1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương HP: Thể loại và tác gia tiêu biểu văn học phương tây (HNUE)

15 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thể Loại Và Tác Giả Tiêu Biểu Văn Học Phương Tây
Tác giả George Byron, Bertolt Brecht
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội and Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Phương Tây
Thể loại Đề cương HP
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 34,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là đề cương học phần Thể loại và tác gia tiêu biểu Văn học phương Tây của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội do khóa 71 Ngữ Văn biên soạn. Đề cương phục vụ cho thi hết học phần, đã bao gồm tất cả các câu hỏi, trả lời theo đúng nội dung giảng viên hướng dẫn, Chúc các bạn thi tốt

Trang 1

GEOGRE BYRON

1 Tiểu sử

- Xuất thân trong gia đình quý tộc, bố nghiện rượu và phá phách, bỏ hai mẹ con với cuộc sống cơ cực

- Được gia đình viết di chúc để lại cho chức nghiệp, vì vậy được theo học trường quý tộc Tuy nhiên, nhà thơ lấy làm bất mãn với cuộc sống học tập chán ngắt và sự bất công Đây cũng là lúc hình thành tinh thần phản kháng của nhà thơ

- Byron là thi sĩ có bản lĩnh kiên cường, ông bộc lộ những tư tưởng chính trị tiến bộ và tôn giáo, khi được yêu cầu xóa

và chỉnh sửa, nhà thơ thể hiện chính kiến của bản thân và khước từ

2 Đặc điểm thơ Byron

- Quan điểm nghệ thuật “Có hai tình cảm mà tôi luôn luôn trung thành… lòng yêu tự do mãnh liệt và sự căm thù thói đạo đức giả”

- Cuộc đời ông khao khát tự do và những vần thơ ca ngợi tự

do, ca ngợi tình cảm chân thực trong tâm hồn và mong muốn vươn tới mội thế giới mới nơi hạnh phúc là nhân tố duy nhất có quyền tồn tại Đấu tranh một nền tự do cho dân tộc

- Luôn dị ứng với cái xấu và điều dối trả, kể cả gian tham

- Tổ quốc là niềm tự hào, châm biếm những kẻ mặt quý tộc rởm, nhân danh tổ quốc làm điều trái ngược Tổ quốc trong thơ Byron có hai loại: kiêu hãnh và hiu quạnh, tất nhiên nhà thơ yêu vẻ đẹp hiu quạnh hơn

- Tâm hồn yêu thiên nhiên, nhưng vẫn chứa đựng sự bất mãn trước các thói xấu

- Phái yếu trong thơ có lúc ngây thơ, nhưng có lúc quỷ đội lốt Vừa ca ngợi, vừa chê trách

- Miêu tả những tình cảm, cảm xúc cao đẹp của hồn người

là thế mạnh, đặt con người trong hoàn cảnh tự nhiên và để cảm xúc phát triển theo logic khách quan của nó

- Là nhà thơ lãng mạn đến tận cốt tủy, tuy nhiên quan niệm lại mang tính cách mạng nghiêng về hiện thực Ông cho là thơ ông tuân thủ các nguyên tắc của Aistote và sáng tác thơ tốt nhất là phải giống như sự thật

Trang 2

- Nhà thi sĩ tự do sẵn sàng giễu cợt mọi thứ hão huyền mà con người cứ giữ khư khư cho là chân lý Tiếng cười của Byron là tiếng cười có giá trị thanh lọc đạo đức lớn lao Tiếng cười trong thơ ông luôn đi đôi với chất trí tuệ và lòng nhân hậu, bao dung

- Byron đưa ra nhiều diện mão của hạnh phúc để cuối cùng tôn vinh đỉnh cao nhất

Trang 3

BERTOLT BRECHT

1 Tiểu sử

- Một nhà thơ, nhà soạn kịch, và đạo diễn sân khấu người Đức.

Là một đạo diễn sân khấu có ảnh hưởng trong thế kỷ 20.

- Sáng tạo ra nghệ thuật kịch tự sự và thủ pháp gián cách.

2 Đặc điểm kịch tự sự

1 Kịch tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các sự kiện,

hệ thống sự kiện thế giới kịch tồn tại bên ngoài người trần thuật, diễn viên kể lại sự

kiện.

2 Kịch tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao quát, mang chất

văn xuôi, không giới hạn không – thời gian, phản ánh trong mối quan hệ đa chiều.

3 Ít quan tâm đến số phận cá nhân của con người mà nặng về trình bày những điều kiện lịch sử-xã hội, nhấn mạnh yếu tố lí trí, sự kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố tự sự và

kĩ thuật kịch => Cốt truyện là một câu chuyện lịch sử được kể lại đầy khách quan Quan niệm: Nghệ thuật sân khấu không nên áp đặt tình cảm cho khán giả mà phải làm cho họ biết “Suy nghĩ”

Tương quan khán giả và sân khấu: Tương quan gián cách – thức tỉnh suy tư, khơi

gợi thắc mắc của khán giả, làm cho họ phải đứng xa mà nhìn, tìm hiểu trước khi bài tỏ thái độ

Luật “Tam Duy Nhất”: Phá vỡ quy luật ( Phương châm “Chân lí là cụ thể” )

Cốt truyện: Kịch phóng khoáng, không phát triển theo thời gian và nhân quả trực

tiếp đôi khi thiếu liên tục, theo đường vòng.

3 Đặc điểm thủ pháp gián cách

- Diễn viên không hòa theo nhân vật mà giúp khán giả nhận định và lựa chọn thái

độ trước một cảnh đang trình diễn.

- Diễn viên không hoàn toàn đồng hóa với nhân vật mà mình sắm vai.

- Gián cách để tước bỏ cảm giác “dĩ nhiên”, “ vĩnh cữu” giúp nhìn thấy “lịch sử”,

“cụ thể” đầy mâu thuẫn của sự vật để bình tĩnh phán xét những gì đang diễn ra

trên “sân khấu”.

1 Không bị hạn chế về không gian và thời gian:

- Kịch không diễn ra như một chuyện đang diễn ra mà như câu chuyện được kể lại.

- Không để hành động phát triển theo thời gian và quy luật logic nhân quả, đi theo một đường thẳng từ thấp đến cao như kịch kiểu Aristos

- Phóng khoáng, thiếu liên tục theo đường vòng.

Trang 4

2 Hai thành phần xem kẽ nhau trong một vở kịch:

- Một là câu chuyện được mô tả cụ thể qua hình ảnh sân khấu, xung đột giữa cá

nhân và xã hội bộc lộ chủ đề tác phẩm

- Hai là gián cách nội dung, tác giả gợi lên những ý bao quát để người đọc suy nghĩ

phương pháp hành động và quyết định lựa chọn

3 Gián cách đối thoại: Xem kẽ vở kịch là các bài hát do các ca sĩ, các ban hợp ca trình diễn nhằm tạo không khí đại chúng, phá vỡ ảo tưởng

4 Diễn viên - người kể chuyện:

- Diễn viên không được tự xem mình là hiện thân của nhân vật mà chỉ là người kể lại

(người kể lại) những hành vi của một người khác vào một thời điểm trong quá khứ.

- Diễn viên phải luôn nhớ rằng không phải hành động của mình được miêu tả mà mình

là người được miêu tả hành động đó.

- Diễn viên được tự do bình luận hành động của người mà mình diễn.

4 Đặc điểm kịch tự sự gián cách trong tác phẩm kịch tự sự vòng phấn kavkaz

1 Cốt truyện: Sử dụng những câu chuyện có sẵn trong dân gian nhưng đã làm mới

nó bằng chi tiết kì lạ (để giải quyết tranh chấp con giữa hai người phụ nữ, Brecht mượn mô típ cái vòng phấn trong truyền thuyết Trung Hoa)  với tình tiết “Cái vòng phấn”, tác giả đã đưa ra cách xử lí khác, lạ hơn để thức tỉnh con người về trách nhiệm trước thời đại.

2 Cách giải quyết mâu thuẫn kịch (không giải quyết): Cuộc tranh luận giữa hai

nông trường tuy đã ngã ngũ, song cả hai bên đều chưa cảm thấy thỏa đáng Theo lẽ thường, kịch phải được tiếp tục để đi đến hướng giải quyết Nhưng Brecht cho dừng lại để cả chủ lẫn khách cùng xem một vở kịch không có gì gắn với điều đang tranh luận.

3 Cuối vở kịch, tác giả mời gọi khán giả tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra: “Theo ý

quí vị thì làm thế nào để thay đổi bản tính con người hay thay đổi trần gian? Giải pháp

ở đâu? Thật sự chúng tôi không tìm ra Để chấm dứt sự hoang mang này, xin quí vị có cách nào giúp đỡ một người tốt bụng thoát khỏi sự khốn khổ để có thể sống theo tiếng gọi của lòng lành”

4 Lôgic:

Vở kịch không phát triển theo mô hình giao đãi thắt nút phát triển cao trào -cởi nút Các hồi không liên kết với nhau theo quan hệ nhân quả (như trong kịch truyền thống) mà được đặt cạnh nhau theo nguyên tắc “cái nọ nảy sinh sau cái kia” trên trục thời gian.

- Brecht còn đặt tên cho mỗi cảnh thông qua việc tóm tắt nội dung có tiêu đề và kết thúc của truyện.Vì thế Brecht đã giảm tới mức tối đa sự hồi hộp của khán giả trước khi xem và chưa đọc đã biết nội dung cảnh kịch Do đó, khán giả chỉ còn việc nhận xét xem sự việc đó diễn ra như thế nào mà thôi.

Trang 5

5 Gián cách trong dàn dựng sân khấu:

- Sân khấu cũng phải được “gián cách” với cuộc đời Phông màn phải treo thấp để khán giả nhìn thấy những gì đang diễn ra phía sau.

- Sân khấu chỉ bài trí một nửa, còn nửa kia vẫn để trơ những ván gỗ mộc Dụng cụ bài trí được tối giản hết mức, tận dụng hết những đạo cụ trên sân khấu Một tấm

gỗ khi là giường, khi là chiếc vành móng ngựa, có lúc là cây cầu…

- Sân khấu lúc nào cũng sáng vì theo ông chân lí phải được phơi bày ra ánh sáng.

- Xuất hiện các bài hát do các ca sĩ, các Ban hợp ca trình diễn xen vào giữa các màn

kịch hoặc trong một màn kịch để gián cách các đối thoại nhằm tạo điều kiện cho khán giả tham dự vào việc trình diễn.

 Với phương châm “Sân khấu tự sự không trình bày sự việc mà là bình luận sự

việc”, Brecht đã tạo nên một hiệu quả gián cách có sức tác động lớn tới độc giả Họ

xem sân khấu kịch như là một cái gì đó rất khác lạ và nó có khả năng thể hiện cuộc sống đa chiều hơn.

Trang 6

SAMUEL BECKETT

1 Tiểu sử

- Sinh ra trong một gia đình giàu có ở Dublin, có cuộc đời khá suôn sẻ và bình yên

- Đại chiến II nổ ra, dù là người ngoại quốc nhưng không vì thế mà tỏ ra xa rời chính trị, ông tham gia vào phong trào kháng chiến bí mật, nhưng sợ bị lộ ông trốn khỏi Pari và làm thuê kiếm sống đến hết đời

2 Trong khi chờ đợi Godot

- Tác phẩm giúp Beckett bước từ bóng tối ra ánh sáng, đạt được vinh quang

- Mở đầu cho dòng kịch phi lí

- Nội dung nói về hai người là Estragon và Vladimir không già nhưng cũng chẳng còn trẻ, gặp nhau tại một cái cây trụi lá Họ cùng chờ đợi một người là Godot, trong lúc chờ đợi họ khơi gợi lại quá khứ, đùa cợt và phán đoán về

Godot Pozzo và Lucky xuất hiện gửi một lời nhắn từ

Godot, ông ta không đến hôm nay nhưng hôm sau nhất định sẽ đến Ở hồi 2, cũng thời gian và địa điểm đó nhưng cây có vài cái lá, 2 nhân vật vẫn đợi nhưng người đưa tin giống với hồi 1 Họ cố gắng để treo cổ và sẽ rời đi nhưng

họ không hề nhúc nhích Vở kịch kết thúc

3 Đặc điểm kịch phi lý trong khi chờ đợi Godot

- Tình huống phi lí: sự chờ đợi mù quáng và vô vọng

- Tình huống lặp đi lặp lại, không có nguyên nhân, kết quả

và không kịch tính để tạo xung đột kịch

- Ý nghĩa: Nhân loại ngoài việc chờ đợi vô vọng hoặc ngồi đó chờ chết thì không còn con đường nào khác, con người không biết về vận mệnh của mình vì vậy ngoài việc chờ đợi đầy tiêu cực thì làm gì? Ý nghĩa về sự vô nghĩa của đợi chờ

- Sự phác họa khôi hài về sự chờ đợi vô vọng đối với một đức tin tâm linh Tác phẩm thể hiện khát vọng tìm kiếm chân lý, đức tin của con người

- Hai nhân vật biểu tượng cho sự chờ đợi vào niềm tin

thiêng liêng Từ đây, tác phẩm khích lệ niềm tin và hy vọng của con người => ý nghĩa tích cực

Trang 7

3.2 Sự phá vỡ hành động kịch

- Kết cấu tuần hoàn như một vòng tròn lặp lại => hành động chạy vòng quanh lại giậm chân tại chỗ, nói cách khác hành động như một trôn xoắn ốc, trở đi trở lại không

có điều gì đặc biệt xảy ra

- Sự lặp đi lặp lại hành động ở 2 hồi kịch Estragon ngủ

trong cái hố, Vladimir đến gặp hắn bên cái cây, họ găp Pozzo và Lucky và rồi cậu bé nói Godot sẽ đến vào hôm sau

- Hành động tái diễn một cách máy móc, lặp lại, tái diễn vô nghĩa, không ý thức Trạng thái đều nhàm chán, vô vị như chính cuộc sống của nhân vật

- Các nhân vật nói năng, có hành động nhưng họ không có dục vọng, những quyết định đột ngột, những phản ứng trí tuệ sắc sảo, những biểu hiện sáng rõ của suy nghĩ và cảm xúc

- Nhân vật không có những mối xung đột cá nhân hay xã hội, giữa họ không có mâu thuẫn nào để bộc lộ cá tính Các nhân vật không có một sắc thái cá thể rõ ràng, họ giống như những biểu tượng phức hợp

- Những hành động của nhân vật không xuất phát từ những

dự cảm trong tâm thức nên trở thành một dạng thụ động,

Họ giống như những con rối

- Tính cách của các nhân vật được đơn giản hóa một cách tối đa, trong khi đặc tính hài hước, trần trụi của họ bị

cường điệu thái quá

- Ngôn ngữ với lớp ý nghĩa xúc tích, chấp nhận sự tồn tại trong tình trạng hỗn loạn và nhận thức rõ sự sa đọa của ngôn ngữ

- Ngôn ngữ hỗn loạn, thiếu logic: chuyển động theo một quỹ đạo không bao giờ chạm tới trung tâm là sức mạnh biểu hiện hay khả năng biểu hiện Thừa nhận sự bất lực của ngôn ngữ Có sự pha trộn giữa vô thanh và hữu thanh, mập mờ và không giới hạn

- Đối thoại không ăn khớp, chi là những âm thanh được đặt cạnh nhau Phơi bày sự trống rỗng của ngôn từ, khiến con người nghi ngờ thứ ngôn ngữ họ đang sử dụng

Trang 8

- Nhà viết kịch đã khai thác ngôn ngữ nhằm chiếm hữu khả năng khớp nối trật tự và hỗn loạn, sự xa đọa của ngôn ngữ khắc họa bức tranh bi đát của con người: mấy đi khả năng khớp nối ngôn ngữ, trở thành nô lệ (Lucky)

- Khoảng im lặng rải rác, phá vỡ tính liên tục của ngôn từ:

để cho khán giả một khoảng không gian, thời gian để họ khám phá và có thể sáng tạo

- Ngẫu nhiên và vô nghĩa: không gian là dưới gốc cây, thời gian vào buổi chiều tà

- Xóa mờ không gian và thời gian bằng các chi tiết mờ nhạt

- Không gian bài chí đơn điệu: mọi vật đều ám chỉ về sự vô nghĩa, nhàm chán Thời gian như một thứ hỗn độn, vỡ nát

và rối loạn

- Rời rạc và bất tận: sự mù mờ về thời gian ném nhân vật vào một vùng hỗn độn, lơ lửng

- Beckett đã giảm gần như mức tối đa những cái quen

thuộc, để cho cái lạ, sự khác biệt lấn át hành động Nhân vật của ông được đặt trong một thế giới đổ vỡ và trần trụi,

xa lạ với chính bản thân họ Họ không ý thức được về

chính họ

- Nhân vật không có ý thức về thời gian, vừa chảy trôi, vừa đứng yên vừa tuần hoàn lại vừa ngưng đọng biểu tượng cho một thế giới đang chết, dù nhân loại đi đâu thì họ cũng sẽ trở về điểm xuất phát

- Trống rỗng và tù bức: không gian trống rỗng về ý nghĩa lịch sử, danh từ riêng hay địa điểm Thời gian thiếu đi sự hiện diện của sự sống, thể hiện nỗi khắc khoải

Trang 9

WILLIAM SHAKESPEARE

1 Tiểu sử

- Shakespeare sinh ra tại nước Anh Gia cảnh nghèo khổ khiến ông bỏ học

- Kết hôn với người con gái hơn mình 8 tuổi, có cậu con trai Hamnet nhưng lại chết sớm

- Đam mê nghệ thuật sân khấu, mới đầu đóng vai phụ thể hiện tài năng, sau đó tự cải biên một vài vở và viết chung với soạn giả

- 1590 bắt tay vào sự nghiệp sáng tác và dành được tiếng vang lẫn thành công trong sự nghiệp

2 Kịch Romeo và Juliet

- Xoay quanh câu chuyện tình yêu ngang trái giữa đôi tình nhân Romeo và Juliet thuộc 2 dòng họ có mối thù truyền kiếp (Montague và Capulet)

- Romeo yêu Juliet ngay từ cái nhìn đầu tiên trong buổi yến tiệc và đến nhà thờ nhờ tu sĩ Laurence làm lễ cưới bí mật Sau đó, do xung khắc mà Romeo đã giết chết anh họ của Juliet là Tybalt (Tybalt giết Mercutio bạn Romeo) Romeo

bị trục xuất khỏi thành Verona, còn Juliet bị ép gả cho Paris Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của Laurence, uống thuốc giả chết và tu sĩ báo tin cho Romeo Tuy nhiên, chưa kịp nghe tin thật, Romeo hay tin Juliet chết, chàng mua thuốc độc và trở về Verona Nhìn thấy xác Juliet, Romeo uống thuốc tự tử, Romeo vừa chết Juliet tỉnh dậy thấy người mình yêu chết thì cũng lấy dao tự vẫn Cái chết của đôi trẻ

đã làm thức tỉnh 2 dòng họ

3 Bi kịch qua Romeo và Juliet

3.1 Bi kịch thời đại

- Nguyên nhân : Thời kì trung cổ, bị áp bức với những luật lệ

hà khắc, xã hội bị chi phối bởi đồng tiền, tình cảm con người bị áp đặt bởi lễ giáo phong kiến

- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật : thể hiện đúng tinh thần phục hưng, chàng và nàng đều là biểu tượng của cái đẹp, cái khát vọng tự do, hạnh phú, mang trong mình phẩm chất tốt đẹp của thời kì phục hưng nhưng họ phải chịu sự gò bó kìm hãm của thời kì trung cổ

Trang 10

- Sự đối lập khát vọng cao đẹp tình yêu với dục vọng cá nhân : thể hiện qua tuyến nhân vật đối lập : Romeo và hầu tước Paris,

- Nghệ thuật xây dựng xung đột : Xung đột giữa khát vọng con người và hoàn cảnh xã hội Xung đột giữa Romeo và

xã hội áp bức thể hiện qua hành động bất chấp luật lệ hà khắc Xung đột giữa Juliet và mâu thuẫn quan niệm hôn nhân cùng sự phá vỡ nó

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật : Romeo và Juliet có tình yêu mãnh liệt nhưng xuất thân từ 2 dòng tộc có mối hận thù sâu sắc

- Hai nhân vật sẵn sàng từ bỏ họ của mình để được yêu

- Nghệ thuật xây dựng hành động : Hành động quyết liệt, dứt khoát

- Nghệ thuật ngôn ngữ nhân vật : cổ kính, mang tính trang trọng đậm chết quý tộc nhưng cũng đầy mạnh mẽ và dứt khoát

- Nghệ thuật xây dựng xung đột : hoàn cảnh bi kịch (tình yêu trên thù hận)

- Tình yêu sinh sôi nảy nở trên tầng lớp thù hận

- Tình yêu bất chấp sai trái

- Tình yêu dẫn đến những cái chết

Ngày đăng: 20/07/2023, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w