơ quan

Mô tả tình trạng hiện tại là mô tả về hệ thống của tổ chức/cơ quan chính

thức và không chính thức và các mối quan hệ với môi trường tại thời điểm hiện tại

và trong tương lai gần

Giai đoạn “đi từ đây đến kia” đòi hỏi sự chuẩn bị một kế hoạch hành động để

thay đổi Hai vấn đề chính của giai đoạn này là:

1 Xác định những việc và hoạt động chính cho giai đoạn quá độ (kế hoạch hoạt động)

2 Xác định cấu trúc và cơ cấu cần thiết để hoàn thành những công việc trong

kế hoạch

Quản lý trong giai đoạn quá độ là quản lý việc thực hiện kế hoạch hành

động Lý thuyết khoảng cách có thể minh họa một cách đơn giản với những phần cơ bản sau:

Khoảng cách

Hình 1.1: Mô hình lý thuyết trong khoảng cách

Hiện trạng Lý tưởng

HUPH

Trang 18

Trong sơ đồ trên, Lý tưởng là hình ảnh người lao động làm việc tốt nhất ở

mỗi vị trí công việc của mình Hình ảnh lý tưởng thể hiện người lao động có đủ các

kỹ năng, kiến thức và phương pháp tiên tiến nhất, phù hợp nhất, để làm việc với hiệu quả cao nhất có thể Họ có động cơ, thái độ làm việc tích cực, hợp tác với mọi người, vì lợi ích chung Họ có khả năng tự phân tích công việc, tự học để liên tục cải tiến phương pháp, nội dung và môi trường làm việc Hình ảnh lý tưởng là người hoàn thành những công việc của mình như mong đợi và hơn mong đợi, đáp ứng nhu cầu của đối tượng phục vụ

Hiện trạng là hình ảnh con người đang có Trong những kỹ năng, kiến thức,

thái độ làm việc hiện tại của họ, có những điều tốt, hiệu quả như mong đợi, và có những điều chưa được như mong đợi và chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng phục vụ

Khoảng cách là những điểm cần thay đổi giữa hiện trạng với mong muốn/lý

tưởng So sánh giữa tình hình thực tại và mong muốn, chúng ta sẽ thấy cần tăng cường thêm một số kỹ năng, kiến thức và thái độ phù hợp; cũng cần loại bỏ hay thay đổi một số kỹ năng, kiến thức và thái độ không phù hợp Những điều cần thêm và cần bớt, đó chính là khoảng cách Như vậy, việc thêm những điểm phù hợp, hay bớt

những điểm không còn phù hợp đều là công việc “lắp đầy các khoảng cách”

1.1.5 Đánh giá nhu cầu đào tạo

Đánh giá nhu cầu đào tạo (Training Need Assesment - TNA) là phương pháp xác định nếu có nhu cầu đào tạo và tồn tại những gì đào tạo là cần thiết để lấp đầy khoảng trống Đánh giá NCĐT tìm cách xác định chính xác mức độ của tình hình hiện nay trong các cuộc điều tra mục tiêu, phỏng vấn, quan sát, số liệu thứ cấp hoặc hội thảo Khoảng cách giữa các trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn có thể chỉ ra những vấn đề mà lần lượt có thể được dịch thành một nhu cầu đào tạo[22] Hay “Đánh giá nhu cầu đào tạo” là quá trình mà bạn phải cố gắng hiểu rõ về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học Nó giúp đánh giá sự chênh lệch giữa các kĩ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kĩ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải

HUPH

Trang 19

có[15]

1.2 Nhiệm vụ, tiêu chuẩn chuyên môn của ĐD theo chức danh nghề nghiệp

Theo Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ quy định chức danh nghề nghiệp của ĐD như sau[7]:

1.2.1 Điều dưỡng hạng III – Mã số: V.08.05.12

1.2.1.1 Nhiệm vụ

Khám, nhận định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc người bệnh Theo dõi, phát hiện, ra quyết định, xử trí về chăm sóc và báo cáo kịp thời những diễn biến bất thường của NB cho bác sĩ điều trị Thực hiện kỹ thuật ĐD

cơ bản, kỹ thuật ĐD chuyên sâu, phức tạp, kỹ thuật PHCN đối với NB

Nhận định nhu cầu dinh dưỡng, tham gia việc ghi chép hồ sơ theo quy định, thực hiện quy trình chăm sóc NB Thực hiện kỹ thuật sơ cứu, cấp cứu, xử trí trong những tình huống sốc phản vệ, cấp cứu ngưng tim, ngưng thở

Hướng dẫn NB về chăm sóc và phòng bệnh, đánh giá công tác truyền thông,

tư vấn, GDSK Thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình mục tiêu quốc gia Thực hiện kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng tại nhà

Phối hợp với bác sĩ điều trị phân cấp chăm sóc và tổ chức thực hiện chăm sóc

NB Hỗ trợ, giám sát và chịu trách nhiệm về chuyên môn đối với việc thực hiện nhiệm vụ của ĐD cấp thấp hơn Đào tạo và hướng dẫn thực hành cho hoc sinh, sinh viên và viên chức điều dưỡng

1.2.1.2 Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng

Tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành điều dưỡng; có trình độ ngoại ngữ bậc 2 trở lên; có trình độ tin học đạt chuẩn

1.2.1.3 Tiêu chuẩn năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Hiểu biết về sức khỏe, bệnh tật của cá nhân, gia đình và cộng đồng; thực hiện

kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, sơ cứu, cấp cứu có hiệu quả; có kỹ năng tư vấn, giáo dục sức khỏe; có kỹ năng đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu khoa học

1.2.2 Điều dưỡng hạng IV – Mã số: V.08.05.13

1.2.2.1 Nhiệm vụ

Khám, nhận định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc

HUPH

Trang 20

người bệnh Theo dõi, phát hiện, ra quyết định, xử trí về chăm sóc và báo cáo kịp thời những diễn biến bất thường của NB Thực hiện kỹ thuật ĐD cơ bản cho NB theo chỉ định và sự phân công

Nhận định nhu cầu dinh dưỡng, tham gia việc ghi chép hồ sơ theo quy định, thực hiện quy trình chăm sóc NB Thực hiện, tham gia thực hiện kỹ thuật sơ cứu, cấp cứu

Hướng dẫn NB về chăm sóc và phòng bệnh, đánh giá công tác truyền thông,

tư vấn, GDSK Tham gia chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình mục tiêu quốc gia Thực hiện kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng tại nhà như tiêm, chăm sóc vết thương

Tham gia phân cấp chăm sóc NB, chuẩn bị và hỗ trợ NB chuyển khoa Quản

lý hồ sơ bệnh án, buồng bệnh, NB, thuốc Hướng dẫn thực hành cho học sinh, sinh viên và viên chức ĐD trong phạm vi được phân công Tham gia, thực hiện, áp dụng sáng kiến, cải tiến chất lượng trong chăm sóc NB

1.2.2.2 Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng

Tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành điều dưỡng; có trình độ ngoại ngữ bậc 1 trở lên; có trình độ tin học đạt chuẩn

1.2.2.3 Tiêu chuẩn năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Hiểu biết về sức khỏe, bệnh tật của cá nhân, gia đình và cộng đồng; thực hiện được kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, sơ cứu, cấp cứu; có kỹ năng giáo dục sức khỏe và giao tiếp hiệu quả với người bệnh và cộng đồng

1.3 Công tác đào tạo liên tục của cán bộ y tế

1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên Thế giới

Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới (World Federation for Medical Education-WFME) với tư cách là tổ chức quốc tế đại diện cho tất cả các cơ sở đào tạo y học đã khởi xướng các phương pháp học tập mới, các công cụ hướng dẫn mới

và đổi mới quản lý giáo dục y học Năm 1988, với sự phối hợp của Tổ chức y tế thế giới (WHO), WFME đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học với mục tiêu chung là cung cấp được một số chính sách cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học, trong phạm vi toàn cầu để áp dụng cho tất cả các nước trên thế

HUPH

Trang 21

giới Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập bao gồm cả ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học là: Giáo dục y học cơ bản, Giáo dục y học sau đại học và ĐTLT/Phát triển nghề nghiệp liên tục Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa ra Hội nghị toàn cầu về giáo dục y học tại Cophenhaghen (2003) và đã được chính thức thông qua, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và sử dụng tại nhiều nước trên Thế giới[34]

Một số quốc gia phát triển khác thuộc Châu Á Thái Bình Dương như tại New Zealand, tham gia chương trình đào tạo y khoa liên tục (Continuing medical education- CME) và phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing professional delopement – CPD) đã trở thành bắt buộc để giữ nghề đăng ký Các CBYT được đánh giá không đạt yêu cầu về đào tạo y khoa liên tục (Continuing medical education – CME) và phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing professional delopement – CPD) có thể dẫn đến bị đình chỉ hành nghề, trong trường hợp này CBYT được đăng ký quản lý bởi một tổ chức chung và do đó sẽ được yêu cầu làm việc dưới sự giám sát của tổ chức này để được tái cấp chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực y tế[34]

ĐTLT là phương pháp học tập rất phát triển trên thế giới đặc biệt trong ngành

Y tế, để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người CBYT phải được cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức lý thuyết và tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý [34]

1.3.2 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam

Nghị quyết 46/NQ-TW của Bộ chính trị (2005) đã chỉ rõ “Nghề Y là một

nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đây là

quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, nêu bật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực

y tế Để khuyến khích, thu hút nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, Chính phủ, Bộ Y

tế đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến việc đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ

y tế như Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính

phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TƯ”, Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày

30/7/2009 của Chính phủ qui định “Về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế

công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”; Quyết định số

HUPH

Trang 22

2992/QĐ-BYT ngày 17/07/2015 của Bộ Y tế phê duyệt “Kế hoạch phát triển nhân

lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020”; Quyết định số

816/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt “Quy hoạch phát triển nhân lực y tế

giai đoạn 2012-2020”

Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT hướng dẫn công tác ĐTLT đối với CBYT Thông tư này quy định tất cả CBYT đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Và Thông tư số 22/2013/TT-BYT hướng dẫn về công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế

Tuy nhiên, việc triển khai ĐTLT nhân lực y tế theo Luật khám bệnh, chữa bệnh và Thông tư về ĐTLT còn khá chậm, nhiều đơn vị y tế vẫn còn thụ động, trông chờ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậy việc đào tạo liên tục CBYT còn chưa đáp ứng được như mong muốn Đến nay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống ĐTLT nhưng chưa hoàn chỉnh Để phù hợp với Luật khám bệnh, chữa bệnh

và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, năm 2013 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT Bộ Y tế cũng xây dựng và ban hành Chiến lược về ĐTLT trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2030, hướng dẫn các Sở Y tế, các cơ sở y tế từ Trung ương đến địa phương trong việc tổ chức triển khai công tác ĐTLT có chất lượng ĐTLT là nhằm cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới cho CBYT, đảm bảo để họ không bị tụt hậu so với những tiến bộ của y học và cũng đồng thời đảm bảo các kiến thức, kỹ năng đã học trước đây không bị rơi rụng, từ đó đảm bảo có được một đội ngũ CBYT có chất lượng tốt phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân[12]

1.3.3 Hệ thống cơ sở ĐTLT cho CBYT tại Việt Nam

Theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT và các văn bản hướng dẫn khác, hệ thống cơ sở ĐTLT hiện có đã bao gồm: các trường Y Dược, các Viện, Bệnh viện Trung ương có nhiệm vụ đào tạo, chỉ đạo tuyến và các cơ sở y tế thuộc tỉnh (bệnh viện, trung tâm) có đơn vị ĐTLT dưới sự quản lý của Sở Y tế

Các trường Y Dược: bao gồm các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y tế, là

các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp đã được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định

HUPH

Trang 23

thành lập (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, UBND các tỉnh), được Bộ

Y tế và Bộ Giáo dục và đào tạo giao tuyển sinh, đào tạo chính quy các loại hình nhân lực y tế Tất cả các trường đã được Bộ Y tế giao nhiệm vụ ĐTLT cán bộ y tế phù hợp với chương trình, trình độ đào tạo chính quy Đến nay, Bộ Y tế đã công nhận trên 100 cơ sở ĐTLT cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Y Dược trong cả nước [19]

Các Viện nghiên cứu và bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế: Các đơn vị này tuy

không phải là đơn vị đào tạo chính quy nhưng đều là đơn vị phối họp đào tạo, là cơ

sở thực hành của các trường Y Dược Đây là môi trường đào tạo khá tốt, với đội ngũ CBYT, cán bộ nghiên cứu nhiều kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại lại gắn bó mật thiết với nhiệm vụ thực tiễn của ngành Trên cơ sở nhiệm vụ được giao cho từng đơn vị, Bộ Y tế đã rà soát và cho phép củng cố các Trung tâm đào tạo/Phòng đào tạo

ở các đơn vị này để đẩy mạnh hơn nữa công tác ĐTLT, đáp ứng nhu cầu học tập Đến nay đã có trên 50 viện, bệnh viện trung ương thành lập các đơn vị ĐTLT, được cấp mã số đào tạo[19]

Sở Y tế: Các cơ sở đào tạo ở đây thường đặt tại các bệnh viện đa khoa, chuyên

khoa tỉnh, các trung tâm y tế như: dân số, sức khỏe sinh sản, y tế dự phòng Đến nay, đã có hơn 50% số Sở Y tế được Bộ Y tế công nhận là cơ sở ĐTLT và được cấp

mã số đào tạo[19]

1.4 Các nghiên cứu về xác định nhu cầu đào tạo liên tục cả điều dưỡng

Trong phần này chúng tôi sẽ tập trung vào công tác ĐTLT của điều dưỡng tại các cơ sở y tế Mục tiêu là tổng hợp các nghiên cứu gần đây về thực trạng ĐTLT, mức độ thực hành, tự tin khi thực hiện công việc và nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng, bao gồm các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu tại Việt Nam

1.4.1 Một số nghiên cứu về ĐTLT trên thế giới

Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng đều nhằm nâng cao chất lượng công việc, kỹ năng nghề nghiệp, đảm bảo người bệnh được chăm sóc tốt nhất và đảm bảo đủ điều kiện hành nghề theo qui định Nghiên cứu của tác giả Lyn Dyson cho thấy điều dưỡng có nhu cầu ĐTLT về các nội dung như[35]: hoạt động chăm sóc bệnh nhân trực tiếp, hoạt động làm việc nhóm, kỹ năng đánh giá về yếu tố liên quan đến lối

HUPH

Trang 24

sống và sức khỏe gia đình, thiết lập mối quan hệ với bệnh nhân hoặc cập nhật kiến thức mới, các thủ tục, nâng cao kỹ năng thực hành để duy trì chuyên môn nghiệp vụ

và được cấp chứng chỉ đào tạo (bằng cấp học thuật), và mong muốn thời gian ĐTLT trung bình là 5 ngày, mỗi hoạt động ĐTLT nên diễn ra trong khoảng 02 giờ [36]

Kết quả một số nghiên cứu về thực trạng ĐTLT của điều dưỡng trên thế giới cho thấy rằng, nhìn chung điều dưỡng các nước đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của bản thân (trên 90,0%),

vì vậy số điều dưỡng tham gia ĐTLT trong vòng 12 tháng trước khi nghiên cứu tiến hành chiếm tỷ lệ cao (từ 80% đến 97,3%) Nghiên cứu cắt ngang trên 2.727 điều dưỡng tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc của tác giả Chunping Ni và cộng sự thực hiện năm 2014 có tỷ lệ điều dưỡng nhận biết được ý nghĩa, vai trò quan trọng của ĐTLT

là 92,2% và đã có 97,3% điều dưỡng tham gia ĐTLT[36] Nghiên cứu của tác giả Mei Chan Chong và cộng sự tiến hành trên 792 điều dưỡng tại các bệnh viện công

và phòng khám ở Malaysia năm 2013 với phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn, kết quả cũng cho thấy 80,0% điều dưỡng tham gia ĐTLT, hình thức ĐTLT chủ yếu là tham gia hội thảo (43,6%)[37]

Kết quả các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chương trình ĐTLT cần điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của người học, mô hình bệnh tật cũng như tổ chức sử dụng lao động Nghiên cứu của tác giả Lyn Dyson và cộng

sự tiến hành năm 2009 trên 563 điều dưỡng viên và 101 điều dưỡng viên chính/cao cấp, tại bộ phận chăm sóc bệnh cấp tính của 02 bệnh viện khu vực thành thị ở New Zealand cho rằng công tác tổ chức, chương trình ĐTLT cần điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với nhu cầu của các nhóm điều dưỡng khác nhau, đồng thời phải phù hợp với nhu cầu thực tế[35], hay trong nghiên cứu của tác giả Mei Chan Chong và cộng

sự cũng khuyến cáo nhà hoạch định chính sách nên lập kế hoạch để ĐTLT đáp ứng được nhu cầu của điều dưỡng chứ không đơn giản là dựa vào nhu cầu của tổ chức[37]

1.4.2 Các nghiên cứu về nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hiện có một số nghiên cứu về công tác ĐTLT của điều dưỡng tại các cơ sở y tế tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Các tác giả

HUPH

Trang 25

đều sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả hoặc phân tích, kết hợp phương pháp định tính với phương pháp định lượng, đối tượng điều dưỡng được phát vấn bằng bộ câu hỏi tự điền, một số nghiên cứu có tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung khi thu thập thông tin Nhìn chung các nghiên cứu về công tác ĐTLT của điều dưỡng đã triển khai đều có phạm vi nhỏ, chủ yếu nghiên cứu tại một đơn vị hoặc nghiên cứu tại trạm y tế Nghiên cứu tiến hành tại trạm y tế xã, phường, thị trấn sử dụng bộ công cụ (bảng hỏi) chưa sát với công việc thực tế của điều dưỡng và danh mục kỹ thuật được thực hiện tại trạm y tế

Kết quả nghiên cứu về mức độ thực hành, mức độ tự tin, năng lực của điều dưỡng

Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy: Kỹ thuật tiêm, truyền tĩnh mạch có mức độ thực hành thường xuyên, mức độ tự tin trên 70,0% như nghiên cứu đánh giá thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại Bệnh viện

C Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng năm 2016 [18], hay nghiên cứu đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ điều dưỡng 14 trạm y tế phường, quận

Ba Đình, Hà Nội năm 2010 của tác giả Nguyễn Việt Cường[17] Kỹ thuật tiêm bắp

có thực hành thường xuyên, mức độ tự tin trên 65,0% như nghiên của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng[18], hoặc trên 80,0% như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Cường[17] Các kỹ thuật như chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc phục hồi chức năng, tiêm trong da, các kỹ thuật phụ giúp bác sỹ chọc dò, cấp cứu sốc phản vệ, cho bệnh nhân ăn qua sonde có mức độ sử dụng và tự tin thấp dưới 50% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng[18] Mức độ thực hành thường xuyên, mức

độ tự tin của chăm sóc PHCN, tư vấn GDSK ở điều dưỡng tuyến trung ương tại Bệnh viện Phổi Trung ương dưới 50,0% theo kết quả nghiên cứu đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2015-2017 của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu[26], còn ở nhân viên trạm y tế tỷ lệ này trên 70,0% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Cường[17], nghiên cứu về thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016-2020 của tác giả Nguyễn Đức Trường[27] Kỹ thuật bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực có mức độ thực

HUPH

Trang 26

hành dưới 50,0%, mức độ tự tin vẫn trên 60,0%; kỹ thuật phụ giúp bác sỹ (rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản, chọc dò màng tim) có mức độ thực hành thường xuyên, mức độ tự tin dưới 60% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu[26], dưới 50,0% theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hiếu năm 2010 đánh giá của cựu sinh viên về chương trình đào tạo cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học điều dưỡng Nam Định[20] Các nội dung, kỹ thuật như: Chăm sóc vệ sinh, đưa chất dinh dưỡng vào cơ thể, thực hiện chế độ ăn bệnh lý qua sonde có mức độ sử dụng dưới 50%, mức độ tự tin từ 68% đến 80,8% theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hiếu[20] và tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu[26]

Một số nghiên cứu tiến hành đánh giá về năng lực thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng, thực chất vẫn là đánh giá về mức độ thực hành, mức độ tự tin của điều dưỡng đối với công tác chăm sóc người bệnh, các nhiệm vụ khác theo qui định của

Bộ Y tế như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn thực hiện năm 2014 trên 261 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh[24], nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Quang năm 2014 trên 292 điều dưỡng trung cấp tại khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp[16] Tỷ lệ đạt chuẩn năng lực dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả là 89,7% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn[24], trên 80,0% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Quang[16] Tỷ lệ đạt chuẩn năng lực về tiến hành kỹ thuật chăm sóc đúng qui trình là 87,4%, giao tiếp hiệu quả với người bệnh và người nhà bệnh nhân là 68,2% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn[24] Xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà bệnh nhân có tỷ đạt chuẩn năng lực là 65,9% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Tuấn[24], chỉ đạt 30,0% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Quang[16] Năng lực thực hành về cấp cứu ban đầu đạt trên 80% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Quang[16]

Đặc biệt nghiên cứu “Tự đánh giá năng lực thực hành chăm sóc của điều

dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn năm

2014[24] và nghiên cứu “Thực trạng năng lực điều dưỡng trung cấp và một số yếu

tố liên quan tại các khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp” của tác

HUPH

Trang 27

giả Nguyễn Văn Quang năm 2014 [16] cho thấy có mối liên quan giữa năng lực thực hành với việc được tham gia các khóa ĐTLT của điều dưỡng

Kết quả nghiên cứu về nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng

Các nội dung, kỹ thuật điều dưỡng có nhu cầu ĐTLT đều là những kỹ thuật cần sử dụng nhiều trong công việc hoặc kỹ thuật chuyên sâu, phức tạp hoặc các kỹ thuật có mức độ tự tin khi thực hiện thấp Nhu cầu ĐTLT về tư vấn, giáo dục sức khỏe (70,0% - 80,0%), chăm sóc phục hồi chức năng (57,0% - 85,0%), công tác kiểm soát nhiễm khuẩn (65,8% - 90,5%), kỹ thuật phụ giúp bác sỹ (chọc dò dịch não tủy, dịch màng phổi, dịch màng tim, đặt nội khí quản) là 60,0% - 95,0% theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng[18], Nguyễn Thị Hoài Thu[26]

Thời gian, địa điểm có nhu cầu ĐTLT có sự khác nhau giữa các nghiên cứu, các tuyến Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng tại Bệnh viện C Thái Nguyên[18] cho thấy nhu cầu về thời gian, địa điểm ĐTLT tùy thuộc vào nội dung,

kỹ thuật có nhu cầu ĐTLT Thời gian mong muốn ĐTLT đối với các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản (tiêm truyền) là 1-3 ngày (50,0% - 65,0%), nội dung chăm sóc người bệnh (tư vấn, giáo dục sức khỏe; công tác kiểm soát nhiễm khuẩn) là 3- 5 ngày (60,0%- 85,0%), mong muốn được ĐTLT tại đơn vị trên 50,0% Các kỹ thuật phụ giúp bác sỹ: Nhu cầu thời gian ĐTLT là trên 05 ngày (chiếm trên 90,0%), địa điểm mong muốn ĐTLT là tại trường y tế tỉnh (chiếm trên 50,0%) Trong khi đó nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu tiến hành năm 2015 tại bệnh viện Phổi Trung ương cho thấy: Các nội dung, kỹ thuật điều dưỡng nhu cầu ĐTLT với thời gian chủ yếu là 2-5 ngày (72,3%), địa điểm ĐTLT là tại bệnh viện 94,6% và có 50,9% điều dưỡng chấp nhận tự bỏ kinh phí để tham gia các khóa ĐTLT có nội dung chuyên sâu, phù hợp với thực tế công việc[26]

1.5 Nhu cầu đào tạo liên tục

1.5.1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế

Hầu hết các CBYT đều đã được đào tạo bài bản tại các trường chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân, họ được cấp chứng nhận về chuyên môn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên trong quá trình hoạt động nghề nghiệp

do tính chất công việc và diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp, cán bộ y tế

HUPH

Trang 28

(CBYT) luôn có nhu cầu đào tạo để củng cố kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp

vụ nhằm đảm bảo chất lượng công việc, thăng tiến trong công việc và đáp ứng được

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nếu không cập nhật thường xuyên CBYT sẽ không đáp ứng được nhiệm vụ và bị tụt lùi so với sự phát triển của công nghệ, khoa học kỹ thuật[15, 28]

Nhu cầu đào tạo không đơn thuần là nhu cầu của cá nhân mà còn là nhu cầu,

là trách nhiệm của tổ chức, của cơ quan sử dụng nguồn nhân lực Một tổ chức, một

cơ quan có phát triển được hay không chủ yếu là chất lượng nguồn nhân lực, nếu nguồn nhân lực yếu kém sẽ không đáp ứng được nhu cầu của xã hội và sẽ tự bị đào thải Đối với ngành y tế, nhu cầu đào tạo của CBYT không chỉ đơn giản là nhu cầu của cá nhân mà còn là nhu cầu chung của cơ sở y tế, của ngành Y tế Do đó, các cơ

sở y tế đều xây dựng kế hoạch, chiến lược đào tạo theo năm, theo giai đoạn, theo từng lĩnh vực chuyên môn, từng đối tượng, nhằm đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chủ động trong quá trình phòng, chống bệnh tật [15, 28, 22]

Xác định nhu cầu ĐTLT nhằm phát hiện các vấn đề, đối tượng CBYT, nội dung, kỹ thuật cần được đào tạo và có thể điều chỉnh chương trình, công tác tổ chức

đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực tế [15, 22]

1.5.2 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng

Trên thế giới, điều dưỡng được xếp là một ngành riêng biệt, ngang hàng với các ngành nghề khác, có nhiều trường đào tạo điều dưỡng với các trình độ như trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Công tác đào tạo điều dưỡng tại các nước phát triển và các nước tiên tiến đều có hệ thống đánh giá qui chuẩn[34]

Công tác ĐTLT đối với điều dưỡng tại Việt Nam chưa được chú trọng, hầu hết các điều dưỡng chủ yếu tham gia các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nhằm đảm bảo về chế độ tăng bậc lương, thăng tiến nghề nghiệp Chương trình, nội dung đào tạo của các cơ sở ĐTLT chủ yếu là dành cho đối tượng bác sỹ, số lượng chương trình đào tạo cho điều dưỡng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực

tế Một số cơ sở đào tạo liên tục đã bắt đầu triển khai rộng rãi công tác ĐTLT đối với điều dưỡng như Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên, Trường Đại học Y- Dược Huế [29, 30, 31]

HUPH

Trang 29

Hiện nay, trình độ khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhiều tiến bộ khoa học đã được áp dụng vào công tác chăm sóc, điều trị người bệnh, nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc người bệnh, nhiều bệnh nhân đã được cứu sống, khỏe mạnh Điều dưỡng cũng là một đối tượng sử dụng nhiều kỹ thuật chuyên môn trong quá trình phụ giúp bác sỹ thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật, do đó nhu cầu được ĐTLT để cập nhật kiến thức mới, kỹ năng sử dụng hệ thống máy móc phục vụ cho quá trình chăm sóc, điều trị bệnh nhân là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, đồng thời dần tiến tới đạt chuẩn về năng lực điều dưỡng theo qui định của Bộ Y tế[3]

Theo chủ trương của Bộ Y tế, đến năm 2020 các bệnh viện công lập sẽ chuyển sang tự chủ hoàn toàn, đó là một sự chuyển biến rất lớn nhằm gắn trách nhiệm tự phát triển đối với các bệnh viện, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở

y tế tư nhân và nhà nước Cơ sở y tế có tồn tại và phát triển được là nhờ vào lực lượng bác sỹ có trình độ chuyên môn sâu, tốt và đội ngũ điều dưỡng lành nghề, nhiệt tình chu đáo Vì vậy, nhu cầu ĐTLT đối với điều dưỡng nhằm củng cố kỹ năng lâm sàng, kiến thức để phù hợp với sự chuyển biến của ngành y tế là rất cần thiết và quan trọng[12]

1.6 Giới thiệu về bệnh viện Đa khoa Kiên Giang

1.6.1 Thông tin chung về bệnh viện

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang là bệnh viện hạng I, nằm ở vị trí trung

tâm Tp Rạch Giá có nhiều thuận lợi cho nhân dân tiếp cận bằng các loại phương tiện đường sông, đường biển và đường bộ Tổng diện tích của Bệnh viện hiện nay 31.000 m2, với công suất sử dụng giường bệnh 1500 giường kế hoạch, hàng năm đều được đầu tư xây dựng và nâng cấp đến nay đã có 14/38 khoa phòng được sửa chữa và xây dựng mới[1]

Tình hình nhân lực của Bệnh viện đa khoa Kiên Giang rất ít thay đổi trong năm Tại thời điểm 31/12/2016 tổng số CB-CNV có 1.975, trong đó có 1.596 trong biên chế và 379 hợp đồng Trong đó tổng số Điều dưỡng: 639 và 34 Sơ học điều dưỡng[1]

HUPH

Trang 30

Trong thời gian qua, Bệnh viện đa khoa Kiên Giang đã có nhiều nổ lực để hoàn thành các mục tiêu đề ra Lãnh đạo bệnh viện cùng toàn thể nhân viên đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, bên cạnh đó lãnh đạo bệnh viện cũng đôn đốc phòng chỉ đạo tuyến, phòng điều dưỡng thường xuyên triển khai tốt các lớp ĐTLT cho ĐD, đặc biệt là điều dưỡng lâm sàng Tuy nhiên hoạt động tổ chức các lớp còn chưa thường xuyên và liên tục Nội dung còn chưa phong phú, số lượng ĐD lâm sàng tham gia ít, một số tham gia chưa đầy đủ Nguyên nhân do còn tập trung vào công tác chăm sóc người bệnh tại viện, quản lý hồ sơ bệnh án, áp lực công việc[2]

* Hệ thống tổ chức

Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang là Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở y tế Kiên Giang với quy mô 1.500 giường bệnh trong đó giường thực kê khoảng 1.900 giường

Cơ cấu tổ chức các phòng, khoa chức năng: gồm 1 Ban giám đốc, 9 phòng chức năng và 34 khoa lâm sàng và cận lâm sàng

1.6.2 Công tác ĐTLT cho Điều dưỡng tại Bệnh viện trong năm 2015-2016

Trong năm 2015-2016, điều dưỡng đều được tham gia đào tạo đạt tỷ lệ là 80,3% và chỉ có 19,7% là không tham gia đào tạo Các nội dung được đào tạo cho đối tượng điều dưỡng chưa thật sự phong phú về nội dung, chưa tập trung nhiều vào công tác điều dưỡng Cụ thể, nội dung ĐTLT về tiêm an toàn và kiểm soát nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ còn thấp (29% và 24,9%), thấp nhất là tĩnh mạch trị liệu và xử lý

số liệu thống kê y học (4,7% và 3,2%) Thời gian tham gia trong năm 2015 có 200 lượt điều dưỡng tham gia chiếm tỷ lệ 33,4% và trong năm 2016 có 399 lượt chiếm

tỷ lệ 66,6% Độ dài khóa học thường được tổ chức trong thời gian 01 tuần đạt tỷ lệ cao 99,8% Về cơ sở đào tạo, hầu hết điều dưỡng được đào tạo tại bệnh viện chiếm

tỷ lệ 91,8%, cũng có 3,5% được cử đi đào tạo tại Đại học Y dược và bệnh viện Chợ Rẫy Về hình thức đào tạo đa số các đối tượng điều dưỡng đều được tào tạo theo hình thức tập trung tại bệnh viện (chiếm tỷ lệ là 100%) Các đối tượng điều dưỡng tham gia đào tạo không phải đóng học phí chiếm tỷ lệ 96,5% và đối tượng điều dưỡng tham gia khóa đào tạo đều được cấp chứng chỉ khi kết thúc khóa học chiếm

HUPH

Trang 31

tỷ lệ 99,8% Mặc dù đã thực hiện chức năng đào tạo cho NVYT theo Thông tư qui định, tuy nhiên hiệu quả của các lớp đào tạo cho ĐD chưa cao thể hiện: Nội dung đào tạo của các lớp chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực, lặp đi lặp lại trong nhiều năm; hình thức đào tạo mang nặng tính truyền thống, số học viên trong một lớp quá đông, ngồi học tập trung nghe giảng viên giảng lý thuyết là chính; chưa chú trọng đến giảng dạy thực hành lâm sàng và chất lượng đào tạo gây tâm lý nhàm chán cho học viên và chủ yếu đối phó điểm danh Chương trình đào tạo chủ yếu là triển khai đào tạo các nội dung theo yêu cầu được chỉ đạo từ trên xuống chứ chưa quan tâm đến nguyện vọng và nhu cầu của học viên Từ thực tế trên, công tác ĐTLT tại bệnh viện nói chung và cho đối tượng ĐD lâm sàng nói riêng cần được nghiên cứu, khảo sát xem nhu cầu thực sự của họ cần đào tạo về những lĩnh vực gì để có kế hoạch ĐTLT cho phù hợp, hiệu quả

Dựa trên tổng quan các tài liệu, công tác tổ chức, quản lý công tác ĐTLT, đối tượng ĐTLT (điều dưỡng), cũng như kết quả khảo sát nhanh về thực trạng, nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện và qui định về chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với điều dưỡng Tôi tiến hành xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này như sau:

HUPH

Trang 32

- Chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dƣỡng

- Kỳ vọng

Cách thức tổ chức

- Tuyến trên

- Tại bệnh viện

- Cấp chứng chỉ khi đƣợc đào tạo

Nội dung ĐTLT

- Kiến thức

- Kỹ năng

- Thái độ

- Kỹ thuật của điều dƣỡng

Thời gian

- Ngắn hạn

- Dài hạn

Nhu cầu ĐTLT

HUPH

Trang 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Số liệu thứ cấp: báo cáo hoạt động ĐTLT của bệnh viện trong năm 2015,

2016

- Điều dưỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại

Tiêu chuẩn lựa chọn: Điều dưỡng đã có biên chế, hợp đồng dài hạn (cần phải

2 năm trở lên)

Tiêu chuẩn loại trừ: Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu, những

đối tượng đi học, nghỉ thai sản, đi công tác, nghỉ ốm trong thời gian nghiên cứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính

- Giám đốc/phó giám đốc phụ trách chuyên môn hoặc Trưởng phòng chỉ đạo tuyến;

- Trưởng phòng điều dưỡng;

- 06 lãnh đạo khoa lâm sàng;

- 11 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng của khối Nội và khối Ngoại

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian tiến hành: từ tháng 02/2017 đến tháng 8/2017

- Địa điểm nghiên cứu: 11 khoa lâm sàng – BVĐK Kiên Giang

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Phương pháp định lượng

Cỡ mẫu: 300 điều dưỡng (11 khoa lâm sàng của khối Nội và khối Ngoại)

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ (11 khoa lâm sàng của khối Nội

và khối Ngoại)

2.4.2 Phương pháp định tính

Chọn mẫu có chủ đích các cán bộ tại bệnh viện, gồm:

HUPH

Trang 34

- Giám đốc/phó giám đốc phụ trách chuyên môn hoặc Trưởng phòng chỉ đạo tuyến;

- Trưởng phòng điều dưỡng;

- 06 Trưởng/phó khoa lâm sàng khối Nội và khối Ngoại

- 11 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng của khối Nội và khối Ngoại

2.5 Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng

2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ công cụ phát vấn được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo Thông tư số

26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ quy định chức danh nghề nghiệp của Điều dưỡng (Phụ lục 2); hướng dẫn thực hành

55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2010; Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/4/2012 của Bộ Y tế; Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế[6] và căn cứ vào khung lý thuyết để xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền

Theo qui định tại Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội

vụ điều dưỡng được chia thành 3 chức danh nghề nghiệp tương ứng với các trình độ chuyên môn Thực tế, các BVĐK Kiên Giang chỉ có viên chức điều dưỡng hạng III, hạng IV và thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng Vì vậy, chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi sử dụng cho điều dưỡng có trình độ đại học (điều dưỡng hạng III), điều dưỡng

có trình độ cao đẳng, điều dưỡng trung cấp (điều dưỡng hạng IV)

Trước khi xây dựng bộ câu hỏi chúng tôi đã phỏng vấn nhanh điều dưỡng

trưởng bệnh viện, điều dưỡng trưởng khoa và kiểm tra các bảng mô tả công việc theo vị trí việc làm của điều dưỡng tại bệnh viện Bộ công cụ được thử nghiệm tại bệnh viện với 05 ĐD lâm sàng và 03 ĐD trưởng sau đó chỉnh sửa để sử dụng cho

thu thập thông tin

HUPH

Trang 35

2.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu viên lập danh sách ĐD trưởng và ĐD viên tham gia nghiên cứu Nghiên cứu viên trực tiếp liên hệ với ĐD trưởng các khoa lên lịch cụ thể và tiến hành thu thập số liệu tại đơn vị được chọn nghiên cứu (11 khoa lâm sàng) sau khi được sự đồng ý của các khoa ĐD trưởng các khoa tập trung các ĐD về phòng giao ban của khoa vào thời điểm đầu giờ làm việc buổi chiều trước khi các ĐD đi thực hiện CSNB

Các ĐD tham gia bằng cách điền vào bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế sẵn Trước khi điền phiếu, nghiên cứu viên thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách điền phiếu khảo sát theo quy định, phát phiếu để ĐD tự điền và nhắc nhở người tham gia nghiên cứu không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu Ngay sau khi phiếu tự điền được đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) điền xong, nghiên cứu viên rà soát phiếu và hỏi lại những thông tin con thiếu hoặc chưa hợp lý

và giải thích để chính ĐTNC bổ sung/điều chỉnh

Sau mỗi ngày nghiên cứu viên tập hợp phiếu phát vấn tự điền, kiểm tra phiếu

về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi, toàn bộ các phiếu đều đạt yêu cầu

2.5.2.2 Thảo luận nhóm

Bộ công cụ thu thập số liệu: Phiếu hướng dẫn TLN (Phụ lục 4)

TLN tập trung được thực hiện với các lãnh đạo khoa với khoảng thời gian là

60 phút

HUPH

Trang 36

Cuộc TLN đƣợc tổ chức tại phòng ĐD, bệnh viện Đa khoa Kiên Giang

Nghiên cứu viên chủ trì các cuộc thảo luận, đồng thời có 1 nhân viên phòng Điều dƣỡng đƣợc mời làm thƣ ký để ghi chép lại diễn biến của cuộc thảo luận và ghi âm cuộc thảo luận với sự đồng ý của các đối tƣợng tham gia TLN

2.6 Các biến số trong nghiên cứu

Dựa trên khung lý thuyết và các tài liệu tổng quan, các nhóm biến chính sử dụng trong nghiên cứu gồm 3 nhóm biến số chính:

- Các biến về thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu

- Nhóm biến số về thực trạng ĐTLT của Điều dƣỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại tại bệnh viện

- Nhóm biến số về thực hiện nhiệm vụ của Điều dƣỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại tại bệnh viện

- Nhóm biến số về nhu cầu ĐTLT của Điều dƣỡng lâm sàng khối Nội và khối Ngoại tại bệnh viện

2.7 Các chủ đề nghiên cứu định tính

Thực trạng đào tạo về quản lý

cho cán bộ quản lý khoa

Nhận xét của ĐTNC về sự phù hợp của các nội dung đã tổ chức đào tạo so với yêu cầu công việc Nhận xét chung về khóa đào tạo

Thực trạng năng lực chuyên

môn của ĐTNC

Nhận xét của ĐTNC về các năng lực kỹ năng chuyên môn cần phải có (trong phạm vi lĩnh vực công tác của mình)

HUPH

Trang 37

Nhận xét của ĐTNC về mức độ đáp ứng nhu cầu công việc hiện tại

Nhu cầu đào tạo nhằm nâng

cao năng lực chuyên môn của

2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Số liệu định lượng: Sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa: số liệu đã được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0

Số liệu định tính: Các thông tin từ các cuộc PVS và TLN được ghi âm hoặc ghi chép biên bản Sau đó tiến hành gỡ băng và phân tích theo chủ đề

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tuân thủ theo những quy định của đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được triển khai thực hiện khi đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 166/2017/YTCC-HD3 Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo bệnh viện Đa khoa Kiên Giang quan tâm và ủng hộ

ĐTNC được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của ĐTNC Mọi thông tin cá nhân về ĐTNC được bảo mật Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

Kết quả nghiên cứu được báo cáo thông qua Ban Giám đốc Bệnh viện, Trưởng phòng CĐT, Phòng QLCLBV và Phòng ĐD để giúp cho việc xây dựng

kế hoạch ĐTLT cho đội ngũ ĐD đang công tác tại bệnh viện

2.10 Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế

Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế sẵn có thể gặp sai số do thái độ hợp tác và việc hiểu chưa chính xác nội dung các câu hỏi của

HUPH

Trang 38

2.10.2 Cách khắc phục

Bộ câu hỏi được nghiên cứu viên xây dựng và tiến hành điều tra thử nghiệm,

và chỉnh sửa trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức Giải thích rõ cho ĐTNC về mục đích của nghiên cứu: không sử dụng để đánh giá và xếp loại thi đua của ĐD

mà chỉ nhằm đánh giá NCĐT của họ để có cơ sở trong việc xây dựng kế hoạch ĐTLT cho bệnh viện

Nghiên cứu viên luôn có mặt ở các khoa khi thu thập số liệu để giải thích và

hỗ trợ ĐTNC Các phiếu điều tra được nghiên cứu viên kiểm tra ngay sau khi hoàn thành phát vấn và thu nhận phiếu, với những phiếu thông tin thu thập chưa đầy đủ hoặc không hợp lý phải được bổ sung ngay

HUPH

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Thông tin chung về điều dưỡng đang làm việc tại khoa lâm sàng thực hiện nghiên cứu (n=300)

Trang 40

hạng III Điều dưỡng

là tỷ lệ điều dưỡng ít (4,7%), khoa có số nhân lực điều dưỡng nhiều nhất là khoa Nội Tổng quát B và khoa Ngoại Lồng ngực chiếm tỷ lệ (11,7%), khoa Ngoại tổng quát thường tập trung bệnh đông nên phân bổ nhân lực cho khoa nhiều hơn các khoa khác Về trình độ chuyên môn, điều dưỡng hạng III chiếm tỷ lệ (25,3%), điều dưỡng hạng IV chiếm tỷ lệ 74,7% Thâm niên công tác của các đối tượng làm việc

từ 5 đến 10 năm chiến tỷ lệ cao (54,7%), đối tượng làm việc trên 20 năm chiếm tỷ

lệ thấp (2,6%) ĐD đều có tham gia các khóa ĐTLT trong 2 năm gần đây chiếm tỷ

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm