Bài kiểm tra Văn học Trung Đại HNUE BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN Đề bài Đọc bài thơ Thu phong (Kì nhị) của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thực hiện các yêu cầu sau 1) Chỉ ra các đặc điểm của thể thơ Đường luật trong bài thơ 2) Phân tích quan niệm th.
Trang 1BÀI KIỂM TRA ĐIỀU KIỆN
Đề bài: Đọc bài thơ "Thu phong (Kì nhị)" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thực
hiện các yêu cầu sau:
1) Chỉ ra các đặc điểm của thể thơ Đường luật trong bài thơ
2) Phân tích quan niệm "thi ngôn chí" và thuyết "vật cảm" được thể hiện trong bài thơ
3) Đặt trong tiến trình của thơ Đường luật chữ Hán Việt Nam thời trung đại, hãy chỉ ra tính chất hay phong cách của bài thơ
Bài làm:
1) Các đặc điểm của thể thơ Đường luật trong bài thơ "Thu phong" của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
- Theo cấu trúc đề - thực - luận - kết:
+ Hai câu đề vừa tả cảnh vừa nói đến gió thu thổi từ phương tây đến
+ Hai câu thực nói về đặc điểm chuyển giao sang mùa thu
+ Hai câu luận ngụ ý nói về hai nhân vật Đào Tiềm và Trường Hàn thời Tấn
cả hai đều đi làm quan xa sau đó treo ấn từ quan trở về quê hương và khi nói đến hai ông đều gắn với mùa thu
+ Hai câu kết chia sẻ của nhà thơ cứ mỗi cuối năm mình sẽ già đi hơn, nhưng điều ông lo lắng không phải mình già theo năm tháng mà việc lo cho nước, lo cho dân mới khiến ông già hơn nhiều
- Theo cấu trúc 4/4 (tả cảnh, sự/tình)
+ 4 câu đầu: Tả dấu hiệu chuyển sang mùa thu, những đặc điểm của mùa thu + 4 câu sau: tác giả thể hiện sự trân trọng tài năng của Đào Tiềm và Trương Hàn, cảm thấy đau thương khi người có tài không được bảo vệ Lo lắng cho đất nước khi mất đi những người tài
- Theo cấu trúc 6/2:
+ 6 câu đầu: Mượn những hiện tượng của tự nhiên để nói về liên tưởng về những người có tài nhưng không được trọng dụng
Trang 2+ 2 câu sau: Những suy tư, lo lắng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho nước, cho dân
- Theo cấu trúc 2/4/2:
+ 2 câu đầu gió thu thổi tới khiến lá ngô đồng rụng, khiến ai cũng biết rằng mùa thu đã tới
+ 4 câu giữa mùa thu đến khiến tác giả nhớ đến những vị quan nhỏ nhưng tài năng, đã từ quan về ở ẩn, để sống một cuộc sống yên bình, hòa mình với thiên nhiên, đất trời
+ 2 câu cuối: suy tư của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho từ hình đất nước đang ngày càng suy thoái, khiến cho nhân dân cơ cực, bần cùng
- Gió thu là bài thơ thất niêm Các vị trí: 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 Đều cùng một luật (B hoặc T) tính từ chữ thứ hai
- Gió thu là bài thơ thất ngôn bát cú đường luật, theo luật trắc sử dụng vần chính, đảm bảo sự cân xứng hài hòa giữa thanh bằng, thanh trắc và yêu cầu chặt chẽ về đối (thanh điệu, từ loại, cấu trúc ngữ pháp, ý)
+ Gió thu mang những yếu tố nghệ thuật đáng chú ý
+ Chủ thể trữ tình ẩn danh, mượn những tên chung để nói về nhân vật chính Mượn những hình ảnh tự nhiên để liên tưởng đến Đào Tiềm và Trương Hàn thời Tấn (Trung Quốc)
+ Hai câu thơ cuối thể hiện suy tư của tác giả, không lo sợ già theo năm tháng, chỉ lo sợ đất nước, nhân dân loạn lạc, suy thoái
- Bài thơ đường luật với kết cấu chặt chẽ, tứ thơ giản dị những hàm ý sâu xa
đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của người kẻ sĩ
2) Quan niệm "thi ngôn chí" và thuyết "vật cảm" được thể hiện trong bài thơ
"Gió thu"
Nguyễn Bỉnh Khiêm được mệnh danh là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỉ đầu của nền văn học viết Việt Nam Nhắc đến Nguyễn Bình Khiêm là nhắc đến một hồn thơ hàm súc, kết hợp trọn vẹn được những vẻ đẹp của nét thơ
cổ điển và dân gian để thể hiện sự suy tư, trăn trở vừa viết với thái độ đề cao lối sống nghĩa tình Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Gió thu” sẽ đem đến cho bạn đọc những câu thơ mang đậm
Trang 3giá trị triết lí đời sống hòa quyện với những câu từ trữ tình giàu cảm xúc, được thể hiện rõ trong hai quan niệm “thi ngôn chí” và “thuyết vật cảm”
Ông triệt để tuân theo quan niệm thẩm mĩ "thi ngôn chí", sáng tác của ông thê hiện sự ưu thời mẫn thế, mang đậm chất giáo huấn và lòng yêu nước Ngoài ra, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho có tấm lòng ưu quốc ái dân vằng vặc, ông luôn coi trọng đến tình hình của người dân, bởi tác giả cho rằng “lấy dân làm gốc thì đất nước mới phát triển được” Ông hiểu được ước vọng của dân, lo cho cái lo của người dân, thông cảm cho nỗi đau vật chất và tinh thần của người dân Có lẽ đó cũng chính là những nguyên nhân chính của để bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm tinh thần ưu thời mẫn thế và đậm chất hiện thực phong kiến thời đó
"Thi ngôn chí" là định nghĩa, chức năng, đặc trưng của thơ ở Trung Quốc thời cổ-trung đại, đây là biểu hiện về phương diện nội dung tư tưởng của tính qui phạm-đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Tìm hiểu về chí trong văn học trung đại chính là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người: "Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lí lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách anh hùng" Ở Việt Nam, "thi ngôn chí" cũng được nhắc đến nhiều trong các thơ
cơ thời cổ-trung đại Thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tựa Bạch Vân am thi tập đã giải thích: "Nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới, mà thơ lại là để nói chí Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui…" Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng
"đạo đức, công danh và sự nhàn dật" là ba phương diện thể hiện chí của kẻ sĩ Khảo sát thơ ngôn chí của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ thấy thấp thoáng những nét đẹp cao giá ấy Những vần thơ thi ngôn chí sẽ bộc bạch được tâm tư, nguyện vọng, hoài bão, ước mơ của ông
Qua nội dung bài thơ "Thu phong", chúng ta hiểu được quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về thi ngôn chí, ông cho rằng làm thơ là cốt để nói chí của mình, chí cũng phải toát ra từ cái tâm Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm "Nhàn dật" cũng được coi như một cái chí của nhà Nho bên cạnh chí đạo đức, chí hành đạo, chí ở công danh "Chí nhàn dật" chính là những mong muốn, khát khao hướng tới cuộc sống an nhàn, không màng danh lợi, trở về cuộc sống ẩn dật, sống và hòa mình vào thiên nhiên Những vần thơ trong bài "Thu phong" chính là nói về
"chí nhàn dật":
"Hương cúc hữu hoài tao khách oán, Thuần dư dị động cố hương ti (tư)
Trang 4"Hoa cúc thơm có lòng ôm ấp niềm ai oán của khách thơ, Rau thuần cá vược dễ khiêu động nỗi niềm nhớ quê cũ,"
Trong hai câu thơ này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ngụ ý nhắc đến hai nhân vật
đó là Đào Tiềm và Trương Hàn Đào Tiềm là một nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn, là người có cốt cách cứng cỏi, thanh cao, thời trẻ ông làm quan nhỏ, nhưng sau không chịu được đời sống quan trường rối ren nên lui về ở ẩn và thường trồng hoa cúc trong vườn để thưởng ngoạn và xem đó là thú vui tao nhã
Về Trương Hàn đi làm quan xa, khi gió mùa thu thổi đến chợt nghĩ tới những món ăn quê hương mà chạnh lòng nhớ quê, sau đó ông treo ấn từ quan về quê hương Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ngụ ý nói đến hai nhân vật này chính là muốn nói về cái "chí nhàn dật", Đào Tiềm và Trương Hàn đều làm quan và cũng chọn
từ quan, mặc kệ danh lợi, quyền quý để về sống cuộc sống an nhàn, hòa mình với thiên nhiên Bên cạnh đó Đào Tiềm và Trương Hàn cũng có những thú vui riêng: Đào Tiềm thích trồng hoa cúc để thưởng ngoạn và xem nó; Trương Hàn thích ăn canh thuần, gỏi cá vực những món ăn dân dã của quê hương mình Những vần thơ một mặt muốn nói về tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu, mặt khác nhằm khắc họa tâm hồn thanh cao, không ham danh lợi, vui vẻ sống cuộc sống thôn dã đạm bạc
Tư tưởng "chí nhàn dật" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tư tưởng đạo đức khoan dung Ông phấn đấu hết mình cho đời và không mong tranh chấp, chỉ mong dân được ấm no, nước ngày càng mạnh và phát triển Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm "Con người hãy sống hòa mình với tự nhiên, giữ vững cái chí tâm, lấy lòng nhân nghĩa mà sống" Đến với hai câu thơ cuối, Nguyễn Bỉnh Khiêm
đã thể hiện cái chí ở việc hành đạo:
"Kỉ hồi tuế yến ta ngô lão,
Ưu quốc nhiêu thiêm lưỡng mấn ti."
Dịch:
Mấy lần vào độ cuối năm than thở mình đã già,
Lo cho nước khiến hai bên tóc mai bạc như tơ thêm nhiều."
Mở đầu bài thơ với những dấu hiệu chuyển giao của mùa thu, tình thu sâu đậm, thi tứ ngập tràn tâm hồn Vậy mà, đến với hai câu kết tấm lòng lo cho thời
Trang 5cuộc, vận nước, lo cho dân vẫn không thôi nhức nhối trong lòng Nguyễn Bỉnh Khiêm Nỗi niềm ưu tư làm cho tóc mai bạc thêm nhiều là sự lo lắng trăn trở cho thời đại, cho đất nước và đặc biệt cho dân Đối với ông chuyện danh lợi chốn quan trường hay chuyện được, mất trong chốn quan trường này ông đều không bận tâm Cả đời ông theo đuổi ấn phong hầu chỉ với một mục đích duy nhất là được phụng sự cho đất nước, dân tộc, gánh vác trên vai phần nào đó sứ mệnh của bậc chí sĩ Gió thu là bài thơ thất niêm Các vị trí: 1-8, 2-3, 4-5, 6-7 Đều cùng một luật (B hoặc T) tính từ chữ thứ hai.Những dòng tâm sự ấy càng tô đậm nhân cách cao đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đối với ông yêu nước thương dân như một mạch nguồn tuân chảy dạt dào không bao giờ cạn, chỉ có thể dùng thơ mới thể hiện được đôi phần nào đó mà thôi
Bằng những vần thơ giản dị, cùng sự uyên bác, thâm sâu, bài thơ "Thu phong" đã thể hiện phần nào đó về quan niệm "thi ngôn chí" Quan niệm "thi ngôn chí" của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa giống mà cũng rất khác so với những nhà thơ văn học trung đại cùng thời, giống đều cùng chí hướng hành đạo, mong muốn đất nước phát triển, xã tắc thanh bình, nhân dân ấm no Nhưng cái khác của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là lối sống, "chí nhàn dật", "ông nhàn" nhưng không tiêu du, ông về quê sống ẩn, hòa mình với thiên nhiên, tìm nơi thanh tịnh, ngẫm về sự đời, ưu thời mẫn thế, lo lắng cho dân Khi đọc bài thơ, nhìn nhận được cách thể hiện quan điểm, nghệ thuật, bút pháp thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông có những nét độc đáo riêng, đã tạo nên một phong cách riêng biệt trong những vần thơ
Bài thơ "Thu phong" không chỉ thể hiện quan niệm "thi ngôn chí", mà bên cạnh đó thuyết "vật cảm" cũng được thể hiện rõ trong bài thơ Thuyết "vật cảm"
là những cảm xúc trước sự vật hay chính là nhìn cảnh mà suy ra tình Thuyết
"vật cảm" được đi theo quy chế từ "tự nhiên-cảm vật-sinh tình-tạo hình thức" Trong bài thơ "Thu phong", thuyết "vật cảm" được thể hiện ở việc sắp sang thu, việc sử dụng thời gian cụ thể "tạc dạ" (đêm qua) của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhằm cụ thể hóa những nỗi niềm tâm trạng, triết lí về cuộc đời Đặc biệt, trong thời gian sống ẩn dật, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường xuất hiện một mình, nhất là vào thời điểm đất nước loạn lạc dễ gợi lên những mối ưu tư trong lòng Dòng suy tư trong ông luôn vận động không ngừng, dù sống ở nơi chỉ có người và thiên nhiên nhưng trong ông vẫn luôn lo nghĩ về việc nước, việc dân
Thời gian nghệ thuật là một phạm trù luôn hiện hữu trong các tác phẩm văn học, mùa cũng chính là một hình thức thể hiện thời gian nghệ thuật, không chỉ vậy mà nó còn là đối tượng để biểu thị tư tưởng, tình cảm của tác giả trong tác
Trang 6phẩm Biểu tượng mùa trong thơ ca văn học trung đại, qua đó giúp các tác giả phác họa bức tranh thiên nhiên sinh động, trữ tình hơn Mùa thu chính là hình ảnh nổi bật nhất trong thơ trung đại Việt Nam Biểu tượng mùa thu luôn xuất hiện với những ý nghĩa thể hiện nỗi buồn, gợi lên bao tâm tư, ngoài ra mùa thu cũng thể hiện một vẻ đẹp nhẹ nhàng, phù hợp với tâm trạng bình yên Trong bài
"thu phong" với những hình ảnh báo hiệu sự chuyển giao sang thu Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm mùa thu ở thời điểm này được thể hiện như tiếng lòng của biết bao tầng lớp trong xã hội, mỗi bước đi của mùa thu như mỗi bước đi của đời người, nó gắn với biết bao thăng trầm, biến động của cuộc đời Dường như điều đó đã khiến ông luôn trong tâm trạng băn khoăn, suy tư, không ngày nào quên đời, ưu thời mẫn tục đều thể hiện trong thơ
3) Đặt trong tiến trình thơ đường luật chữ Hán Việt Nam thời trung đại, hãy chỉ ra những tính chất hay phong cách bài thơ:
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra và lớn lên trong thời kì đất nước suy thoái, xung đột giữa các phe phái trong triều ngày càng trở nên gay gắt Cả cuộc đời ông chủ yếu sống ẩn dật, sau này làm quan được khoảng 8 năm cũng từ quan về ở
ẩn Treo ấn từ quan, sống một cách lạc quan, hòa hợp với thiên nhiên, tuy sống
ẩn nhưng trong suốt thời gian đó ông luôn lo lắng cho nước cho dân, mong ước lớn nhất của ông chính là về một xã hội vua hiền tôi giỏi Qua bài thơ "Thu phong" sẽ hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Mở đầu bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói đến thiên nhiên, đó chính là những dấu hiệu biến đổi của thiên nhiên, tự nhiên khi sắp giao mùa mới Ông đã thụ hưởng những ưu đãi của thiên nhiên, tận hưởng tiết trời sắp sang thu, vần thơ "bị quét sạch, dồn vén lại" dường như muốn nói rằng tinh khí của đất trời đang gọt rửa bao lo toan, vướng bận trong người ông Mượn hình ảnh Đào Tiềm
và Trương Hàn là những người từng làm quan, phục vụ triều đình sau lại từ quan về ở ẩn, sống những nơi không có tranh giành địa vị, danh lợi, được hòa mình vào thiên nhiên, có những thú vui rất đỗi giản dị nhưng vô cùng thanh cao,
để nói về chính bản thân mình Chữ "Nhàn" đi theo suốt cuộc đời thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống "nhàn" là sống tránh những nơi huyên náo, danh lợi, nhưng không phải trốn tránh, cách biệt, xa rời cuộc sống
Trong quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "nhàn" là giữ cho mình trong sạch, bảo toàn khí tiết của một nhà Nho, phẩm giá của con người, "nhàn" cũng chính là một quan điểm triết học của ông, một cách ứng xử với thời thế, xã hội
Trang 7Bản chất thực sự trong chữ "nhàn" của ông là nhàn thân chứ không hề nhàn tâm, câu "lo cho nước khiến hai bên tóc mai bạc như tơ thêm nhiều" trong bài "Thu Phong" đã thể hiện điều đó Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về sống ở ẩn nhưng ông luôn lo lắng, trăn trở về việc nước, việc dân vì ông luôn mong đất nước thái bình, dân đủ ấm no Qua bài thơ "Thu phong" Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện những quan điểm triết học, triết lí nhân sinh của mình
Tư tưởng triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm bắt nguồn từ cuộc sống xã hội lúc bấy giờ Thế kỉ XVI, với xã hội loạn lạc, đầy biến động, các giá trị cuộc sống dần bị đảo lộn Ông đã sống trong một thời xã hội kì loạn, nhưng luôn sống gần gũi với nhân dân, thấu hiểu được những nỗi khổ của họ, ông luôn ước mơ xây dựng nên một xã hội thanh bình, thịnh trị, dân chúng ấm no, mọi người đều sống và đối xử với nhau hòa nhã Tuy ông luôn đề cao tư tưởng sống ẩn dật, sống nhàn trong các vần thơ của mình nhưng các tư tưởng ấy không thể tách rời đất nước, nhân dân Qua đó cũng nói lên được lối sống, tư tưởng của ông, đó là sống một cuộc sống không bon chen, không màng danh lợi, không ích kỉ
Khi nhắc đến thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, người đọc sẽ hình dung ra được một phong cách thơ với chất triết lí, chất triết học cũng như chất trữ tình đằm thắm trong thơ ca của ông Trữ tình ở đây không chỉ là những lời thơ đẹp, mĩ lệ, mà
đó chính là những cảm xúc thực sự của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang lại Những câu thơ mang đậm nét trữ tình trong bài thơ "Thu phong":
"Đêm qua, một chiếc lá ngô đồng trong sân (rụng) bay
Xin hỏi, gió vàng vì ai mà thổi đến?
(Đó là) khi (lá) xanh dần hết, lá đỏ rơi phất phơ (theo gió), Cũng là lúc mù nhanh bị quét sạch, mong chóng bị dồn vén lại"
Trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thiên nhiên cũng có tình cảm như con người, giữa các sự vật trong tự nhiên, lá ngô đồng, gió vàng… đều có mối quan
hệ tình cảm với nhau Gió thu thổi tới là lá ngô đồng sẽ rụng, cả thiên hạ biết thu đã đến, lá xanh dần hết, lá đỏ cũng bay theo gió dấu hiệu chuyển giao sang thu Nguyễn Bỉnh Khiêm trước những ưu tư về thời thế, ông vẫn dành cho mình những khoảng thời gian để gió vàng thổi đến để lá ngô đồng rụng, báo hiệu sắp sang thu Nỗi lo cho nước, cho đời, thương dân nhưng không làm ông mất đi cái phong thái ung dung, thanh cao, nỗi rung cảm của lòng mình Chất triết lí đan xen cùng những lời thơ dạt dào xúc cảm đã tạo nên một hồn thơ sâu lắng
Trang 8Tất cả những khái niệm về đạo trời, đạo người để hình thành quan niệm nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và chất triết lí sâu xa đã tạo nên sự thâm trầm, sâu lắng cho bài thơ "Thu phong" Với những phong cách thơ rất riêng không giống một nhà thơ nào cùng thời nhưng ông vẫn tuân thủ theo nguyên tắc sáng tác thơ ca trung đại Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là một phong cách thơ lớn trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam