Đây là đề cương học phần Đại cương Văn học dân gian, hay còn gọi là văn học dân gian của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội do khóa 71 Ngữ Văn biên soạn. Đề cương phục vụ cho thi hết học phần, đã bao gồm tất cả các câu hỏi, trả lời theo đúng nội dung giảng viên hướng dẫn, Chúc các bạn thi tốt
Trang 1KHUNG ÔN TẬP:
MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HỌC
DÂN GIAN K71
1 Khái quát Văn học dân gian Việt Nam
Khái niệm công cụ, đặc trưng Văn học dân gian
Văn học dân gian
bách khoa toàn thư
của nhân dân Tính
tinh thần chưa được
chuyên môn hoá
Trong các xã hội thời
dân, tác giả văn học
dân gian , không có
điều kiện tham gia
vào các lĩnh vực sản
Truyền miệng là phương thức sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian Văn học
truyền miệng ra
đời từ thời dân tộc chưa có chữ viết Tuy nhiên,
khi dân tộc đã cóchữ viết và vănhọc viết, thì vănhọc truyền miệngvẫn tiếp tục pháttriển, một mặt dođại đa số nhân dânkhông có điều kiệnhọc hành để hưởngthụ thành tựu củavăn học viết ; mặtkhác, do văn họcviết không thể hiệnđược đầy đủ tưtưởng, tình cảm,nguyện vong, thịhiếu và tập quánsinh hoạt nghệthuật của nhân dân
Bởi có tính truyềnmiệng nên văn họcdân gian thườngngắn gọn, dễ nhớ
và thường có tính
Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân,
nhưng không phảitất cả nhân dânđều là tác giả củavăn học dân gian
Cần chú ý vai tròcủa cá nhân vàquan hệ giữa cánhân với tập thểtrong quá trìnhsáng tác, biểudiễn, thưởng thứctác phẩm văn họcdân gian
BC quá trình sáng tác tập thể.
Ban đầu, sáng tác một tác phẩm VHDG do một cá nhân theo hình thức diễn xưỡng tập thể Khi câu
chuyện đó đápứng, thỏa mãn nhu
cầu tập thể, câu
chuyện ấy được tập thể sàng lọc, chọn lọc trở thành tài sản của tập thể Cuối cùng, mỗi cá
Dị bản là những
VB khác bản chính đầu tiên, thường được dùng để tham khảo trong khi nghiên cứu, khảo sát tác phẩm văn học, hoặc bị xuất bản Dị bản thì
có rất nhiều bản,
là bản sao chépcủa người nghehoặc nói khitruyền miệnghoặc là cố ýchỉnh sửa
Dị bản là hệ quả của quá trình tập thể - tính truyền miệng, nhưng
việc nhận thức
về nguyen nhân
và biểu hiện củatính dị bản trướcnay giữa các nhà
NC vẫn có sựkhác biệt
Dị bản khá hổ biến trong
Trang 2văn nghệ dân gian,
một hiện tượng của
văn hóa dân gian
được sáng tạo một
cách thẩm mĩ, mang
thuộc tính văn hóa, có
biểu hiện giá trị văn
văn tự ), tồn taị hiện
( tồn taị thông qua
diễn xướng) Tồn taị
Có 4 cách thức truyền miệng: kể, hát, diễn, nói Đó
là biểu hiện đặctrưng mĩ học DG
và là thể sốngVHDG
Ta có thể thấynghệ thuật biểudiễn Chèo làmsống động những
sự việc, lời nói củanhân vật trên kịchbản trở nên sốngđộng mang lại cảmxúc thăng hoa chongười thưởng thức
Như vậy, có thể nói truyền miệng
là phương thức tồn tại của VHDG.
nhân tiếp nhận, tái hiện, tái tạo thành những dị bản khác nhau và được lưu truyền
Tính tập thể thể
hiện chủ yếu trong quá trình
sử dụng tác phẩm
Vấn đề quan trọng
ở chỗ nó được mọingười biểu diễn,thưởng thức haykhông, nó đã đạtmức thành tựu hay
không Trong quá
trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm
Quan hệ giữa
truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể Truyền thống văn học dân gian một mặt
là giúp nghệ nhân dân gian ứng tác(
sáng tác mộ cáchchớp nhoáng màkhông có sự chuẩn
bị trước) dễ dàng,
một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác.
Ứng tác đến lượt
nó sẽ cung cấpnhững đơn vị làmgiàu cho truyền
VHDG, nó biểu hiện tính mở
của VHDG nhưthay đổi từ hoặccụm từ, thêm từ,
mở rộng ND vàhình thức tácphẩm, thay đổimột số chi tiếttrong tác phẩm,
…VHDG là tài sảncủa CĐ đượcchính ND sửađổi, tái hiện hiện
và tái tạo để phùhợp với đặctrưng của từng
CĐ, từng địaphương ( đặcbiệt trong thểloại ca dao, tụcngữ) Như vậy,
dị bản là
Tác dụng:
- Tham gia và hỗtrợ nghiên cứuđặc trưng vănhóa khác nhaucủa các địaphương, củatừng dân tộc ấy
- Nghiên cứutiến trình pháttriển của đờisống tinh thầncủa dân tộc ta,
sự phát triểnhiện đại trongcách cảm thụvăn học, giáodục của conngười
Trang 3nhận hai dạng tồn
tại kia; bởi vì như
vậy sẽ dẫn tới phủ
nhận khoa học về
văn học dân gian và
công việc giảng dạy
văn học dân gian
văn học dân gian
mới có điều kiện kết
hợp với nhau tạo
nên hiệu quả thẩm
dễ dàng ứng táckhi biểu diễn, tức
là thay đổi giọngđiệu, nét mặt, lời
kể, các chi tiết củacâu chuyện để phùhợp với bối cảnhnhưng người nghệ
sĩ vẫn bảo lưu cốttruyện gốc, tuânthủ theo nguyentắc sáng tác dị bảnVHDG
- Việc sưu tầm dịbản cũng giúpVHDG tồn tại,
có một đặc trưngriêng khác VHviết, sự lưutruyền VHDGđược tiếp cận tớimọi tầng lớptrong XH hiệnnay
Đặc điểm văn bản Văn học dân gian
1 Tính cố định
- Dựa vào người ghi chép, tạo nên các định dạng, khuôn mẫu:
Ở đầu nguồn sáng tạo, nó được XD bằng ngôn ngữ của lời nói dựa trên cơ sở các bộcông thức truyền thống theo nguyên tắc có tính lặp lại (mẫu gốc, motip, biểu tượng,
…) theo quy luật nhất định Như trong TCT, ta thấy có cùng một motip là khi cácnhân vật chính (nhân vật bất hạnh trong XH) gặp khó khăn sẽ được các nhân vật thầntiên (ông Bụt, thần tiên,…) xuất hiện giúp đỡ hay dẫn lối TCT có cùng một kiểutruyện như trong truyện người mang lốt vật Nhân vật ban đầu mang lốt vật xấu xí saukhi vượt qua thử thách sẽ trút bỏ lốt xấu xí ấy, trở thành người xinh đẹp cuối cùng họđược cưới người mình yêu và sống hạnh phúc suốt đời
Trong đó, các tầng nghĩa biểu hiện các giá trị tư tưởng thẩm mĩ dân gia được chế địnhbởi tính truyền thống dân gian Các ý nghĩa truyền thống chỉ phát sáng trong các ngữcảnh XH có tính quy phạm ổn định trường tồn dưới dạng các mã thẩm mĩ, mã ngônngữ, mã văn hóa
Trang 4những ngữ cảnh XH khác nhau và tất nhiên nó được ghi chép văn bản hóa ở những không - thời gian khác nhau bởi những nhà sưu tầm khác nhau Kết quả là tác phẩm VHDG ấy đã hiện tồn bằng một liên văn bản, gồm 1 tác phẩm gốc, các bản trung gian và bản mới.
- Khác với vấn đề tam sao thất bản do sự nhầm ẫn của trí nhớ,
những biến đổi của VHDG như một sự chỉnh lý để gia tăng hiệu quả thẩm mỹ và phản ánh sự vận động mạnh mẽ của ý thức dân tộc Đó
là một quá trình diễn ra liên tục, thường xuyên trong đs sinh hoạt văn hóa dân gian đề làm đầy, làm mới ở mỗi thời đại khác nhau
- Nói đến tính dị bản VHDG, ta phải kể đến ca dao, tục ngữ Từ xưa đến nay, ca dao tục ngữ luôn gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân được truyền miệng từ người này sang người khác, từ thế
hệ trước sang thế hệ sau nên câu chữ có sự thay đổi là thường tình Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về
Câu đầu thì hiểu được Bởi ông bà mình cũng có câu “Uốn cây từ thuở còn non/Dạy con từ thuở con còn ngây thơ” Dạy con cái phải dạy ngay từ khi còn nhỏ, những bài học đầu đời luôn là những bài học có giá trị sâu sắc đối với trẻ Nhưng còn câu sau? Tại sao lại là
bơ vơ? À, có lẽ họ muốn nói khi người vợ mới về nhà chồng, còn lạ nước lạ cái, còn bơ vơ chưa có “đồng minh” nên nói gì cũng phải nghe, dạy gì cũng phải học (không dám cãi) Nhưng có người lại không đồng ý với từ bơ vơ mà họ sửa thành ban sơ Họ cho rằng, ban sơ là ban đầu, là lúc cô gái mới về nhà chồng, dùng ban sơ dễ hiểu hơn Dùng bơ vơ nghe tội nghiệp quá! Thế là lại có thêm một dị bản:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về
- Tính bình đẳng
3 Không xác định không gian thời gian
Văn bản VHDG không xác định không gian - thời gian cụ thể bởi đặc trưng lưu truyền của VHDG VHDG phương thức lưu truyền chủ yếu bằng truyền miệng khác với văn học viết được lưu truyền và bảo lưu bằng văn bản Nét đặc trưng làm nên sự hấp dẫn văn học dân gian chính là phương thức lưu truyền và bảo lưu là truyền miệng, đặc biệt
là biểu diễn sân khấu dân gian Đối với những thể loại VHDG như ca dao, tục ngữ, truyền thuyết hay truyện cổ tích được lưu truyền từ
Trang 5người này sang người khác, từ tộc người này sang tộc người khác Những thể loại VHDG có tính nghệ thuật biểu diễn cao như chèo, tuồng, thường do những người nghệ nhân biểu diễn, họ hình thành một làng nghề và truyền nghề cho con cháu từ thế hệ này sang thế
hệ khác Chính vì phương thức lưu truyền và bảo lưu chủ yếu trong không gian tập thể quần chúng ND nên khi những tác phẩm VHDG được tập hợp để bảo tồn bằng văn bản, các nhà nghiên cứu không thể xác định không - thời gian cụ thể Tác phẩm ấy được sáng tác thời gian nào, được biểu diễn trong không gian như thế nào; các nhànghiên cứu chỉ có thể suy luận ra khoảng không gian, thời gian tác phẩm ấy ra đời dựa trên đặc điểm văn hóa, thẩm mĩ thời đại ấy
Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể Truyền thống văn học dân gian một mặt làgiúp nghệ nhân dân gian ứng tác( sáng tác mộ cách chớp nhoáng
mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn
vị làm giàu cho truyền thống
- Tuy văn bản không có tính cá thể, nhưng trong diễn xướng lại có tính cá thể
Không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian, trong nghệ thuật diễn xướng có tính cá thể của người nghệ nhân Mỗi người nghệ nhân biểu diễn tác phẩm VHDG ở bất kì thể loại nào cũng có nét cá nhân trong đó, đó chính là sự ứng tác Cách người nghệ nhân truyền đạt tác phẩm VHDG cho khán giả thưởng thức qua
Trang 6từng giọng điệu, nét mặt, cử chỉ khi biểu diễn Mỗi người nghệ nhân
có phong cách kể truyện hay biểu diễn sân khấu khác nhau truyền đạt nội dung tới cho khán giả
Dẫn chứng: Khán giả biết đến “Lưu Bình - Dương Lễ”, một trong ba
vở chèo kinh điển của nghệ thuật chèo Việt Nam, nhưng không phải
ai cũng biết người vào vai Lưu Bình và đã tạo nên tên tuổi của vai diễn này trong suốt 25 năm nay là NSƯT Phú Kiên Những biểu cảm tinh tế, giọng hát trầm bổng lôi cuốn của NSƯT Phú Kiên trong trích đoạn “Lưu Bình chuốc rượu đòi hợp cẩn với Châu Long”.Theo nghệ
sỹ Phú Kiên, để diễn được vai Lưu Bình, diễn viên phải có hình thể, giọng hát, diễn xuất cũng như thông thuộc vũ đạo Có hình thể đẹp
đã là một lợi thế nhưng diễn làm sao để truyền tải những chuyển biến trong tâm tư, tình cảm nhân vật qua từng màn, từng đoạn lại là một chuyện khác
Note: tuy văn bản không có tính cá thể, nhưng trong diễn xướng lại
có tính cá thể
Note: trình bày và lấy ví dụ minh họa
Vai trò thể loại trong nghiên cứu Văn học dân gian
*Khái niệm thể loại
- Cấp độ thể loại hình thành VHDG VHDG không hình thành được tácphẩm mà hình thành ở cấp độ thể loại
- Nội dung của VHDG là nội dung của thể loại
- Bối cảnh ra đời (thời đại nào? Sản xuất, điều kiện kinh tế, tổ chức nhà nước)
- Chức năng thể loại: thể loại đó đáp ứng nhu cầu gì? (truyền thuyết:thông qua truyện kể lịch sử để giáo dục lịch sử, truyện cổ tích: giáo huấn đạo lý)
- Đặc trưng của thể loại (VD: Truyền thuyết gắn bó mật thiết với tín ngưỡng xã hội, truyện cổ tích …)
- Giá trị: nội dung tư tưởng, ca ngợi con người, sản phẩm sáng tạo của địa phương, nhân tài hào kiệt, giang sơn gấm vóc
- Diễn xướng: Phương thức diễn xướng được biểu đạt đa dạng (kể, hát, nói, diễn), phân loại dựa trên phương thức diễn xướng
- Thể loại là tập hợp tác phẩm có chung yếu tố thi pháp để tạo ra nó.VD: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, thần thoại, …
- Phân chia thể loại dựa trên các nguyên tắc nào
Trang 72 Vai trò thể loại
- Văn học dân gian được hình thành ở cấp độ thể loại
+ VHDG không tạo lập đơn lẻ, đó là quá trình sáng tạo lâu dài Và khi có đầy đủ các điều kiện về : xã hội, lịch sử, văn hóa thì lúc đó thểloại ra đời (chuỗi tác phẩm)
VD: truyện cổ tính ra đời khi xã hội có những mâu thuẫn VD2: Cổ tích Tấm cám có ở rất nhiều nơi, ra đời dựa trên sự ra đời sự sung đột của con chung và con riêng
+ Mỗi một thể loại sẽ có đời sống, không gian và phương thức diễn xướng Khi nghiên cứu tác phẩm cần đặt nó trong thể loại
Khác với văn học viết trong đó phân ngành văn học sử nói chung đều có cơ sở chắc chắc để mô tả các quá trình từ thời kỳ, giai đoạn, chủ nghĩa, trường phái, trào lưu đến tác giả tác phẩm ở những tọa
độ lịch sử xác định, lịch sử văn học dân gian chỉ được mô tả bằng tiến trình phát triển của các thể loại – lịch sử trên cơ sở cho rằng “từ thời viễn cổ, văn học đã có sự gắn bó khăng khít và đặc thù với lịch sử” (M.Gorki) Do đó, sự hình thành lưu chuyển và biến đổi của các hiện tượng văn học dân gian về mặt lịch sử của nó nhìn chung không
có nhảy vọt, mà vừa có tính chất rộng lớn liên tục, vừa chậm chạp trầm lắng Quá trình phát triển các thể loại văn học dân gian Việt Nam cũng đã cho thấy chỉ có thể quan sát được nó trên một đại lượng đo thời gian rất lớn Trên đại thể, xét trên bình diện thời gian văn hóa mỗi thể loại đều có quá trình nảy sinh và phát triển, nở rộ
và suy tàn Mặt khác, xét trên bình diện không gian văn hóa lại thấy
đó còn là sự đan dệt phức tạp nhiều quá trình hoặc nối tiếp nhau, hoặc xen kẽ nhau trong trạng thái song hành giữa các thể loại cùng tồn tại và phát triển ở những mức độ khác nhau Con người thời cổ đại sống trong, sống cùng, sống với cái môi trường tự nhiên và xã hội buổi đầu mà ngày nay chúng ta gọi là hình thái kinh tế xã hội nguyên thủy Họ phải đối diện với rất nhiều thách thức của thực tại
và không ai khác, chính họ phải đáp ứng Đối diện với cái nhỏ bé, mong manh hữu hạn của con người là cái khổng lồ vô hạn vĩnh viễn của trời đất núi sông khiến người ta sùng bái Kịp đến khi bước vào ngưỡng cửa của văn minh thì chính cái tự nhiên câm lặng, dữ dội, bí hiểm, mênh mông đầy bất trắc thuở ấy đã thúc đẩy trí tuệ của con người phải phỏng đoán và hình dung, tưởng tượng và tái hiện,… Đó chính là nguồn gốc văn hóa của thần thoại Con người bước vào thời đại đồng thau và sắt sớm Đó cũng là thời điểm quá trình chế ngự vàthắng đoạt tự nhiên của các nhóm xã hội có giới hạn buổi đầu đã đem lại cho con người những niềm hân hoan tột cùng sau khi họ
Trang 8vượt qua được vài ba thách thức đầu tiên Sử thi cổ sơ có cảm hứng cội nguồn từ khát vọng thần thoại được thăng hoa một cách có ý thức Kế đến là những cuộc chiến tranh bộ lạc diễn ra thường xuyên.
Sử thi anh hùng và truyền thuyết ra đời, cuốn theo những mảnh vỡ của “thần thoại một đi không trở lại” Một hình thái kinh tế – xã hội mới được thay thế với ba thiết chế: Gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước Lý tưởng dân chủ thị tộc cũ xung đột gay gắt với hệ tư tưởng mới Sự tự nhận thức về số phận con người “bao giờ đến được ngày xưa” được trình bày lại một cách thần kỳ trong những giấc mơ cổ tích Các thành tựu nghiên cứu văn học dân gian trước nay đã khẳngđịnh: Thần thoại ra đời và chỉ phồn phịnh trong thời đại thần thoại
Sử thi dân gian chỉ ra đời và tỏa sáng trong thời đại sử thi Theo đó, thời đại anh hùng và ý thức dân tộc trưởng thành đẻ ra và nối dài truyền thuyết lịch sử Thế nên nếu chúng ta “xét riêng sự phát triển của dòng tự sự dân gian, chúng ta sẽ thấy thái độ chọn lựa đối với thực tế trải qua con đường tự sự phản ánh khái quát những quá trìnhlịch sử cơ bản đến chỗ đi sâu dần vào quá trình lịch sử cụ thể riêng biệt Ở những thể loại ra đời sau của tự sự lịch sử dân gian, lịch sử
đã phân hóa ra thành những biến cố, hơn nữa đã khúc xạ thành những số phận cá nhân Những biến cố và số phận các cá nhân này
đã được lựa chọn theo quan điểm của sự phản ánh và sự đánh giá những quan hệ xã hội” (1) Nếu chúng ta xem xét sự phát triển của dòng trữ tình dân gian, sẽ thấy không tránh khỏi ở đấy có sự đan xen chồng lấn phức tạp giữa các nhóm thể loại, bởi sự quên lãng và đứt mạch không thể phục nguyên của ngôn ngữ lời nói vần và thơ cadân gian đã thất truyền Thế nhưng nếu căn cứ vào thành tựu của các khoa học liên ngành để tiến hành phân tích và luận giải trên mộtkhối lượng tài liệu lớn về các câu hát, bài hát dân gian hiện đã sưu tập được thì có khả năng những đặc điểm có tính quy luật của các quá trình phát triển nội tại trong thế giới nghệ thuật ca dao cũng sẽ trở nên rành mạch, sáng tỏ Như vậy, hiển nhiên trong khoa học về văn học dân gian vấn đề thể loại trở thành tâm điểm của mọi vấn đề
Vai trò thể loại trong khoa học văn học dân gian còn cần phải được xác định ở cấp độ sâu xét trên các đặc điểm về thi pháp thể loại Tính đặc thù này đã biểu hiện trực tiếp trong việc xác định các tiêu chí phân loại thể loại văn học dân gian Trong đó, nếu xét văn học dân gian từ góc độ là một loại của nghệ thuật ngôn từ, sẽ nhận
ra rằng ở bộ phận này chỉ có sự khác biệt về thi pháp thể loại, nói rộng ra là phong cách thể loại Đối với văn học viết, giữa các tác phẩm có cùng đề tài, chủ đề cùng thuộc về một thể loại và giả định còn cùng được sáng tạo trong cùng một thời gian không gian xác
Trang 9định nhưng nếu là sản phẩm của những tác giả khác nhau, chúng vẫn có sự khác biệt độc đáo về cấu trúc thẩm mỹ, về bút pháp và giọng điệu,… Ngược lại ở văn học dân gian, sự khu biệt giữa các tác phẩm trong cùng một thể loại xét trên các góc độ tương đồng như thế hầu như lại thấy rất mờ nhạt Với truyện cổ tích thần kỳ, tất cả đều tương đồng về hình thức cấu tạo cốt truyện, về phong cách biểuhiện, về nghệ thuật sắp đặt các tình huống, về cách thức mô hình hóa cấu trúc loại người mang tính quan niệm Với bài ca trữ tình dân gian, mỗi mẫu đề tương ứng với một hệ thống của công thức truyền thống có giá trị sử dụng như một ngân hàng phương tiện và chất liệunghệ thuật dùng chung Với chèo sân đình, các đài từ dù là ứng tác cũng phải tuôn theo cả một hệ thống các quy tắc của nghệ thuật trình diễn có tính chuẩn mực ước lệ đến từng chi tiết, đối với từng kiểu loại nhân vật Phương thức sáng tác tập thể – truyền miệng của văn học dân gian đã quyết định phong cách thể loại của các tác phẩm văn học dân gian Không mang cá tính sáng tạo, văn học dân gian không có phong cách cá nhân không có thi pháp tác gia như văn học hiện đại Không phải là sản phẩm nghệ thuật của một tác giả mà thân thế và sự nghiệp của người viết dù muốn hay không vẫn
có mối quan hệ trực tiếp với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, văn học dân gian không có phong cách thời đại, không có thi pháp thời kỳ, giai đoạn như văn học trung đại Thừa nhận tính lịch sử của thể loại văn học dân gian, sẽ thấy ở mỗi thể loại đều có sự ổn định bền vững điển hình về phương pháp lịch sử bởi nó được sáng tạo theo nguyên tắc có tính lặp lại Và chính đặc điểm này đã tạo nên sự khác biệt giữa hai hệ thống: Thi pháp văn học viết và thi pháp văn học dân gian Điểm khác biệt là ở nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ Nếu thi pháp văn học viết là thi pháp văn bản cố định và là kết quả sáng tạobằng kỹ thuật của tác giả cá thể, là thi pháp của cá tính nghệ sĩ được thực hiện theo nguyên tắc lựa chọn điển hình hóa thì thi pháp văn học dân gian lại là sự tổng hòa của các yếu tố hình thức đặc trưng bằng sự vận động thường xuyên theo nguyên tắc lựa chọn khái quát hóa mà sự khái quát này chỉ được thừa nhận trong tính truyền thống thẩm mỹ thuộc về một dân tộc Nếu thi pháp văn học viết nhấn mạnh yêu cầu cách tân trong sự sáng tạo của cá tính nghệ
sĩ, chỉ chấp nhận “cái riêng biệt”, “cái mới lạ” độc đáo theo xu
hướng vượt ra khỏi cái gọi là ký ức thể loại, cái mô hình chung thì thipháp văn học dân gian lại chấp nhận “cái quen thuộc” “cái lặp lại”
đã trở thành sở hữu chung, đi vào kí ức chung của mỗi thành viên trong cộng đồng, và hơn thế nó đã trở thành kỷ niệm riêng của cả một dân tộc Hệ luận của vấn đề khác biệt thứ hai này là chính nó đãtạo nên các giá trị đặc sắc và bền vững trong phẩm chất thẩm mỹ
Trang 10của hệ thống thi pháp thể loại văn học dân gian: Tác phẩm văn học dân gian mỗi lần được diễn xướng trong một ngữ cảnh xã hội nhất định và trong một phong cách nghệ nhân cụ thể đều được xem là một lần tái sáng tạo Và sự lặp lại đó chính là sự gặp lại, sự nhận ra,
sự trở về với cái đẹp thuần khiết vốn đã được tích hợp trong trường liên tưởng ngữ nghĩa của một dân tộc, Và “đó chính là nguyên nhân tạo nên một số lượng lớn tác phẩm cải biên của cùng một số cốt truyện trong văn học trung cổ ở phương Đông và phương Tây Ở đây
dễ dàng chấp nhận thấy rằng những cốt truyện mới thường được hình thành trong truyền thống văn học dân gian và từ đó được các nhà văn vay mượn” (B.L.Riptin) Càng gần về thời kỳ hiện đại, sự cảm nhận và sử dụng như một “sự trở về” như thế trong văn học viết càng trở nên tinh tế, sâu sắc hơn Trong một số trường hợp, sự vận động sáng tạo lại các giá trị tinh hoa truyền thống văn học dân gian của các tài năng sáng tạo lớn trong lịch sử văn học Việt Nam đãkhiến cho tác phẩm của họ chẳng những vào được sâu trong lòng người đọc Việt Nam, mà còn đứng được trong văn học nhân loại ở một vị trí riêng độc đáo
Thế nên vấn đề không phải như trước nay có những người quan niệm công thức truyền thống – tức là những yếu tố ổn định điển hình
có tính lặp lại – chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện của một loại văn chương của tầng lớp văn hóa thấp của cái thời chưa có chữ viết, chỉ
là một cách thức để người ta dễ nhớ, dễ truyền Trong xã hội hiện đại, một nhà folklore học hàng đầu của Mỹ hiện nay là A.Dundes trong công trình Ai là người sáng tác văn học dân gian đã cho rằng: Quan niệm người sáng tác văn học dân gian là người mù chữ trong một xã hội có chữ viết là một quan niệm cũ không còn phù hợp Đó
là một quan điểm đã lỗi thời của các nhà folklore học châu u thế kỷ XIX Sau khi dẫn chứng hàng loạt những mẩu chuyện dân gian
đương đại Mỹ, ông viết đại ý: Người sáng tác văn học dân gian trong những trường hợp này đều là những người biết chữ,… không một ai
là người sáng tác dân gian trong những ví dụ này là nông dân hoặc người ở tầng lớp thấp Nhiều người chắc chắc là những người thành thị và thuộc tầng lớp trung lưu Cần phải nói rõ như vậy nếu người nào đó quan tâm có những phân biệt như vậy hoặc áp dụng cách gọinhư vậy Thực tế có người sáng tác dân gian thành thị và cũng có những người sáng tác dân gian nông thôn A.Dundes còn bàn đến các sáng tác folklore trong mối quan hệ với các phương tiện truyền thông hiện đại Theo ông, các công nghệ hiện đại như điện thoại, radio, tivi,… chỉ làm tăng thêm tốc dộ lưu truyền mà không hề làm biến mất văn hóa, văn học dân gian hiện đại Trong các ví dụ về vănhọc dân gian đương đại Mỹ của A.Dundes vẫn chứa đầy những yếu
Trang 11tố lặp lại Sự lặp lại đó rõ ràng là một nghịch lý về nguyên tắc thẩm
mỹ folklore khi so sánh với văn chương viết, song chính nó mới là đặc điểm của nguyên tắc tư tưởng, thẩm mỹ folklore, tạo nên những giá trị đặc thù của mỹ học folklore, lặp lại mà không nhàm chán, quen thuộc mà vẫn hấp dẫn Và chính quá trình sáng tạo và tái sángtạo của thi pháp văn học dân gian theo nguyên tắc có tính lặp lại như thế đã tạo nên những hình thức cấu trúc thẩm mỹ ổn định bền vững trong từng kết cấu thẩm mỹ đặc trưng thể loại Thế nên trong khoa học văn học dân gian, các nhà nghiên cứu chuyên ngành đều nhất trí khẳng định: Thể loại văn học dân gian là một kết cấu nghệ thuật có tính lịch sử Do đó, nếu nghiên cứu tiến trình phát triển của văn học dân gian người ta phải tìm hiểu vấn đề lịch sử, thể loại, thì việc nghiên cứu một tác phẩm văn học dân gian đòi hỏi phải đặt nó vào trong một thể loại lịch sử
2 Tự sự dân gian
Định hướng tìm hiểu
1 Đặc trưng thể loại
- Khái niệm về thể loại
- Bối cảnh ra đời (thời đại nào? Sản xuất, điều kiện kinh tế, tổ chức nhà nước)
- Chức năng thể loại: thể loại đó đáp ứng nhu cầu gì? (truyền thuyết:thông qua truyện kể lịch sử để giáo dục lịch sử, truyện cổ tích: giáo huấn đạo lý)
- Đặc trưng của thể loại (VD: Truyền thuyết gắn bó mật thiết với tín ngưỡng xã hội, truyện cổ tích …)
- Giá trị: nội dung tư tưởng, ca ngợi con người, sản phẩm sáng tạo của địa phương, nhân tài hào kiệt, giang sơn gấm vóc
- Diễn xướng: Phương thức diễn xướng được biểu đạt đa dạng (kể, hát, nói, diễn), phân loại dựa trên phương thức diễn xướng
Trang 121 Thuật ngữ, khái niệm và định nghĩa
Khái niệm truyền thuyết: truyền thuyết là những câu chuyện được truyền miệng trong dân gian giải thích các phong tục, tập quán hoặc kể về các nhân vật lịch sử Trong truyền thuyết thường gặp yếu tố phóng đại, kì ảo, thần kỳ Kết thúc truyện truyền thuyết thường là kết thúc mở.
2 Bối cảnh ra đời
Truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại anh hùng Việt Nam, thời đại mà những yếu tố xã hội – lịch sử của nó
mang đặc trưng chung của thời đại anh hùng trong lịch sử nhân loại:
Đó là thời kỳ con người bứt ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên Thời kỳ được đánh dấu bằng những
chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu sắc, nên còn được gọi là thời kỳ của “thanh kiếm sắt, cái cày và cái rìu bằng sắt” Ở
Việt Nam, nó được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kì tiền sử,
sự khởi đầu của thời kì sơ sử, với sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kì văn hoá kim khí mà đỉnh cao
là văn hoá Đông Sơn.
+ Việc sử dụng công cụ kim loại được coi như một cuộc cách
mạng kỹ thuật Đồ đồng cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, thể hiện trình độ cao về kỹ thuật chế tác và năng khiếu thẩm mỹ dồi dào của chủ nhân nó như những chiếc rìu, lưỡi cày
đồng, xẻng, cuốc đồng, dao gặt… Công cụ sản xuất vô cùng phong phú và tiến bộ đã dẫn đến thành quả lao động được nâng
cao, đời sống con người được cải thiện Bên cạnh nhu cầu ăn, ở,
người ta đã có nhu cầu thẩm mĩ, không chỉ là ăn no mặc ấm mà
còn là ăn ngon, mặc đẹp, và sinh hoạt tiện lợi Con người đã phần
nào khám phá một số bí ẩn của thiên nhiên để phục vụ cộng
đồng: sản xuất một số cây trồng theo mùa vụ, tìm ra một số giống cây quý, nhiều giống lúa nước và chế biến một số món ăn từ gạo…
+ Nhu cầu mở rộng thêm các vùng định cư và sản xuất, khai thác thêm các thị trường mới để trao đổi sản phẩm, khám phá đất hoang… ngày càng dâng cao trong cộng đồng Chiến tranh giữa các bộ tộc xảy ra liên miên nhằm xâm lấn đất đai, mở rộng
địa bàn, thôn tính lẫn nhau (dẫn đến sự hình thành nhà nước đầu
Trang 13tiên) Các bộ lạc có xu hướng: hoặc là thâu tóm lẫn nhau hoặc đoàn kết để chống lại các bộ lạc lớn mạnh khác.
+ Hoàn cảnh đó đã tạo nên một Không khí hào hùng cho thời đại
mà Ăngnghen nhận xét là: “thời đại mà mỗi thành viên nam giới của
bộ lạc đến tuổi thành niên đều là những chiến binh…” Các thành viên trong cộng đồng có điều kiện bộc lộ phẩm chất anh hùng của mình, ý thức về lịch sử, dân tộc, chủ quyền lãnh thổ được nuôi
dưỡng Xuất hiện các cá nhân anh hùng và tập thể anh hùng
Và truyền thuyết ra đời nhằm tôn vinh sức mạnh, phẩm chất người anh hùng của mình, cộng đồng của mình.
Tóm lại: Thời đại truyền thuyết: Đó là bước tiến vọt từ đồ đá sang
đồ đồng sắt, từ hái lượm săn bắt sang trồng trọt lúa nước và định cư nông nghiệp, từ lối sống thô sơ đến sự ra đời của “nghề
khéo” và “của ngon vật lạ”, từ mẫu hệ sang phụ quyền, từ bộ lạc sang liên minh bộ tộc và nhà nước phôi thai, tóm lại từ dã man sang văn minh, ở trên vùng châu thổ sông Hồng [1] Và nếu như thần
thoại ra đời từ nhu cầu nhận thức của người nguyên thuỷ thì truyền thuyết ra đời từ nhu cầu tôn vinh, nhu cầu được tự hào về những chiến công vĩ đại cả về làm ăn, cả về chiến đấu của con
người thời đại anh hùng
3 Chức năng của thể loại truyền thuyết
truyền thuyết lại hướng về các sự kiện, các biến cố có liên
quan đến lịch sử của cộng đồng Dân tộc nào, đất nước nào, làng
quê nào cũng có một quá trình hình thành, biến đổi và phát triển (hoặc tàn lụi) Trong những thời điểm quan trọng, những cái mốc son, những biến cố mang ý nghĩa sống còn của một cộng đồng
thường xuyên xuất hiện những nhân vật kiệt xuất Việc làm của họ, hành động của họ có tác động lớn đến cuộc sống của cả cộng đồng,
và của cả một giai đoạn lịch sử Nhiều nhân vật lịch sử khi còn sống
và đặc biệt khi họ đã mất trở thành một biểu tượng đẹp của quê hương, đất nước Người Việt Nam, xưa cũng như nay, với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” thườnglập đền miếu để thờ phụng họ Nhân vật lịch sử được nhân dân các làng quê, phường phố thiêng liêng hóa và suy tôn thành thần thánh, bốn mùa hương khói Bậc đạo cao, đức trọng, tài năng kiệt xuất như
Trang 14Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung thuở xưa và Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay mãi mãi sẽ sống trong lòng dân tộc qua sự tôn vinh bằng đền miếu, bằng các ngày kỷ niệm, các lễ hội lớn được tổ chức hàng năm Chung quanh các sự kiện lịch sử lớn, các nhân vật lịch sử đầy hào quang thế nào cũng có những câu chuyện kể về sự kiện đó hoặc kể về tài năng, về đức độ, về sự cống hiến của các anh hùng, các danh nhân cho dân, cho nước Theo con đường sáng tác và lưu truyền dân gian, các truyện kể ấy sẽ lưu truyền từ đời này qua đời khác, từ Bắc vô Nam hoặc từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng lên miền núi và ngược lại
Như vậy, các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử chính là cảm hứng, là đề tài, là chất liệu để làm nên các truyền thuyết
Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong một bài viết về các Vua Hùng đã nêu một ý kiến khá xác đáng: “Truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử, mà nhân dân qua nhiều thế
hệ đã lý tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng ” (Báo Nhân dân ngày 29/4/1969)
- Về mặt ý thức xã hội: Truyền thuyết giáo dục lòng yêu
nước, tinh thần dân tộc.
Phản ảnh các sự kiện lịch sử một cách trung thực cũng là một
sự thể hiện cảm quan và thái độ của quần chúng nhân dân đối với những biến cố, những sự kiện, những con người có liên quan, có tác động lớn đến đời sống của cộng đồng Qua
từng tình tiết, từng cách mở đầu hoặc kết thúc mỗi truyền thuyết, chúng ta đều thấy thái độ khen chê, biểu dương, ca ngợi, hay phê phán, lên án, của người sáng tác đối với các nhân vật lịch sử một cách khá minh bạch, rõ ràng
Xin được lấy truyền thuyết An Dương Vương (Sách Lĩnh Nam chích quái lấy tựa đề là “Truyện Rùa Vàng”) làm ví dụ Truyện này có 3 nhân vật chính: An Dương Vương, Mỵ Châu và Trọng Thủy Nhà vua
là nhân vật chính Ông là người có công dựng nước Âu Lạc, xây
thành Cổ Loa, chế ra nỏ thần và chỉ huy quân dân Âu Lạc đánh
thắng Triệu Đà trong lần đầu đội quân này kéo đến xâm lăng Nhưngông cũng là người mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong việc giữ nước, dẫn đến họa “Cơ đồ đắm biển sâu” Như vậy, ông là người vẫn
có công, lại vừa có tội đối với dân, với nước Ông phải tự nhận lấy cáichết Song tác giả dân gian lại cho Thần Kim Quy xuất hiện cầm sừng tê 7 tấc rẽ nước đưa nhà vua về với biển xanh Việc An Dương Vương phải chém con gái yêu của mình cũng là nỗi đau không nhỏ
và là sự tự trừng phạt mình của chính ông Song nhân dân vẫn luôn
Trang 15trân trọng những đóng góp to lớn của nhà vua cho lịch sử, cho dân tộc nên lập đền thờ ông (ở Hà Nội, ở Nghệ An) và tạo nên một chi tiết nghệ thuật đẹp đẽ, để hình bóng vua Thục còn mãi với biển trời.Với Mỵ Châu và Trọng Thủy, thái độ và cách ứng xử của quần chúng nhân dân cũng đầy tinh thần nhân ái Cả hai người đều có tội với đấtnước Âu Lạc Họ có những việc làm không thể chấp nhận được Mỵ Châu không ý thức mình là ai khi đưa nỏ thần cho Trọng Thủy xem
và rắc lông ngỗng chỉ đường cho chồng tìm mình trong cơn binh lửa Trọng Thủy thì tiếp tay cho Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc Nhưng cả 2 người trước lúc chết đều đã có “sự phản tỉnh” Mỵ Châu bị người lừa chứ không có “ý thức hại cha”, Trọng Thủy còn có chút liêm sỉ về hành động của mình Hình ảnh “ngọc trai giếng nước” là phần vĩ thanh của câu chuyện và không nằm trong phần “chính truyện”, nhưng nó là sự thể hiện một tấm lòng đầy nhân ái của người đời sau đối với bi kịch của một đôi trai tài, gái sắc “Ngọc trai giếng nước”, theo thiển ý của chúng tôi, không phải là “bài ca ngợi ca tình yêu chung thủy” như có người đã viết trên Tạp chí “Nghiên cứu Văn học”cách đây gần 50 năm, mà chỉ là một sự thể tất của quần chúng nhândân giành cho những người có tội song đã biết nhận ra lỗi lầm của bản thân
- Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ sáng tác.
Truyền thuyết là thể loại khái quát được lịch sử của dân tộc, đồng thời giáo dục con người hướng đến cái thiện, cái tốt nên đó là nguồn cảm hứng xuyên suốt cho các tác giả dân gian sáng tạo Nhiều cuốn truyền thuyết ghi lại hình ảnh của dân tộc đạt đến giá trị cao
Tuy nhiên, là một thể loại văn học, truyền thuyết cũng bị chi phối bởi các nguyên tắc, các phương pháp của việc sáng tác nên trong nội dung tác phẩm, sự thực lịch sử trong truyền thuyết được “cấu tạo lại, tái hiện lại” thông qua cảm quan lịch sử của các tác giả dân gian Nhiều tình tiết trong tác phẩm
đã được tô vẽ thêm theo khuynh hướng “lý tưởng hóa” để tôn vinh các nhân vật lịch sử Chẳng hạn Thánh Gióng, trong sự thực lịch sử
có thể chỉ là một chiến binh, một người chỉ huy dũng cảm, lập công lớn và hy sinh ở chiến trường, nhưng khi trở thành một nhân vật truyền thuyết, thì người anh hùng làng Phù Đổng đã hoàn toàn là một con người khác với nhiều chi tiết hết sức kỳ lạ Hay như Hai Bà Trưng, trong sự thực lịch sử, sau khi bị bại trận trước sức mạnh của đội quân thiện chiến Mã Viện đã nhảy xuống dòng Hát Giang tự vẫn Còn ở truyền thuyết, Hai Bà lại có một cái kết cục hoàn toàn đẹp đẽ:
Trang 16Hai Bà cưỡi voi bay về trời bất tử cùng gió mây, non nước, Nhiều năm sau, khi hạ giới gặp cơn hạn hán, dân các làng xã lập đàn cầu đảo, hai bà lại xuống trần tạo mây mưa, giúp dân có nước cấy cầy,
ăn uống,
4 Đặc trưng của truyền thuyết
- Truyền thuyết thuộc thể loại truyện dân gian, tồn tại nhờ phương thức truyền miệng là chính.
Ra đời từ thời kì chưa có chữ viết, nên truyền thuyết cũng như các thể loại văn học
khác, từ địa phương này sang địa phương khác
Vì tồn tại nhờ phương thức truyền miệng nên truyền thuyết thường
gắn với lễ hội và phong tục thờ cúng của dân tộc Ở nước ta,
các truyền thuyết thời vua Hùng dựng nước bao giờ cũng được kể lại,hoặc dựng thành những trò diễn dân gian lễ hội (ngày nay được sân khấu hóa), được lưu giữ và truyền bá ở đền, miếu, núi, sông, ao hồ
để nhân dân thờ cúng Ví dụ truyền thuyết Thánh Gióng gắn với khu
di tích Sóc Sơn; truyền thuyết An Dương Vương gắn với cụm di tích đền Cổ Loa
- Truyền thuyết kể về nhân vật lịch sử và sự kiện có liên hệ với lịch sử.
Trong truyền thuyết, những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên thời kì lịch sử rất được coi trọng (như An Dương Vương, Lạc Long Quân, Hai Bà Trưng, Lê Lợi ) vì những tên này gắn liền với những con người thật, vùng đất thật Đặc điểm này góp phần vào việc dựng lại không khí lịch sử, tăng tính xác thực của truyện, thực hiện chức năng cơ bản của thể loại.
Tuy lấy lịch sử làm đề tài nhưng truyền thuyết không phải là lịch sử Lịch sử phản ánh chính xác sự kiện, nhân vật Còn truyền
thuyết lựa chọn một cách có nghệ thuật các sự kiện, nhân vật để layđộng tình cảm và niềm tin của người nghe đối với các sự kiện đó
- Truyền thuyết có sử dụng các yếu tố tưởng tượng, hư cấu Tuy lấy sự kiện và nhân vật lịch sử làm đề tài, nhưng truyền thuyết vẫn sử dụng những yếu tố hư cấu trên nền lịch sử có tính xác thực đó.
Những chi tiết như mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng nở trăm con,
Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, một mình đánh tan giặc Ân rồi bay
về trời, hay chi tiết nỏ thần bách phát bách trúng của An Dương Vương đều là những chi tiết kì ảo, hư cấu
Trang 17Chi tiết hư cấu kì ảo vừa tạo nên sức hấp dẫn của truyền
thuyết, vừa là cách để nhân dân ta thần thánh hóa hình
tượng, phi thướng hóa chiến công, năng lực của của những bậc
anh hùng mà nhân dân yêu mến, ngưỡng vọng
- Truyền thuyết thường thể hiện thái độ, đánh giá nhân dân
về nhân vật, các sự kiện lịch sử có thật.
Theo truyền thuyết, nhân dân muốn ca ngợi công lao của An Dương Vương trong quá trình xây thành, chế nỏ nên đã sáng tạo những chi tiết kể về sự quyết tâm của nhà vua trong sự nghiệp này Sự quyết tâm đó cảm động đến cả thần linh và nhà vua được Rùa Vàng giúp đỡ
Ngay cả khi An Dương Vương thất trận, phải nhảy xuống biển tự tử, nhân dân muốn tưởng nhớ công lao của ông, đã để ông cầm sừng tê
rẽ nước về sống tại thủy cung, trường sinh bất tử cùng các vị thần
2 Đặc điểm thi pháp
2.1 Hình thức cấu tạo cốt truyện
- Để nhận ra được đặc trưng của hình thức cấu tạo cốt truyện truyền thuyết, ta cần đặt nó trong mối quan hệ so sánh giữa thần thoại, truyện cố tích và truyền thuyết
Thần thoại Truyện cổ tích Truyền thuyết
Cấu tạo cốt truyện
của nghệ thuật ngôn
từ hư cấu kì ảo có chủ thâm trên cả 2 phương diện nội dung và nghệ thuật,
có hình thức kết cấu cốt truyện rất
ổn định theo đặc trưng kiểu truyện thuộc những tiểu loại khác nhau và
có tính phổ quát nhân loại.
Tiếp chân thần thoại,nhưng lại đi theo một hướng khác biệt
căn bản về cảm hứng sáng tạo và chức năng sinh hoạt Truyền thuyết
có mối quan hệ đặc biệt tự nhiên và sâu sắc với phong tục tín ngưỡng và
lễ hội dân gian
Thể loại hướng ngườinghe lên cõi thiêng
bằng cách tạo được niềm tin trong đời sống tâm linh, vừa tỉnh táo đặt ra và
lý giải những vấn
đề thường là trọng đại có liên quan
Trang 18- Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm khác thường của nhân vật
- Những hành trạng và chiến công khác thường của nhân vật
- Nhân vật hóa thân hiển linh âm phù.
=> Kể theo chặng là vì trong mỗi chặng có những cách kể khác
nhau theo chế định của tính vùng, tính địa phương và theo chủ quan của người kể.
Trên thực tế, có những truyền thuyết tồn tại ở dạng khuyết thuếy, đặc biệt có những truyền thuyết dường như là một truyện ngắn truyền kì trung đại
2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Đặc điểm nổi bật của nhân vật truyền thuyết là sự kết hợp kì lạ giữa những nét đời thường thế tục với những nét kì ảo phi thường Thi pháp xây dựng nhân vật có sự kế thừa từ thi pháp thần
thoại, có sự ảnh hưởng của thi pháp cổ tích trong một số chi tiết nào
đó như đã được hư cấu kì áo có chủ tâm
- Sự khác nhau về mức độ ảnh hưởng chia ra làm 2 kiểu nhân vật trong 2 thể loại truyền thuyết:
Truyền thuyết thời kì dựng
- Chủ yếu là nhữg hình
tượng lịch sử - hư cấu,
có nguồn gốc từ nguyên
mẫu huyền thoại
- Nhân vật có nguyên mẫu lịch sử
hiểu như một biện pháp nghệ thuật, được chi phối bởi quá quy luật của quá trình sáng tạo
Trang 19có đời sống gắn liền với
thiên nhiên hơn là con
người
- Chi tiết, hình ảnh nhân vật
giàu tính hiện thực đời thường Để tôn vinh các
nhân vật anh hùng, gắn nhân vật với yếu tố kì diệu,yếu tố này chỉ là kết quả của sự hư cấu kì ảo có chủ tâm được vay mượn trong thế giới cổ tích
- Điểm tương đồng phổ quát nói chung trong nghệ thuật xây dựng
nhân vật được thể hiện trong 3 chặng diễn biến với 3 loại motip
Chặng thứ
nhất Kể về hoàn cảnh xuất hiện nhân
vật ở dạng đầy đủ: thụ thai thần
kì, sinh nở thần kì, điểm kì lạ nhân vật
Hàm ý diễn tả người anh dùng của nhân
dân thì phải có nguồn gốc giao hòa giữa con người với tự nhiên và tất nhiên ý tưởng này hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian.
Chặng thứ
hai Kể về hành trạng và sự nghiệp
hiểm hách của
nhân vật: chiến công phi thường,…
Đây là lý do tồn tại của tiểu thuyết, lý giải của nhân dân về sức mạnh và khả năng khác thường của nhân vật,… Ý nghĩa biểu tượng nhuần thấm tinh thần và bản sắc dân tộc Chặng thứ
ba Kể về "sự hóa thân" và "sự hiển
linh" Motip hóa
thân trở thành kết thúc chung, biểu hiện đặc điểm hư cấu lịch sử của thể loại
Đây là những tình tiết đã đạt đến giá trị tuyệt đối về chức năng tư tưởng thẩm
mĩ đặc trưng thể loại Phản ánh nhận thức nhân dân về sự hi sinh, biểu hiện lòng khát vọng của nhân dân
về sự bất tử của anh hùng, đem vào
tín ngưỡng bản địa những nghĩa mới để củng cố niềm tin của nhân dân vào một
nguồn sức mạnh thật ở cõi thiêng Hình tượng thấm vào đời sống phong tục, nhiều nơi hóa thành lễ hội lịch
sử của đời sống dân gian
Đặc trưng thể loại, đặc điểm thi pháp thể loại Truyện cổ tích
1 Thuật ngữ, khái niệm và định nghĩa
1.1 Khái niệm
Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác
có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích
phiêu lưu và cổ tích loài vật Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về
các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ,
Trang 20người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là
có phép thuật, hay bùa mê Truyện cổ tích có thể được phân biệt vớitruyện dân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quanđến niềm tin vào tính xác thực của các sự kiện được mô tả) cũng nhưcác câu chuyện về bài học đạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật
1 Thuật ngữ, khái niệm và định nghĩa
Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác
có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là
có phép thuật, hay bùa mê Truyện cổ tích có thể được phân biệt vớitruyện dân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quanđến niềm tin vào tính xác thực của các sự kiện được mô tả) cũng nhưcác câu chuyện về bài học đạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật
2 Bối cảnh ra đời thể loại
Truyện cổ tích ra đời khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã và được thay thế bằng gia đình riêng lẻ, trong long XH có sự phân chia giai cấp một cách sâu sắc Sự phân chia giai cấp mới, tầng lớp mới làm mất sự bình đẳng giữa người và người của chế độ công xã nguyen thủy ở XH cũ Từ đó, XH xuất hiện những mâu thuẫn, xung đột giữa người giàu – kẻ nghèo, ông chủ - đầy tớ, con chung – con riêng, mẹ
kế - con chồng,…Sự chuyển biến của đời sống XH với mô hình XH đơn lẻ đã dẫn đến những nạn nhân mới: người mồ côi, đàn bà góa, người đi làm ở, làm thuê,…cùng với những mâu thuẫn, xung đột trong XH vì sự tác động của những luật lệ, hình thức XH mới ràng buộc họ vào trong một mới quan hệ đối nghịch Họ phân vân giữa cái cũ và cái mới, cuộc đấu tranh của cái cũ trong long XH mới dẫn đến những bi kịch mới (bi kịch hôn nhân gia đình, tạp hôn, hôn nhân một vợ một chồng, bạo lực gia đình, quan hệ thừa kế,…) Đó là thời điểm TCT ra đời như một hình thức nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của ND nhằm lí giải các vấn đề XH theo xu hướng bảo
vệ , bênh vực kẻ yếu, nạn nhân của XH trước những thay đổi lớn lao của đời sống TCT ở mỗi thời kì, dân gian lại tái tạo, tạo nên nhiều dị bản mang chi tiết của thời đại ấy theo nhu cầu của con người ở
Trang 21những CD, địa phương khác nhau Nhưng sự thay đổi ấy phải tuân thủ theo nguyên tắc ko phá vỡ kết cấu đã hoàn thành của TCT
VD như: Trong truyện:”Tấm Cám”, chúng ta có thể thấy có rất nhiều
dị bản ở chi tiết cô Tấm sau khi bị Cám hại chết đã hóa than thành con vật, đồ vật khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm mỗi vùng miền nhưng cái kết cô Tấm cưới nhà vua và được sống hạnh phúc suốt đờikhông thay đổi Đó là nguyen tắc của TCT: “Ở hiền gặp lành” của tác giả DG mà không một dị bản nào được phá vỡ Chính vì vậy, TCT mới được lưu truyền qua không gian và thời gian vừa mag tính dân tộc vừa mang tính quốc tế, được nhân dân say mê truyền tục
3 Đặc trưng thể loại
2.1 Truyện cổ tích là truyện kể hoàn toàn hư cấu và kì ảo
- Hư cấu là bản chất mang tính thẩm mĩ, là đặc trưng nổi bật của thểloại TCT hấp dẫn ở chính những chi tiết hư ảo, sự sáng tạo kì ảo của dân gian
- Mỗi cốt truyện đều không có thực, không diễn ra trên thực tế Đó là
sự hình dung, cách nhìn khái quát của nhân dân về hiện thực XH Mỗi câu truyện hư cấu và kì ảo ấy là liều thuốc an thần giúp nhân dân vẽ ra một thế giới lung linh và vượt qua những khó khan, đau khổ của cuộc đời thực Những yếu tố kì ảo trong truyện cổ tích là nơi nhân dân lao động gửi gắm ước mơ, khát vọng về một cuộc đời côngbằng, về một cuộc đổi đời:
+ Là những con vật, sự vật có phép màu: cây đàn, nồi cơm Thạch Sanh, lọ xương cá bống của cô Tấm, con chim trong Cây khế
+ Là năng lực siêu phàm của nhân vật: sự biến hóa của cô Tấm, Sọ Dừa
+ Là những nhân vật siêu thực: Tiên, Bụt, Phật,…
Với những nhân vật siêu thực như ông Bụt sẽ có sức mạnh thần tiên,đại diện cho những người lương thiện, bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân của XH mỗi khi họ gặp khó khan Trong truyện: “Tấm Cám”, ông Bụt luôn xuất hiện khi cô Tấm gặp chuyện khó khăn với câu hỏi: “Tại saocon khóc?”…
Trang 22Bản chất TCT là XD một thế giới nghệ thuật trong trí tưởng tượng, kì
ảo, phi hiện thực để thực hiện lí tưởng về xã hội công bang, một xã hội cần có và nên có cho con người Một thế giới công bằng với
những người nông dân nghèo, chăm chỉ, chất phác, lương thiện sẽ gặp những điều tốt đẹp còn kẻ xấu sẽ phải nhận trừng phạt Như vậy, TCT là loại chuyện hư cấu và mang tính nghệ thuật Tính nghệ thuật hấp dẫn của truyện cổ tích không phải là phản ánh hiện thực
mà chính do sự hư cấu, bịa đặt khác thường (không khí huyền ảo, nhân vật hư cấu, sự kiện phi hiện thực cùng cốt truyện nhân văn)
Ở thể loại TCT, cả người kể và người nghe đều không tin tưởng vào câu chuyện đang diễn ra, ai cũng biết, đó là sự sáng tạo của dân gian Chúng ta sẽ thấy một khuôn mẫu chung của TCT ở đoạn kết:
“Cuối cùng, họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau” Người kể và người nghe đều biết trước một cai kết rập khuôn cho câu chuyện và họ không có gì mong chờ ở diễn biến của nó Và điều hấp dẫn của TCT
là người nghệ sĩ kể chuyện với giọng kể, điệu bộ, nét mặt nhập tâm vào câu chuyện khiến không khí huyền ảo; người nghe tưởng tượng
ra câu chuyện ngay trước mắt
2.2 Truyện cổ tích là những truyện kể đã hoàn tất
TCT là câu chuyện về sự thưởng – phạt công bằng theo quan điểm nhân dân – “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” Vì thế mỗi TCT đều đã hoàn thành về cốt chuyện, là sự kết thúc ấn định theo quan điểm nhân dân: kết thúc có hậu, người có công đc thưởng, người có tội bị trừng phạt Nguyên tắc của TCT là người ta có thể thay đổi về lời kể, lời mở đầu, lời miêu tả trong truyện nhưng cốt truyện phải được bảo lưu
Đặc trưng sự hoàn thành của cốt truyện liên quan chặt chẽ với đặc trưng tính hư cấu, kì ảo của bản thân câu chuyện Với motip quen thuộc trong TCT: để thực thi triết lí và công bằng theo tư duy nghệ thuật của tác giả dân gian mà TCT luôn kết thúc có hậu, luôn có thế lực thần kì xuất hiện giúp đỡ cho nhân vật tốt hay các nv tốt sẽ
mang toàn bộ đức tính tốt đẹp, hành động của họ luôn đúng đắn.Không nên “sửa chữa” TCT theo hướng hợp lí hóa cho phù hợp với tưduy logic con người hiện nay mà làm mất đi cái vô lí, nét đặc trưng hấp dẫn của TCT Trong truyện: “Tấm Cám” có một kết thúc vẫn tồn
Trang 23tại qua các thời đại ngày nay là cô Tấm giết cô cám, làm mắm gửi cho mụ dì ghẻ Với chi tiết này, người đọc không hề có cảm giác ghê rợn hay không đồng tình với cô Tấm Ngược lại, khi thấy cái ác đền tội, ai cũng thấy hả hê và tin tưởng và sự công bằng của thế giới
“ngày xửa ngày xưa” Việc sửa chữa để tìm một văn bản phù hợp vớithời đại của chúng ta là không cần thiết bởi người đọc sẽ không tin tưởng vào TCT với những câu chuyện hư ảo đem đến những điều vô
lí, họ sẽ tự tìm đến với bản kể truyền thống
2.3 Tính chất giáo huấn, triết lí của truyện cổ tích
- TCT khuyên nhủ , dạy bảo con người dưới một hình thức lí thú và nhiều khi ngụ ý một cách bóng bảy:
+ TCT ca ngợi và bênh vực cho đạo đức con người thông qua nhân vật lí tưởng Nhân vật lí tưởng là nv chính, là nạn nhân của XH; họ mang những tài năng và nhân cách vượt trội Mặc dù họ là những con người nhỏ bé, yếu đuối nhưng có tư cách đạo đức không thể phủnhận Họ đại diện cho đa số người dân, cho những nạn nhân trong
XH Chính vì sự bất hạnh nhưng mang đạo đức, tài năng giá trị nên
họ mới được nhận sự giúp đỡ từ các lực lượng thần kì
Nhân vật thường được đặt ra thử thách để vượt qua và nhận được phần thưởng xứng đáng Các nhân vật thường được thử thách về lòng tốt, tinh thần nghĩa hiệp, anh dũng: Thạch Sanh, Cây khế, Sọ dừa, Cây tre trăm đốt,…Thạch Sanh là nhân vật anh hùng lí tưởng được đặt ra ba thử thách tiêu diệt yêu quái cứu giúp dân chúng, công chúa và nước nhà Để làm nổi bật đức độ và tài năng của
Thạch Sanh, TCT đã xây dựng truyện theo sự xung đột hai tuyến nhân vật rõ rệt: thiện-ác Người anh Lí Thông đai diện cho cái ác, cái xấu trong truyện; hắn được miêu tả là mưu mô, xảo quyệt, hèn nhát,tiểu nhân,…làm đủ chuyện xấu để hãm hại Thạch Sanh, cướp công của chàng Vì vậy, Lí Thông phải bị trừng phạt (Lí Thông bị sét đánh chết) còn Thạch Sanh được nhân phần thưởng xứng đáng ( nhà vua
gả công chúa, phong tước hiệu và sống hạnh phúc) Như vậy, phần miêu tả những xung đột trong truyện cổ tích cơ bản chính là sự giới thiệu, mô tả đạo đức, tài năng của nhân vật lí tưởng để bày tỏ ước
mơ, khát vọng của nhân dân Đó là một xã hội cần có và nên có, một
xã hội công bằng với những con người lương thiện, dũng cảm và tài năng
Trang 24Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại
3.1 Truyện cổ tích sinh hoạt
TCT sinh hoạt ( còn gọi cổ tích thế sự) được phân chia theo đề tài và nội dung phản ánh, mỗi câu chuyện là một bài học về vấn đề đạo đức, ứng xử, cách sống của con người:
- Tính giáo huấn của TCT sinh hoạt rất cao, nó hướng tới chuẩn mực đạo đức, bênh vực, bảo vệ cho những giá trị đạo đức trong gia đình
và XH Tình huống truyện diễ ra phong phú, sinh động, không gian đời thường, với cảnh làng quê, gia đình gần gũi Ví dụ, Sự tích Trầu Cau mang không gian một gia đình đời thường, yêu thương; tất cả những hiểu lầm, khúc mắc đều diễn ra trong ngôi nhà thể hiện tình nghĩa anh em, tình nghĩa vợ chồng sâu nặng Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mối lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam Như vậy, TCT sinh hoạt không có những xung đột XH quyết liệt, xây dựng nhân vật hoàn toàn xấu xa cũng như kết cục trả giá thảm khốc Điều cốt lõi truyện muốn hướng tới là cách ứng xử của con người để hướng tới những giá trị đạo đức, chuẩn mực đạo đức trong XH
- Nhóm TCT sinh hoạt khá đa dạng, người ta có thể phân chia ra hai mảng truyện về đề tài trí tuệ của con người và đề tài đạo đức Trong
đó, truyện về đề tài trí tuệ mang giá trị cao, có 2 dạng cơ bản:
truyện về nhân vật ngốc và truyện về người thông minh
Nhóm truyện về nhân vật ngốc: Chàng ngốc đi buôn, Làm theo vợ dặn, Chàng ngốc học khôn, Con vợ khôn lấy thằng chồng dại, Người
vợ thông minh…Những chuyện này gần gũi với truyện cười, với cái cười nhẹ nhàng phê phán, có tính giải trí Thông qua những hành động, suy nghĩ ngốc nghếch của nhân vật, câu chuyện đề cao trí tuệmột cách gián tiếp và phê phán những người ngốc một cách nhẹ nhàng (tầm nhìn hạn hẹp, sự bắt chước máy móc,…) Truyện:
“Chàng ngốc học khôn” mang tới tiếng cười giải trí, châm biếm nhẹ nhàng với những tình huống may mắn của chàng ngốc khi chàng muốn giành lại vợ Như đa số TCT về nhân vật ngốc ở VN, chàng ngốc trong truyện lười biếng suy nghĩ, thấy khó khăn là bỏ cuộc đến khi có quyết tâm học khôn, chàng cũng không biết cách học, học lỏm, bắt chước người khác một cách máy móc Những chuyện như
Trang 25vậy thể hiện cái nhìn hài hước, vui tươi của trí tuệ ND đồng thời biểu
lộ niềm tin, sư trân trọng với những số phận thua thiệt trong XH.Nhóm truyện về nhân vật thông minh: Em bé thông minh, Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, Trí khôn của ta đây,…Ngoài ý nghĩa đấu tranh giai cấp, TCT sinh hoạt đề cao trí tuệ của dân gian, đề cao con người với phẩm chất nổi bật là trí tuệ và đạo đức
+ Khác với TCT thần kì có nhiều xung đột, mâu thuãn gay gắt trong
XH kể lại toàn bộ cuộc đời, dựng lại số phận của nhân vật thì TCT sinh hoạt chỉ đưa ra một tình huống, một xung đột, một lát cắt của
đs để thể hiện những vấn đề đạo đức, ứng xử trong cuộc sống
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc biệt: Tác giả luôn lựa chọn
những chi tiết đắt giá, tiêu biểu của nv để biểu hiện chủ đề Tác giả dân gian tập trung vào những tình huống đặc biệt để nổi bật tính cách nhân vật: nhân vật thông minh thường đặt cùng hoàn cảnh, tình huống với nhân vật ngốc để thể hiện hai cách ứng xử trái ngược nhau làm sự thông minh sáng lên trong truyện, từ đó thể hiện ngụ ý của dân gian về trí tuệ
Kết cấu của TCT ko rõ ràng và ổn định Bản thân mỗi truyện là TCT sinh hoạt mang tính mở và gần với hình thức truyện kể của VH viết Mỗi câu chuyện là những tình huống khác nhau, tình huống đặc biệt bởi chính cái tình huống ấy là nguyên nhân tạo nên toàn bộ sự việc
để nhân vật bộc lộ tính cách Vì vậy, TCT sinh hoạt chỉ cần một tình huống ngẫu nhiên trong cuộc sống là có thể phản ánh một vấn đề của cuộc sống thường ngày
3.2 Truyện cổ tích về loài vật
- Nguồn gốc từ thần thoại về nguồn gốc dân tộc, dòng họ (thần thoạitootem, thần thoại suy nguyên) vì thế chúng nằm trong ranh giới giao thoa với thần thoại Những truyện về vật tổ phản ánh mối quan
hệ mật thiết của VHDG với tôn giáo, tín ngưỡng dân gian Đến thời kìsau, khi ý niệm về tín ngưỡng mờ nhạt, gia tăng ND xã hội, triết lí, giáo huấn từ đó trở những truyện đó thành truyện cổ tích loài vật
- Nhân vật nhất định phải là loài vật, là những con vật đến từ TG tự nhiên vô cùng phong phú, đa dạng: voi, ngựa, trâu, gà, chó, lợn, cá, côn trùng,…TCT loài vật chú ý miêu tả những nét sinh thái đặc biệt của từng loài nhằm cung cấp tri thức ( đặc biệt là trẻ em) về TG loài vật Đó có thể là những đặc điểm của loài vật: Sự tích bộ lông công,
bộ lông quạ, Sự tích con Thạch Sùng, Tại sao răng thỏ lại thua, Sự tích chim Quốc, Con cóc là cậu ông trời,…
Trang 26Trong hệ thống truyện cổ tích loài vật của người Kinh những nhân vật thường là con vật nuôi ( trâu, chó, gà, mèo,…) ít có những thú hoang dã hay ác thú Điều này cho thấy đây là những truyện của người ND đã trải qua giai đoạn thuần dưỡng các loài súc vật, sống xavới thiên nhiên hoang dã => thể hiện tư duy của con người Các nhân vật con vật trong truyện người Kinh xuất hiện tương đối bình đẳng với nhau
Trong khi đó, TCT loài vật của dân tộc thiểu số xây dựng những nhânvật tiêu biểu (thỏ, rùa, hổ, chim,…) nhỏ bé, thông minh, lanh lợi là hình tượng mang nhiều lớp nghĩa, thể hiện tư tưởng, thẩm mĩ của nhân dân, phản ánh ước mơ của sự công bằng, đề cao những đức tính tốt đẹp TCT loài vật của người Kinh chủ yếu giải thích, mô tả đặc điểm sinh học, là bản chất tự nhiên của loài vật một cách giản đơn, lí thú và sử dụng yếu tố nhân hóa để con vật có hành động như con người dễ dàng tiếp cận người đọc, đặc biệt trẻ em
VD như “Sự tích bộ lông công, bộ lông quạ” con quạ tô màu lông chocon công rất tỉ mỉ, cẩn thận nên lông công rất đẹp nhưng vì khi côngđang tô màu lông cho quạ thì quạ giục tíu tít nên công đã đổ cả xô mực vào bộ lông của quạ thành một màu đen xì Trong truyện, tác giả DG ko có ý phê phán đức tính xấu của con công và quạ mà chỉ muốn giải thích về màu sắc tự nhiên của bộ lông của hai con vật Trong khi đó, TCT loài vật của dân tộc thiểu số vô cùng chỉn chu khi xây dựng một cốt truyện hoàn chỉnh đi từ nguồn gốc tới kết cục để thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của nhân dân Câu chuyện: “Sự tích Sen
và Bướm” của dân tộc Khmer kể về mối lương duyên giữa nàng tiên
út con của thần Pờ-rặc In và chàng trai hiền lành chăm sóc vườn rau.Kết cấu của truyện cũng theo một hệ thống nhất định: giới thiệu về cuộc đời của từng nhân vật chính (chàng nông dân nghèo - nàng tiên, con gái của vị thần Pơ-rặc-in cai quản vũ trụ của dân tộc
Khmer) - cuộc gặp gỡ định mệnh của hai người - hai người yêu nhau
và lập gia đình - biến cố xảy ra, đặt nhân vật vào thử thách ( tên vuatham lam muốn bắt con vịt đẻ trứng của hai người và nàng tiên về làm vợ đồng thời thần Pơ-rắc-in bắt nàng tiên phải quay về chốn thần tiên) - kết cục kẻ ác bị trừng phạt còn người tốt được nhận thưởng nhân đạo từ dân gian ( bốn mụ vợ của tên vua bị biến thành heo rừng, rắn còn nàng tiên ngã xuống ao sen biến thành đóa sen Hồng, người chồng nghĩa tình biến thành con bướm luôn quanh quẩnbên đóa sen)
- Ngoài tính chất hiện thực đs sinh vật của các nhân vật, TCT loài vậtxây dựng TG loài vật thông qua lăng kính của con người Khi đi vào thế giới TCT, các loài vật mang tính cách rõ ràng như con người được
Trang 27dựa trên một đặc tính của loài: Sư tử hung dữ, kiêu ngạo vì là vua của rừng xanh hay cáo mưu mô,xảo quyện thường là nhân vật phản diện, thỏ hiền lành, nhanh nhẹn, rùa điềm đạm, thông thái được chọn là nhân vật chính nghĩa Những hình tượng nv loài vật được xâydựng chịu ảnh hưởng của quan niệm về con người.
- TCT loài vật có sự xung đột, mâu thuẫn khác nhau của TG tự nhiên
và bộc lộ những thái độ khác nhau của nhân dân về những vấn đề tựnhiên và XH Sự xung đột trong TCT rất nhẹ nhàng: miếng mồi, tranhchấp địa bàn cư trú, tranh chấp quyền cai trị,…Theo truyện cổ tích người Thái, vì không được đối xử công bằng, mèo được ngủ chung chăn ăn cơm trộn miếng còn chó chỉ được ăn cơm thừa canh cặn nênchó mèo mới ghét nhau như vậy Từ đó, dân gian muốn lí giải nguồn gốc, đặc điểm sinh học các loài => con người thỏa mãn được nhu cầu giải thích về tự nhiên xung quanh, không cần nó có đúng sự thậthay hợp lí
=> QN, triết lí: Cái đẹp gắn liền với cái lương thiện, chăm chỉ, cần
cù Hình dáng, đặc điểm, tuổi thọ của các loài vật hiện nay là hệ quảcủa tính cách và hành động của nhân vật
- Kết cấu lỏng lẻo, tự do, nhiều truyện chỉ có một tình huống Truyện
đc xây dựng chủ yếu dựa trên TH đó:
+ Các con vật gặp gỡ tại thời điểm đó
+ Nảy sinh mâu thuẫn, tranh cãi
+ Giải quyết mâu thuẫn bằng nhiều hình thức ( thi đấu, dùng mưu mẹo, hợp sức,…)
+ Kết quả là phần kết luận đưa ra lí giải về đặc điểm, hình dáng,…của loài vật
Do những xung đột đơn giản nên nhân vật chủ yếu bộc lộ tính cách qua đoạn đối thoại và cốt truyện chỉ có nảy sinh mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn ấy
Trang 28Thạch Sanh là người mồ côi, Tấm cha mẹ mất sớm và bị dì ghẻ bóc lột, Sọ Dừa là nv đội lốt vì sinh ra có hình dáng dị thường mà bị mọi người ghẻ lạnh, coi thường,…
+ Nhân vật địch thủ với nv chính: Lí Thông, mụ dì ghẻ, phú ông, người anh,…
+ Nhân vật trợ thủ cho nv chính: những lực lượng thần kì(thần tiên, ông Bụt, Phật…)
Hai hệ thống nhân vật có sự xung đột sâu sắc được lí tưởng hóa cao
độ, một phe là những người tốt đại diện cho cái thiện, công lý còn một bên là thế lực xấu xa, độc ác của XH Trong truyện: “Cây tre trăm đốt” chàng nông dân nghèo mang toàn bộ những phẩm chất tốt đẹp (lương thiện, cần cù, chăm chỉ, dũng cảm, thông minh,
nhanh nhẹn,…) còn phú ông là nv phản diện luôn bủn xỉn, tham lam,xảo quyệt nghĩ ra mọi cách để chàng nông dân không lấy được con gái của mình Nhân vật mang tính đại diện, số phận, tính cách của
họ đều đại diện cho tầng lớp nhân dân nhất định; họ sẽ không có quá trình diễn biến nội tâm, không có quá trình biến đổi tính cách như trong VH viết
Bên cạnh đó, cổ tích thần kì còn có nv thần kì Nhân vật thần kì xuất hiện đã định tính và định danh cho tiểu loại này thường là những vị thần tiên có phép thuật to lớn, có khả năng biến hóa Lực lượng thần
kì cũng mang dáng dấp con người được hình thành trên cơ sở niềm tin tín ngưỡng con người được hình thành dựa trên tín ngưỡng của con người Nhân vật ko mang tính cách cụ thể mà có chức năng đơn thuần là giúp đỡ nv chính khi gặp khó khăn, thử thách Ở VN hiếm khi có nhân vật thần kì độc ác đứng về phe phản diện mà chỉ có lực lượng đứng về phe chính diện, bảo vệ cho ước mơ, đạo lí của nhân dân Sự xuất hiện của nv thần kì càng củng cố về loại nv chức năng: mỗi nv đóng một vai trò, chức năng nhất định trong truyện như chứcnăng trợ giúp, cn ban thưởng hoặc trừng phạt
- Thế giới nghệ thuật: (không gian & thời gian)
Không gian mang tc 2 mặt: vừa là ko gian trần thế vừa là ko gian phitrần thế Ko gian hiện thực là ko gian cs trần thế, biểu hiện cụ thể trong TCT của người Kinh là ko gian làng quê => đem lại TCT hơi ấmnhân sinh, màu sắc dân tộc, dân dã” => sp tinh thần đích thực của
ND lao động, mang đậm thế giới quan của nhân dân TCT người Kinh, những khung cảnh, chi tiết của cung đình đều bị dân dã hóa một cách triệt để: cung vua có sào, bờ rào phơi quần áo, hoàng hậu giặt quần áo cho vua, trèo cau hái quả ngày giỗ bố, nhà vua ghé
Trang 29quán nước ăn trầu, (Tấm Cám) hay người bán hàng rao đi qua nơi hoàng hậu ở (Lọ nước thần)
Ngoài ra, ko gian kì ảo Ko gian kì ảo là sự sáng tạo mang tính nghệ thuật của con người nhưng chịu sự chi phối của tôn giáo => thể hiệnnhững yếu tố tư duy, quan niệm và ước mơ của nhân dân lao động.Ước mơ, khát vọng của con người về một thế giới cần có Một thế giới hạnh phúc và bất tử, toàn những điều tốt đẹp, sung sướng dành cho những người dân lương thiện, một hiện thực họ ko bao giờ có ở thế giới thực
Thước đo phẩm chất con người Chính vì ko gian kì ảo là nơi chứa đựng những ước mơ giàu sang, hạnh phúc của con người cho nên ko phải ai cũng có thể được ko gian đó.Chỉ những người đã vượt qua thửthách, bộc lộ được pc tốt đẹp mới được đền đáp, có kết thúc có hậu
=> Hai không gian luôn tồn tại song song, đan xen vào nhau, có quan hệ với nhau Cả hai đều mang tính chức năng và mang tính quan niệm Đó là phương tiện để chuyển tải những quan niệm về thếgiới, về con người Đồng thời, chúng tạo nên sự cân bằng trong tâm
lí con người, giúp con ng giải tỏa những áp lực cs, mơ ước tới thế giớitương lai
Không gian cản trở và phi cản trở:
Ko gian cản trở là ko gian gây ra những khó khăn, trở ngại trong quátrình di chuyển của nhân vật (thử thách, kẻ thù ) thường xuất hiện trong kiểu truyện dũng sĩ, phiêu lưu và đôi khi nó cũng xuất hiện đối với nv phản diện hình thu
=> mang tính quan niệm và tượng trưng rõ nét Nếu vượt qua cản trở, con người sẽ đạt được ước mơ,khát vọng và ngược lại, phải chấp nhận bi kịch
Ko gian phi cản trở là từ ko gian khó khăn này chuyển sang ko gian kia chẳng có gì khó khăn
Một là, di chuyển từ ko gian trần thế đến ko gian kì ảo một cách dễ dàng
Hai là, ko gian hiện thực có kc giữa các điểm khác nhau nhưng nv cũng có thể di chuyển thuận lợi nhờ những phép màu kì diệu, những vật báu
=> Trong TCT, nhân dân cũng nhận thấy việc di chuyển trong ko gian gặp rất nhiều khó khăn Chính vì thế, khi ko làm chủ được ko gian thiên nhiên quanh mình thì họ dựa nhiều vào thế giới biểu