1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương HP: Thể loại và tác gia tiêu biểu Văn học trung đại Việt Nam (HNUE)

50 286 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thể loại và tác gia tiêu biểu văn học trung đại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học trung đại Việt Nam
Thể loại Đề cương học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 616,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề cương học phần Thể loại và tác gia tiêu biểu Văn học Trung Đại Việt Nam của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội do khóa 71 Ngữ Văn biên soạn. Đề cương phục vụ cho thi hết học phần, đã bao gồm tất cả các câu hỏi, trả lời theo đúng nội dung giảng viên hướng dẫn, Chúc các bạn thi tốt

Trang 1

CÂU 1: LÝ THUYẾT Trình bày tiền đề của cảm hứng yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu (trình bày về chính trị xã hội kĩ hơn) (tính nhật kí thời đại, sự chuyển biến trong tư tưởng trung quân); Trình bày tiền đề cảm hứng nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du; Trình bày tiền đề của cảm hứng tôn giáo trong thơ văn Trần Nhân Tông

Tiền đề cảm hứng yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, tuy mang khiếm khuyết về cơ thể mù lòa và gặp lúc biến loạn nhưng vẫn giữ được phẩm cách thanh cao Ông không chỉ là người con có hiếu, người thầy thuốc mẫu mực mà còn là một nhà thơ yêu nước, đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị Ông chủ trương dùng văn chương

biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa Nói khác hơn, ông làm thơ

là để "chở đạo, sửa đời và dạy người" Vì vậy, mỗi vần thơ của ông đều ngụ ý khen

chê công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ một tấm lòng thương dân yêu nước của ông

* Tiền đề chính trị - xã hội:

- Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công nước ta, triều đình nhà Nguyễn vì lợi

ích của giai cấp mình mà từng bước đầu hàng quân giặc mặc cho những cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra nhưng bị đàn áp hết sức dã man

- Với lòng yêu nước, thương dân, NĐC đã sử dụng ngòi bút của mình để phê phán, tố cáo, thể hiện lòng căm thù và khát khao đánh đuổi quân thù

* Bản thân Nguyễn Đình Chiểu:

- Ông sinh ra trong bối cảnh hết sức loạn lạc, chứng kiến cảnh triều đình loạn lạc và

trở thành nạn nhân của sự loạn lạc đó - người cha lỡ dở sự nghiệp, gia đình phải li tán,

để lại người mẹ và đàn con năm sáu đứa thơ dại ở Nam Định

- Năm 1843, ông đỗ đầu trường thi Gia Định, nhà họ Nguyễn liền được họ nhà Võ kết

thông gia Năm 1847, khi chuẩn bị thi Hương thì tai họa ập đến Mẹ mất, ông về chịu tang mẹ, đường xa cùng với khí hậu khắc nghiệt, bệnh tật cùng nỗi đau thương đã khiến mắt ông bị mù

- Không chịu sự khuất phục của số phận, sau khi chịu tang mẹ ông mở trường dạy học, vừa làm thuốc chữa bệnh cứu người vừa sáng tác thơ văn tuyên truyền đạo lý Sau

đó ông lập gia đình

- Niềm vui với gia đình chưa được lâu, nỗi bất hạnh chung của đất nước đã ập đến

Trang 2

1859, thực dân Pháp hạ thành Gia Định, ông phải chạy về Cần Giuoc Cần Giuộc mất,

ông về Ba Tri hưởng ứng trong trào “địa tỵ” do Phan Văn Trị khởi xướng và sáng tác văn chương cổ vũ kháng chiến, ai điếu các chiến sỹ hi sinh vì đất nước

- Tóm lại, nhiều bất hạnh liên tiếp từ thuở ấu thơ cho đến tuổi thanh niên, từ cảnh gia

đình đến cảnh chung đất nước đối với NĐC thật giống như những ngọn lửa thử vàng

để minh chứng cho một nghị lực đáng quý Con người mù lòa ấy đã sống thật ý nghĩa,

đã làm được những việc có ích nhiều hơn cả những người lành lặn khỏe mạnh: vừa làm thuốc chữa bệnh, vừa dạy học và sáng tác văn chương giúp đời, cứu nước Cuộc đời khiêm nhường và sự nghiệp bình dị của ông từ khi trưởng thành luôn gắn liền với những thăng trầm của cuộc kháng chiến giữ nước những ngày đầu ở Nam Bộ, cũng như trái tim nhân hậu của ông mãi gắn bó sắt son với vận mệnh đất nước

Tiền đề cảm hứng nhân đạo trong thơ văn Nguyễn Du

* Chính trị - xã hội:

- Trịnh - Nguyễn phân tranh

- Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên

- Cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh

- Những cơn binh lửa đã khiến non sông chìm trong cảnh tang thương Chỉ trong 30

năm, giang sơn nhiều lần đổi chủ kéo theo sự phân hóa, thay đổi lớn trong đời sống

xã hội, sự thăng trầm của các danh gia vọng tộc như dòng họ Nguyễn Tiên Điền

* Bản thân Nguyễn Du:

- Cuộc đời 55 năm của Nguyễn Du gắn với một thời đại lịch sử đầy dữ dội, chính bối

cảnh đó tác động rất lớn đối với Nguyễn Du Cuộc đời của ông trải qua nhiều thăng

trầm nhưng có thể coi cuộc đời của ông đầy những bất hạnh

- Cuộc đời của ông trải qua 4 chặng:

+ 1765 – 1780: thơ ấu sống trong vàng son, nhung lụa

+ 1780 – 1786: cuộc sống yên ổn của Nguyễn Du trong gia đình người anh cả bị

xáo trộn bởi những biến cố lớn Vì vụ án năm Canh Tý, Nguyễn Khản bị hạ gục Năm

1782, chúa Trịnh Sâm qua đời, chỗ dựa của Nguyễn Khản không còn Năm 1784 kiêu binh nổi loạn, tìm giết Nguyễn Khản và phá nát cơ dinh của ông ở kinh thành Nguyễn

Khản phải bỏ chạy, từ đây Nguyễn Du lâm vào cảnh thân thế trăm năm mặc cho gió bụi, ăn nhờ hết miền, sông đến miền biển

Trang 3

+ 1786 – 1802: Nguyễn Huệ ra Bắc lần 1 tiêu diệt chúa Trịnh, lên ngôi hoàng đế

Năm 1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần 2 diệt quân Thanh, vua Lê bỏ chạy khỏi kinh thành,

triều Lê – Trịnh sụp đổ, chỗ dựa của họ Nguyễn Tiên Điền đã mất Nguyễn Du đau đớn và tìm cách khôi phục lại nhà Lê nhưng đều thất bại Nhà thơ lâm vào tình cảnh

bế tắc

+ 1802 – 1820: năm 1792, Nguyễn Huệ mất, triều Tây Sơn bị diệt vong và triều Nguyễn được Gia Long tạo dựng, Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn và được trọng dụng Năm 1813, ông được cử đi chánh sứ Trung Quốc nhưng tâm tư ông luôn day dứt, mâu thuẫn Năm 1820, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời

- Ông sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc nhưng phải sống cuộc sống như những người dân bình thường, có giai đoạn còn khổ đau hơn nên ông hiều rõ nhân tình thế

thái, những sự khổ đau, bất hạnh…của nhân gian Cảm hứng nhân đạo cất lên trong thơ văn Nguyễn Du cũng chính là sự cảm thương cho chính bản thân mình

Tiền đề cảm hứng tôn giáo trong thơ văn Trần Nhân Tông

* Chính trị - xã hội:

- Thời nhà Trần dưới sự trị vì của Trần Nhân Tông đã đánh tan hai lần xâm lược của quân Mông – Nguyên Ông được đánh giá là một vị vua có tinh thần thân dân, quan tâm đến đời sống, quyền lợi, ý kiến của muôn dân Chính vì vậy, ông đã ban hành rất nhiều chính sách có lợi cho nhân dân như: miễn tô thuế, tạp dịch cho các địa phương chịu thiệt hại nặng nề bởi chiến tranh Ngoài ra, ông còn ban hành nhiều chính sách ổn

định kinh tế, xã hội Nhờ vậy, đất nước mau chóng phục hồi, hưng thịnh sau sự tàn phá của chiến tranh

- Thời nhà Trần, ba hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo hết sức được chú trong phát triển tạo điều kiện cho tam giáo đồng nguyên

* Bản thân: chất thiền

- Mặc dù là người hoàng tộc nhưng ông luôn có chí hướng xuất gia theo Phật Ông

đã nhiều lần xin nhường ngôi thái tử cho em nhưng không được chấp thuận Có lần ông còn nhân đêm khuya vượt thành đi vào núi Yên Tử ẩn tu

- Thơ của ông đang đậm chất thiền TNT vừa là bậc đế vương, vừa là thiền sư nên tp

của ông vừa có phần đời, vừa có phần đạo Là một vị vua làm thơ, sáng tác của TNT thẫm đẫm nỗi lo nước, lo đời Ở cương vị 1 thiền sư, thơ của ông chứa đựng những tư

Trang 4

tưởng Phật học sâu sắc cảm hứng yêu nước, cảm hứng thiên nhiên, cảm hứng tôn giáo

là những cảm hứng chính trong thơ văn TNT

- TNT là người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được gọi là Phật Hoàng, là tổ

thứ nhất (Pháp Loa nhị tổ, Huyền Quang tam tổ) Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đề cao

sự tự giác ngộ và nỗ lực rèn luyện của mỗi cá nhân Dù xuất gia tu hành hay tu tại gia, sống trong chùa hay ở giữa cõi đời, chỉ cần tâm hướng Phật, cởi bỏ lòng tham, dục vọng mọi nười đều có thể đi đến con đường giác ngộ

- Bản thân TNT: đi thuyết pháp khắp nơi, khuyên răn bỏ những hủ tục, mê tín và thực hành giáo lý Thập thiện Ông đến tận Chăm pa để tạo lập quan hệ ngoại giao,

đặt cơ sở cho việc châu Ô, Lý trở thành một bộ phận của Đại Việt sau đó

Đặc điểm/ biểu hiện của cảm hứng nhân đạo, thế sự, yêu nước (chỉ ra biểu hiện của cảm hứng trong bài thơ đó) ; (đọc bài thơ “Cái tử” của Cao Bá Quát)

Cảm hứng nhân đạo

* Khái niệm:

- Nhân đạo là tình cảm thương xót hướng đến con người nhỏ bé, bất hạnh

- Nhân đạo gắn liền với chủ nghĩa bác ái, nhấn mạnh tình yêu thương con người, đặc biệt là những con người bé nhỏ, bất hạnh mà không phân biệt giới tính, giai cấp, dân tộc…

* Đặc điểm: Đối tượng hướng đến là con người, đặc biệt là những con người có số

phận bất hạnh, những con người nhỏ bé trong xã hội

+ Chiến tranh là một tai họa khủng khiếp đối với con người, đặc biệt là đối với những

người phụ nữ có chồng đi chinh chiến “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn

đã tái hiện cuộc sống cô đơn, buồn tủi, tâm trạng bi thương, sầu cảm của người phụ nữ

có chồng đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi “Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng” Qua

đó, Nguyễn Du đã bay tỏ bao nỗi thương cảm, xót xa cho nỗi đau, nỗi nhớ, nỗi sầu, nỗi

Trang 5

lo của người thiếu phụ đợi chồng

+ Niềm cảm thương, nỗi đau trước cuộc sống khổ đau, bế tắc của nhân dân giữa buổi

khó khăn, tao loạn được thể hiện trong tác phẩm “Chạy giặc” – Nguyễn Đình Chiểu

“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây

Một bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất ổ đàn chim dáo dác bay”

+ Hay trong truyện “Từ thức lấy vợ tiên” đã phản ánh bi kịch của người tri thức: Từ

Thức đại diện cho mẫu hình kẻ sĩ không thích nghi được với thời cuộc, không chấp nhận thực tại thối nát, bỏ quan quy ẩn, tìm kiếm tự do nhưng không thoát li khỏi hiện thực, không cắt đứt được với những ràng buộc của cõi nhân sinh Quay trở về quê cũ, chàng một lần nữa phải dứt áo ra đi đã thể hiện nỗi cô độc, sự bế tắc trên con đường tìm kiếm hạnh phúc

- Trân trọng, đề cao vẻ đẹp, giá trị con người: vẻ đẹp hình thức, tâm hồn, trí tuệ, tài năng, ý thức, khát vọng, …

+ Vẻ đẹp con người được khám phá, phát hiện ở những tầng bậc mới, sâu sắc và nhân bản hơn: phẩm chất, đạo đức, tài năng (cống hiến cho cộng đồng) + hình thể, tài

năng và ý thức cá nhân, khát vọng mưu cầu hạnh phúc Con người cá nhân được ý thức

như một thực thể hiện tồn, cuộc sống trần tục được coi trọng, đề cao → mẫu hình con người lí tưởng, trung tâm của văn học: con người phàm trần (trong tương quan với

mẫu hình con người thánh nhân quân tử ở các giai đoạn trước) (TK XVIII – đầu TK XIX)

+ Nguyễn Du đã dành cho những “đấng tài hoa” tất cả tấm lòng chân trọng và cái

nhìn “biệt nhỡn liên tài” hiếm có Qua ngòi bút của Nguyễn Du, Thúy Kiều hiện lên

với con người tài sắc vẹn toàn:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

Tuy nhiên con người với tất cả những vẻ đẹp tài sắc lại chịu kiếp tai họa:

Trang 6

“Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”

- Khẳng định, bảo vệ những khát vọng chính đáng của con người: khát vọng khẳng định bản thân, khát vọng tình yêu, khát vọng mưu cầu hạnh phúc, khát vọng tự

+ Hay trong “Truyện Từ Thức lấy vợ tiên”, Nguyễn Dữ đã đề cập đến vấn đề khát

khao hạnh phúc của con người mà nhất là người phụ nữ Dù ở trong thời đại nào, là người hay tiên, họ đều hiện lên với những khát khao nhân bản nhất Ngoài ra, thông qua nhân vật Từ Thức, tác giả đề cập đến khát khao tự do, khát khao được giải thoát ra khỏi thế giới thực tại tù túng, ngột ngạt, khát vọng về một thế giới thanh sạch cho người trí thức có nhân cách và khát khao về một cuộc sống hạnh phúc

- Phê phán và đấu tranh chống lại những thế lực chà đạp lên con người

+ Đồng thời với việc khẳng định con người với tất cả những vẻ đẹp giá trị, các tác giả còn phê phán thế lực chà đạp lên con người, đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của con người

+ Trong tác phẩm “Sở kiến hành” của Nguyễn Du, ngoài việc cảm thông cho số

phận của những người phụ nữ mà ở đây là người phụ nữ và những đứa con ăn xin nơi đầu đường xó chợ hết sức đau khổ Trái với khung cảnh bi thương ấy, tác giả phác họa

ở trong một quán xá nào đó, quan lại chè chén lu bù, những thức ăn quan lại không đụng đũa, tùy tùng chỉ nếm qua rồi vứt cho chó, nhưng đến cả chó cũng không thèm

ăn Qua đó, Nguyễn Du phê phán tầng lớp quan lại không chăm lo đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo ăn uống tiệc tùng, xa hoa, lãng phí, bóc lột công sức lao động của người dân, …

Trang 7

Cảm hứng thế sự

* Khái niệm: Cảm hứng thế sự là những tác phẩm đề cập đến các vấn đề nhân sinh,

xã hội có tính chất đời thường, thế tục và thể hiện qua niệm, thái độ, cách đánh giá, phân tích, phê bình, lí giải của tác giả

* Đặc điểm:

- Đối tượng phản ánh: những vấn đề nhân sinh xã hội có tính chất đời thường

- Quan điểm, thái độ của tác giả: phân tích, đánh giá, luận bàn, nghiêng về phê phán, phủ nhận

- Vị trí trong nền văn học trung đại VN: Là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo, có mặt ở tất cả các giai đoạn của văn học trung đại VN Vai trò của cảm hứng thế

sự đặc biệt được khẳng định trong văn chương của các nhà nho

- Lực lượng sáng tác: chủ yếu là các nhà nho Mối quan tâm lớn nhất của các nhà

nho là vấn đề nhân sinh xã hội hay còn là nỗi lo đời, thương đời Quan niệm về giá trị của các nhà nho: xu hướng đối lập lí tưởng nhân nghĩa với lợi ích, vật chất, tiền tài, danh vọng

- Quan niệm văn học: coi trọng chức năng giáo huấn, gắn văn chương với nhiệm

vụ chính trị, xã hội

* Biểu hiện:

Về nội dung:

- Suy tư, triết lí về nhân tình thế thái: sự phức tạp của mối quan hệ nhân sinh; sự tha

hóa của đạo đức con người; đồng tiền chi phối mối quan hệ giữa người với người, các giá trị đảo lộn Nhân tình thế thái hoặc thế thái nhân tình là những tình người và thói đời được thể hiện qua thơ ca văn học Nó phản ánh về lối sống, về cách ứng xử của người đương thời qua câu thơ bài hát Nhưng đáng tiếc chuyện thế thái nhân tình được ghi lại dường như chỉ là những thói đời thay trắng đổi đen, lừa dối, và lắm thị phi Nó phản ánh về những chuyện tiêu cực nhiều hơn là tích cực

+ Trong “Tự thuật 9”, Nguyễn Trãi đã phơi bày và tố cáo, phê phán bản chất thối

nát của xã hội lúc bấy giờ Một xã hội mà ở đó, các giá trị bị đảo lộn một cách trắng trợn, kệch cỡm Người có tài năng thì không được chân trọng, bị coi khinh, coi rẻ còn những thứ phi giá trị lại giữ vị thế quan trọng Qua đó ông thể hiện suy tư, lo âu trước

sự tha hóa của con người, của xã hội

Trang 8

“Phượng những tiếc cao diều hãy liệng

Hoa thì hay héo cỏ thường tươi”

+ Hay trong tác phẩm “Vịnh nhân tình thế thái”, Nguyễn Công Trứ đã thể hiện sự

suy tư trước xã hội bị đồng tiền chi phối, trước sức mạnh ghê gớm của đồng tiền, nó làm đạo đức suy đồi, làm đổi trắng thay đen, thay đổi bản chất của con người

“Hễ không điều lợi, khôn thành dại,

“Tri phủ Xuân Trường được mấy niên

Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên

Chữ y chữ chiểu không phê đến

Ông chỉ quen phê một chữ tiền”

+ Hai tiếng "nhờ trời" với ba chữ "cũng bình yên" là một cách nói chế giễu, châm biếm; ông phủ được làm quan nhờ một nơi "bình yên", đám dân đen dễ bảo, dễ đèo đầu cưỡi cổ, bổng lộc ấy là "nhờ trời", được trời ban cho Việc quan, mọi công văn giấy tờ, ông phủ chỉ làm qua loa, chiếu lệ, thậm chí không ngó ngàng đến, "không phê đến Trái lại, "một chữ tiền" tri phủ lại "quen phê" Ba chữ "chỉ quen phê" đã làm nổi bật một thói quen, một sở trường, một niềm đam mê lớn của "quan phụ mẫu" này! Những dân đen "khốn nạn" đâm đầu vào cửa quan sẽ trở thành con mồi cho tri phủ "Một chữ tiền" đặt cuối bài thơ là một cú đánh hiểm của Tú Xương đối với bọn tham quan ô lại

thời bấy giờ

Bài thơ trên là một sự đả kích, châm biếm một cách sâu cay thói tham nhũng, đục khoét dân của tri phủ Xuân Trường, đồng thời cũng của bọn quan lại gian tham trong

xã hội thực dân nửa phong kiến

+ Hay trong truyện Hà Ô Lôi phản ánh những nếp sống hư đốn đời Trần Dụ Tôn,

tố cáo cuộc sống bê tha trụy lạc của các vua chúa ngày xưa, sự dâm ô của họ không kiêng nể một ai và sẵn sàng bênh vực cho tội lỗi Cảnh sống giả dối của bà góa cũng

Trang 9

được phơi bày bằng những nét thô bạo Cả một xã hội suy tàn được trưng ra với tất cả

những cái xấu xa, bỉ ổi (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp)

- Phản ánh cuộc sống sinh hoạt thường nhật của con người: những phong tục tập

quán, những sinh hoạt đời thường: thi cử, lễ hội, hôn nhân, lao động sản xuất, … những mối quan hệ gia đình, xã hội: quan hệ quân thần, phụ nữ, bằng hữu, huynh đệ, phu thê, quan hệ giữa giai cấp thống trị và người bị trị, giữa kẻ giàu và người nghèo, …

+ Truyện Trầu Cau giải thích tục lệ ăn trầu và cưới xin của ta Đó là truyện của hai

người anh em đang ở thuận hòa với nhau thì bỗng nhiên một người con gái đến làm cho hạnh phúc của họ tan vỡ Người em buồn bã đi lang thang rồi chết hóa thành cây Người anh về sau cũng gục chết hóa thành một tảng đá Người vợ thương chồng đi tìm rồi cũng lại chết hóa thành cây trầu Sau đấy Hùng Vương biết chuyện và tình cờ khám phá ra cái thú ăn trầu Đó là một cách nói bóng bẩy để nói đến căn bản của hôn nhân

Việt Nam là ái tình (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp)

+ Truyện Bánh Chưng Bánh Giầy kể lại sự quý trọng của người VN đối với bánh

dày và bánh trưng Nguồn gốc của hai thứ bánh ấy có tính thần thánh vì chính thần thánh đã báo mộng cho Lang Liêu biết cách làm bánh Bánh dày hình tròn tượng trưng cho trời, bánh trưng hình vuông tượng trưng cho đất, thể hiện quan niệm về triết lí âm

dương và tín ngưỡng phồn thực (sinh sản) (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp)

Về hình thức:

- Về thể loại: Cảm hứng thế sự có mặt ở nhiều thể loại của văn học trung đại, hầu hết

là thể loại văn học nghệ thuật: Thơ Đường luật chữ Hán, chữ Nôm, truyện Nôm, ngâm khúc, truyện kí, tiểu thuyết chương hồi,

- Ngôn ngữ: sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm; khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ đời thường

- Hình tượng: bên cạnh những hình tượng mang tính tượng trưng, ước lệ, xuất hiện nhiều hình tượng có nguồn gốc từ đời sống (người dân bé nhỏ, người ăn mày, kẻ tha

hương, tiến sĩ giấy, mẹ Mốc, ông phỗng đá, anh khóa hỏng thi, …)

Trang 10

Cảm hứng yêu nước

* Khái niệm: Yêu nước theo nghĩa hẹp là tình cảm yêu thương, gắn bó một cách tự

nhiên, không vụ lợi với nơi sinh ra, lớn lên hoặc sinh sống Yêu nước theo nghĩa rộng

là yêu gia đình, quê hương, giang sơn đất nước, dân tộc, đồng bào, …

* Đặc điểm:

- Cảm hứng yêu nước là cảm hứng xuyên suốt văn học trung đại VN

- Cảm hứng yêu nước giữ vai trò chủ đạo trong những giai đoạn nhất định

- Cảm hứng yêu nước thời kì chống ngoại xâm có những biểu hiện khác biệt rõ nét

so với thời kì xây dựng triều đại phong kiến

* Biểu hiện:

- Khẳng định độc lập, chủ quyền của đất nước:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Bài thơ đã khẳng định một cách dõng dạc, chắc nịch về độc lập, chủ quyền của đất nước ta: Đại Việt ta là một quốc gia độc lập, có lãnh thổ riêng, được trời đất, thần linh

phân định tại sách trời Từ đó, Lý Thường Kiệt kết lại bài thơ bằng lời cảnh báo đầy

đanh thép đối với hành động ngôn cuồng, phi lí của quân xâm lược: đó là kết cục thất bại thảm hại của chúng khi xâm phạm bờ cõi nước Nam bởi chúng đã đi ngược lại với

- Tự hào về truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc, về những chiến công vang

Trang 11

dội của thời đại, về thành tựu của quốc gia, dân tộc, về sức mạnh của con người và

vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, …

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

Cũng là bãi đất xưa, thưở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”

“Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu là bài ca hào hùng của thời đại đã

thể hiện được khí thế mạnh mẽ của dân tộc ta Với tác giả, Bạch Đằng giang không đơn giản chỉ là địa danh, là thẳng cảnh nổi tiếng mà còn là chiến địa lừng danh với những chiến công lẫy lừng đã đi vào lịch sử của quân dân ta

- Khát vọng hòa bình cho đất nước, khát vọng xây dựng quốc gia phồn thịnh, vững bền

“Chương Dương cướp giáo giặc

Hàm Tử bắt quân thù

Thái bình nên gắng sức

Non nước vẫn nghìn thu”

Trần Quang Khải đã tái hiện lại không khí hoành tráng, khí thế chiến thắng vang dội của quân dân nhà Trần qua bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” Bài thơ vừa là tổng

kết một chặng đường kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược với những chiến công oanh liệt; vừa xác định ý thức trách nhiệm lớn lao của mỗi người trong việc bảo vệ, xây dựng đất nước thanh bình, bền vững, dài lâu

- Lòng yêu thương, gắn bó với quê hương (đặc biệt trong thơ đi sứ)

Ta có thể thấy tình yêu quê hương sâu sắc trong bài “Quy cố trạch” của Cao Bá Quát:

“Xóm chợ người đông đúc

Tre làng xanh một màu

Ngõ sâu tiếp đường cái

Cổng tre lên tiếng chào”

=> Quê hương được ông tái hiện lên với những hình ảnh bình dị, quen thuộc, trở đi trở lại Đó là cây gạo đầu làng, xóm chợ, đường làng, cái cổng tre, … rất xúc động Điều

này cho thấy tình yêu quê hương đất nước luôn nồng nàn trong tâm hồn Cao Bá Quát

Trang 12

Sự giao thoa: trình bày sự giao thoa giữa cảm hứng nhân đạo và thế sự, nhân đạo

và tôn giáo, yêu nước với thiên nhiên (trong toàn bộ văn học trung đại, lấy 3 dẫn chứng)

Cảm hứng nhân đạo – thế sự

Trong cuộc đời cầm bút của mình, các tác giả không bao giờ đóng khung bản thân trong một cảm hứng sáng tác nhất định Bởi các cảm hứng sáng tác luôn có sự gặp gỡ, giao thoa nhau, cùng gây dựng lên ý nghĩa cho tác phẩm Ta có thể bắt gặp sự giao thoa giữa cảm hứng thế sự và cảm hứng nhân đạo khi nghiền ngẫm những tác phẩm văn học trung đại Họ lấy chất liệu từ đời sống dân gian, từ cuộc sống thường nhật của nhân dân hay những câu chuyện chốn kinh thành xa xôi, nơi cung cấm của vua chúa, quan lại, Bằng sự tinh tế, nhạy bén của bản thân, các tác giả văn học trung đại có thể bóc tách, lột trần lớp vỏ bọc bên ngoài để thấy được những vấn đề thực sự đằng sau nó

Từ đó, người nghệ sĩ bày tỏ thái độ lên án, châm biếm sâu cay trước những chuyện đời

“chướng tai gai mắt”; sự cảm thông, xót xa trước số phận bất hạnh của con người; cái nhìn trân trọng, ngưỡng mộ nhân cách cao đẹp của một con người tài hoa hay những chiêm nghiệm, lý giải về những vấn đề xoay quanh cuộc sống Đó chính là cách các tác giả trung đại thể hiện tấm lòng nhân đạo của bản thân trước thế sự họ trải qua hoặc chứng kiến

- Sự giao thoa giữa cảm hứng nhân đạo và cảm hứng thế sự được thể hiện ở 2 luận điểm sau:

+ Phản ánh cuộc sống khổ đau, bất hạnh của con người cùng các căn nguyên: chiến tranh, thiên tai, nhân họa, …

+ Phê phán, tố cáo tội ác của giai cấp cầm quyền, của những thế lực tàn bạo gây nên nỗi khổ cho con người

* Chứng minh:

- Tác phẩm “Mẹ Mốc” – Nguyễn Khuyến: (Ca ngợi người phụ nữ > Nhân đạo) + Trong tác phẩm “Mẹ Mốc”, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của người phụ nữ có nhan sắc tuyệt trần phải giả vờ điên dại để danh trọn tâm tư

cho chồng con đang ở xa

+ Cùng với niềm cảm thông sâu sắc đó, Nguyễn Khuyến phê phán xã hội rối ren,

Trang 13

xoay vòng bế tắc, những con người “phàm phu tục tử” trong xã hội với những mưu tính xấu xa với thân thể của người phụ nữ mà từ đó cảm khái xã hội đạo đức

+ Tác phẩm “Mẹ Mốc” của Nguyễn Khuyến đã mượn hình ảnh người phụ nữ bé nhỏ trong xã hội phong kiến để bày tỏ nỗi lòng của một nhà thơ “ưu thời mẫn thế” Sự bày tỏ niềm thương xót trước số phận của người phụ nữ giả điên để dành trọn tâm tư cho chồng con là cảm hứng nhân đạo nhưng sự phát hiện về hành động của nhân vật lại trở thành cảm hứng thế sự Nỗi băn khoăn, dằn vặt của nhà thơ trước tình cảnh loạn lạc của xã hội là cảm hứng thế sự nhưng tấm lòng xót xa của nhà thơ trước hoàn cảnh

ấy lại là cảm hứng nhân đạo Tấm lòng nhân đạo ấy sẽ luôn còn mãi trong tư tưởng của Nguyễn Khuyến, ngay cả khi chết đi cũng không thể nào nguôi ngoai “Cho đến lúc thành tro mà lệ vẫn chưa khô”

- Tác phẩm “Sở kiến hành” của Nguyễn Du: (Nhân đạo)

+ Nguyễn Du phản ánh cuộc sống đói khổ của con người trong xã hội phong kiến:

mẹ con người hành khất xin ăn dọc đường còn bọn quan lại thì rượu thịt thừa mứa

“người thừa cứ đổ xuống sông, người chết đói mò ăn không được”

+ Qua đó, Nguyễn Du phê phán sâu sắc bọn vua quan vô trách nhiệm trước nỗi thống khổ của nhân dân Trái ngược với cảnh mẹ con ăn xin, vua quan nào là rượu

thịt ê chề vẫn không đụng đũa, tùy tùng cũng chỉ nếm qua rồi đổ đi cho chó nhà hàng xóm nhưng chó cũng chán thức ăn ngon

+ Cảm hứng thế sự trong bài thơ được cất lên từ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du

Có đồng cảm mới có sự lo âu trước muôn sự cơ cực của người dân Nhà thơ đã nói lên một sự thật đau lòng về quyền sống và hạnh phúc của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội Cả hai nguồn cảm hứng đều bắt nguồn từ cái tâm “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”, yêu thương con người cùng tài năng của tác giả Nguyễn Du

Cảm hứng nhân đạo - tôn giáo

- Thời trung đại, ở các nước phương Đông nói chung, VN nói riêng đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, Phật giáo và tư tưởng Lão Trang nên tư tưởng Tam giáo đã

đi vào thế giới văn chương như một lẽ tất nhiên Khuynh hướng cảm hứng tôn giáo đã

xuất hiện trong các sáng tác với mục đích truyền bá, luận giải, tán dương tư tưởng tôn giáo Đồng thời, cảm hứng tôn giáo còn có mối quan hệ ảnh hưởng, gặp gỡ và hòa

Trang 14

hợp giữa các yếu tố tích cực của Tam giáo với cảm hứng nhân đạo trong các sáng tác trung đại

- Đại diện như triết lý Tứ đế (Khổ - Tập - Diệt - Đạo) được thể hiện qua nhân vật Kiều trong “Đoạn trường tân thanh”

+ Triết lý về khổ xuất hiện rất đậm nét và đa dạng qua thi phẩm, Nguyễn Du đã mượn thân phận của người con gái, một thành phần hứng chịu nhiều bất công và đau khổ nhất của thời phong kiến xa xưa để ngợi ca, xót thương cho những kiếp người tài hoa bạc mệnh cũng như phản ánh nỗi đau khổ của kiếp người theo quan niệm Phật giáo Cái khổ ấy là do xã hội và con người mang lại cho nàng, nhưng sâu xa hơn hết, chính

là do nàng tự chuốc lấy bao phiền muộn cho mình, để rồi phải chịu số kiếp truân chuyên mười lăm năm đoạn trường Nguyên nhân tạo ra bao cảnh đoạn trường cho nàng là do

từ ái sanh ưu, từ ưu sanh khổ, vì một chữ tình mà đã đẩy nàng chìm nổi trong sóng gió

ba đào Kiều nếu không có sự thương cảm với nấm mộ Đạm Tiên bên đường, không nặng mối tình si với chàng Kim thì có lẽ Kiều sẽ có một cuộc đời ung dung tự tại + Chữ “tâm” là thiện căn, mà cái gốc của cái thiện chính là “hiếu nghĩa”, dùng cái hiếu để chiến thắng cái ác, là nguồn gốc cho bao truân chuyên của một kiếp hồng nhan bạc phận Nhưng Nguyễn Du đề cao tâm thiện, đề cao những phẩm chất tốt đẹp ấy, tất

sẽ thắng được vận mệnh nghiệt ngã theo quan niệm “phúc đức tại mẫu” Ở đây, Nguyễn

Du đã thể hiện cái nhìn nhân đạo của mình khi khẳng định sự cảm thông với số phận

và đề cao con người thiên tính của Kiều Đồng thời, chữ Tâm trong Phật giáo tương đương với chữ Tình “tâm là phúc đức, tình là thiên hoan” ý là Kiều không chỉ khổ vì

xã hội đồng tiền mà còn khổ ở tâm nặng tình, đó chính là cái nghiệp mà Thúy Kiều tự tạo cho mình với “nội tâm đa đoan”

Cảm hứng yêu nước - thiên nhiên

- Viết về thiên nhiên với niềm hứng thú, say mê, ngợi ca cảnh sắc tuyệt đẹp của thiên nhiên để thể hiện lòng yêu nước

- Các nhà thơ thời Trần hướng ngòi bút đến thiên nhiên rộng lớn, hùng tráng Nhiều địa danh gắn với chiến công chống giặc và đã vào thơ với một cảm hứng mãnh liệt, được mô tả bằng hình tượng kì vĩ, trong sáng, chứa đựng những lời bình phẩm mang tầm tư tưởng lớn

+ Mấy chục năm sau chiến thắng, sông Bạch Đằng vẫn hoành tráng trong thơ vua

Trang 15

Trần Minh Tông, trong “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu Với Trương

Hán Siêu, “Bạch Đằng giang” là địa danh, là thắng cảnh nổi tiếng nhất, đủ thỏa mãn khát vọng, chí bốn phương của khách viễn du Bởi nơi đây còn là chiến địa lừng danh chiến thắng của dân tộc Qua lời kể của các nhân vật bô lão, bài phú tái hiện lại trận đánh lịch sử nơi đây, làm sống lại những chiến công liên tiếp trên sông với khí thế bừng bừng của đội quân cứu nước:

“Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao

Đương khi:

Muôn đội thuyền này, rừng cờ phấp phới

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”

“Bạch Đằng giang phú” là bài ca hào hùng của thời đại đã thể hiện được khí thế dân tộc qua những hình ảnh kì vĩ Qua đó thể hiện được tinh thần yêu nước chống xâm lược của tác giả

+ Hay trong tác phẩm “Hạnh Thiên Trường hành cung”, thông qua miêu tả thiên

nhiên tươi đẹp, ông đã bày tỏ cảm xúc về hai trận thắng giặc:

“Cảnh thanh u vật diệc thanh u

Thập nhất tiên châu thử nhất châu

Bách bố sinh ca cầm bách thiệt

Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu”

Cảnh sắc tươi đẹp, thanh nhã, tĩnh lặng như chốn thần tiên Đất trời, núi sông, cây

cỏ, chim chóc, vầng trăng được đón nhận với cái tâm thanh thản, ung dung Non sông thanh bình là niềm tự hào, kiêu hãnh của đấng quân vương vừa hoàn thành sứ mệnh lịch sử, lãnh đạo kháng chiến chống quân xâm lược Có lẽ chính vì tình yêu vô bờ dành cho đất nước nên ông mới có thể viết nên những dòng tuyệt tác như vậy

Cảm hứng thiên nhiên: Cảm hứng thiên nhiên là 1 trong những ảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Hãy giải thích và làm sáng tỏ ý này?

- Sự có mặt/ vị trí của cảm hứng thiên nhiên ở 4 giai đoạn VHTĐ:

+ Giai đoạn 10 – 14: Trần Nhân Tông

+ Giai đoạn 15 – 17: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm

+ Giai đoạn 18 đến giữa 19: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát

Trang 16

+ Giai đoạn cuối 19: Nguyễn Khuyến

- Theo cách tiếp cận khác, cảm hứng thiên nhiên là những tác phẩm có sự xuất hiện của hình ảnh thiên nhiên để biếu đạt các vấn đề khác nhau: ca tụng vẻ đẹp của thế giới

tự nhiên, ngụ ý tư tưởng đạo đức, tôn giáo, thể hiện lí tưởng, chí hướng, lối sống, …

Thiên nhiên là chính nó + thiên nhiên ngụ ý + thiên nhiên biểu tượng

* Vị trí của cảm hứng thiên nhiên: có mặt suốt tiến trình văn học trung đại, là một

trong những khuynh hướng cảm hứng quan trọng, gắn liền với các khuynh hướng cảm hứng: yêu nước, nhân đạo, tôn giáo, thế sự, có vai trò, đậm nhạt tùy vào từng giai đoạn lịch sử và các tác giả

* Tiền đề cảm hứng thiên nhiên:

- Đặc thù nền văn minh nông nghiệp: con người sống dựa vào thiên nhiên, khai thác

thiên nhiên, chịu sự chi phối của thiên nhiên => tâm lý sùng bái, ngưỡng mộ thiên nhiên, ý thức về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa con người và tự nhiên

- Quan niệm về thiên nhiên, thái độ với thế giới tự nhiên của người trung đại

- Sùng thượng thiên nhiên, coi tự nhiên là chân lý tối cao: con người thuận theo đất,

đất thuận theo trời, trời thuận theo đạo, đạo thuận theo tự nhiên (Đạo đức kinh) => quan niệm vạn vật hữu linh, nghi thức tế lễ thần sông núi

- Lý tưởng hóa thiên nhiên, coi thiên nhiên là sự hiện thân của sự trong sạch, thuần khiết, là môi trường sống của con người => Viết về thiên nhiên để ca tụng

- Thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, là mẫu mực để con người noi theo

- Con người và thiên nhiên là 1 khối thống nhất

Trang 17

- Thế kỉ XIX – XIV:

+ Hình ảnh thiên nhiên mang nhiều tính ngụ ý Các nhà văn mượn thiên nhiên để truyền dẫn thông điệp tôn giáo, quan niệm về quốc gia, dân tộc, vai trò sứ mệnh của bậc thánh nhân, quân tử, …

“Giác hưởng tùy phong xuyên trúc đáo

Sơn nham đái nguyệt quá tường lai”

(Tiếng tù và theo gió luồn trúc mà đến,

Ngọn núi cao cõng trăng vượt tường mà qua)

(Thiền sư Viên Chiếu)

+ Thiên nhiên là hiện thân của cái đẹp phong phú, sinh động khơi gợi những rung cảm thẩm mĩ của người nghệ sĩ Bức tranh thiên nhiên hiện lên với nhiều màu

sắc khác nhau: trong trẻo, thơ mộng; diễm lệ - bình dị, cao quý - gần gũi, …

“Lão tang diệp lạc tàm phương tận

Tảo đạo hoa hương giải chính phì”

(Dâu gia lá rụng tằm vừa chín

Luá sớm nở hoa thơm, cua đang lúc béo)

(Quy hứng, Nguyễn Trung Ngạn)

- Thế kỉ XV – XVII:

+ Thiên nhiên ngụ ý lí tưởng, chí hướng của người nghệ sĩ: triết lí nhàn, ca tụng cuộc sống ẩn dật, ca tụng triều đại thái bình, …

“Lầu treo cung nguyệt người êm giấc

Đường quạnh nhà thôn cửa chặt cài”

(Canh hai – Hồng Đức quốc âm thi tập)

+ Thiên nhiên mang vẻ đẹp đa dạng thể hiện tâm hồn lãng mạn, tư chất nghệ sĩ

của các nhà văn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Thánh Tông, Nguyễn

Trực, …

“Trăng trong gió mát là tương thức

Nước biếc non xanh ấy cố tri”

(Thơ Nôm Bài 90 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)

- Thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX:

+ Thiên nhiên ngụ ý những tâm sự, cảm xúc về nhân sinh, thế sự, về thân phận

Trang 18

cá nhân của con người nghệ sĩ

“Một trái trăng thu chín mõm mòm

Này vừng quế đỏ, đỏ lòm lom

Giữa in chiếc bích khuôn còn méo

Ngoài kép đôi cung cánh vẫn khòm”

(Trăng thu – Hồ Xuân Hương)

+ Thiên nhiên là hiện thân của thế giới tự nhiên trong trẻo, thơ mộng, rộng lớn, khoáng đạt – nguồn hạnh phúc, nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ

“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền

Trường gian như kiếm lập thanh thiên”

(Hiếu quá Hương Giang – Cao Bá Quát)

- Nửa cuối thế kỉ XIX:

+ Thiên nhiên ngụ ý những tâm sự, cảm xúc thời thế: Nguyễn Khuyến, Tú

Xương…

“Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?”

(Cuốc kêu cảm hứng – Nguyễn Khuyến)

+ Thiên nhiên – bức tranh cảnh vật gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày

“Giang thế duyên phong tuyền

Đài ngân đới vũ tiên”

(Dòng sông chảy theo ven núi

Ngấn rêu đượm nước mưa trông mơn mởn)

(Sơn thượng, Nguyễn Quang Bích)

* Giá trị tả thực và ngụ ý:

- Tái hiện vẻ đẹp sinh động, phong phú, đa màu sắc của thiên nhiên, tạo vật Người

nghệ sĩ đến với thiên nhiên bằng sự rung cảm trước cái đẹp, bằng khao khát tận hưởng, chiếm lĩnh thế giới tự nhiên tươi đẹp

+ Thiên nhiên là đối tượng trung tâm được miêu tả, tái hiện

+ Người nghệ sĩ thể hiện sự rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp thiên nhiên

+ Những tâm sự, ngụ ý qua hình tượng thiên nhiên: tình yêu quê hương, đất nước,

Trang 19

sự mãn nguyện với cuộc sống an nhàn, thư thái, …và hình ảnh thiên nhiên có sự tương

đồng về nội dung biểu hiện Bảo kính cảnh giới số 43 – Nguyễn Trãi

- Thiên nhiên vừa đại diện cho thế giới tươi đẹp, sống động vừ là hình ảnh mang tính biểu tượng, nơi tác giả gửi gắm tư tưởng tôn giáo, quan niệm nhân sinh, chí hướng lí tưởng cá nhân, tâm sự về nhân tình thế thái, về nhân dân, đất nước…

+ Đối tượng trung tâm được phản ánh: thiên nhiên và ngụ ý người viết

+ Thiên nhiên được miêu tả với những đặc điểm, sắc thái, vẻ đẹp vốn có

+ Người nghệ sĩ thông qua hình ảnh thiên nhiên để biểu đạt tư tưởng: tôn giáo, quan niệm thẩm mĩ, cảm khái thế sự, tâm sự cá nhân Đèo Ba Dội – Hồ Xuân Hương

* Đóng góp: phong phú về nội dung về nghệ thuật, là một yếu tố làm nên vẻ đẹp tâm

hồn cho người Việt

- Giai đoạn 1: Đa dạng loại hình “cảm hứng thiên nhiên”: chủ yếu thơ chữ Hán, tác

giả thiền sư, nhà nho, vua quan, tôn thất (đời Trần)

- GĐ2: phát triển giai đoạn 1, mở rộng thể loại (thiên về thơ Nôm, vãn, khúc), tác giả

nhà nho chủ yếu

- GĐ3: Thính đạt “thơ thiên nhiên” Hán - Nôm, thân kiểu “thiên nhiên” ngụ ý - trào lộng, thêm ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói, tác giả đa dạng (Nho hàng đạo, ẩn

dật, tài tử, bình dân), hoàng tộc (Lê – Trịnh, Nguyễn, quan chức, thiền sư, …)

- GĐ4: Thơ chữ Hán và Nôm, hát nói, truyện Nôm, tác giả nhà Nho, htộc

Trang 20

CÂU 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN Phân tích 1 trong 5 cảm hứng trong 1 bài thơ/ 1 đoạn thơ

Cảm hứng nhân đạo: “Thanh minh ngẫu hứng”, “Điếu La Thành ca giả” của Nguyễn Du

Khái lược về Nguyễn Du

- Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820, tên chữ là Tố Như, hiệu là

Thanh Hiên

- Quê quán: làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

- Thời đại: Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động

với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng

và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết

- Sáng tác của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị cả chữ Hán và chữ

Nôm Đặc điểm sáng tác: các tác phẩm đều thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của tác giả Thể hiện tư tưởng nhân đạo: đề cao giá trị nhân văn con người Các tác phẩm đó đều thể hiện sự cảm thông sấu sắc của Nguyễn Du đối

Trang 21

với cuộc sống của con người, nhất là những người nhỏ bé, bất hạnh, đó là kết quả của quá trình quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về con người của tác giả Lên

án, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp con người

Thanh minh ngẫu hứng

Đông phong trú dạ động giang thành,

Nhân tự bi thê, thảo tự thanh

Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng,

Thiên nhai vô tửu đối thanh minh

Thôn ca sơ học tang ma ngữ,

Dã khốc thời văn chiến phạt thanh

Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn, Mạc giao mao thảo cận giai sinh

Dịch nghĩa

Gió đông thổi qua toà thành bên sông suốt ngày đêm

Người buồn thì cứ buồn, cỏ xanh thì cứ xanh

Ngày xuân, mình có thân nhưng không còn trẻ nữa,

Ở góc trời, không có rượu uống trong tiết thanh minh

Câu hát thôn dã giúp ta hiểu được tiếng nói của kẻ trồng gai, trồng dâu

Ngoài đồng nội thỉnh thoảng nghe tiếng người khóc như buổi chiến tranh

Ở nơi lữ xá đã buồn quá rồi,

Chớ để cỏ săng mọc gần thêm!

Trong số 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, có mấy bài nhà thơ viết trong những ngày xuân: Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Thanh minh ngẫu hứng, Mộ xuân mạn hứng, Xuân tiêu lữ thứ…Thơ xuân của Nguyễn Du không chú

trọng miêu tả phong cảnh mùa xuân mà nghiêng về thể hiện cảnh ngộ nhà thơ và bộc lộ những suy tư xúc cảm về nhân sinh thế sự nên thường buồn Bài thơ Thanh

minh ngẫu hứng rất tiêu biểu cho thơ xuân của thi hào

Cảm hứng nhân đạo được thể hiện rõ nhất qua hình tượng con người thương thân trong thơ Nguyễn Du Đó được coi là một biểu hiện độc đáo của ý thức cá nhân trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Nguyễn Du cảm thương cho thân phận cô đơn, lưu lạc giữa dòng đời dâu bể

Trong bài thơ, Nguyễn Du tự họa bản thân mình như một con người đơn độc, mang nặng những nỗi ưu sầu Tâm trạng này được bắt nguồn từ những bất hạnh nhà thơ

Trang 22

từng nếm trải Tất cả những khổ đau đã gieo vào tâm hồn Nguyễn Du cảm giác bơ vơ, trơ trọi của con người bị tước đi mọi điểm tựa

Nhà thơ một mình lạc lõng đối chọi lại mọi thứ xung quanh, để mặc nỗi buồn xâm chiếm Đó là sự cô đơn, nỗi buồn đã đến cùng cực Giang thành là một địa danh không xác định nào đó mà Nguyễn Du thường nhắc đến trong thơ mình như một biểu tượng của nơi trú ngụ của tâm hồn Đang ở trong tiết xuân nhưng thi nhân cảm thấy buồn,

nỗi buồn đối lập với vẻ đẹp của thiên nhiên “Người buồn thì cứ buồn / Cỏ xanh thì

cứ xanh” Hình như thiên nhiên cũng vô tâm trước nỗi buồn con người?

Nguyễn Du một mình đối diện với thời gian, trong ngày xuân của đất thời, nhà thơ

ngộ ra thời gian đời mình không còn nhiều nữa, tuổi xuân đã qua lâu rồi mình không còn trẻ nữa Đối với Nguyễn Du, con người đáng thương không chỉ vì cái tâm dễ bị vùi dập, cái tài dễ bị bào mòn mà còn vì thân xác mong manh, hữu hạn Nếu các nhà thơ Thiền đời Lý - Trần miêu tả tấm thân trần thế nhỏ nhoi, dễ dàng tan biến để thể hiện thái độ bình thản, an nhiên trước lẽ vô thường thì Nguyễn Du nói đến thân để mà ngậm ngùi, thương cảm Nhà thơ đau xót cho chiếc thân trôi nổi Ông tiếc cho tấm

thân mòn mỏi, bất lực trước sự huỷ hoại của thời gian:

“Ngày xuân nhưng thân không còn trẻ nữa

Ở góc trời, không có rượu uống trong tiết thanh minh.”

Nguyễn Du một mình đối mặt với không gian rộng lớn “góc trời”, không có gì ngoài

tấm thân này Đương thời vào dịp thanh minh tao nhân mặc khách thường uống rượu thưởng thức tiết trời tươi đẹp, người người vui lễ hội cổ truyền Vậy mà nhà thơ phải làm khách nơi chân trời, đến chén rượu cũng không có để nhâm nhi ngắm cảnh đẹp, thật đáng ái ngại

Trong tiết thanh minh, nhà thơ nghe cả hai loại âm thanh đối nghịch: tiếng hát và tiếng khóc Rất có thể những âm thanh đó do lễ và hội truyền thống trong dịp này sinh ra

Âm ba cuộc sống li loạn của con người sau chiến tranh “Chiến phạt thanh” luôn làm cho nhà thơ day dứt, đây chính sự day dứt của một trái tim nhân đạo lớn lao Từ nỗi đau riêng của thân phận “lữ khách” đang phải trú ngụ bất đắc dĩ trong “lữ xá” kết hợp với nỗi đau thế sự, thi nhân bất giác buông lời ai oán “Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn”

Trang 23

(Ở nơi lữ xá đã buồn quá rồi) Đây là tiếng lòng thống thiết cho cảm hứng nhân đạo luôn hiện diện trong thơ ông

“Ở nơi lữ xá đã buồn quá rồi,

Chớ để cỏ săng mọc gần thêm!”

Trong ngày xuân tiết trời ấm áp, muôn loài cỏ cây thu hút được sinh khí của trời đất, đua nhau khoe sức sống Trời đất không ưu ái loài cây cỏ nào, riêng con người thì thụ cảm có chọn lựa Cỏ săng, một loài cỏ gợi lên sự hoang dại thật không nên xuất hiện ngay cạnh nơi ở của nhà thơ lúc này, vì chỉ với từng ấy cơ sự, nhà thơ đã thấy quá buồn bã

Bài thơ xuân này của Nguyễn Du vừa quen vừa lạ Quen ở chỗ sử dụng các chất liệu phổ biến của thơ ca cổ điển dùng để tả mùa xuân Lạ ở giọng điệu buồn thương thấm nhuần trong toàn bài thơ

Điếu La Thành ca giả

Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh,

Xuân sắc yên nhiên động lục thành

Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh ?

Trủng trung ưng tự hối phù sinh

Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng

Phong nguyệt không lưu tử hậu danh

Tưởng thị nhân gian vô thức thú,

Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh

Dịch nghĩa:

Như cánh hoa tươi thắm từ cõi tiên xuống,

Sắc đẹp quyến rũ làm rung động cả sáu thành

(Thử hỏi) Thiên hạ ai kẻ thương người bạc mệnh?

Dưới mồ, chắc nàng cũng hối hận cho kiếp phù sinh

Lúc sống, phấn son không rửa được nghiệp chướng,

Chết rồi chỉ để lại tiếng gió trăng mà thôi

Hẳn nghĩ rằng trên đời không ai hiểu được mình,

Nên xuống suối vàng làm bạn với ông Liễu Kỳ Khanh

Điếu La Thành ca giả làm theo thể thơ Đường luật, dạng thất ngôn bát cú (8 câu, mỗi

Trang 24

câu 7 chữ, tổng cộng 56 chữ), nằm trong tập Thanh Hiên thi tập, được tác giả sáng tác trong khoảng thời gian 1796-1802, tức là ở giai đoạn tác giả ở dưới chân núi Hồng, theo cách phân chia của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam

Theo GS Phan Văn Các, thì bài thơ này (và một số bài thơ khác) đã cho ta thấy Nguyễn Du (qua thực tế của đời ông, trong gia đình ông, và những điều ông chứng kiến nhan nhản trong xã hội) đã tỏ ra xót thương sâu sắc và thông cảm chân thành với những người phụ nữ bất hạnh bị vùi dập trong xã hội phong kiến Vì vậy, hình ảnh người ca nữ La Thành có một ý nghĩa điển hình sâu sắc

Điếu La Thành ca giả nói tâm sự tác giả khi viếng mộ nàng ca kĩ đất La Thành, cảm thương cho thân phận một người nhan sắc tuyệt trần, một thời danh tiếng lừng lẫy mà mệnh bạc Nàng như một cành hoa đẹp từ trên trời rơi xuống Nét đẹp kiêu sa quyến

rũ làm rung động sáu thành !

Nguyễn Du trân trọng, đề cao vẻ đẹp, giá trị con người : phương diện sắc đẹp

Như cánh hoa tươi thắm từ cõi tiên xuống,

Sắc đẹp quyến rũ làm rung động cả sáu thành

Ca kĩ – những nạn nhân đau khổ nhất trong xã hội, đó là những người đàn bà bị khinh

rẻ, khi bán thân nuôi miệng Nguyễn Du dùng những từ ngữ đẹp nhất để miêu tả nhan sắc của họ Qua ngòi bút của ông, các nàng ca kĩ hiện lên là những tiên nữ giáng trần

Cô gái đẹp tới mức làm rung động tâm hồn tất cả những người đàn ông trong sáu thành Đó là nhan sắc lay động lòng người, nức tiếng gần xa, vẻ đẹp ấy rực rỡ, tràn trề sức xuân của người thiếu nữ Nhan sắc ấy xứng đáng có một cuộc đời an yên, yêu chiều, yêu thương “bồng”

Cảm thông, chia sẻ với nỗi đau khổ, bất hạnh của con người:

Tuy nhiên, con người với sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành nhưng lại bạc mệnh,

chịu nhiều đau khổ Nguyễn Du cất lên tiếng hỏi ai oán: (Thử hỏi) Thiên hạ ai kẻ

thương người bạc mệnh? Họ sinh ra đâu ai muốn mình trở thành người ca kỹ, ngày

ngày bán nghệ, bán thân nuôi miệng ăn Họ sinh ra ai cũng mong mình có cuộc sống tươi đẹp, không ai mong mình sẽ sống trong một đời bị người đời khinh rẻ, vô tâm Tuy nhiên những con người lạc lối, bị đẩy vào con đường này đều một mình chống

chọi với nỗi cô đơn và sự dè bỉu, “thiên hạ ai thương kẻ bạc mệnh” này?

Đối với những nạn nhân đau khổ nhất trong xã hội, với những kiếp người hèn yếu

Trang 25

nhất, bị đày đọa nhất, những kiếp sống lao khổ nhất trong quần chúng, lòng xót thương của Nguyễn Du thật vô hạn, không chút ẩn ý nào Khác hẳn với cách nghĩ của nhiều nhà Nho đương thời và cả một số học giả sau này nữa, giải thích những người buôn nguyệt bán hoa là do bản tính của họ, Nguyễn Du hiểu cảnh ngộ lỡ làng đã xô đẩy những người con gái xấu số sa chân vào nghề ô nhục mà đành bỏ phí hạnh phúc của tuổi thanh xuân Nhà thơ thông cảm sâu sắc với nỗi bàng hoàng ngơ ngác của người gái giang hồ khi trở về già sống trong cảnh tồi tàn không nơi nương tựa, với những cái chết “ vùi nông một nấm” không hương khói của họ và cái tiếng vô nhân của xã hội dành cho họ:

Nghiệp chướng phấn son lúc sống đã không rửa sạch

Sau khi chết chỉ để lại tiếng gió trăng

Đau lòng hơn là ngón đàn tài hoa ấy không phải lúc nào cũng có những khách tri âm thông hiểu và trân trọng Một người giữa dương gian có trăm vạn chúng sinh mà chẳng

có lấy một người tri âm, tri kỷ Bi kịch tinh thần lớn nhất của nàng chính là không có được sự cảm thông mà chỉ có thể bầu bạn với kẻ dưới suối vàng Trước tình cảnh của hai người con gái tài hoa mà bạc mệnh Nguyễn Du đau lòng, xót xa không yên “người

ta trong cõi trăm năm, những sự vinh, nhục, buồn, vui thật không lường trước”

Hẳn nghĩ rằng trên đời không ai hiểu được mình,

Nên xuống suối vàng làm bạn với ông Liễu Kỳ Khanh.

Điếu La thành ca giả càng cho chúng ta thấy những mối quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc thường xuyên của Nguyễn Du với tầng lớp ả đào – kỹ nữ Ông lựa chọn con đường song hành cùng những uẩn khúc, đắng cay trong cuộc đời người ca nữ, dành phần lớn thời gian sáng tác về cuộc đời của họ và thể hiện niềm thương cảm, tiếng khóc xót xa của ông trước những thân phận ấy

Cảm hứng thế sự/ bút pháp trào phúng + trữ tình: “Hỏi thăm quan tuần bắt cướp” và “Chợ đồng” của Nguyễn Khuyến

https://taodan.com.vn/den-voi-nguyen-khuyen-nha-tho-tru-tinh-trao-phung-xuat-sac.html

Nguyễn Khuyến – nhà thơ trào phúng

Thời kì văn học trung đại kết thúc với thành tựuu cuối cùng rất rực rỡ của hai cây bút trào phúng Tú Xương – Nguyễn Khuyến Nếu Tú Xương mang đến cho người đọc những câu thơ trào phúng cay độc, bốp chát thì Nguyễn Khuyến lại mang đến một hồn thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh mà thâm thúy, Bằng những sáng tác thấm đẫm chất trào

Ngày đăng: 20/07/2023, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w