1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương Văn học trung đại (HNUE)

62 595 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Văn Học Trung Đại
Tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Du
Trường học Hanoi National University of Education
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 100,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề cương học phần Thể loại và tác gia tiêu biểu Văn học Trung Đại Việt Nam của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội do khóa 71 Ngữ Văn biên soạn. Đề cương phục vụ cho thi hết học phần, đã bao gồm tất cả các câu hỏi, trả lời theo đúng nội dung giảng viên hướng dẫn, Chúc các bạn thi tốt

Trang 1

Câu 1 (Lí thuyết - 3 điểm)

1 Tiền đề của cảm hứng yêu nước, nhân đạo, tôn giáo

a) Tiền đề cảm hứng yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, tuy mang khiếmkhuyết về cơ thể mù lòa và gặp lúc biến loạn nhưng vẫn giữ được phẩm cách thanhcao Ông không chỉ là người con có hiếu, người thầy thuốc mẫu mực mà còn là mộtnhà thơ yêu nước, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị Ông chủ trương dùng vănchương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa Nói khác hơn,ông làm thơ là để "chở đạo, sửa đời và dạy người" Vì vậy, mỗi vần thơ của ôngđều ngụ ý khen chê công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ một tấm lòng thương dânyêu nước của ông

* Tiền đề chính trị - xã hội:

- Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công nước ta, triều đình nhà Nguyễn vì lợiích của giai cấp mình mà từng bước đầu hàng quân giặc mặc cho những cuộc khởinghĩa của nhân dân nổ ra nhưng bị đàn áp hết sức dã man

- Với lòng yêu nước, thương dân, NĐC đã sử dụng ngòi bút của mình để phê phán,

tố cáo, thể hiện lòng căm thù và khát khao đánh đuổi quân thù

* Bản thân Nguyễn Đình Chiểu:

- Ông sinh ra trong bối cảnh hết sức loạn lạc, chứng kiến cảnh triều đình loạn lạc vàtrở thành nạn nhân của sự loạn lạc đó - người cha lỡ dở sự nghiệp, gia đình phải litán, để lại người mẹ và đàn con năm sáu đứa thơ dại ở Nam Định

- Năm 1843, ông đỗ đầu trường thi Gia Định, nhà họ Nguyễn liền được họ nhà Võkết thông gia Năm 1847, khi chuẩn bị thi Hương thì tai họa ập đến Mẹ mất, ông

về chịu tang mẹ, đường xa cùng với khí hậu khắc nghiệt, bệnh tật cùng nỗi đauthương đã khiến mắt ông bị mù

- Không chịu sự khuất phục của số phận, sau khi chịu tang mẹ ông mở trường dạyhọc, vừa làm thuốc chữa bệnh cứu người vừa sáng tác thơ văn tuyên truyền đạo lý.Sau đó ông lập gia đình

- Niềm vui với gia đình chưa được lâu, nỗi bất hạnh chung của đất nước đã ập đến

1859, thực dân Pháp hạ thành Gia Định, ông phải chạy về Cần Giuoc Cần Giuộcmất, ông về Ba Tri hưởng ứng trong trào “địa tỵ” do Phan Văn Trị khởi xướng vàsáng tác văn chương cổ vũ kháng chiến, ai điếu các chiến sỹ hi sinh vì đất nước

Trang 2

- Tóm lại, nhiều bất hạnh liên tiếp từ thuở ấu thơ cho đến tuổi thanh niên, từ cảnhgia đình đến cảnh chung đất nước đối với NĐC thật giống như những ngọn lửa thửvàng để minh chứng cho một nghị lực đáng quý Con người mù lòa ấy đã sống thật

ý nghĩa, đã làm được những việc có ích nhiều hơn cả những người lành lặn khỏemạnh: vừa làm thuốc chữa bệnh, vừa dạy học và sáng tác văn chương giúp đời, cứunước Cuộc đời khiêm nhường và sự nghiệp bình dị của ông từ khi trưởng thànhluôn gắn liền với những thăng trầm của cuộc kháng chiến giữ nước những ngày đầu

ở Nam Bộ, cũng như trái tim nhân hậu của ông mãi gắn bó sắt son với vận mệnhđất nước

b) Tiền đề cảm hứng nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du

* Chính trị - xã hội:

- Trịnh - Nguyễn phân tranh

- Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên

- Cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh

- Những cơn binh lửa đã khiến non sông chìm trong cảnh tang thương Chỉ trong 30năm, giang sơn nhiều lần đổi chủ kéo theo sự phân hóa, thay đổi lớn trong đời sống

xã hội, sự thăng trầm của các danh gia vọng tộc như dòng họ Nguyễn Tiên Điền

* Bản thân Nguyễn Du:

- Cuộc đời 55 năm của Nguyễn Du gắn với một thời đại lịch sử đầy dữ dội, chínhbối cảnh đó tác động rất lớn đối với Nguyễn Du Cuộc đời của ông trải qua nhiềuthăng trầm nhưng có thể coi cuộc đời của ông đầy những bất hạnh

- Cuộc đời của ông trải qua 4 chặng:

+ 1765 – 1780: thơ ấu sống trong vàng son, nhung lụa

+ 1780 – 1786: cuộc sống yên ổn của Nguyễn Du trong gia đình người anh cả bịxáo trộn bởi những biến cố lớn Vì vụ án năm Canh Tý, Nguyễn Khản bị hạ gục.Năm 1782, chúa Trịnh Sâm qua đời, chỗ dựa của Nguyễn Khản không còn Năm

1784 kiêu binh nổi loạn, tìm giết Nguyễn Khản và phá nát cơ dinh của ông ở kinhthành Nguyễn Khản phải bỏ chạy, từ đây Nguyễn Du lâm vào cảnh thân thế trămnăm mặc cho gió bụi, ăn nhờ hết miền, sông đến miền biển

Trang 3

+ 1786 – 1802: Nguyễn Huệ ra Bắc lần 1 tiêu diệt chúa Trịnh, lên ngôi hoàng

đế Năm 1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 diệt quân Thanh, vua Lê bỏ chạy khỏikinh thành, triều Lê – Trịnh sụp đổ, chỗ dựa của họ Nguyễn Tiên Điền đã mất.Nguyễn Du đau đớn và tìm cách khôi phục lại nhà Lê nhưng đều thất bại Nhà thơlâm vào tình cảnh bế tắc

+ 1802 – 1820: năm 1792, Nguyễn Huệ mất, triều Tây Sơn bị diệt vong và triềuNguyễn được Gia Long tạo dựng, Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn vàđược trọng dụng Năm 1813, ông được cử đi chánh sứ Trung Quốc nhưng tâm tưông luôn day dứt, mâu thuẫn Năm 1820, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời

- Ông sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc nhưng phải sống cuộc sống nhưnhững người dân bình thường, có giai đoạn còn khổ đau hơn nên ông hiều rõ nhântình thế thái, những sự khổ đau, bất hạnh…của nhân gian Cảm hứng nhân đạo cấtlên trong thơ văn Nguyễn Du cũng chính là sự cảm thương cho chính bản thânmình

c) Tiền đề cảm hứng tôn giáo trong thơ văn Trần Nhân Tông

* Chính trị - xã hội:

- Thời nhà Trần dưới sự trị vì của Trần Nhân Tông đã đánh tan hai lần xâm lượccủa quân Mông – Nguyên Ông được đánh giá là một vị vua có tinh thần thân dân,quan tâm đến đời sống, quyền lợi, ý kiến của muôn dân Chính vì vậy, ông đã banhành rất nhiều chính sách có lợi cho nhân dân như: miễn tô thuế, tạp dịch cho cácđịa phương chịu thiệt hại nặng nề bởi chiến tranh Ngoài ra, ông còn ban hànhnhiều chính sách ổn định kinh tế, xã hội Nhờ vậy, đất nước mau chóng phục hồi,hưng thịnh sau sự tàn phá của chiến tranh

- Thời nhà Trần, ba hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo hết sức được chú trong phát triểntạo điều kiện cho tam giáo đồng nguyên

* Bản thân: chất thiền

- Mặc dù là người hoàng tộc nhưng ông luôn có chí hướng xuất gia theo Phật Ông

đã nhiều lần xin nhường ngôi thái tử cho em nhưng không được chấp thuận Có lầnông còn nhân đêm khuya vượt thành đi vào núi Yên Tử ẩn tu

- Thơ của ông đang đậm chất thiền TNT vừa là bậc đế vương, vừa là thiền sư nên

tp của ông vừa có phần đời, vừa có phần đạo Là một vị vua làm thơ, sáng tác của

Trang 4

TNT thẫm đẫm nỗi lo nước, lo đời Ở cương vị 1 thiền sư, thơ của ông chứa đựngnhững tư tưởng Phật học sâu sắc cảm hứng yêu nước, cảm hứng thiên nhiên, cảmhứng tôn giáo là những cảm hứng chính trong thơ văn TNT

- TNT là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được gọi là Phật Hoàng, là

tổ thứ nhất (Pháp Loa nhị tổ, Huyền Quang tam tổ) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

đề cao sự tự giác ngộ và nỗ lực rèn luyện của mỗi cá nhân Dù xuất gia tu hành hay

tu tại gia, sống trong chùa hay ở giữa cõi đời, chỉ cần tâm hướng Phật, cởi bỏ lòngtham, dục vọng mọi nười đều có thể đi đến con đường giác ngộ

- Bản thân TNT: đi thuyết pháp khắp nơi, khuyên răn bỏ những hủ tục, mê tín vàthực hành giáo lý Thập thiện Ông đến tận Chăm pa để tạo lập quan hệ ngoại giao,đặt cơ sở cho việc châu Ô, Lý trở thành một bộ phận của Đại Việt sau đó

2 Tìm hiểu đặc điểm của các cảm hứng nhân đạo, thế sự, yêu nước.

a) Cảm hứng nhân đạo.

* Khái niệm:

- Nhân đạo là tình cảm thương xót hướng đến con người nhỏ bé, bất hạnh

- Nhân đạo gắn liền với chủ nghĩa bác ái, nhấn mạnh tình yêu thương con người,đặc biệt là những con người bé nhỏ, bất hạnh mà không phân biệt giới tính, giaicấp, dân tộc…

* Đặc điểm: Đối tượng hướng đến là con người, đặc biệt là những con người có số

phận bất hạnh, những con người nhỏ bé trong xã hội

Trang 5

cửa phòng” Qua đó, Nguyễn Du đã bay tỏ bao nỗi thương cảm, xót xa cho nỗi đau,nỗi nhớ, nỗi sầu, nỗi lo của người thiếu phụ đợi chồng

+ Niềm cảm thương, nỗi đau trước cuộc sống khổ đau, bế tắc của nhân dân giữabuổi khó khăn, tao loạn được thể hiện trong tác phẩm “Chạy giặc” – Nguyễn ĐìnhChiểu

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng TâyMột bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạyMất ổ đàn chim dáo dác bay”

+ Hay trong truyện “Từ thức lấy vợ tiên” đã phản ánh bi kịch của người tri thức:

Từ Thức đại diện cho mẫu hình kẻ sĩ không thích nghi được với thời cuộc, khôngchấp nhận thực tại thối nát, bỏ quan quy ẩn, tìm kiếm tự do nhưng không thoát likhỏi hiện thực, không cắt đứt được với những ràng buộc của cõi nhân sinh Quaytrở về quê cũ, chàng một lần nữa phải dứt áo ra đi đã thể hiện nỗi cô độc, sự bế tắctrên con đường tìm kiếm hạnh phúc

- Trân trọng, đề cao vẻ đẹp, giá trị con người: vẻ đẹp hình thức, tâm hồn, trí tuệ, tàinăng, ý thức, khát vọng, …

+ Vẻ đẹp con người được khám phá, phát hiện ở những tầng bậc mới, sâu sắc vànhân bản hơn: phẩm chất, đạo đức, tài năng (cống hiến cho cộng đồng) + hình thể,tài năng và ý thức cá nhân, khát vọng mưu cầu hạnh phúc Con người cá nhân được

ý thức như một thực thể hiện tồn, cuộc sống trần tục được coi trọng, đề cao  mẫuhình con người lí tưởng, trung tâm của văn học: con người phàm trần (trong tươngquan với mẫu hình con người thánh nhân quân tử ở các giai đoạn trước) (TKXVIII – đầu TK XIX)

+ Nguyễn Du đã dành cho những “đấng tài hoa” tất cả tấm lòng chân trọng và cáinhìn “biệt nhỡn liên tài” hiếm có Qua ngòi bút của Nguyễn Du, Thúy Kiều hiệnlên với con người tài sắc vẹn toàn:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơnLàn thu thủy nét xuân sơn

Trang 6

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

Tuy nhiên con người với tất cả những vẻ đẹp tài sắc lại chịu kiếp tai họa:

“Một hai nghiêng nước nghiêng thànhSắc đành đòi một, tài đành họa hai”

- Khẳng định, bảo vệ những khát vọng chính đáng của con người: khát vọng khẳngđịnh bản thân, khát vọng tình yêu, khát vọng mưu cầu hạnh phúc, khát vọng tự do,

+ Phát hiện và khẳng định những khao khát nhân bản của con người: khao khátyêu thương, khao khát hạnh phúc (lần đầu tiên trong văn học khát khao yêuthương, hp của con người được đề cập công khai; Nguyễn Dữ quan tâm đến conngười trong truyện là số phận con người cá nhân) (TK XV – XVII)

+ Hay trong “Truyện Từ Thức lấy vợ tiên”, Nguyễn Dữ đã đề cập đến vấn đềkhát khao hạnh phúc của con người mà nhất là người phụ nữ Dù ở trong thời đạinào, là người hay tiên, họ đều hiện lên với những khát khao nhân bản nhất Ngoài

ra, thông qua nhân vật Từ Thức, tác giả đề cập đến khát khao tự do, khát khao đượcgiải thoát ra khỏi thế giới thực tại tù túng, ngột ngạt, khát vọng về một thế giớithanh sạch cho người trí thức có nhân cách và khát khao về một cuộc sống hạnhphúc

- Phê phán và đấu tranh chống lại những thế lực chà đạp lên con người

+ Đồng thời với việc khẳng định con người với tất cả những vẻ đẹp giá trị, cáctác giả còn phê phán thế lực chà đạp lên con người, đấu tranh cho quyền sống,quyền hạnh phúc của con người

+ Trong tác phẩm “Sở kiến hành” của Nguyễn Du, ngoài việc cảm thông cho sốphận của những người phụ nữ mà ở đây là người phụ nữ và những đứa con ăn xinnơi đầu đường xó chợ hết sức đau khổ Trái với khung cảnh bi thương ấy, tác giảphác họa ở trong một quán xá nào đó, quan lại chè chén lu bù, những thức ăn quanlại không đụng đũa, tùy tùng chỉ nếm qua rồi vứt cho chó, nhưng đến cả chó cũngkhông thèm ăn Qua đó, Nguyễn Du phê phán tầng lớp quan lại không chăm lo đếnđời sống của nhân dân mà chỉ lo ăn uống tiệc tùng, xa hoa, lãng phí, bóc lột côngsức lao động của người dân, …

Trang 7

b) Cảm hứng thế sự.

* Khái niệm: Cảm hứng thế sự là những tác phẩm đề cập đến các vấn đề nhân

sinh, xã hội có tính chất đời thường, thế tục và thể hiện qua niệm, thái độ, cáchđánh giá, phân tích, phê bình, lí giải của tác giả

* Đặc điểm:

- Đối tượng phản ánh: những vấn đề nhân sinh xã hội có tính chất đời thường

- Quan điểm, thái độ của tác giả: phân tích, đánh giá, luận bàn, thường nghiêng vềphê phán, phủ nhận

- Vị trí trong nền văn học trung đại VN: Là một trong những nguồn cảm hứng chủđạo, có mặt ở tất cả các giai đoạn của văn học trung đại VN Vai trò của cảm hứngthế sự đặc biệt được khẳng định trong văn chương của các nhà nho

- Lực lượng sáng tác: chủ yếu là các nhà nho Mối quan tâm lớn nhất của các nhànho là vấn đề nhân sinh xã hội hay còn là nỗi lo đời, thương đời Quan niệm về giátrị của các nhà nho: xu hướng đối lập lí tưởng nhân nghĩa với lợi ích, vật chất, tiềntài, danh vọng

- Quan niệm văn học: coi trọng chức năng giáo huấn, gắn văn chương với nhiệm vụchính trị, xã hội

* Biểu hiện:

Về nội dung:

- Suy tư, triết lí về nhân tình thế thái: sự phức tạp của mối quan hệ nhân sinh; sự thahóa của đạo đức con người; đồng tiền chi phối mối quan hệ giữa người với người,các giá trị đảo lộn

+ Trong “Tự thuật 9”, Nguyễn Trãi đã phơi bày và tố cáo, phê phán bản chất thốinát của xã hội lúc bấy giờ Một xã hội mà ở đó, các giá trị bị đảo lộn một cách trắngtrợn, kệch cỡm NgưỜI có tài năng thì không được chân trọng, bị coi khinh, coi rẻcòn những thứ phi giá trị lại giữ vị thế quan trọng Qua đó ông thể hiện suy tư, lo

âu trước sự tha hóa của con người, của xã hội

“Phượng những tiếc cao diều hãy liệngHoa thì hay héo cỏ thường tươi”

Trang 8

+ Hay trong tác phẩm “Vịnh nhân tình thế thái”, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện

sự suy tư trước xã hội bị đồng tiền chi phối, trước sức mạnh ghê gớm của đồngtiền, nó làm đạo đức suy đồi, làm đổi trắng thay đen, thay đổi bản chất của conngười

“Hễ không điều lợi, khôn thành dại,

Bài thơ trên là một sự đả kích, châm biếm một cách sâu cay thói tham nhũng,đục khoét dân của tri phủ Xuân Trường, đồng thời cũng của bọn quan lại gian thamtrong xã hội thực dân nửa phong kiến

+ Hay trong truyện Hà Ô Lôi phản ánh những nếp sống hư đốn đời Trần Dụ Tôn,

tố cáo cuộc sống bê tha trụy lạc của các vua chúa ngày xưa, sự dâm ô của họ khôngkiêng nể một ai và sẵn sàng bênh vực cho tội lỗi Cảnh sống giả dối của bà góacũng được phơi bày bằng những nét thô bạo Cả một xã hội suy tàn được trưng ravới tất cả những cái xấu xa, bỉ ổi (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp)

Trang 9

- Phản ánh cuộc sống sinh hoạt thường nhật của con người: những phong tục tậpquán, những sinh hoạt đời thường: thi cử, lễ hội, hôn nhân, lao động sản xuất, …những mối quan hệ gia đình, xã hội: quan hệ quân thần, phụ nữ, bằng hữu, huynh

đệ, phu thê, quan hệ giữa giai cấp thống trị và người bị trị, giữa kẻ giàu và ngườinghèo, …

+ Truyện Trầu Cau giải thích tục lệ ăn trầu và cưới xin của ta Đó là truyện củahai người anh em đang ở thuận hòa với nhau thì bỗng nhiên một người con gái đếnlàm cho hạnh phúc của họ tan vỡ Người em buồn bã đi lang thang rồi chết hóathành cây Người anh về sau cũng gục chết hóa thành một tảng đá Người vợthương chồng đi tìm rồi cũng lại chết hóa thành cây trầu Sau đấy Hùng Vương biếtchuyện và tình cờ khám phá ra cái thú ăn trầu Đó là một cách nói bóng bẩy để nóiđến căn bản của hôn nhân Việt Nam là ái tình (Lĩnh Nam chích quái – Trần ThếPháp)

+ Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy kể lại sự quý trọng của người VN đối với bánhdày và bánh trưng Nguồn gốc của hai thứ bánh ấy có tính thần thánh vì chính thầnthánh đã báo mộng cho Lang Liêu biết cách làm bánh Bánh dày hình tròn tượngtrưng cho trời, bánh trưng hình vuông tượng trưng cho đất, thể hiện quan niệm vềtriết lí âm dương và tín ngưỡng phồn thực (sinh sản) (Lĩnh Nam chích quái – TrầnThế Pháp)

Về hình thức:

- Về thể loại: Cảm hứng thế sự có mặt ở nhiều thể loại của văn học trung đại, hầuhết là thể loại văn học nghệ thuật: Thơ Đường luật chữ Hán, chữ Nôm, truyệnNôm, ngâm khúc, truyện kí, tiểu thuyết chương hồi,

- Ngôn ngữ: sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm; khuynh hướng sử dụng ngônngữ đời thường

- Hình tượng: bên cạnh những hình tượng mang tính tượng trưng, ước lệ, xuất hiệnnhiều hình tượng có nguồn gốc từ đời sống (người dân bé nhỏ, người ăn mày, kẻtha hương, tiến sĩ giấy, mẹ Mốc, ông phỗng đá, anh khóa hỏng thi, …)

c) Cảm hứng yêu nước

Trang 10

* Khái niệm: Yêu nước theo nghĩa hẹp là tình cảm yêu thương, gắn bó một cách tự

nhiên, không vụ lợi với nơi sinh ra, lớn lên hoặc sinh sống Yêu nước theo nghĩarộng là yêu gia đình, quê hương, giang sơn đất nước, dân tộc, đồng bào, …

* Đặc điểm:

- Cảm hứng yêu nước là cảm hứng xuyên suốt văn học trung đại VN

- Cảm hứng yêu nước giữ vai trò chủ đạo trong những giai đoạn nhất định

- Cảm hứng yêu nước thời kì chống ngoại xâm có những biểu hiện khác biệt rõ nét

so với thời kì xây dựng triều đại phong kiến

* Biểu hiện:

- Khẳng định độc lập, chủ quyền của đất nước:

“Nam quốc sơn hà nam đế cưTuyệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạmNhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Bài thơ đã khẳng định một cách dõng dạc, chắc nịch về độc lập, chủ quyền củađất nước ta: Đại Việt ta là một quốc gia độc lập, có lãnh thổ riêng, được trời đất,thần linh phân định tại sách trời Từ đó, Lý Thường Kiệt kết lại bài thơ bằng lờicảnh báo đầy đanh thép đối với hành động ngôn cuồng, phi lí của quân xâm lược:

đó là kết cục thất bại thảm hại của chúng khi xâm phạm bờ cõi nước Nam bởichúng đã đi ngược lại với lẽ trời

- Căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước:

Trong “Hịch tướng sĩ”, Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp bộc bạch nỗi lòng căm thùgiặc sâu sắc đến mức quên ăn quên ngủ, đau đớn tột cùng “Ta thường đến bữa quên

ăn, nửa đêm vỗ gối ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” Nỗi đau, nỗi uất hận ấy

đã hoá thành hành động “muốn xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù” và caohơn nữa là ước nguyện sẵn sàng xả thân vì nước “dẫu cho trăm thần này phơi ngoàinội cỏ nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”

- Tự hào về truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc, về những chiến công vangdội của thời đại, về thành tựu của quốc gia, dân tộc, về sức mạnh của con người và

vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, …

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

Trang 11

Cũng là bãi đất xưa, thưở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”

“Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu là bài ca hào hùng của thời đại đãthể hiện được khí thế mạnh mẽ của dân tộc ta Với tác giả, Bạch Đằng giang khôngđơn giản chỉ là địa danh, là thẳng cảnh nổi tiếng mà còn là chiến địa lừng danh vớinhững chiến công lẫy lừng đã đi vào lịch sử của quân dân ta

- Khát vọng hòa bình cho đất nước, khát vọng xây dựng quốc gia phồn thịnh, vữngbền

“Chương Dương cướp giáo giặcHàm Tử bắt quân thùThái bình nên gắng sứcNon nước vẫn nghìn thu”

Trần Quang Khải đã tái hiện lại không khí hoành tráng, khí thế chiến thắng vangdội của quân dân nhà Trần qua bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” Bài thơ vừa làtổng kết một chặng đường kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược vớinhững chiến công oanh liệt; vừa xác định ý thức trách nhiệm lớn lao của mỗi ngườitrong việc bảo vệ, xây dựng đất nước thanh bình, bền vững, dài lâu

- Lòng yêu thương, gắn bó với quê hương (đặc biệt trong thơ đi sứ)

Ta có thể thấy tình yêu quê hương sâu sắc trong bài “Quy cố trạch” của Cao BáQuát:

“Xóm chợ người đông đúcTre làng xanh một màuNgõ sâu tiếp đường cáiCổng tre lên tiếng chào”

=> Quê hương được ông tái hiện lên với những hình ảnh bình dị, quen thuộc, trở đitrở lại Đó là cây gạo đầu làng, xóm chợ, đường làng, cái cổng tre, … rất xúc động.Điều này cho thấy tình yêu quê hương đất nước luôn nồng nàn trong tâm hồn Cao

Bá Quát

Trang 12

- Sự giao thoa giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự được thể hiện ở 2 luậnđiểm sau:

+ Phản ánh cuộc sống khổ đau, bất hạnh của con người cùng các căn nguyên:chiến tranh, thiên tai, nhân họa, …

+ Phê phán, tố cáo tội ác của giai cấp cầm quyền, của những thế lực tàn bạo gâynên nỗi khổ cho con người

* Chứng minh:

- Tác phẩm “Mẹ Mốc” – Nguyễn Khuyến:

+ Trong tác phẩm “Mẹ Mốc”, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nỗi khổ đau, bấthạnh của người phụ nữ có nhan sắc tuyệt trần phải giả vờ điên dại để danh trọn tâm

tư cho chồng con đang ở xa

+ Cùng với niềm cảm thông sâu sắc đó, Nguyễn Khuyến phê phán xã hội rốiren, xoay vòng bế tắc, những con người “phàm phu tục tử” trong xã hội với nhữngmưu tính xấu xa với thân thể của người phụ nữ mà từ đó cảm khái xã hội đạo đức + Tác phẩm “Mẹ Mốc” của Nguyễn Khuyến đã mượn hình ảnh người phụ nữ bénhỏ trong xã hội phong kiến để bày tỏ nỗi lòng của một nhà thơ “ưu thời mẫn thế”

Sự bày tỏ niềm thương xót trước số phận của người phụ nữ giả điên để dành trọntâm tư cho chồng con là cảm hứng nhân đạo nhưng sự phát hiện về hành động củanhân vật lại trở thành cảm hứng thế sự Nỗi băn khoăn, dằn vặt của nhà thơ trước

Trang 13

tình cảnh loạn lạc của xã hội là cảm hứng thế sự nhưng tấm lòng xót xa của nhà thơtrước hoàn cảnh ấy lại là cảm hứng nhân đạo Tấm lòng nhân đạo ấy sẽ luôn cònmãi trong tư tưởng của Nguyễn Khuyến, ngay cả khi chết đi cũng không thể nàonguôi ngoai “Cho đến lúc thành tro mà lệ vẫn chưa khô”.

- Tác phẩm “Sở kiến hành” của Nguyễn Du:

+ Nguyễn Du phản ánh cuộc sống đói khổ của con người trong xã hội phongkiến: mẹ con người hành khất xin ăn dọc đường còn bọn quan lại thì rượu thịt thừamứa “người thừa cứ đổ xuống sông, người chết đói mò ăn không được”

+ Qua đó, Nguyễn Du phê phán sâu sắc bọn vua quan vô trách nhiệm trước nỗithống khổ của nhân dân Trái ngược với cảnh mẹ con ăn xin, vua quan nào là rượuthịt ê chề vẫn không đụng đũa, tùy tùng cũng chỉ nếm qua rồi đổ đi cho chó nhàhàng xóm nhưng chó cũng chán thức ăn ngon

+ Cảm hứng thế sự trong bài thơ được cất lên từ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn

Du Có đồng cảm mới có sự lo âu trước muôn sự cơ cực của người dân Nhà thơ đãnói lên một sự thật đau lòng về quyền sống và hạnh phúc của những con người nhỏ

bé dưới đáy xã hội Cả hai nguồn cảm hứng đều bắt nguồn từ cái tâm “tiên thiên hạchi ưu nhi ưu”, yêu thương con người cùng tài năng của tác giả Nguyễn Du

b) Cảm hứng nhân đạo - tôn giáo

- Thời trung đại, ở các nước phương Đông nói chung, VN nói riêng đã chịu ảnhhưởng sâu đậm của Nho giáo, Phật giáo và tư tưởng Lão Trang nên tư tưởng Tamgiáo đã đi vào thế giới văn chương như một lẽ tất nhiên Khuynh hướng cảm hứngtôn giáo đã xuất hiện trong các sáng tác với mục đích truyền bá, luận giải, tándương tư tưởng tôn giáo Đồng thời, cảm hứng tôn giáo còn có mối quan hệ ảnhhưởng, gặp gỡ và hòa hợp giữa các yếu tố tích cực của Tam giáo với cảm hứngnhân đạo trong các sáng tác trung đại

- Đại diện như triết lý Tứ đế (Khổ - Tập - Diệt - Đạo) được thể hiện qua nhân vậtKiều trong “Đoạn trường tân thanh”

+ Triết lý về khổ xuất hiện rất đậm nét và đa dạng qua thi phẩm, Nguyễn Du đãmượn thân phận của người con gái, một thành phần hứng chịu nhiều bất công vàđau khổ nhất của thời phong kiến xa xưa để ngợi ca, xót thương cho những kiếpngười tài hoa bạc mệnh cũng như phản ánh nỗi đau khổ của kiếp người theo quanniệm Phật giáo Cái khổ ấy là do xã hội và con người mang lại cho nàng, nhưng sâu

xa hơn hết, chính là do nàng tự chuốc lấy bao phiền muộn cho mình, để rồi phảichịu số kiếp truân chuyên mười lăm năm đoạn trường Nguyên nhân tạo ra baocảnh đoạn trường cho nàng là do từ ái sanh ưu, từ ưu sanh khổ, vì một chữ tình mà

đã đẩy nàng chìm nổi trong sóng gió ba đào Kiều nếu không có sự thương cảm với

Trang 14

nấm mộ Đạm Tiên bên đường, không nặng mối tình si với chàng Kim thì có lẽKiều sẽ có một cuộc đời ung dung tự tại

+ Chữ “tâm” là thiện căn, mà cái gốc của cái thiện chính là “hiếu nghĩa”, dùngcái hiếu để chiến thắng cái ác, là nguồn gốc cho bao truân chuyên của một kiếphồng nhan bạc phận Nhưng Nguyễn Du đề cao tâm thiện, đề cao những phẩm chấttốt đẹp ấy, tất sẽ thắng được vận mệnh nghiệt ngã theo quan niệm “phúc đức tạimẫu” Ở đây, Nguyễn Du đã thể hiện cái nhìn nhân đạo của mình khi khẳng định sựcảm thông với số phận và đề cao con người thiên tính của Kiều Đồng thời, chữTâm trong Phật giáo tương đương với chữ Tình “tâm là phúc đức, tình là thiênhoan” ý là Kiều không chỉ khổ vì xã hội đồng tiền mà còn khổ ở tâm nặng tình, đóchính là cái nghiệp mà Thúy Kiều tự tạo cho mình với “nội tâm đa đoan”

c) Cảm hứng yêu nước - thiên nhiên

- Viết về thiên nhiên với niềm hứng thú, say mê, ngợi ca cảnh sắc tuyệt đẹp củathiên nhiên để thể hiện lòng yêu nước

- Các nhà thơ thời Trần hướng ngòi bút đến thiên nhiên rộng lớn, hùng tráng Nhiềuđịa danh gắn với chiến công chống giặc và đã vào thơ với một cảm hứng mãnh liệt,được mô tả bằng hình tượng kì vĩ, trong sáng, chứa đựng những lời bình phẩmmang tầm tư tưởng lớn

+ Mấy chục năm sau chiến thắng, sông Bạch Đằng vẫn hoành tráng trong thơvua Trần Minh Tông, trong “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu VớiTrương Hán Siêu, “Bạch Đằng giang” là địa danh, là thắng cảnh nổi tiếng nhất, đủthỏa mãn khát vọng, chí bốn phương của khách viễn du Bởi nơi đây còn là chiếnđịa lừng danh chiến thắng của dân tộc Qua lời kể của các nhân vật bô lão, bài phútái hiện lại trận đánh lịch sử nơi đây, làm sống lại những chiến công liên tiếp trênsông với khí thế bừng bừng của đội quân cứu nước:

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô MãCũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao

+ Hay trong tác phẩm “Hạnh Thiên Trường hành cung”, thông qua miêu tả thiênnhiên tươi đẹp, ông đã bày tỏ cảm xúc về hai trận thắng giặc:

“Cảnh thanh u vật diệc thanh uThập nhất tiên châu thử nhất châuBách bố sinh ca cầm bách thiệt

Trang 15

Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu”

Cảnh sắc tươi đẹp, thanh nhã, tĩnh lặng như chốn thần tiên Đất trời, núi sông,cây cỏ, chim chóc, vầng trăng được đón nhận với cái tâm thanh thản, ung dung.Non sông thanh bình là niềm tự hào, kiêu hãnh của đấng quân vương vừa hoànthành sứ mệnh lịch sử, lãnh đạo kháng chiến chống quân xâm lược Có lẽ chính vìtình yêu vô bờ dành cho đất nước nên ông mới có thể viết nên những dòng tuyệt tácnhư vậy

4 Cảm hứng thiên nhiên là cảm hứng chủ đạo trong văn học trung đại Hãy lí giải vấn đề đó

* Khái niệm:

- Thiên nhiên là toàn bộ thế giới tự nhiên xung quanh con người, không phải do conngười tạo nên, bao gồm các yếu tố: không khí, nguồn nước, tài nguyên, khoáng sản,động thực vật, các yếu tố địa lí, địa hình, … Trong văn học, thiên nhiên thườngđược hình dung gắn liền với cảnh quan, với sự hiện diện của các loài động - thựcvật

- Cảm hứng thiên nhiên là những tác phẩm lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mĩ,viết về thiên nhiên với niềm say mê, ca tụng, ngưỡng mộ Thiên nhiên là hiện thâncủa cái đẹp, khơi gợi những rung cảm thẩm mĩ của người nghệ sĩ

- Theo cách tiếp cận khác, cảm hứng thiên nhiên là những tác phẩm có sự xuất hiệncủa hình ảnh thiên nhiên để biếu đạt các vấn đề khác nhau: ca tụng vẻ đẹp của thếgiới tự nhiên, ngụ ý tư tưởng đạo đức, tôn giáo, thể hiện lí tưởng, chí hướng, lốisống, … Thiên nhiên là chính nó + thiên nhiên ngụ ý + thiên nhiên biểu tượng

* Vị trí của cảm hứng thiên nhiên: có mặt suốt tiến trình văn học trung đại, là

một trong những khuynh hướng cảm hứng quan trọng, gắn liền với các khuynhhướng cảm hứng: yêu nước, nhân đạo, tôn giáo, thế sự, có vai trò, đậm nhạt tùy vàotừng giai đoạn lịch sử và các tác giả

- Thế kỉ XIX – XIV:

+ Hình ảnh thiên nhiên mang nhiều tính ngụ ý Các nhà văn mượn thiên nhiên

để truyền dẫn thông điệp tôn giáo, quan niệm về quốc gia, dân tộc, vai trò sứ mệnhcủa bậc thánh nhân, quân tử, …

“Giác hưởng tùy phong xuyên trúc đáoSơn nham đái nguyệt quá tường lai”

(Tiếng tù và theo gió luồn trúc mà đến,Ngọn núi cao cõng trăng vượt tường mà qua)

Trang 16

(Thiền sư Viên Chiếu) + Thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp phonh phú, sinh động khơi gợi những rung cảm thẩm mĩ của người nghệ sĩ Bức tranh thiên nhiên hiện lên với nhiều màu sắc khác nhau: trong trẻo, thơ mộng; diễm lệ - bình dị, cao quý - gần gũi, …

“Lão tang diệp lạc tàm phương tậnTảo đạo hoa hương giải chính phì”

(Dâu gia lá rụng tằm vừa chínLuá sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo)

(Quy hứng, Nguyễn Trung Ngạn)

“Trăng trong gió mát là tương thứcNước biếc non xanh ấy cố tri”

(Thơ Nôm Bài 90 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

- Thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX:

+ Thiên nhiên ngụ ý những tâm sự, cảm xúc về nhân sinh, thế sự, về thân phận

cá nhân của con người nghệ sĩ

“Một trái trăng thu chín mõm mòmNày vừng quế đỏ, đỏ lòm lomGiữa in chiếc bích khuôn còn méoNgoài kép đôi cung cánh vẫn khòm”

(Trăng thu – Hồ Xuân Hương)

Trang 17

+ Thiên nhiên là hiện thân của thế giới tự nhiên trong trẻo, thơ mộng, rộng lớn,khoáng đạt – nguồn hạnh phúc, nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ

“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điềnTrường gian như kiếm lập thanh thiên”

(Hiếu quá Hương Giang – Cao Bá Quát)

- Nửa cuối thế kỉ XIX:

+ Thiên nhiên ngụ ý những tâm sự, cảm xúc thời thế: Nguyễn Khuyến, Tú

“Giang thế duyên phong tuyềnĐài ngân đới vũ tiên”

(Dòng sông chảy theo ven núiNgấn rêu đượm nước mưa trông mơn mởn)

(Sơn thượng, Nguyễn Quang Bích)

* Giá trị tả thực và ngụ ý:

- Tái hiện vẻ đẹp sinh động, phong phú, đa màu sắc của thiên nhiên, tạo vật Ngườinghệ sĩ đến với thiên nhiên bằng sự rung cảm trước cái đẹp, bằng khao khát tậnhưởng, chiếm lĩnh thế giới tự nhiên tươi đẹp

+ Thiên nhiên là đối tượng trung tâm được miêu tả, tái hiện

+ Người nghệ sĩ thể hiện sự rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp thiên nhiên

+ Những tâm sự, ngụ ý qua hình tượng thiên nhiên: tình yêu quê hương, đấtnước, sự mãn nguyện với cuộc sống an nhàn, thư thái, …và hình ảnh thiên nhiên có

sự tương đồng về nội dung biểu hiện

Bảo kính cảnh giới số 43 – Nguyễn Trãi

Trang 18

Rồi hóng mát thuở ngày trường,

Hòe lục đùn đùn tán rợp trương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,Dần giàu đủ khắp đòi phương

- Thiên nhiên vừa đại diện cho thế giới tươi đẹp, sống động vừ là hình ảnh mangtính biểu tượng, nơi tác giả gửi gắm tư tưởng tôn giáo, quan niệm nhân sinh, chíhướng lí tưởng cá nhân, tâm sự về nhân tình thế thái, về nhân dân, đất nước… + Đối tượng trung tâm được phản ánh: thiên nhiên và ngụ ý người viết

+ Thiên nhiên được miêu tả với những đặc điểm, sắc thái, vẻ đẹp vốn có

+ Người nghệ sĩ thông qua hình ảnh thiên nhiên để biểu đạt tư tưởng: tôn giáo,quan niệm thẩm mĩ, cảm khái thế sự, tâm sự cá nhân

Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương

Một đèo một đèo lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son hoét tùm hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Lắt léo cành thông cơn gió tốc,Đầm đìa lá liễu giọt sương gieoHiền nhân quân tử ai là chẳngMỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

* Đóng góp: phong phú về nội dung về nghệ thuật, là một yếu tố làm nên vẻ đẹp

tâm hồn cho người Việt

- Giai đoạn 1: Đa dạng loại hình “cảm hứng thiên nhiên”: chủ yếu thơ chữ Hán, tác giả thiền sư, nhà nho, vua quan, tôn thất (đời Trần)

- GĐ2: phát triển giai đoạn 1, mở rộng thể loại (thiên về thơ Nôm, vãn, khúc), tác giả nhà nho chủ yếu

- GĐ3: Thính đạt “thơ thiên nhiên” Hán - Nôm, thân kiểu “thiên nhiên” ngụ ý - tràolông, thêm ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói, tác giả đa dạng (Nho hàng đạo, ẩn dật,tài tử, bình dân), hoàng tộc (Lê – Trịnh, Nguyễn, quan chức, thiền sư, …)

- GĐ4: Thơ chữ Hán và Nôm, hát nói, truyện Nôm, tác giả nhà Nho, hoàng tộc

Trang 19

Câu 2 (Vận dụng phân tích – 7 điểm)

I Phân tích một cảm hứng qua một bài thơ, một đoạn thơ hoặc so sánh hai bài thơ

1 Cảm hứng nhân đạo

Cảm hứng nhân đạo là tình cảm thương xót hướng đến con người nhỏ bé, bất hạnh.Nhân đạo gắn liền với chủ nghĩa bác ái, nhấn mạnh tình yêu thương con người, đặcbiệt là những con người bé nhỏ, bất hạnh mà không phân biệt giới tính, giai cấp,dân tộc, … Đối tượng hướng đến là con người, đặc biệt là những con người có sốphận bất hạnh, những con người nhỏ bé trong xã hội

Luận điểm 1: Cảm thông, thương xót, thấu hiểu, chia sẻ với nỗi đau khổ cả về vật chất lẫn tinh thần của con người.

Trong bài “Độc Tiểu Thanh ký”, Nguyễn Du đã dành tấm lòng thương cảm và lệ cho nàng Tiểu Thanh

Cái gò hoang nơi chôn Tiểu Thanh gợi lên ở Nguyễn Du bao điều thổn thức:

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

Hình tượng thơ đặt trong sự đối lập: “cảnh đẹp - gò hoang”, gợi sự đổi thay khốc liệt: vườn hoa Tây Hổ đẹp là thế mà nay đã thay đổi hết, không lưu lại một chút dấu vết nào Nguyễn Du đã khai đề bài “Độc Tiểu Thanh kí” bằng một câu thơ xót

xa, thương cảm Niềm thương cảm xót xa nhân lên gấp bội vì nơi gò hoang lạnh lẽo

ấy đặt trong nghịch cảnh trớ trêu, nghịch cảnh giữa quá khứ - hiện tại, giữa vẻ đẹp huy hoàng - sự hoang vu cô quạnh Và tại nơi đây, cuộc viếng thương Tiểu Thanh chỉ có một Nguyễn Du và một tập sách bị đốt dở Chữ "độc" và chữ "nhất" trong câu thơ chữ Hán cũng là để nói một lòng đau tìm gặp một hồn đau Từ "mảnh giấy tàn" trong tập thơ của Tiểu Thanh bị đốt còn sót lại, Nguyễn Du nghĩ tới cuộc đời nàng Vì "mảnh giấy tàn" ấy chính là mảnh đời Tiểu Thanh vụn tan còn vương lại

Trang 20

Đời Tiểu Thanh là điển hình của hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc phận, tài mệnh tương đố Người đẹp như nàng mà bất hạnh, chết yểu Có tài thơ văn như nàng mà

có thể tàn về thân xác nhưng cái hồn, cái thần của nó thì "chôn vẫn hận" Cái mệnh của Tiểu Thanh thật ngắn ngủi mà cái mệnh văn chương của nàng thì dẫu "đốt còn vương" Trong tiếng khóc Tiểu Thanh của nhà đại thi hào, giọt nước mắt xót

thương đã kết thành hạt châu trân trọng, ngưỡng mộ cái đẹp và tài năng Đặt trong hoàn cảnh quan niệm chính thống phủ nhận tài hoa, trí tuệ của người phụ nữ mới càng thấy hết sự cao cả và chiều sâu nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Du

Các bài thơ về sau của ông như “Long thành cầm giả ca, Điếu La thành ca

giả” càng cho chúng ta thấy những mối quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc thường xuyên của Nguyễn Du với tầng lớp ả đào - kỹ nữ Ông dành phần lớn thời gian sáng tác về cuộc đời của họ và thể hiện niềm thương cảm, tiếng khóc xót xa của ông trước những thân phận ấy

“Mé cuối tiệc một người nho nhỏTóc hoa râm mặt võ mình gầy”

(Long Thành thành ca giả)

“Buồn nỗi đời nay không kẻ biếtSuối vàng làm bạn Liễu Kỳ Khanh”

(Điếu La thành ca giả)

Trang 21

Một người từng là cô gái trẻ trung, phong nhã giờ đã trở thành “một chị gầy gò, tiều tụy, sắc mặt đen sạm, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều mảnh trắng” khiến Nguyễn Du đau lòng Đau lòng hơn là ngón đàn tài hoa ấy không phải lúc nào cũng có những khách tri âm thông hiểu và trân trọng Một người giữa

dương gian có trăm vạn chúng sinh mà chẳng có lấy một người tri âm, tri kỷ Bi kịch tinh thần lớn nhất của nàng chính là không có được sự cảm thông mà chỉ có thể bầu bạn với kẻ dưới suối vàng Trước tình cảnh của hai người con gái tài hoa

mà bạc mệnh Nguyễn Du đau lòng, xót xa không yên “người ta trong cõi trăm năm,những sự vinh, nhục, buồn, vui thật không lường trước”

Sự bất hạnh của giai nhân có thật Nỗi thương cảm của thi nhân cũng là thực lòng Theo như những giai thoại kể lại thì cả hai ca nữ này đều không thân thiết với Nguyễn Du, chỉ một hai lần gặp mặt, nhưng thi nhân lại thành thật nhỏ lệ khóc thương người mệnh bạc Nỗi niềm thương cảm trong lòng Nguyễn Du là vô cùng lớn, được tích tụ qua bao nhiêu năm tháng chứng kiến sự bất hạnh của người ả đào trong xã hội, nên trước những thân phận cụ thể như cô Cầm, cô Nguyệt ông mới xúc động buồn thương đến thế Chúng ta có thể hiểu rằng thái độ của ông với hai người ca nữ này chính là thái độ đối với nhân vật ả đào nói chung

Nguyễn Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất của văn học trung đại Việt Nam.Trong xã hội nam quyền phong kiến, phụ nữ là những người chịu nhiều khổ nhụcnhất, trong đó, người ả đào lại là những phụ nữ khổ nhục hơn cả Nhưng bất chấpnhững định kiến xã hội và lập trường Nho giáo, Nguyễn Du vẫn thể hiện thái độthương xót và đồng cảm tột cùng với nỗi đau khổ của người kỹ nữ, những người

“sống đã chịu một đời phiền não”, không người đoái thương, nương tựa

Không chỉ vậy, đối với Nguyễn Du, con người đáng thương không chỉ vì cái tâm dễ

bị vùi dập, cái tài dễ bị bào mòn mà còn vì thân xác mong manh, hữu hạn Nếu cácnhà thơ Thiền đời Lý - Trần miêu tả tấm thân trần thế nhỏ nhoi, dễ dàng tan biến đểthể hiện thái độ bình thản, an nhiên trước lẽ vô thường thì Nguyễn Du nói đến thân

để mà ngậm ngùi, thương cảm Nhà thơ đau xót cho chiếc thân trôi nổi Ông tiếccho tấm thân mòn mỏi, bất lực trước sự huỷ hoại của thời gian:

“Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng"

(Ngày xuân nhưng thân không còn trẻ nữa)

(Thanh Minh ngẫu hứng)Như vậy, … kết luận

Trang 22

Luận điểm 2: Trân trọng, đề cao vẻ đẹp, giá trị con người: vẻ đẹp hình thức, tâm hồn, trí tuệ, tài năng, ý thức, khát vọng của con người

Có thể thấy rất rõ cảm hứng của Nguyễn Du trước cái đẹp và tài năng không chỉ làniềm xót thương mà còn là sự trân trọng, khẳng định, đề cao Viếng ca nữ đất LaThành, tác giả thương cho "nghiệp chướng phấn son" nhưng đồng thời ca ngợi mộtgiai nhân tuyệt sắc:

"Non bồng xa xuống một cành xinhSắc đẹp màu xuân nức sáu thành"

Trong “Bài ca người gẩy đàn ở Long Thành” (Long Thành cầm giả ca), nhà thơ xótthương trước "nhan sắc người đẹp suy tàn" mà cảm hứng ngưỡng mộ vẻ đẹp tàinăng người ca nữ đất Long Thành, sau hai mươi năm vẫn không hề tàn theo nămtháng:

“Băm sáu cung xuân kia chung đúcĐất Trường An hạt ngọc liên thành”

Nguyễn Du đã dùng những hình ảnh cao quý của tự nhiên như “sắc đẹp màu xuân,cành xinh, băm sáu cung xuân, hạt ngọc liên thành” để miêu tả về sắc đẹp cũng nhưtài năng, tiếng đàn của những ả đào Đó là nhan sắc lay động lòng người, nức tiếnggần xa, vẻ đẹp ấy rực rỡ, tràn trề sức xuân của người thiếu nữ Nhan sắc ấy xứngđáng có một cuộc đời an yên, yêu chiều, yêu thương “bồng”

Còn ả đào chốn Long Thành tuy không mang vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹnnhưng tài năng của nàng được ca tụng là đàn ra những bản nhạc “hay nhất ở trêntrời cũng như giữa cõi người” Những người tướng lĩnh Tây Sơn rất hâm mộ và coinàng như một báu vật Đó là thời kì đỉnh cao của nàng, nàng được đối xử và trântrọng xứng đáng với giá trị và tài năng mà nàng cống hiến cho đời, cho người Và

dù vận đổi sao dời, thì ngón đàn ấy của nàng vẫn thế, vẫn tài hoa trường tồn vàgiúp Nguyễn Du nhận ra nàng dẫu bao năm xa cách

Như vậy, từ hai bài thơ trên, Nguyễn Du không chỉ cùng viết về đề tài ả đào mà cònđều thể hiện sự trân trọng, ngưỡng mộ, đề cao vẻ đẹp, tài năng và giá trị của ngườiphụ nữ nói riêng và con người nói chung

Trang 23

Luận điểm 3: Khẳng định, bảo vệ những khát vọng chính đáng của con người: khát vọng khẳng định bản thân, khát vọng tình yêu, khát vọng mưu cầu hạnh phúc, khát vọng tự do, … của con người.

Trong thơ Hồ Xuân Hương, ta dễ dàng thấy được những khát vọng chính đáng củangười phụ nữ nói riêng vfa của con người nói chung

Trong bài thơ “Mời trầu”, Hồ Xuân Hương đã bộc lộ khát vọng tình yêu, khát vọnghạnh phúc

“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi”

"Quả cau nho nhỏ" là cách nói khiêm tốn, ý nhị của người phụ nữ trong ca dao mà

Hồ Xuân Hương tiếp thu Nhưng "miếng trầu hôi" thì rõ là tiếng của Xuân Hương.Bằng tứ thơ ca dao và ngôn ngữ đời sống, Hồ Xuân Hương thể hiện hình ảnh quảcau, miếng trầu thật bình thường, có phần nhỏ mọn “nho nhỏ", đã thế lại đi với

“trầu hôi" Tính chất quả cau, miếng trầu trong bài thơ biểu đạt hai nghĩa - hìnhtượng Nghĩa thứ nhất nói về quả cau, miếng trầu nhỏ mọn, bình thường, kém thơmngon Nghĩa thứ hai nói về người mời trầu, thân phận bình thường, thậm chí nghèohèn, có phần hẩm hiu

Lời mời trầu vừa tự nhiên, vừa khiêm tốn nhưng vẫn thể hiện sự chủ động, sự tự ýthức bản thân của Hồ Xuân Hương:

“Này của Xuân Hương mới quệt rồi”

Đại từ chỉ thị mang tính xác định "này" nói rõ miếng trầu là của Xuân Hương, đồngthời khắc hoạ rõ tư thế chủ động mời trầu Động từ "quệt" cho thấy Hồ XuânHương thật chủ động, có phần táo bạo nhưng vẫn tự nhiên, chân thật, tinh nghịchnhưng vẫn giữ được nữ tính Nếu ở câu thơ đầu, lời mời trầu thể hiện cả hoàn cảnh,thân phận người mời thì ở câu thứ hai có thể thấy được tính cách người mời trầu

Và Xuân Hương tự xưng tên mình quả là điều mới mẻ trong văn học, cho thấy HồXuân Hương là người phụ nữ có ý thức về bản thân Ý thức về cái riêng đưa nhàthơ vượt lên trên sự chung hoà về tình cảm để không sử dụng những đại từ mangsắc thái chung hoà như "em", "thiếp" Và nữ tính của Xuân Hương bộc lộ một cáchtinh tế, đáng yêu qua lời tự xưng tên

Sau lời mời trầu là lời nhắn nhủ Câu thơ thứ ba mang phong cách khẩu ngữ "Cóphải duyên nhau thì thắm lại" Câu thứ tư là sự kết hợp hai câu thành ngữ: "xanhnhư lá" và "bạc như vôi" Hai câu thơ biểu đạt tài tình hai tầng nghĩa Tầng nghĩathứ nhất nói về việc ăn trầu: vôi trắng, trầu xanh quyện với nhau thành màu đỏ

Trang 24

thắm Tầng nghĩa thứ hai nói về duyên đôi lứa: nếu phải duyên thì "thắm lại" trongmối quan hệ tốt đẹp, hạnh phúc giữa hai người, nếu không phải duyên thì cũngđừng bội bạc, cạn tình Lời nhắn nhủ của Hổ Xuân Hương chứa đựng hai nội dungcảm xúc: khát vọng một tình yêu chung thuỷ và dự cảm về một tương lai bấp bênhkhông bền vững Từ tầng nghĩa thứ hai, qua hình tượng sắc thắm của miếng trầu,

có thể thấy lời nhắn nhủ của Hồ Xuân Hương thể hiện niềm khát khao mối quan hệlứa đôi tốt đẹp Miếng trầu của Xuân Hương không chỉ có ý nghĩa là tín hiệu giaoduyên hay tín hiệu hôn nhân như thường thấy trong ca dao Miếng trầu là sự đồngcảm của hai trái tim, hai tâm hồn Cũng như trong truyện cổ tích Trầu cau, sắc thắmcủa trầu là biểu hiện sự đồng cảm giữa con tim đối với con tim Miếng trầu trongthơ Hồ Xuân Hương còn là sự dự cảm về tương lai Trong dự cảm của Xuân Hươngkhông phải là sự hoà quyện giữa trầu, vôi mà là sự tách rời giữa trầu xanh, vôi bạc

Từ một quy luật mang tính tự nhiên, Xuân Hương hướng tới quy luật xã hội: lấy cáixanh của lá để nói cái dửng dưng vô cảm của con người, lấy cái bạc của vôi để nói

sự bạc bẽo của nhân tình Và bằng dự cảm, Xuân Hương như thấy trước một conđường tình duyên bấp bênh, không bền vững

Lời nhắn nhủ khi mời trầu cho ta thấy niềm khát khao của Hồ Xuân Hương hướngtới chân trời hạnh phúc, đồng thời là dự cảm sáng suốt về số phận người phụ nữtrước cuộc đời bạc bẽo, tàn nhẫn Lời nhắn nhủ cũng cho thấy cá tính mạnh mẽ củaXuân Hương: đòi hỏi trong tình yêu phải thuỷ chung, không bạc tình

Còn bài thơ “Bánh trôi nước” là bài thơ vịnh Bài vịnh bao giờ cũng mang tính ngụ

ý Vì vậy nghĩa thực của bài thơ là gợi tả bánh trôi nước nhưng ngụ ý của tác giả làmượn bánh trôi để nói về vẻ đẹp và thân phận người phụ nữ và khẳng định vẻ đẹp,phẩm hạnh của người phụ nữ cũng như bày tỏ khát khao bảo vệ, tôn vinh vẻ đẹpấy

Câu thơ đầu nói về màu sắc, hình dáng vẻ ngoài của chiếc bánh trôi mà gợi lên vẻđẹp của người phụ nữ:

Trang 25

tác giả sử dụng thành ngữ đảo "bảy nổi ba chìm" và hai chữ "nước non" đã gợi lên

sự long đong, gian truân của người phụ nữ trong xã hội xưa Việc đảo lại câu thànhngữ để không kết thúc ở "nổi" mà kết thúc ở "chìm" làm cho thân phận người phụ

nữ thêm cay cực, xót xa hơn Nghệ thuật đối lập giữa hình ảnh "trắng" và "tròn" ởcâu thơ trên với hình ảnh "nổi", "chìm" ở câu thơ dưới đã nói lên được sự bất côngcủa xã hội đối với người phụ nữ Tuy nhiên, giọng điệu câu thơ không chỉ là sựthan thân trách phận mà còn là giãi bày sự bền gan, trong tủi cực vẫn kiên trinh,thách thức

Nghĩa thực ở câu thứ ba là nói về chất lượng của bánh Bánh rắn hay nát là do tayngười làm bánh khéo hay vụng Nghĩa tượng trưng ở câu thơ này là nói về thânphận phụ thuộc của người phụ nữ Họ không làm chủ được cuộc đời mình, may hayrủi đều phụ thuộc vào bàn tay kẻ khác Giọng điệu câu thơ tuy ngậm ngùi nhưngkhông hẳn là buông xuôi cam chịu Hai chữ “mặc dầu" đặt giữa câu thơ như sựgắng gượng vươn lên để khẳng định mình ở câu thơ kết:

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Câu kết tuy cũng nói về đặc điểm bánh trôi: bánh có nhân bằng đường đỏ làm vị ngọt đậm đà, thế nhưng nghĩa thực này đã mờ đi rất nhiều so với nghĩa tượng trưng Trong thơ Hồ Xuân Hương, "tấm lòng son" là vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn người phụ nữ Ở người phụ nữ, "tấm lòng son" là hệ số bất biến trong cái nghịch biến của cuộc đời Sóng gió cuộc đời có phũ phàng, vùi dập thân phận "bảy nổi ba chìm" thì cũng không thể tàn phá nổi vẻ đẹp tâm hồn, tấm lòng thuỷ chung son sắt

ở người phụ nữ

Bánh trôi nước là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc Về nội dung, tác giả vịnh một sựvật bình thường chứ không phải về một sự vật có tính chất cao quý theo quan niệm của thơ ca cổ Về ngôn ngữ, nhà thơ sử dụng sáng tạo ngôn ngữ văn học dân gian

và ngôn ngữ đời sống "thân em", "bảy nổi ba chìm"

Bài thơ chứa đựng một tư tưởng nhân văn cao đẹp: ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về vẻ đẹp, về phẩm giá cùng khát vọng vươn lên bảo

vệ cái đẹp của người phụ nữ

Như vậy, trong thơ Hồ Xuân Hương, khát vọng tình yêu, khát vọng khẳng định vẻ đẹp là khát vọng thường trực và là khát vọng đời thường không chỉ riêng Hồ Xuân Hương mà còn là của chung tất cả người con gái Việt

Luận điểm 4: Phê phán và đấu tranh chống lại những thế lực chà đạp lên con người

Trang 26

“Văn tế thập loại chúng sinh”, đã giúp hậu thế hiểu thêm tầm vĩ đại của tư tưởng Nguyễn Du: ngòi bút của nhà thơ bao giờ cũng đấu tranh chống lại những thế lực chà đạp con người

Phật giáo giải thích số kiếp mỗi người đều do chính mình đã gieo nhân nên gặt quả.Nhưng quan niệm của Nguyễn Du không đơn thuần như thế Ông nhận ra nhiều oan trái từ giữa lòng xã hội phong kiến hà khắc, bất công Qua những vần thơ ông,

đã lộ diện một xã hội đói nghèo, khốn quẫn Nếu không thế, sao đến nỗi bao người phải liều thân “vào sông ra bể”, tần tảo “đi về mua bán”, hay sa vào thảm cảnh

“hành khất ngược xuôi”? Và đất nước không chiến tranh, loạn lạc, thử hỏi sao có

“kẻ mắc vào khóa lính”, thêm biết bao “mạng người như rác”

Giọng điệu phê phán trong tác phẩm đã trỗi lên mạnh mẽ Nhà thơ nghiêm khắc phê phán những hạng người chạy đuổi theo tiền bạc, hư danh Tinh thần phê phán này đã khơi lên khi nhà thơ luận bàn về những kẻ “tính đường kiêu hãnh”, sống giữa “màn loan trưởng huệ”, rồi những kẻ “mũ cao áo dài”, mê mải “bày binh bố trận”, hoặc “tính đường trí phứ”, hay “rắp cầu chữ quỷ” Sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời đã khiến tác giả nhận ra hố sâu ngăn cách giữa giàu - nghèo, sướng - khổ, cũng như mầm mống bất hạnh

Nguyễn Du tỏ ra không thiện cảm với những kẻ thích cậy mình “cung quế Hằng Nga” hay mê mải “rắp cầu chữ quý, dấn thân vào thành thị lân la” Bởi lẽ, “giàu sang càng nặng oán thử”, hoặc “thịnh mãn lắm oán thù càng lắm” Tiền vàng, với ông, chỉ là thứ của phù vân, làm sao đổi được mạng người

“Sống thời tiền chảy bạc ròng,Thác không đem được một đồng nào đi”

Chưa kể, khi chết rồi, không ít kẻ giàu sang vẫn cảnh mồ hoang lạnh:

“Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt, không người nhặt xương”

Ngẫm ra, đó cũng là hệ quả của một thói đời, khi ai nấy chỉ biết sống vì bạc tiền, địa vị Sự bạc phước của những kẻ khinh người, cao ngạo, phải chăng cũng là một dạng quả báo mà nhà Phật đã từng răn giới?

Giọng điệu phê phán còn hướng về những kẻ dự phần gây nên chiến tranh, ly loạn

Họ như con thiêu thân, lao vào “buổi tranh hùng”, cố “đổi mình vào lấy ấn nguyên nhung” Sự xả thân của họ, kỳ thực, chỉ là một hành động u mê “dãi thây trăm họ

Trang 27

làm công một người” Thương mà tức cho kẻ lầm đường, Nguyễn Du đồng thời phê phán những cuộc chiến tranh phi nghĩa Theo ông, lối sống, hành động bạo tàn của họ là nguyên nhân không dứt của biết bao thảm cảnh, gây ra bao cái chết tức tửi cho thường dân vô tội Phê phán chiến tranh phi nghĩa, đó cũng là biểu hiện cụ thể của tinh thần bảo vệ quyền sống, sự sống của mọi người trên đất nước mình, trong cõi người ta.

Ngòi bút phê phán ấy không chỉ dừng ở những thế lực trong đất nước mà còn chỉ vào những thế lực bên ngoài, xâm lược nước ta Cụ thể là trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đã dành cho giặc Minh những lời lẽ phê phán gay gắt

"Phù Trần diệt Hổ" chỉ là một cái cớ để giặc Minh thừa cơ gây hoạ Âm mưu của giặc thật xảo quyệt, chủ trương cai trị của chúng càng thâm độc hơn, hành động củachúng càng vô cùng tàn bạo

Ở “Đại cáo bình Ngô”, Nguyễn Trãi đi sâu tố cáo những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Minh Chủ trương cai trị của chúng đâu chỉ đơn thuần là bóc lột được nhiều "nặng thuế khoá" mà là tiêu diệt con người, tiêu diệt cuộc sống ở chính mảnh đất này Và quả thực, đọc “Đại cáo bình Ngô”, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh những người dân vô tội trong tình cảnh bi đát đến cùng cực, không còn đường sống Cái chết đợi họ trên rừng, cái chết đợi họ dưới biển "chốn chốn lưới chăng",

"nơi nơi cạm đặt" Tội ác kẻ thù đặc biệt được thể hiện trong hai câu:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Bao nhiêu thảm cảnh mà giặc Minh gây ra đối với nhân dân ta thời bấy giờ vẫn cònghi chép rõ ràng trong sử sách Và Nguyễn Trãi đã khái quát lại trong hai hình tượng "nướng dân đen", "vùi con đỏ" Những hình tượng này vừa diễn tả một cách rất thực tội ác man rợ kiểu trung cổ của giặc Minh vừa mang tính khái quát, có ý nghĩa khắc vào bia căm thù quân xâm lược

Đối lập với tình cảnh người dân vô tội là hình ảnh kẻ thù xâm lược: "Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán" Nguyễn Trãi đã lột tả bộ mặt thật của quân xâm lược: chúng tàn bạo, man rợ như bầy quỷ sứ Chúng không chỉ tham vàng bạc châu báu, tham chim trả, hươu đen, chúng còn có cái tham của loài quỷ sứ: "máu mỡ bấy no nê chưa chán"

Âm mưu của chúng "đủ muôn nghìn kế" Việc làm của chúng: "dối trời lừa dân" Tội ác của chúng: "Bại nhân nghĩa nát cả đất trời" Để diễn tả tội ác chất chồng của

Trang 28

giặc, để diễn tả khối căm hờn chất chứa của nhân dân ta, Nguyễn Trãi kết thúc bản cáo trạng bằng câu văn đầy hình tượng:

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi”

Lấy cái vô hạn “trúc Nam Sơn” để nói cái vô hạn (tội ác của giặc), dùng cái vô cùng “nước Đông Hải” để nói cái vô cùng (sự nhơ bẩn của kẻ thù), cậu văn đầy hình tượng và đanh thép đó đã cho ta cảm nhận sâu sắc tội ác "lẽ nào trời đất dung tha, ai bảo thần nhân chịu được" của giặc Minh xâm lược

Đọc bản cáo trạng tội ác giặc trong Đại cáo bình Ngô, lòng ta khi uất hận trào sôi, khi cảm thương tha thiết, lúc nghẹn ngào, tấm tức, Qua đó, Nguyễn Trãi đã lên tiếng phê phán kịch liệt những hành động phản nhân đạo, phản tiến hoá và tội ác giặc Minh trời không dung, đất không tha, thần người đều căm giận

Như vậy, để đảm bảo ấm no, bình yên của mỗi con dân đất Việt, các nhà thơ văn trung đại Việt Nam luôn có ý thức đấu tranh những thế lực chà đạp con người vào trong tác phẩm của mình

Luận điểm 5: Con người thương thân - một biểu hiện độc đáo của ý thức cá nhân trong thơ Nguyễn Du

Cuộc đời Nguyễn Du gắn với một giai đoạn lịch sử đầy những biến động bất ngờ,

dữ dội Trong mấy cuộc “thương hải tang điền”, dòng họ, gia đình và bản thânNguyễn Du đã trải qua không ít thăng trầm, mất mát Hiện thực phũ phàng, nghiệtngã khiến nhà thơ cảm nhận về mình như một kiếp người nhỏ nhoi, đáng thươnggiữa cõi đời Đọc các thi tập của ông, cứ thấy trở đi trở lại kiểu nhân vật trữ tình

“Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều) Con người thươngthân ấy đã trở thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc trong thơ chữ Hán Nguyễn

Du Thúy Kiều chính là kiểu nhân vật như thế Thông qua Kiều, Nguyễn Du muốnbày tỏ nỗi thương thân, xót thân

Làm nền cho bối cảnh nỗi thương mình là cuộc sống lầu xanh, với "bướm lả ong lơi", "cuộc say đây tháng, trận cười suốt đêm" Bốn câu thơ đầu kể về tình cảnh trớ

trêu của Kiều, những tháng ngày tủi hổ đến ê chề "sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm

Trường Khanh" Cách viết của Nguyễn Du thể hiện thái độ trân trọng, đầy cảm thông đối với Thuý Kiều

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Trang 29

Giật mình, mình lại thương mình, xót xa.”

"Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh" là khoảnh khắc hiếm hoi để Kiều sống thực với chính mình Đó là khoảng thời gian - không gian vắng lặng, cổ liêu, gợi nỗi niềm sâu lắng Hai chữ "giật mình" kết hợp với cách ngắt nhịp đột ngột diễn tả tâm trạng thảng thốt của Kiều Từ "mình" mang thanh bằng nhưng lại không gợi sự nhẹ nhõm

mà gợi cảm giác nặng nề bởi nó được lặp lại ba lần trong một câu thơ có nhịp điệu như tiếng nấc đan xen tiếng thở dài Quá khứ đối lập với hiện tại và đối lập một cách khốc liệt

“Khi sao phong gấm rủ làGiờ sao tan tác như hoa giữa đường?”

Từ "phong" ở câu thơ nói về quá khứ đối lập với từ "tan tác" trong câu thơ nói về hiện tại, cho thấy trước kia Kiểu được nâng niu quý trọng bao nhiêu thì giờ đây nàng bị vùi dập phũ phàng bấy nhiêu Từ "sao" nghi vấn mà cảm thán, vừa được dùng trong hình thức đối vừa được dùng ở hình thức điệp kết hợp với các thành ngữ "dày gió dạn sương", "bướm chán ong chường" đem đến lời thơ giọng đay đả, nhưng thấm trong từng chữ là sự đau đớn ê chế Không chỉ có quá khứ đối lập với hiện tại mà bản thân cuộc sống hiện tại cũng là một sự đối lập bẽ bàng Cuộc đời kĩ

nữ, bề ngoài cũng mang vẻ tao nhã, có đủ cả "cầm, kì, thi, hoạ"; có đủ "phong, hoa,tuyết, nguyệt" nhưng ẩn sau đó là sự nhớp nhơ, bẩn thỉu Những từ "gượng", "thờ ơ", "ngẩn ngơ" thể hiện tâm trạng chẳng mặn mà, thậm chí bẽ bàng của Kiều khi ở lầu xanh Một người vốn đoan trang như Kiều lại phải "vui là vui gượng" để chiều khách làng chơi thì càng tủi hơn, sầu hơn Nỗi sầu từ lòng người mà lan toả lên cảnh vật

“Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?”

Thể hiện nỗi thương mình của Thuý Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật miêu

tả nội tâm nhân vật với ngôn ngữ nửa trực tiếp Lời tác giả và lời nhân vật đã hoà nhập vào nhau tạo nên sự đồng cảm sâu sắc giữa tác giả - nhân vật - người đọc

Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du đã được thể hiện tập trung ở đoạn “Nỗi thươngmình”: cảm thương trước bi kịch của Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng

và đặc biệt là khẳng định sự ý thức về nhân phẩm và sự ý thức về cá nhân Ý thức

về cá nhân là một bước tiến của tư tưởng nhân đạo trong văn học trung đại ViệtNam Nếu thương người là biểu hiện của tình cảm nhân đạo bao la thì tự thươngmình là biểu hiện sâu sắc của tư tưởng nhân đạo Nỗi thương thân cũng là một

Trang 30

trong những khuynh hướng cảm hứng nổi bật nhất trong kiệt tác “Đoạn trường tânthanh” của Nguyễn Du Trần Đình Sử khẳng định thương thân, xót thân là cảmhứng bao trùm “Truyện Kiều”: “Truyện Kiều” là một truyện thương thân, xót thânthấm thía nhất”

Không chỉ vậy, trong bốn câu thơ cuối bài “Độc Tiểu Thanh kí”, từ khóc người, thương người, Nguyễn Du trở về với niềm tự thương thân Bốn câu thơ là lệ dành cho chính mình

Từ hai câu thực nói về nỗi hận, nỗi oan của Tiểu Thanh, tác giả dùng hai câu

luận để bàn rộng ra nỗi hờn, nỗi oan của tài hoa, trí tuệ trong trường kì lịch sử:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự cư”

Nguyễn Du từ cái hận của Tiểu Thanh mà nghĩ tới cái hận muôn đời, cái hận xưa nay triền miên, không dứt Cái hận trở nên quá lớn, dồn tụ lại như một câu hỏi treo

lơ lửng giữa không trung, khó mà hỏi trời được "thiên nan vấn" Nhưng có hỏi trời thì cũng không một lời giải đáp, vì thế càng hận, càng nhức nhối vô cùng Bên cạnhcái hận là cái "án phong lưu" Nguyễn Du tự coi mình là người cùng hội với kẻ mắcnỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã Như vậy là bằng chính sự thể nghiệm của bản thân, Tố Như thấu hiểu nỗi đau oan khốc của Tiểu Thanh và ngược lại từ Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du đã "một lời là một vận vào" bản thân để tự hận, tự thương:

“Bất tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

Hai câu kết chuyển ý thật bất ngờ nhưng không lạc giọng mà vẫn thống nhất trong mạch cảm xúc Tiểu Thanh và Nguyễn Du là cùng hội, cùng thuyền, nên càng xót thương Tiểu Thanh, tác giả càng thương mình Từ thương người, thương đời, ý thơ chuyển sang sự tự thương dưới dạng một câu hỏi Không hỏi quá khứ, hiện tại mà hỏi tương lai; không hỏi trời mà hỏi người đời Với Tiểu Thanh, ba trăm năm sau

đã có một Nguyễn Du "thổn thức bên song" trước "mảnh giấy tàn" Còn với

Nguyễn Du, ba trăm năm sau liệu có ai "khóc Tố Như chăng"?

Như thế, thương thân, xót thân là một nguồn cảm hứng lớn và được thể hiện nhấtquán trong sáng tác của Nguyễn Du Bởi vì, nỗi thương thân của Nguyễn Du đâuchỉ nảy sinh từ cảnh ngộ riêng mà còn bắt nguồn từ mối đồng cảm sâu xa của nhàthơ với mọi nỗi đau bao trùm thân phận con người Con người thương thân trong

Trang 31

các thi tập Nguyễn Du vừa in đậm dấu ấn tâm hồn tác giả, vừa thể hiện những suy

tư, trăn trở của một lớp người, một thế hệ

2 Cảm hứng thiên nhiên

Cảm hứng thiên nhiên là những tác phẩm lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mĩ,viết về thiên nhiên với niềm say mê, ca tụng, ngưỡng mộ Thiên nhiên chính là hiệnthân của cái đẹp, khơi gợi những rung cảm thẩm mĩ của người nghệ sĩ Những tácphẩm có sự xuất hiện của hình ảnh thiên nhiên, thường sử dụng hình ảnh thiênnhiên để ngụ ý tư tưởng đạo đức, tôn giáo, thể hiện lí tưởng, chí hướng, lối sống,

Luận điểm 1: Vẻ đẹp sinh động, phong phú của thiên nhiên Người nghệ sĩ đến với thiên nhiên bằng sự rung cảm trước cái đẹp, bằng khao khát tận hưởng, chiếm lĩnh thế giới tự nhiên tươi đẹp.

Bài thơ “Dục Thúy Sơn” của Trương Hán Siêu là một bài thơ ca ngợi vẻ đẹp núiDục Thúy, từ đó thi sĩ bày tỏ tình yêu với thiên nhiên và sự hoài niệm những kỷniệm với cố nhân Đây là bài thơ đầu tiên được khắc trên vách núi Dục Thúy vàcũng chính Trương Hán Siêu là người đặt tên là núi Dục Thúy Bài thơ xuất phát từcảm hứng thiên nhiên

“Sơn sắc thượng y y”

(Non xanh xanh vẫn như xưa)

“Trung lưu quang tháp ảnh,Thượng giới khải nham phi”

(Song in bóng tháp Bồ Đề

Mở toang cửa động liền kề chân mây)

“Ngũ hồ thiên địa khoát”

(Trời đất ở Ngũ hồ rộng thênh thang)

Ngày đăng: 20/07/2023, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w