Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã thực hiện đào tạo liên tục cho điều dưỡng theo hướng dẫn của Bộ Y tế, tuy nhiên, chưa có đánh giá nào về tình hình đào tạo cũng như chưa khảo sát nhu cầ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NGA
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG KHỐI NỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ TỪ NĂM
2016-2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI - 2020
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NGA
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG KHỐI NỘI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ TỪ NĂM
2016-2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS BÙI THỊ THU HÀ
HUPH
Trang 3Xin chân thành cảm ơn Gia đình đã luôn bên cạnh hỗ trợ trong suốt thời gian đi học và làm luận văn của em Em xin gửi lời cảm ơn tới Quý đồng nghiệp và bạn bè trong lớp Thạc sĩ Quản lí bệnh viện 11-1B đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập của mình
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm làm nghiên cứu nên nội dung của luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, kính mong quý thầy cô, bạn bè thông cảm và bản thân em sẽ cố gắng cải thiện ở những nghiên cứu sau này
Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, gia đình, bạn bè lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!
Nguyễn Thị Nga
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.1 Điều dưỡng 4
1.1.2 Đào tạo liên tục 5
1.1.3 Nhu cầu đào tạo 5
1.1.4 Đánh giá nhu cầu đào tạo 6
1.1.5 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá nhu cầu đào tạo 6
1.1.6 Phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo 7
1.2 Phân loại điều dưỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dưỡng tại Việt Nam 8 1.2.1 Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng 8
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng 8
1.2.3 Chức năng của người điều dưỡng 8
1.3 Công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng 9
1.3.1 Trên thế giới 9
1.3.2 Tại Việt Nam 11
1.4 Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng 12
1.4.1 Trên thế giới 12
1.4.2 Tại Việt Nam 13
1.5 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 15
1.6 Khung lý thuyết/cây vấn đề 16
Chương 2 19
HUPH
Trang 5PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.1 Nghiên cứu định lượng: 19
2.1.2 Nghiên cứu định tính: 19
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ: 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.4.1 Nghiên cứu định lượng 19
2.4.2 Nghiên cứu định tính 20
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 20
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính 21
2.6 Biến số nghiên cứu 22
2.6.1 Biến số định lượng 22
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính 22
Nhu cầu ĐTLT cho Điều dưỡng: thời gian, thời điểm, thời lượng, nội dung giảng dạy.2.7 Xử lý và phân tích số liệu 22
2.7.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng 22
2.7.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính 22
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thông tin chung về điều dưỡng khối Nội 24
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng khối Nội năm 2020 24
3.2 Thực trạng công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khối Nội từ năm 2016-2019 25
3.3 Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng khối Nội 32
3.3.1 Nhu cầu về nội dung đào tạo liên tục của điều dưỡng khối Nội 32
3.3.2 Nhu cầu về thời gian, địa điểm, cách thức tổ chức đào tạo liên tục 40
Chương 4 BÀN LUẬN 43
KHUYẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
HUPH
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AMA: Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ
BVĐK: Bệnh viện đa khoa
CFPC: College of Family Physologists Canada
CME: Continuing Medical Education
CPD: Continuing Professional Development
CSNB: Chăm sóc người bệnh
CSYT: Cơ sở y tế
ĐTLT: Đào tạo liên tục
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDSK: Giáo dục sức khỏe
HTYT: Hệ thống y tế
KSNK: Kiểm soát nhiễm khuẩn
NCĐT: Nhu cầu đào tạo
NCKH: Nghiên cứu khoa học
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng khối Nội 24Bảng 3.2 Tỉ lệ tham gia đào tạo phân theo đặc điểm các lớp ĐTLT trong 4 năm gần đây (từ 2016-2019) 25Bảng 3.3 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội đã được đào tạo về nội dung thực hiện 27Bảng 3.4 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội đã được đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản (2016-2019) (tỷ lệ %) 28Bảng 3.5 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội được đào tạo về nội dung thực hiện các 29Bảng 3.6 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội đã được đào tạo về nội dung thực hiện các công việc khác (2016-2019) (tỷ lệ %) 31Bảng 3.7 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội thực hiện, tự tin và nhu cầu đào tạo về lĩnh vực thực hiện chăm sóc người bệnh 33Bảng 3.8 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội thực hiện, tự tin và nhu cầu đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 34Bảng 3.9 Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện, tự tin và nhu cầu đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng phức tạp 36Bảng 3.10 Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện, tự tin và nhu cầu đào tạo liên tục về nội dung thực hiện các công việc khác (tỷ lệ) 38Bảng 3.11 Nhu cầu về thời gian, địa điểm các lớp đào tạo liên tục (2020-2021) 40Bảng 3.12 Nhu cầu về cách thức tổ chức các lớp đào tạo liên tục (2020-2021) 40
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đào tạo liên tục là hình thức đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn lực y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã thực hiện đào tạo liên tục cho điều dưỡng theo hướng dẫn của Bộ Y tế, tuy nhiên, chưa có đánh giá nào
về tình hình đào tạo cũng như chưa khảo sát nhu cầu của người học Chính vì vậy, nhằm đưa ra căn cứ khoa học để khuyến nghị với Bệnh viện thực hiện công tác đào tạo
liên tục được hiệu quả và đúng quy định hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực
trạng và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối Nội tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Phú Thọ từ năm 2016-2021” nhằm hai mục tiêu: (1)- Mô tả thực trạng
đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016-2019; (2)- Xác định nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối Nội tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020-2021
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020, với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng.Tiến hành phát vấn 130 điều dưỡng các khoa lâm sàng khối Nội, thực hiện 8 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và các khoa lâm sàng khối Nội Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, thảo luận nhóm với các điều dưỡng, đồng thời hồi cứu số liệu thứ cấp về các khóa đào tạo liên tục
Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2016–2019, Bệnh viện đã tổ chức đào tạo liên tục theo thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 hướng dẫn đào tạo liên tục cho 100% các điều dưỡng lâm sàng khối Nội Đa phần các điều dưỡng đã tham gia các khóa học ngắn kéo dài từ 1-3 ngày và từ 4-5 ngày; các lớp có tỉ lệ tham gia cao chủ yếu được tổ chức tại bệnh viện; trong đó tỷ lệ được cấp chứng chỉ là 67,69%, tỷ lệ đạt tổng số tiết đào tạo từ 48 tiết trở lên đạt 38.46% Về chủ đề đào tạo, giao tiếp và chuyên môn kĩ thuật có tỉ lệ tham gia đào tạo nhiều nhất tương ứng 83,08% và 84,62%, ít nhất là chủ đề Quản lý điều dưỡng 2,31% Tất cả các nội dung chăm sóc và các kĩ thuật điều dưỡng cơ bản đều được đào tạo với tỉ lệ tham gia cao
>60% Các kĩ thuật phức tạp tỉ lệ tham gia giảm dần tùy theo độ khó của kĩ thuật Các công việc hành chính, quản lý trang thiết bị, giao tiếp và hợp tác trong chăm sóc và điều trị điều dưỡng được đào tạo đầy đủ với tỉ lệ rất cao >80%; riêng hoạt động NCKH
tỉ lệ tham gia đầy đủ chỉ chiếm 34,62%
HUPH
Trang 10Về nhu cầu đào tạo, điều dưỡng có nhu cầu tham gia các lớp đào tạo có thời gian ngắn, số tiết ít và mong muốn lớp tổ chức tại Bệnh viện với hình thức giảng lý thuyết kết hợp thực hành, và có tổ chức đánh giá, cấp chứng nhận/chứng chỉ cuối khóa Nội dung mong muốn đào tạo trên 50% gồm: An toàn người bệnh, Chuyên môn kỹ thuật điều dưỡng, Nâng cao trình độ chuyên môn, và Tư vấn, truyền thông GDSK Trong
lĩnh vực chăm sóc, các nội dung có nhu cầu đào tạo cao gồm: Chăm sóc phục hồi chức năng, Chăm sóc dinh dưỡng, Tư vấn GDSK Trong nhóm thực hiện các kỹ thuật điều
dưỡng cơ bản, tỷ lệ tự tin và thường xuyên thực hiện khá cao, tuy nhiên hai kỹ thuật thiết yếu mà điều dưỡng có nhu cầu đào tạo là Kỹ thuật cấp cứu ban đầu và Kỹ thuật bóp bóng ambu và ép tim ngoài lồng ngực Với các kỹ thuật phức tạp, tỷ lệ thường xuyên thực hiện và tự tin khi thực hiện các kỹ thuật phụ giúp bác sĩ thấp, do đó, nhu cầu đào tạo các kỹ thuật phụ giúp bác sĩ cao trên 80%, gồm các kỹ thuật: Chọc dịch não tủy, Chọc dịch màng bụng, Chọc dịch khí màng phổi, Chọc dò màng tim, Đặt ống nội khí quản, Mở khí quản, Rửa màng phổi Nội dung Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực điều dưỡng được điều dưỡng nhận định có mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin thấp, do đó, nhu cầu đào tạo về nội dung này cao
Khuyến nghị đưa ra là Bệnh viện cần xây dựng nội dung đào tạo dựa trên kết quả nghiên cứu để tiến hành đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối Nội từ cuối năm 2020
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc cạnh tranh ngày càng cao Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như vậy, để tồn tại và phát triển, tất cả mọi tổ chức từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, cũng như các tổ chức công lập phải nâng cao năng lực cạnh tranh của đơn vị mình Một trong những yếu tố cạnh tranh bên trong hết sức quan trọng của tổ chức là nguồn nhân lực Đối với ngành y tế, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định chất lượng mọi dịch vụ y tế bởi đối tượng phục vụ là sức khỏe con người Do vậy, nhân viên ngành y tế cần phải học tập suốt đời để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình (1) Một trong những nhân tố quan trọng trong nguồn nhân lực y tế đó là đội ngũ điều dưỡng Do vậy, ngành y tế đã và đang chú trọng đến việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ điều dưỡng trong các CSYT công lập cũng như tư nhân Nâng cao chất lượng cán bộ điều dưỡng góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc phục vụ người bệnh, sự hài lòng người bệnh,
sự phát triển toàn diện của xã hội Song hành cùng sự phát triển ngày càng không ngừng của xã hội như hiện nay, người dân ngày càng có nhu cầu cao về chăm sóc sức khỏe, do vậy, chất lượng của cán bộ điều dưỡng cũng phải được nâng cao (2)
Để nâng cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng, đáp ứng nhu cầu và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, ĐTLT trở nên cấp thiết ĐTLT giúp nhân viên y tế cập nhật thường xuyên các kiến thức, kỹ năng phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe Từ đó, chất lượng chăm sóc sức khỏe được nâng cao, đóng góp vào sự phát triển của đất nước bởi sức khỏe là thứ quý giá nhất Trong điều 33, 37 của Luật Khám chữa bệnh và Thông tư 22/2013/TT-BYT đã quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục của cán bộ y tế (3),(4) Cụ thể, Cán bộ y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp.Tuy nhiên, thực tế việc triển khai ĐTLT tại các CSYT còn tồn tại nhiều bất cập và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế
Để công tác ĐTLT phát huy được lợi ích mà nó đem lại, trước tiên cần xác định được nhu cầu đào tạo tại chính CSYT sở tại Việc xác định NCĐT giúp tìm ra những nội dung, đối tượng và hình thức đào tạo phù hợp với CSYT đó
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện tuyến tỉnh Hạng 1, quy mô 2000 giường bệnh với tổng số nguồn nhân lực 1564 người, trong tổng số điều dưỡng toàn
HUPH
Trang 12viện là 688 người (chiếm 43.54%) (5) Hiện nay, Bệnh viện là bệnh viện khu vực các tỉnh miền núi Tây Bắc Bệnh viện là tuyến điều trị cuối cùng của các tỉnh lân cận gồm
Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái, Vĩnh Phúc, là cơ sở đào tạo liên tục được
Bộ Y tế cấp mã đào tạo C15.01(6).Trong những năm vừa qua, công tác ĐTLT cho đội ngũ cán bộ y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng đã và đang được Ban giám đốc Bệnh viện quan tâm Tuy nhiên, công tác đào tạo cho điều dưỡng tại Bệnh viện chưa thực sự đạt hiệu quả cao, các bài giảng chủ yếu lý thuyết chưa tập chung chuyên sâu vào thực hành, chương trình đào tạo được dùng chung cho tất cả điều dưỡng khác nhau Tính đến nay, Bệnh viện chưa có một đánh giá nào về thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng trong những năm qua
Để tìm hiểu thực trạng và nhu cầu đạo tạo liên tục của điều dưỡng, từ đó có kế hoạch đào tạo phù hơp, nâng cao chất lượng, số lượng các buổi đào tạo, tôi tiến hành
nghiên cứu “Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối
Nội tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ từ năm 2016-2021”
Kết quả nghiên cứu sẽ là căn cứ khoa học để giúp Ban Giám đốc bệnh viện xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, thiết thực cho điều dưỡng, mang lại hiệu quả cao trong công tác chăm sóc người bệnh, nâng cao sự hài lòng cho người bệnh
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2016-2019
2 Xác định nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối Nội tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020-2021
HUPH
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Điều dưỡng
Theo định nghĩa của WHO, Điều dưỡng bao gồm sự chăm sóc tự chủ và hợp tác của các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, bị bệnh hoặc khỏe mạnh trong tất cả các cơ sở Bao gồm việc tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật
và chăm sóc người bệnh, tàn tật và người sắp chết Các điều dưỡng đóng một vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe và thường là những anh hùng vô danh trong các
cơ sở chăm sóc sức khỏe và ứng phó khẩn cấp Họ thường là những người đầu tiên phát hiện các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe và làm việc trên tuyến đầu của phòng chống dịch bệnh và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm sự khuyến khích, phòng ngừa, điều trị và phục hồi chức năng
Ở nhiều quốc gia, các điều dưỡng chiếm một nửa trong số tất cả các nhân viên chăm sóc sức khỏe và có một vai trò quan trọng trong cách tổ chức và áp dụng các hành động y tế, cả ở cấp tuyến đầu và cấp quản lý Họ thường là nhân viên y tế đầu tiên hoặc duy nhất mà bệnh nhân sẽ nhìn thấy trong suốt quá trình đánh giá ban đầu cho đến chăm sóc sau đó Vì vậy, điều dưỡng có vai trò rất quan trọng đối với chăm sóc sức khỏe (7)
Theo Hội Điều dưỡng Mỹ: Điều dưỡng là một nghề hỗ trợ, cung cấp các dịch
vụ chăm sóc, đóng góp vào việc phục hồi và nâng cao sức khoẻ Để phản ánh đầy đủ bản chất nghề nghiệp, phạm vi hành nghề, vị trí của Ngành Điều dưỡng trong chăm sóc sức khoẻ, Hội Điều dưỡng Mỹ năm 1980 cho rằng: Điều dưỡng là chuẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối với bệnh hiện tại hoặc bệnh có khả năng xảy ra Từ đó đã đưa ra quy trình điều dưỡng mà hiện nay đang được áp dụng trong giảng dạy, thực hành điều dưỡng ở nhiều nước (8)
Năm 2005, Hội nghị toàn quốc chuyên ngành Điều dưỡng Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: Điều dưỡng là khoa học chăm sóc bệnh nhân, góp phần nâng cao chất
HUPH
Trang 15lượng chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện và quá trình phục hồi sức khỏe sau điều trị để người bệnh đạt tới chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn
Ngày nay, Điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong HTYT để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm nghề điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên (9)
Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội
vụ định nghĩa Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế(9)
1.1.2 Đào tạo liên tục
ĐTLT là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân(10)
Cơ sở ĐTLT là các bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên cứu; các cơ
sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế (11)
1.1.3 Nhu cầu đào tạo
NCĐT của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ
Vậy NCĐT chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ (10)
HUPH
Trang 161.1.4 Đánh giá nhu cầu đào tạo
Đánh giá nhu cầu đào tạo là một quá trình mà bạn cố gắng hiểu rõ về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo Đánh giá nhu cầu đào tạo quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học Đánh giá nhu cầu đào tạo giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có (12)
Đánh giá nhu cầu đào tạo (Training Needs Assessment - TNA) là phương pháp xác định liệu một NCĐT có cần thiết hay không và nếu có, cần phải đào tạo những gì
để lấp đầy khoảng cách Khoảng cách giữa trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn
có thể chỉ ra các vấn đề mà lần lượt có thể được chuyển thành nhu cầu đào tạo (13)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, với đặc thù của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, điều dưỡng cần đa nhiệm, thực hiện được nhiều công việc chuyên môn, hành chính, sẵn sàng thực hiện các kĩ thuật từ khó đến dễ Thêm vào đó, các kĩ năng ít được thực hành cũng luôn cần tái đào tạo do đặc thù người bệnh không phổ biến ở tất cả các mặt bệnh, nhưng điều dưỡng cần nắm vững để sẵn sàng thực hành bất cứ khi nào Do vậy, nhu cầu đào tạo mà bệnh viện/phòng đào tạo đặt ra là tất cả các nội dung đào tạo
1.1.5 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đánh giá nhu cầu đào tạo
Để có một chương trình đào tạo đạt hiệu quả, việc xác định và phân tích NCĐT
là bước đầu tiên phải tiến hành Đây là công việc vô cùng quan trọng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học viên, đồng thời đảm bảo rằng đào tạo của bạn đứng trên quan điểm “lấy học viên làm trung tâm” Quá trình đánh giá NCĐT giúp tìm hiểu cấp
độ năng lực hiện tại của mỗi cá nhân và khả năng phản ứng của học viên đối với các nội dung đào tạo Kết quả đánh giá NCĐT giúp thiết kế khoá đào tạo sao cho có thể đáp ứng được những nhu cầu chung và cả những nhu cầu riêng biệt của nhóm học viên mục tiêu (11)
Làm tốt việc đánh giá NCĐT mang lại rất nhiều lợi ích :
• Đưa ra những bằng chứng khoa học về việc đào tạo có phải là giải pháp tốt hay không
HUPH
Trang 17• Xây dựng kế hoạch đào tạo đáp ứng được NCĐT, kích thích được sự quan tâm, hào hứng, nhiệt tình tham gia của người học trong quá trình đào tạo
• Xây dựng chương trình đào tạo với chủ trương lấy học viên làm trung tâm, chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của người học
• Tìm ra được nội dung và phương pháp đào tạo phù hợp đối với người học
• Tăng cường hiệu quả đào tạo, ứng dụng thực tiễn
• Tạo được niềm tin của người học đối với người dạy và chất lượng của việc đào tạo
1.1.6 Phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo
Một trong những phương pháp đánh giá NCĐT phổ biến là phương pháp phân tích khoảng cách của Beckhard và Harris (1987) Chúng ta có thể minh họa phương pháp này như sau (14):
Khoảng cách
Hình 1.1 Lý thuyết khoảng cách
Phương pháp này gồm 3 thành phần cơ bản là Hiện Trạng, Lý Tưởng và Khoảng cách Trong đó:
Hiện Trạng là hình ảnh con người đang có Trong những kiến thức, kỹ năng,
thái độ làm việc hiện tại của người học, có những điều tốt, hiệu quả như mong đợi, và
có những điều chưa được như mong muốn và chưa đáp ứng được nhu cầu của đối
tượng phục vụ
Lý Tưởng là hình ảnh người học làm việc tốt nhất ở mỗi vị trí công việc của
họ Hình ảnh lý tưởng thể hiện người học có đủ các kiến thức, kỹ năng và phương pháp tiên tiến nhất, phù hợp nhất, để làm việc với hiệu quả cao nhất Họ có động cơ, thái độ làm việc tích cực, hợp tác với mọi người, vì lợi ích chung Họ có khả năng tự phân tích công việc, tự học để liên tục cải tiến phương pháp, nội dung và môi trường làm việc Hình ảnh lý tưởng là người hoàn thành những công việc của mình như mong đợi và hơn mong đợi, đáp ứng nhu cầu của đối tượng phục vụ
HUPH
Trang 18Khoảng cách là những điểm cần thay đổi ở hình ảnh “Hiện trạng” để đạt tới
hình ảnh “Lý tưởng” Như vậy, khi so sánh giữa “Hiện trạng” và “Lý tưởng” chúng ta
sẽ nhận thấy rằng để có được lý tưởng, cần bổ sung một số kiến thức, kỹ năng và thái
độ phù hợp; đồng thời cần giảm thiểu, hoặc thay đổi một số kiến thức, kỹ năng và thái
độ không còn phù hợp Những điều cần bổ sung và giảm thiểu đó chính là “Khoảng
cách” Như vậy, việc bổ sung những điểm phù hợp, hay giảm thiểu những điểm không
còn phù hợp đều là công việc “lấp đầy các khoảng cách”
1.2 Phân loại điều dưỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dưỡng tại Việt Nam
1.2.1 Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng
Chức danh nghề nghiệp điều dưỡng được chia thành 3 hạng: Hạng II, hạng III và hạng IV với các bậc lương khác nhau Theo đó tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của mỗi hạng có sự phân biệt khác nhau theo mức độ về chức trách nhiệm vụ,
về trình độ đào tạo và bồi dưỡng Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 7/10/2015 của Bộ Y Tế và Bộ Nội Vụ quy định về nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng của chức danh nghề nghiệp Điều dưỡng (15).Thông tư này là căn
cứ để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức điều dưỡng trong các
cơ sở y tế công lập
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng
Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng được quy định tại Chương II của thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/1/2011 của Bộ Y tế bao gồm: (1) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, (2) Chăm sóc về tinh thần, (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân, (4) Chăm sóc dinh dưỡng, (5) Chăm sóc phục hồi chức năng, (6) Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật, (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh, (8) Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong, (9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, (10) Theo dõi, đánh giá người bệnh, (11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh,
(12) Ghi chép hồ sơ bệnh án (16)
1.2.3 Chức năng của người điều dưỡng
Chức năng độc lập (chủ động): Tất cả các Điều dưỡng viên đều cần có sự độc
lập trong công tác chăm sóc, theo dõi, làm thủ tục hay hướng dẫn người bệnh từ lúc
HUPH
Trang 19Bệnh nhân trong quá trình chăm sóc, lập kế hoạch chăm sóc cụ thể đối với từng người bệnh để quá trình điều trị và hồi phục được rút ngắn, thực hiện các trường hợp sơ cứu, cấp cứu ban đầu lúc chưa có bác sĩ
Chức năng phối hợp (hợp tác): Bên cạnh chức năng làm việc độc lập thì các
điều dưỡng còn cần chức năng phối hợp với các bộ phận khác để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình như: Phối hợp với các kỹ thuật viên khác như: Xét nghiệm, Xquang, ECG, vật lý trị liệu – phục hồi chức năng,… để thực hiện một số kỹ thuật chẩn đoán và điều trị cho người bệnh Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận
sẽ góp phần trong việc phản ánh diễn biến của người bệnh, giúp các bác sĩ xử trí nhanh, kịp thời khi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân chuyển nặng ( thở oxy, hô hấp nhân tạo, ép tim, cầm máu, băng bó…)
Chức năng phụ thuộc (thụ động): Mặc dù khả chức năng độc lập của người điều dưỡng được đề cao những trong quá trình điều trị, điều dưỡng viên cần phụ thuộc
vào bác sĩ trong công tác: cho người bệnh dùng thuốc (uống, tiêm truyền…), thụt tháo, đặt sonde,…; phụ giúp bác sĩ thực hiện một số thủ thuật điều trị; thực hiện một số thủ thuật, theo yêu cầu điều trị; lấy bệnh phẩm để xét nghiệm;…(17)
1.3 Công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng
1.3.1 Trên thế giới
Nghề y là một nghề đặc biệt, nhiệm vụ của cán bộ y tế gắn liền với sức khỏe tính mạng con người Việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi người hành nghề Kiến thức y học của thế giới thay đổi từng ngày, đòi hỏi cán bộ y tế phải cập nhật thường
xuyên Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education - CME) là quá trình
cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức và tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đào tạo y khoa liên tục được định nghĩa là “hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình”
ĐTLT luôn gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nghề y Tại mỗi nước đều có quy định bắt buộc người làm nghề y phải luôn cập nhật, bổ sung kiến thức liên
HUPH
Trang 20tục, cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, tổ chức quản lý công việc, đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, đòi hỏi cán bộ y tế phải học tập suốt đời Từ năm 1950, CME đã được áp dụng rộng rãi tại các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Anh và Châu Âu (11)
Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA) định nghĩa ĐTLT là các hoạt động đào tạo y học nhằm duy trì, phát triển hoặc tăng cường kiến thức, kỹ năng, và hiệu suất chuyên môn và các mối quan hệ mà nhân viên y tế sử dụng để cung cấp dịch vụ cho bệnh nhân, cộng đồng AMA định nghĩa nội dung của CME là kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp được công nhận và chấp nhận trong các ngành khoa học y tế cơ bản, chuyên ngành y học lâm sàng và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng (18) Năm 1971, New Mexico trở thành tiểu bang đầu tiên yêu cầu chứng chỉ CME để cấp phép lại giấy phép hành nghề Các bác sĩ thường dành trung bình 50 giờ mỗi năm cho các hoạt động CME nhằm cải thiện hiệu suất của họ và tối ưu hóa việc chăm sóc bệnh nhân Việc tham gia vào CME không phải là việc làm tự nguyện, đây là một yêu cầu
để tiếp tục duy trì chứng chỉ hành nghề tại 41 tiều bang (19)
Tại Canada, chứng chỉ đào tạo liên tục được cấp bởi Royal College of Physologists and Surgeons of Canada (RCPSC) và College of Family Physologists Canada (CFPC) RCPSC chịu trách nhiệm phát triển và thực hiện tất cả các kỳ thi cấp chứng nhận cho từng chuyên ngành khác nhau ngoại trừ Y học gia đình CFPC yêu cầu 250 giờ tín chỉ trong vòng năm năm, năm mươi tín chỉ phải được lấy cho mỗi năm (20)
Yêu cầu CME tại Châu Á cũng rất khác nhau ở mỗi quốc gia Tại Phillippine,
bác sĩ hành nghề phải đảm bảo tuân thủ quy định về đào tạo liên tục (CPD) tương đương với 45 tín chỉ cần thiết để được gia hạn giấy phép theo quy định của Uỷ ban quản lý nghề nghiệp (Professional Regulation Commission-PRC) (20) Tại Singapore,
từ năm 2005, điều kiện cần và đủ để gia hạn chứng chỉ hành nghề đó là tham dự các khóa ĐTLT (10)
Năm 2008, CME được Hội Điều dưỡng Malaysia đã giới thiệu Theo đó, tất cả Điều dưỡng có đăng ký hành nghề phải tham gia và cung cấp các tài liệu chứng minh
HUPH
Trang 21rằng họ đã tham gia tối thiểu 25 tín chỉ của CME mỗi năm trước khi gia hạn giấy phép hành nghề (22)
1.3.2 Tại Việt Nam
Những năm 1990, khái niệm ĐTLT đã được đưa vào trong ngành y tế Việt Nam, với sự giúp đỡ của dự án hỗ trợ hệ thống đào tạo nhân lực y tế (03/SIDA-Thụy Điển), Bộ Y tế đã hướng dẫn các tỉnh triển khai mạnh mẽ công tác đào tạo lại, ĐTLT
Từ năm 2008, thông tư số 07/2008/TT-BYT, Bộ Y tế cũng định nghĩa “ Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng,
nghiệp vụ; y khoa liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác trong lĩnh vực y tế”(16) Năm 2013, Thông tư số 22/2013/TT-BYT được ban hành ngày thay thế cho thông tư
số 07/2008/TT-BYT về việc hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Theo đó, tất cả cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam, trong đó có Điều dưỡng phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Trừ một số trường hợp học tập được qui đổi khi tham dự các hội thảo, hội nghị quốc tế hoặc tham gia tổ chức giảng dạy, nghiên cứu còn yêu cầu chung cho tất cả cán bộ y tế có thời gian đào tạo tối thiểu là 24 tiết học một năm (4)
Thông tư 22/2013/TT-BYT đưa ra quy định về các nội dung sau: Tổ chức hệ thống đào tạo liên tục; Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục; Giảng viên đào tạo liên tục; Quản lý công tác đào tạo liên tục; Quản lý chất lượng cơ sở đào tạo liên tục; Kinh phí cho đào tạo liên tục ( Phụ lục 07)
Như vậy, việc thực hiện công tác ĐTLT được Bộ Y tế có văn bản hướng dẫn rõ ràng về tiêu chuẩn cơ sở đào tạo, chương trình và tài liệu, ĐTLT, quản lý ĐTLT và quản lý chất lượng cơ sở ĐTLT Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản, tài liệu và chương trình hành động để thúc đẩy công tác ĐTLT cán bộ y tế Hiện nay, mạng lưới ĐTLT đã rộng khắp, nhiều bệnh viện trung ương và sở y tế đã thực hiện thành công Công tác ĐTLT đang được triển khai mạnh mẽ góp phần tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ y tế đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Việc ĐTLT cho đội ngũ điều dưỡng ngày càng nhận được sự quan tâm ĐTLT giúp người điều dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cũng như thái độ của họ để đáp ứng được nhu cầu công việc Hiện nay, mục tiêu của ngành
HUPH
Trang 22y tế là chất lượng bệnh viện và đổi mới phong cách, tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh Điều dưỡng là lực lượng đông đảo, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh nhiều nhất trong các CSYT, đóng góp một phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu này
1.4 Thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng
1.4.1 Trên thế giới
Tác giả Caporiccio J và cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu NCĐT liên tục của điều dưỡng Haiti Nghiên cứu này được thiết kế như một cuộc điều tra để khảo sát NCĐT của điều dưỡng tại Haiti Kết quả được phân tích từ 100 khảo sát thuộc 4 nhóm tập chung Phần lớn các điều dưỡng mong muốn được tham gia đào tạo liên tục Điều dưỡng đã nhận thức được việc đào tạo liên tục là cần thiết để cung cấp dịch vụ chăm sóc chất lượng cao Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu chính thức đầu chỉ ra rằng đào tạo liên tục cho điều dưỡng ở Haiti là thiết yếu Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cho những nhà quản lí xây dựng chương trình giảng dạy và cải thiện các chương trình đào tạo liên tục (23)
Năm 2018, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Wang Y và cộng sự tiến hành trên
2826 điều dưỡng đến từ 23 bệnh viện của Bắc Kinh nhằm mô tả thực trạng ĐTLT cho điều dưỡng tại Bắc Kinh Kết quả nghiên cứu cho thấy 72% đến 88% điều dưỡng nhận thấy tầm quan trọng, hữu ích, tính thực tế của chương trình đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại Bắc Kinh Thu thập đủ số tín chỉ yêu cầu và nâng cao chất lượng toàn diện
là hai động lực hàng đầu để điều dưỡng tham gia đào tạo liên tục Nghiên cứu chỉ ra hai rào cản hàng đầu đối với việc đào tạo liên tục cho điều dưỡng là hạn chế về thời gian và không có khả năng nhận thông tin đào tạo kịp thời Các nhu cầu đào tạo của điều dưỡng cũng được xác định trong nghiên cứu này (24)
Năm 2013, Mei Chan Chong và cộng sực tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng trên 792 điều dưỡng tại các bệnh viện công và phòng khám của Malaysia với phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn nhằm mô tả thực hành của điều dưỡng và NCĐT liên tục Kết quả nghiên cứu cho thấy, 71% (562) điều dưỡng tham gia các hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua, tuy nhiên chỉ 324 (40.9%) điều dưỡng đạt được ít nhất 25 tín chỉ để duy trì chứng chỉ hành nghề Hình thức đào tạo
HUPH
Trang 23nhận thấy tầm quan trọng và cần thiết của việc ĐTLT để nâng cao trình độ chuyên môn của họ Tuy nhiên, việc ĐTLT chỉ đạt hiệu quả khi chương trình được lập kế hoạch và thực hiện dựa trên nhu cầu của Điều dưỡng Vì vậy, nghiên cứu khuyến cáo nhà quản lí nên lập kế đào tạo liên tục dựa trên nhu cầu của điều dưỡng chứ không đơn thuần dựa trên yêu cầu đào tạo của tổ chức (25)
1.4.2 Tại Việt Nam
Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế quy định: Cán bộ y tế là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh không thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo tối thiểu 48 tiết trong 2 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định của luật khám bệnh, chữa bệnh Do vậy, ĐTLT cho nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cá nhân và tổ chức trong ngành y
Đến nay, nghiên cứu về NCĐT liên tục của điều dưỡng tại một số bệnh viện đã được tiến hành Năm 2015, Nguyễn Thị Hoài Thu tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính “Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Trung ương, giai đoạn 2015 – 2017” Nghiên cứu được tiến hành trên 224 điều dưỡng các khoa lâm sàng và phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện cùng thảo luận nhóm lãnh đạo khoa lâm sàng Nghiên cứu chỉ ra thứ tự ưu tiên đào tạo liên tục như sau: Chăm sóc PHCN, Cấp cứu ban đầu, Bóp bóng Ambu và ép tim ngoài lồng ngực, Phụ giúp bác sĩ chọc dò màng tim, Phụ giúp đặt ống nội khí quản, Phụ giúp bác sĩ mở khí quản, phụ giúp bác sĩ rửa màng phổi, NCKH Thời gian cho mỗi khóa học kéo dài từ 2-5 ngày, đào tạo tại bệnh viện là phù hợp nhất (26)
Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng đã tìm hiểu nhu cầu ĐTLT của 118 điều dưỡng khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên Nghiên cứu đã khai thác mức độ thực hiện, mức độ tự tin của điều dưỡng và nhu cầu đào tạo về các kỹ thuật từng chuyên khoa như nội, ngoại, sản-nhi Các nội dung ưu tiên đào tạo lần lượt là: Tư vấn, GDSK; Phục hồi chức năng, Kiểm soát nhiễm khuẩn; Giao tiếp ứng xử; Kỹ thuật phụ bác sỹ đặt ống nội khí quản, phụ chọc dò màng tim, cấp cứu sốc phản vệ, tuyền máu, cấp cứu trẻ sơ sinh bị ngạt Thời gian mỗi khóa học từ 2-5 ngày và tổ chức tại bệnh viện là hợp lý (27)
HUPH
Trang 24Năm 2017, tác giả Nguyễn Dung Nghi cũng tiến hành nghiên mô tả cắt ngang kết hợp định tính với định lượng, “Thực trạng thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục bác sỹ, điều dưỡng lâm sàng tại hai khoa Cấp cứu, Hồi sức tích cực và chống độc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2017” Nghiên cứu định lượng chọn mẫu toàn bộ 114 bác sỹ và điều dưỡng lâm sàng tại 2 khoa để thực hiện bộ câu hỏi tự điền Nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu 09 cán bộ quản lý và cán bộ có liên quan đến công tác đào tạo liên tục cho thấy 100% bác sỹ và điều dưỡng lâm sàng có nhu cầu được đào tạo liên tục Về hình thức đào tạo: 89% đối tượng mong muốn được đào tạo 2-3 lần/năm; 57% đối tượng mong muốn thời gian cho 1 đợt đào tạo kéo dài khoảng 2-
5 ngày; 58,8% đối tượng mong muốn được học trực tiếp theo hình thức tập trung; 92,1% mong muốn được đào tạo ngay tại bệnh viện và 89,5% đối tượng mong muốn phương pháp đào tạo kết hợp lý thuyết với thực hành Nghiên cứu cho thấy, các bác sĩ
và điều dưỡng lâm sàng nhận thấy họ còn hạn chế ở nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác Cán bộ y tế mong muốn được đào tạo tại chỗ, với thời gian đào tạo ngắn hạn, phương pháp đào tạo kết hợp giữa lý thuyết và thực hành (28)
Thực trạng đào tạo liên tục cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng đã tìm hiểu nhu cầu ĐTLT của 118 điều dưỡng khoa lâm sàng bệnh viện C Thái Nguyên năm 2016 Kết quả cũng cho thấy công tác ĐTLT còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ, kế hoạch đào tạo thiếu cơ sở khoa học để xây dựng Bệnh viện chủ yếu đào tạo về kỹ năng điều dưỡng cơ bản như tiêm truyền chiếm
tỉ lệ 80%, các nội dung lặp lại nhiều năm Chưa chú trọng đào tạo kỹ thuật điều dưỡng phức tạp và chuyên khoa sâu (các lớp chiếm tỉ lệ dưới 40%) (27)
Năm 2017, nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Minh Nguyệt tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ năm 2014-2016” chỉ ra rằng từ năm 2014 - 2016, điều dưỡng tham gia 21 khóa đào tạo với nhiều chủ đề, trung bình một điều dưỡng được đào tạo 1,5 lượt/năm; 14,6 tiết/năm là chưa đủ theo quy định và có 25% điều dưỡng chưa tham gia đầy đủ một lớp học nào Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức đào tạo liên tục gồm quá tải công việc, chưa có cán bộ chuyên trách về đào tạo, hình thức giảng chủ yếu là lý thuyết và chưa thực sự phù hợp với định hướng chuyên môn điều dưỡng
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra khuyến nghị bệnh viện cần tăng cường đào tạo đảm bảo tối thiểu 24 tiết/năm và các khóa đào tạo cần tổ chức theo hình thức kết
HUPH
Trang 25hợp giảng lý thuyết với thực hành, có cấp chứng nhận hoặc kiểm tra cuối khóa và lựa chọn phù hợp với chuyên ngành điều dưỡng (29)
1.5 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Năm 1965, tiền thân là Bệnh viện cán bộ, BVĐK tỉnh Phú Thọ được thành lập
Đến năm 2006, Bệnh viện được đổi tên thành BVĐK tỉnh Phú Thọ
Là bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh Phú Thọ, Bệnh viện được xếp loại Bệnh viện hạng I với quy mô 2.000 giường bệnh, tổng số cán bộ viên chức 1.564 cán bộ Sứ mệnh và tầm nhìn của Bệnh viện là địa chỉ tin cậy hàng đầu trong việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và các tỉnh lân cận khu vực Tây Bắc
Bệnh viện có tổng số 40 khoa, phòng, trung tâm trong đó: 08 phòng chức năng,
06 khoa Cận lâm sàng, 17 khoa Lâm sàng và 10 Trung tâm: Trung tâm Ung bướu; Trung tâm Đào tạo chỉ đạo tuyến; Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao; Trung tâm tim mạch; Trung tâm xét nghiệm;Trung tâm huyết học - truyền máu; Trung tâm Y dược cổ truyền - Phục hồi chức năng;Trung tâm Đột quỵ; Trung tâm Thận - Lọc máu; Trung tâm Sản Nhi
Bệnh viện có tổng số 40 phòng khám trong đó có 26 phòng khám công lập, 12 phòng khám theo yêu cầu, 01 phòng khám OPC và 01 phòng khám Hỗ trợ sinh sản
Với cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị máy móc hiện đại: Bệnh viện nằm trong khuôn viên rộng 2.94 ha với 3 tòa nhà 7 tầng, 2 tòa nhà 11 tầng (Tòa nhà đa trung tâm và Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao)> Mỗi ngày, Bệnh viện tiếp đón trung bình từ 1.300 – 1.500 lượt đến khám bệnh, người bệnh nội trú trung bình 1.600 – 1.800 người Số lượng người bệnh đến khám chữa bệnh ngày càng tăng Hiện nay, Bệnh viện đang tập chung phát triển các thế mạnh của mình như ung bướu, tim mạch, chấn thương chỉnh hình, đột qụy, hỗ trợ sinh sản, huyết học truyền máu, ghép thận, lọc máu - thận nhân tạo
Đến nay, Bệnh viện đã thực hiện được 100% danh mục kỹ thuật loại I và 46% danh mục kỹ thuật loại đặc biệt, trang thiết bị của Bệnh viện ngày càng được đầu tư hiện đại và đồng bộ Cụ thể như Bệnh viện đã ứng dụng nhiều kỹ thuật chuyên sâu như gây mê hồi sức, phẫu thuật cột sống, phẫu thuật u não, phẫu thuật thay khớp, phẫu thuật chấn thương, phẫu thuật Tim hở, phẫu thuật nội soi tiêu hóa, nội soi tiết niệu, nội
HUPH
Trang 26soi chuẩn đoán, chuẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, ghép thận Đặc biệt, từ tháng 2/2018, Bệnh viện chính thức triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ điều trị ung thư
Giới thiệu sơ lược về khối Nội Khối Nội của bệnh viện gồm 11 đơn vị: Hồi sức tích cực chống độc, Cấp cứu, Nội Hô hấp- Tiêu hóa, Nội Thần kinh - Cơ xương khớp, Nội tiết – Đái tháo đường, Trung tâm Thận – Lọc máu, Bệnh nhiệt đới, Trung tâm Y dược cổ truyền và Phục hồi chức năng, Da liễu, Trung tâm Tim mạch, Trung tâm Huyết học Truyền Máu với tổng số cán bộ 302 người, trong đó điều dưỡng chiếm 61% Nếu như xem hoạt động chuyên môn của khối Ngoại là bề nổi của bệnh viện thì khối Nội với các chuyên khoa như Tim mạch, Thận nội, Tiêu hóa, Nội tiết, Nội thần kinh, Cơ xương khớp, Nhiễm, Hô hấp có thể xem như là chỗ dựa vững chắc giúp cho bác sĩ ngoại khoa hoàn thành tốt nhiệm vụ Do đó, để phát triển toàn diện, việc nâng cao trình độ chuyên môn của khối Nội được coi là mục tiêu trọng tâm của bệnh viện
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của bệnh viện, công tác ĐTLT luôn là vấn đề cấp thiết cho nhân viên y tế nói chung và cho điều dưỡng nói riêng Hiên tại, ĐTLT cho điều dưỡng tại bệnh viện ngày càng được quan tâm chú trọng ĐTLT là yếu tố cần thiết cho người điều dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cũng như thái độ của họ để đáp ứng được nhu cầu vị trí việc làm Chất lượng bệnh viện và đổi mới phong cách, tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh đang là mục tiêu lớn của ngành y tế Điều dưỡng, một lực lượng đông đảo, một đội ngũ tiếp xúc trực tiếp với người bệnh nhiều nhất trong các cơ
sở y tế, đóng góp một phần không nhỏ vào sự cải thiện này
1.6 Khung lý thuyết/cây vấn đề
Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng khối Nội được xác định bởi khoảng cách giữa thực tế thực hiện và yêu cầu công việc Thực tế thực hiện được đánh giá thông qua việc thu thập những số liệu thứ cấp về đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng khối Nội, việc tự đánh giá về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng, thuận lợi và khó khăn với công tác tham gia đào tạo liên tục Yêu cầu dựa trên những chính sách, định hướng phát triển của đơn vị, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng, chức năng nhiệm vụ chăm sóc của điều dưỡng, những quy định chuyên môn, kỳ vọng của nhà quản lý Nhu cầu đào tạo liên
HUPH
Trang 27tục còn được dựa trên những mong muốn thực sự của cán bộ về nhu cầu học tập từ đó xây dựng kế hoạch chiến lược đào tạo hiệu quả Nhu cầu đào tạo bao gồm các yếu tố: đối tượng đào tạo, nội dung đào tạo và cách thức tổ chức đào tạo
Khung lý thuyết của nghiên cứu này được xây dựng dựa trên việc tham khảo các tài liệu sau đây:
• Quy chế bệnh viện (Ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
• Thông tư liên tịch số 26/TTLT/BNV-BYT ngày 7/10/2015 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên
• Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/1/2011 hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
• Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế
Lưu ý: Trong đó có một số thuật ngữ được quy ước riêng cho phù hợp với nghiên cứu của chúng, như sau:
Năng lực hiện tại của điều dưỡng: là kiến thức, mức độ thành thạo và tự tin khi
thực hiện các quy trình kĩ thuật chuyên môn
Năng lực mong muốn: tất cả các quy trình kĩ thuật, kĩ năng đều cần được học đầy
đủ và thành thạo, tự tin >90% (theo kì vọng của bệnh viện)
HUPH
Trang 28- Quy định ĐTLT
- Kỳ vọng
Thực tế
- Tổ chức, quản lý ĐTLT (Nội dung, hình thức, thời gian, ,
số điều dưỡng tham gia, đánh giá, chứng chỉ, chương trình, tài liệu)
- Thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng (Mức
Hình thức đào tạo
và thực hành
- Địa điểm đào tạo + Tại bệnh viện +Ngoài bệnh viện
Giảng viên
- Lý thuyết
- Thực hành
Nhu cầu đào tạo Khoảng cách
Năng lực hiện tại
Năng lực mong muốn
HUPH
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng:
Đối tượng: toàn bộ điều dưỡng làm việc tại 11 Khoa, Trung tâm lâm sàng khối Nội gồm: Hồi sức tích cực chống độc, Cấp cứu, Nội Hô hấp- Tiêu hóa, Nội Thần kinh
- Cơ xương khớp, Nội tiết – Đái tháo đường, Trung tâm Thận – Lọc máu, Bệnh nhiệt đới, Trung tâm Y dược cổ truyền và Phục hồi chức năng, Da liễu, Trung tâm Tim mạch, Trung tâm Huyết học Truyền Máu Bao gồm tất cả điều dưỡng biên chế và hợp đồng, có trình độ từ Trung cấp trở đến đại học
Số liệu thứ cấp từ các văn bản liên quan đến công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng của Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, phòng Điều dưỡng và phòng Kế hoạch
tổng hợp từ năm 2016 - 2019
2.1.2 Nghiên cứu định tính:
Thực hiện phỏng vấn các đối tượng: Giám đốc bệnh viện; Trưởng phòng Điều dưỡng; Trưởng đơn vị Đào tạo và chỉ đạo tuyến; Trưởng khoa hoặc Phó trưởng khoa, Trung tâm lâm sàng khối Nội; Điều dưỡng trưởng và điều dưỡng viên các khoa, Trung tâm lâm sàng khối Nội
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
- Đối tượng nghỉ thai sản, nghỉ ốm, đi công tác, hoặc đi học trong thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2020
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ tất cả điều dưỡng làm việc tại 11 khoa, Trung tâm lâm sàng Khối Nội Tổng số người đủ tiêu chuẩn nghiên cứu là 130 người
HUPH
Trang 30- Thảo luận nhóm: Nhóm Điều dưỡng trưởng của tất cả 11 khoa, Trung tâm lâm sàng hệ Nội (gồm 11 người) và nhóm Điều dưỡng viên của 11 khoa, Trung tâm lâm sàng hệ Nội (gồm 11 người) Tổng số 02 cuộc TLN
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
2.5.1.1 Công cụ nghiên cứu
Xây dựng bộ câu hỏi phát vấn để thu thập thông tin từ toàn bộ Điều dưỡng các khoa lâm sàng (Phụ lục 1) trên cơ sở:
- Nhiệm vụ của Điều dưỡng trong thông tư 07/2011/TT-BYT,
- Thông tư 26/2015/TTLT-BYT-BNV, các quy trình kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, kỹ thuật chuyên khoa, chăm sóc và theo dõi các bệnh chuyên khoa, bệnh học và phương pháp điều trị một số bệnh chuyên khoa của bệnh viện(15)
- Bộ công cụ của Nguyễn Thị Hoài Thu: “Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Trung Ương, giai đoạn 2015 – 2017”(26) Tuy nhiên, thực tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ không có sự phân công rõ ràng nhiệm vụ của điều dưỡng theo văn bằng đào tạo Do đó, bộ câu hỏi này dùng cho tất cả đối tượng điều dưỡng các khoa lâm sàng Đối tượng nghiên cứu sẽ tự nhận định mức độ thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo dựa trên công việc thực tế và nhiệm vụ chức năng của của mình Nội dung trọng tâm về những nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh, kỹ thuật điều dưỡng, chăm sóc và theo dõi người bệnh và những công việc thực hiện hàng ngày của điều dưỡng theo quy định Tất cả các học viên đều được định hướng về các kĩ năng điều dưỡng cần thiết, tuy nhiên khi trả lời có
thể chọn theo sở thích, đây là sai số cần đã được giải thích rõ cho đối tượng nghiên
cứu khi phát vấn bộ câu hỏi
Thu thập thông tin từ số liệu từ các báo cáo tổng kết kế hoạch năm, các kế hoạch chương trình ĐTLT, danh sách học viên, danh sách cấp chứng chỉ /chứng nhận đào tạo của Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, phòng Điều dưỡng và phòng Kế hoạch tổng
HUPH
Trang 31hợp từ năm 2016– 2019
2.5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
Nghiên cứu viên lập danh sách Điều dưỡng trưởng và Điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu của 11 khoa, Trung tâm lâm sàng hệ Nội
Nghiên cứu viên liên hệ với Điều dưỡng trưởng của các khoa để sắp xếp thời gian phát phiếu lấy thông tin
Nghiên cứu viên thông báo mục đích, hướng dẫn chi tiết cách trả lời bộ câu hỏi
tự điền Nếu có vấn đề thắc mắc thì hỏi trực tiếp nghiên cứu viên để được giải đáp Ngay sau khi hoàn tất trả lời, nghiên cứu viên thu phiếu, rà soát kiểm tra lại để đảm bảo thông tin được điền đầy đủ, hợp lệ
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính
2.5.2.1 Phỏng vấn sâu
Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế riêng cho từng đối tượng PVS: Giám đốc bệnh viện (PVS1- phụ lục 3); Giám đốc Trung tâm Đào tạo - Chỉ đạo tuyến (PVS1- phụ lục 3) và Trưởng phòng Điều dưỡng(PVS1 - phụ lục 3); Trưởng khoa hoặc Phó trưởng khoa của 11 khoa lâm sàng (PVS1 - phụ lục 3) Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại phòng làm việc riêng của đối tượng nghiên cứu sau khi có lịch hẹn, được ghi biên bản và ghi âm nếu được sự đồng ý
2.5.2.2 Thảo luận nhóm
Bộ công cụ thảo luận nhóm của nhóm 11 điều dưỡng trưởng khoa của 11 khoa lâm sàng (TLN1 - phụ lục 4) và 11 điều dưỡng viên của 11 khoa lâm sàng (TLN2 - phụ lục 5)
Cuộc thảo luận nhóm được tiến hành tại phòng Điều dưỡng sau khi hẹn lịch Nghiên cứu viên là người chủ trì, một thành viên trong nhóm làm thư ký, và ghi âm cuộc thảo luận nếu được sự đồng ý
Sau khi sơ bộ có kết quả định lượng tiến hành các cuộc PVS, TLN1 các đối tượng để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, tổ chức và triển khai ĐTLT, năng lực thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng, định hướng phát triển công tác điều dưỡng, yêu cầu của nhà quản lý với điều dưỡng để đáp ứng công việc, các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trình ĐTLT Thảo luận với nhóm 11 Điều dưỡng viên (TLN2) sau khi phân tích kết quả định lượng để giải thích kỹ hơn về thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu
HUPH
Trang 32đào tạo
2.6 Biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số định lượng
Biến số định lượng được chia thành 4 nhóm chính:
1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, khoa công tác, trình độ
chuyên môn, thâm niên công tác, vị trí làm việc
2 Thực trạng ĐTLT trong 4 năm (2016-2019) bao gồm: thông tin lớp học, chủ
đề đào tạo, nội dung chăm sóc được đào tạo, kĩ thuật điều dưỡng cơ bản, kĩ thuật điều dưỡng phức tạp, một số công việc khác
3 Nhu cầu ĐTLT: bao gồm chăm sóc, kĩ thuật cơ bản, kĩ thuật phức tạp, các
công việc khác, thời gian, địa điểm, cách thức tổ chức
4 Mức độ thực hiện nhiệm vụ, mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ bao gồm
chăm sóc, kĩ thuật cơ bản, kĩ thuật phức tạp, các công việc khác
Bảng biến số chi tiết (Phụ lục 1)
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính
- Thực trạng công tác ĐTLT cho Điều dưỡng: tính phù hợp, thuận tiện và hữu ích
Nhu cầu ĐTLT cho Điều dưỡng: thời gian, thời điểm, thời lượng, nội dung giảng dạy.2.7 Xử lý và phân tích số liệu
2.7.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng
Số liệu phát vấn sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1 và được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 với lệnh thống kê mô tả
Số liệu thứ cấp được rà soát, chọn lọc, nhập vào máy tính và thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel
2.7.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính
Thông tin định tính được gỡ băng và mã hóa, phân tích dữ liệu theo từng chủ đề Các nội dung phù hợp cũng sẽ được trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua bằng văn bản số 015/2020/YTCC-HD3 ngày 3 tháng 2 năm 2020
Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu trước khi
HUPH
Trang 33trả lời phát vấn và chỉ tiến hành khi được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu
Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu và được giữ bí mật, chỉ nghiên cứu viên mới được phép tiếp cận
Kết quả của nghiên cứu này sẽ được báo cáo Ban Giám đốc Bệnh viện, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyển để phục vụ việc xây dựng kế hoạch ĐTLT cho điều dưỡng trong thời gian tới
HUPH
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về điều dưỡng khối Nội
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng khối Nội năm 2020
130 ĐTNC, nữ giới chiếm đa số (81,54%), gấp 4,4 lần số nam giới Về trình độ
HUPH
Trang 35chuyên môn, nhóm điều dưỡng đại học chiếm đa số với tỷ lệ 54,62%; điều dưỡng cao đẳng 39,23%; nhóm điều dưỡng trung cấp có tỷ lệ thấp nhất (6.15%) Đa phần ĐTNC
là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh (83,08%), 22 điều dưỡng phụ trách các công việc hành chính/quản lý tại thời điểm nghiên cứu (16,92%) Thâm niên công tác của các điều dưỡng không chênh lệch nhiều giữa 3 nhóm <5 năm, 5-10 năm và >10 năm từ 30-36%
3.2 Thực trạng công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khối Nội từ năm
2016-2019
Bảng 3.2 Tỉ lệ tham gia đào tạo của điều dưỡng khối Nội phân theo đặc điểm
các lớp ĐTLT trong 4 năm gần đây (từ 2016-2019)
Nội dung
Thời gian, địa điểm tham gia đào tạo liên tục trong 4 năm gần đây
Tần số Tỷ lệ (%)
Thời gian đào tạo
HUPH
Trang 3651,54%; số được tham gia đào tạo 6-28 ngày chiếm 17,69% và nhóm được đào tạo trên 28 ngày chiếm tỉ lệ thấp nhất là 11,54% 100% điều dưỡng được phỏng vấn đã từng được đào tạo tại bệnh viện (do đã loại đi những trường hợp hiện đang đào tạo dài hạn trong và ngoài nước); 32,31% được đào tạo tại các bệnh viện khác và 9 trường hợp được cử đi đào tạo tại các trường y (chiếm 6,92%) Trong đó, 88 trường hợp đã tham gia các lớp được cấp chứng chỉ (67,69%) và 42 trường hợp tham gia đào tạo không cấp chứng chỉ (32,31%) Tuy nhiên, chỉ có 38,46% tham gia đủ 48 tiết học trở lên trong 2 năm liên tiếp
Kết quả định tính cũng khẳng định được mức độ phổ biến của các lớp ĐTLT được tổ chức tại BV:
“Bệnh viện tổ chức thường xuyên các lớp học liên tục ngắn hạn để các điều dưỡng nắm vững các kĩ năng chuyên môn ít thực hành, nhưng cần thiết Việc thành thạo các kĩ năng khó để sẵn sàng chuyên môn bất cứ khi nào có bệnh nhân là vô cùng quan trọng” (PVS_QL_2)
Biểu đồ 1: Tỉ lệ điều dưỡng khối Nội đã tham gia đào tạo liên tục theo các chủ đề
(2016-2019)
HUPH
Trang 37Trong 8 lĩnh vực người điều dưỡng được ĐTLT tại bệnh viện thì có 3 lĩnh vực cao nhất là: Giao tiếp ứng xử (84.62%); Chuyên môn kỹ thuật điều dưỡng (83.08%),
và An toàn trong CSNB (79.23%) Còn lĩnh vực công tác quản lý điều dưỡng được người tham gia học ít nhất (2.31%)
Kết quả TLN với các điều dưỡng Trưởng các khoa cũng cho thấy trong 8 lĩnh vực điều dưỡng thì không phải điều dưỡng nào cũng có thể nắm vững được hết:
“Công tác quản lý, kiểm soát nhiễm khuẩn là những đặc thù riêng cho điều dưỡng thuộc bộ phận quản lý hoặc khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Vì vậy, không bắt buộc tất cả phải học mà còn tùy theo cấp, bậc hiện tại của các bạn trong viện”
(TLN_1)
“Một số nội dung ĐTLT chưa sát với thực tế, chưa mang tính chất thiết thực phục vụ công tác CSSK người bệnh Đặc biệt, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe còn dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu Các bạn điều dưỡng còn bị giới hạn phạm vi thực hiện chuyên môn dựa trên bằng cấp mà bạn ấy có Do đó, các lớp nâng cao trình
độ, thường là khi có yêu cầu của bệnh viện, hoặc khi có kiến thức mới được cập nhật, các lớp này thường không nhiều” (TLN_2)
Bảng 3.3 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội đã được đào tạo về nội dung thực hiện
chăm sóc người bệnh (2016-2019)(tỷ lệ %)
Chưa được đào tạo
Đào tạo chưa đầy đủ
Đã được đào tạo đầy đủ
2 Chăm sóc Phục hồi chức năng 6,15 30,77 63,08
3 Chăm sóc người bệnh có chỉ định
4 Chăm sóc vệ nhân cá nhân, thay
HUPH
Trang 385 Chăm sóc dinh dưỡng 0,77 23,85 75,38
Nhiệm vụ CSNB là công việc cơ bản của người điều dưỡng, các nội dung thực hiện của nhóm đối tượng nghiên cứu nhận định đã được đào tạo đầy đủ trên mức 60% trong tất cả 06 nhiệm vụ thực hiện CSNB Chăm sóc PHCN và CSNB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật có tỉ lệ chưa tham gia đào tạo cao nhất là 30, 77% Chăm sóc cá nhân và thay đổi tư thế là nội dung chăm sóc có tỉ lệ chưa tham gia đào tạo thấp nhất 13,85% Tuy nhiên, điều dưỡng khối ngoại mới cần đào tạo về CSNB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật
Kết quả phỏng vấn sâu cũng đã chỉ ra đây là tỉ lệ tham gia phù hợp với mục tiêu
đề ra của bệnh viện:
“Các điều dưỡng tùy theo chuyên khoa sẽ tham gia vào các lớp khác nhau Bệnh viện kì vọng tỉ lệ tham gia trên 80% do trong quá trình đào tạo vẫn luôn cần duy trì điều dưỡng trực tại khoa phòng để đảm bảo công việc Vì vậy, ít nhiều, sẽ còn một lượng các bạn điều dưỡng nhất định không thể tham gia đầy đủ các lớp” (PVS_QL_2)
Bảng 3.4 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội đã được đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ
thuật điều dưỡng cơ bản (2016-2019) (tỷ lệ %)
đào tạo
Đào tạo chưa đầy đủ
Đã được đào tạo đầy đủ
1 Thực hiện các kỹ thuật cấp cứu
Trang 399 Lấy máu tĩnh mạch 0 2,31 97,69
11 Hướng dẫn và cho người bệnh
13 Thay băng thông thường và có
Trong các nhóm kỹ thuật điều dưỡng đơn giản, theo nhận định của ĐTNC hầu hết các nội dung được đánh giá đã được cập nhật đào tạo đầy đủ với tỷ lệ cao trên 75% Đây là các nhiệm vụ mà họ đang thực hiện tại bệnh viện và cũng là các nội dung mà người điều dưỡng được đào tạo từ khi họ học tại các trường y và các khoa lâm sàng đã được bệnh viện trang bị bộ tài liệu được xây dựng dựa theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế để họ cập nhật và thực hiện Tỉ lệ được đào tạo nhiều nhất là
Đo dấu hiệu sinh tồn, tiêm, truyền tĩnh mạch: 98,46% Thấp nhất là kĩ năng thay băng thông thường và thay băng có ống dẫn lưu chiếm tỉ lệ tham gia 75,38%, nhưng đây cũng là kĩ năng chủ yếu của điều dưỡng khối ngoại Vẫn còn một số nội dung vẫn cần được tiếp tục đào tạo như: Thực hiện các kỹ thuật cấp cứu ban đầu, Kỹ thuật bóp bóng Ambu và ép tim ngoài lồng ngực, Khí dung cho người bệnh, Thay băng thông thường và có ống dẫn lưu được ĐTNC đánh giá đã được đào tạo nhưng chưa đầy đủ chiếm tỷ lệ giao động từ 15.38% đến 22.31%
Kết quả TLN cũng cho thấy điều dưỡng tại BVĐK tỉnh Phú Thọ được đào tạo bài bản các kĩ năng cơ bản:
“Chúng tôi thực hành các kĩ thuật điều dưỡng cơ bản hàng ngày, như tiêm, truyền Vì vậy, nếu có sai, hay không nhớ, sẽ được chấn chỉnh và bắt buộc phải tự học lại ngay Chưa nói gì đến việc đào tạo các kĩ năng này, là hằng ngày, đào tạo liên tục theo hình thức cầm tay chỉ việc luôn” (TLN_2)
Bảng 3.5 Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội được đào tạo về nội dung thực hiện các
kỹ thuật điều dưỡng phức tạp (2016-2019) (tỷ lệ %)
đào tạo
Đào tạo chưa đầy
Đã được đào tạo
HUPH
Trang 40đủ đầy đủ
1 Kỹ thuật cho người bệnh ăn qua
3
Kỹ thuật hút thông đường hô hấp
trên, qua ống nội khí quản, mở
là kĩ thuật có tỉ lệ đào tạo đầy đủ thấp nhất (12,69%), tuy nhiên họ cũng xác nhận chỉ
có 46,54% chưa tham gia đào tạo kĩ thuật này Chọc dò màng tim và rửa màng phổi cũng là 2 kĩ thuật khó mà điều dưỡng chưa được đào tạo đầy đủ, tỉ lệ đào tạo đầy đủ của 2 nhóm này lần lượt là 23,85% và 26,92%
Tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, kết quả PVS và thảo luận nhóm đã chỉ ra nhận xét tương tự tỉ lệ tham gia các kĩ thuật khó phụ thuộc vào chuyên ngành của điều
HUPH