Đây là đề cương học phần Thể loại và tác gia tiêu biểu Văn học Phương Đông của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội do khóa 71 Ngữ Văn biên soạn. Đề cương phục vụ cho thi hết học phần, đã bao gồm tất cả các câu hỏi, trả lời theo đúng nội dung giảng viên hướng dẫn, Chúc các bạn thi tốt
Trang 1Câu 1: Thơ Ấn, làm rõ qua “ Thơ Dâng”
“Thơ Dâng”, Bài số 1
Đọc bài thơ và trả lời câu hỏi:
“Vì vui riêng, người đã làm tôi bất tận Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi
Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng,
và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời
Khi tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết
Tặng vật người ban vô biên vô tận, nhưng để đón xin, tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng Thời gian lớp lớp đi qua, người vẫn chửa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.”
1 Nổi bật nhất trong bài thơ là những hình ảnh nào? những hình ảnh đó có
ý nghĩa gì?
2 Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Nhân vật đó đã nói hộ nhà thơ tâm
tư tình cảm gì?
3 Nhận xét về đặc điểm giọng điệu của bài thơ
4 Xác định biện pháp tu từ mà nhà thơ sử dụng trong bài và nêu tác dụng
Tập thơ gồm 103 bài do Tagore tuyển chọn từ các tập thơ khác viết bằng tiếng Bengan của mình, rồi tự dịch ra tiếng Anh
Tác phẩm này đã giúp Tagore trở thành người Châu Á nhận giải Nôben văn học vào năm 1913 và được xem là “kì công thứ 2” trong lịch sử văn học Ấn Độ
- Dịch thơ:
“Vì vui riêng, người đã làm tôi bất tận Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi
Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng,
và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời
Khi tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết
Trang 2cùng Thời gian lớp lớp đi qua, người vẫn chửa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.”
và là đấng tối cao Thơ của Tagore nói chung và bài thơ này nói riêng mang hình thức chung của thơ sùng tín huyền bí, hình ảnh một người con phụng sự ‘người” khao khát được đến bên người Điều đặc biệt ở đây phải kể đến cách mà Tagore diễn
tả Đấng tối cao Ấn Độ là đất nước có “bầu khí quyển” là tôn giáo, nơi mà tôn giáo trở thành văn hóa đặc trưng trong quá trình sinh hoạt ở nơi đây Đấng tối cao mà người dân Ấn Độ quan niệm, hình dung là qua tôn giáo Bàlamôn Ở đây người dân
sẽ kết nối với Đấng tối cao qua các vị tu sĩ với chủ nghĩa khổ hạnh, phép hành xác, các chế độ phân biệt đẳng cấp, nghi thức lễ máu, các giàn hỏa thiêu, Bằng cách này, đã giết chết bao sinh mạng con người, làm héo hon biết bao nhiêu trái tim, trói buộc và kìm hãm nhân tính tự do của con người và con người coi Đấng tối cao là một vị thần linh ở xa xôi, ngoài tầm với
Nhưng bài thơ này ta thấy hình ảnh “người” mà Tagore miêu tả là một khái niệm gần gũi, quen thuộc Dường như người xuất hiện ở trong chúng ta mọi lúc mọi nơi
kể cả khi “cuộc sống tát cạn rồi lại đổ đầy” kể cả khi “tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng Hình ảnh “người” hiện lên giản dị, gần gũi mà ở đó chúng ta không thấy có nghi lễ nào ràng buộc, không có tôn giáo nào có thể gọi tên “người”.Có thể nói Tagore đã biến thần từ vô hình, trừu tượng thành hữu hình, cụ thể Không chỉ ở cạnh
ta, người còn hiện diện trong cơ thể của nhân vật tôi “Thân này thuyền nhỏ mong manh đã bao lần người tát cạn rồi lại đổ đầy cuộc sống mát tươi mãi mãi” là nguồn sống vật chất của “tôi” và đã ban cho tôi nguồn sống để tận hưởng cuộc sống Nguồn sống này là động cơ để nhân vật “tôi” vượt qua khó khăn, thử thách để đến gần bên
Trang 3người, hòa nhập cùng người.Không phải là những hình thức, nghi thức lễ giáo bên ngoài mang ta gần đến đấng tối cao, mà muốn đến với đấng tối cao ta cần vượt qua khó khăn, gian lao , thử thách: “ Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng, và phả vào trong giai điệu mới mẻ đời đời.”
“Người” là nguồn động lực cũng là người dẫn đường cho “tôi” đến gần với “người”
Và sau khi nhân vậtt ‘tôi” đi qua những khó khăn, đi qua những cảnh đẹp của cuộc đời, nhân vật cuối cùng cũng sẽ trở vở với “người” để hòa nhập cùng người, được người “tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết.”
Trái tim và người hòa nhập vào làm một trở thành một điều vĩ đại, thiêng liêng và là mục đích của mọi tín đồ muốn đạt đến Đó là sự giác ngộ, bừng tỉnh khi tiếp xúc với
sự rung động của “người”
Khi nhân vật hòa cùng với người, nhân vật nhận ra một điều : “ Tặng vật người ban
vô biên vô tận, nhưng để đón xin, tôi chỉ có hai tay bé nhỏ vô cùng Thời gian lớp lớp đi qua, người vẫn chửa ngừng đổ rót, song lòng tôi thì hãy còn vơi.” “người” vẫn luôn cạnh chúng ta bất kể thời gian và không không gian, sức mạnh và lòng thương của người là vô tận và vô biên nhưng con người thì có sự hữu hạn, đó là sự hữu hạn của cái “tôi” và trí tuệ Nhà thơ khẳng định đây là một chân lí cũng như đây
là một cách để an ủii con người Dù cuộc sống và bản thân nhỏ bé và hữu hạn nhưng
“người” vẫn luôn ở bên và không ngừng rót vào chúng ta những tình thương và sự
ấm áp
NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
- Nhà thơ Tagore xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình là một tín đồ một lòng một dạ phụng sự chúa trời để giải thoát- niềm hoan lạc tâm linh như bao nhà thơ khác trong dòng chảy thơ sùng tín Trong “Thơ Dâng” nhân vật trữ tình xưng “tôi” cũng được coi như mang hình bóng của một tín đồ tha thiết dâng tình yêu lên một Đấng Tối Cao có nhiều tên gọi như: Chúa, Thượng Đế, Cha và nhiều nhất là Người Khao khát đưuọc đến bên Người với lòng dâng hiến Muốn được tới bên Người thì phải vượt qua nhiều gian nan, cửa ải, mọi khó khăn “Xác này cây sậy khẳng khiu, người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng, và phả vào trong giai điệu mới
Trang 4mẻ đời đời.” Khi tới bên Người “Khi tay người bất tử âu yếm vuốt ve, tim tôi ngập tràn vui sướng, thốt nên lời không sao tả xiết.”
· Lặp cấu trúc: still…still => sự nối tiếp, bù đắp, rót yêu thương vô tận của người không bao giờ hết
· Hình ảnh ẩn dụ: “Thy infinite gifts”, khiến cho “người” trở nên hữu hình, cụ thể
· Ở câu thơ đầu “emptiest” là trống rỗng dịch giả đã chuyển thành “tát cạn” khiến cho cách hiểu trở nên cụ thể hơn, qua “tát cạn” ta hiểu đó là một cuộc sống lên xuống, thay đổi có chu kì
· Từ “Thy infinite gifts come to meme” có nghĩa “là món quà vô hạn đến với tôi tôi” dịch giả đã chuyển thành “Tặng vật người ban vô biên vô tận” để tăng được sức gợi hình gợi cảm, tăng sức thơ cho bản dịch
Trang 5Câu 2: Quan điểm của anh/chị về nhận định của Lỗ Tấn về Hồng lâu mộng trong cuốn Trung Quốc tiểu thuyết sử lược:
“Nói chung, từ sau khi Hồng lâu mộng xuất hiện, tư tưởng và cách viết truyền thống đều bị phá vỡ”
Lỗ Tấn tuy không nhận mình là một Hồng học gia song với công trình Lịch sử tiểu
thuyết Trung Quốc mà nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa lỗi lạc này đã mất ba
năm để hoàn thành đã cho thấy tâm huyết và ân tình của ông đối với nền văn học Trung Quốc Bên cạnh đó nghiên cứu của ông còn mở ra nhiều hướng đi mới trong việ nghiên cứu tiểu thuyết cổ nói chung và Hồng lâu mộng nói riêng Chính bở lẽ đó những nhận định về Hồng lâu mộng được quan tâm và đánh giá cao Một trong
những nhận định đó là: “Từ khi Hồng lâu mộng ra đời tư tưởng và cách viết truyền
thống đã bị phá vỡ” Nhận định định này có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng nghiên
cứu và bàn luận về tác phẩm được người Trung Quốc cho là “độc nhất vô nhị ở nước
họ và cũng chưa từng có trên thế giới
Hồng lâu Mộng là bộ tiểu thuyết trường thiên, có tên là Thạch đầu kí (câu chuyện hòn đá), Kim Ngọc duyên (Duyên Vàng Đá), Kim Lăng thập nhị kim thoa (Mười hai chiếc thoa vàng đất Kim Lăng) là bộ tiểu thuyết vĩ đại xuất hiện thời Càn Long Hồng lâu mộng đã đánh một dấu son vào lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc đến thời đại nhà Thanh Tác phẩm gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết, 40 hồi sau mọi người đều cho rằng Cao Ngạc là người viết tiếp
Tào Tuyết Cần (1715? – 1763?) tên là Triêm, tên tự là Mộng Nguyễn, Cần Phố, hiệu là Tuyết Cần, Cần Khê, người Thẩm Dương, vốn dòng dõi người Hán, sau nhập tịch Mãn Châu Ông sống trong triều đại phong kiến nhà Thanh, Trung Quốc
Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, gia đình đời đời thế tập chức Giang Ninh
chức tạo là một chức quan to thu thuế tại Giang Ninh thành Cuộc sống trong phủ
vô cùng xa hoa vương giả Nhưng đến đời của Tào Tuyết Cần, tất cả sự giàu sang quyền quý huy hoàng của gia đình đã trở thành quá khứ Ông đã phải sống trong những ngày cay đắng nhất của đời mình với nghèo khổ, đi khắp nơi để mưu sinh, sống trong cảnh “cả nhà rau cháo, rượu thường mua chịu” Mười năm cuối đời ông
Trang 6đã dồn toàn bộ trí lực để tạo nên kiệt tác Hồng Lâu Mộng, một trong những tác phẩm
về sau được đánh giá là kinh điển của văn học Trung Quốc Tác phẩm đã được ông sửa chữa 5 lần trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền mua thuốc, con chết Khi ông còn sống tác phẩm đã không hoàn thành và không được công bố
Sau khi ông qua đời, hai mươi tám năm sau, Cao Ngạc đã dựa vào di thảo của ông để hoàn thành nốt bằng việc viết tiếp 40 hồi Cao Ngạc cũng đổi tên “Thạch Đầu Ký” thành “Hồng Lâu Mộng” để phù hợp với nội dung tác phẩm Như lời ông nói, ông viết tác phẩm không phải nhằm mục đích phê phán chế độ xã hội đương thời hay nhằm mục đích gì, ông chỉ viết để bày tỏ tâm sự của bản thân, giải tỏa nỗi niềm
“cô phẫn” nên không có ý định xuất bản Tuy nhiên ông đã tốn rất nhiều sinh lực và tâm huyết trong mười năm cuối cùng của cuộc đời, đến nỗi ông cũng phải thốt lên:
· “XEM RA CHỮ CHỮ TOÀN BẰNG HUYẾT
· CAY ĐẮNG MƯỜI NĂM KHÉO LẠ LÙNG”
Hồng lâu mộng không chỉ có giá trị ở văn hay, ở cốt truyện tình éo le, gay cấn, ở lối miêu tả tinh vi mà còn ở việc đã phản ánh được một cách trung thực xã hội Trung Hoa hồi thế kỷ 17 – 18, đã nói lên được tiếng nói đau thương của một lớp thanh niên nam nữ đương thời và vạch ra được chiều hướng tan rã tất yếu của chế
độ gia đình khắc nghiệt của xã hội mục nát đời Mãn Thanh
Thứ nhất, Sự thay đổi về tư tưởng: Các tác phẩm trước Hồng lâu mộng cũng
đã nói về tư tưởng chống phong kiến Tiêu biểu như nhân vật Tôn Ngộ Không điển hình cho hình tượng người anh hùng nhân dân thông minh, nhanh nhẹn, dũng cảm chống phong kiến thể hiện ở 3 lần Đại náo thiên cung khiến thiên đình run sợ, Ngọc Hoàng Đại Đế phải chui xuống gầm bàn và nhờ đến sự trợ giúp của Phật Tổ Như Lai lừa Tôn Ngộ Không mới bị bắt Tuy thái độ chống phong kiến đã rõ nét Nhưng
vì giới hạn của cốt truyện cũng như tư tưởng thời đại nên suy cho cùng, thái độ phản kháng chưa thật triệt để Vì cuối cùng Tôn Ngộ Không quy y Phật Tổ Đến Hồng lâu mộng tư tưởng chống phong kiến mãnh liệt hơn cả Thể hiện rõ nét qua hai nhân vật trung tâm là Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc tình yêu của cặp đôi này là minh chứng
rõ nét nhất cho sự suy yếu của chế độ phong kiến Tình yêu đó càng đẹp đẽ, rực rỡ bao nhiêu thì khi lâm vào bi kịch nó càng đả kích, tố cáo sự lỗi thời, sa đọa của chế
Trang 7độ gia tộc phong kiến bấy nhiêu Chính việc thông qua tình yêu đả kích chế độ phong kiến càng làm dậy sóng những phản ứng chống đối, mạnh mẽ và sự đồng cảm thương
xót của độc giả đối với tình yêu của họ
Xuất thân của Giả Bảo Ngọc vốn là một hòn đá trên đỉnh núi Thanh Ngạch, qua bàn tay tiên Nữ Oa tôi luyện, nay đầu thai xuống trần để nếm trải vinh hoa phú quý mà thành Giả Bảo Ngọc Tinh thần phản kháng phong kiến của anh chàng ngây này, có gốc rễ từ cuộc sống thực và quá trình tìm đường của anh ta Xuất thân trong gia đình “chung minh đỉnh thực, thế phiệt trâm anh” Nhưng tư tưởng của Giả Bảo Ngọc hoàn toàn trái ngược so với lễ giáo phong kiến Cậu ta khinh miệt công danh khoa cử, chửi những kẻ “học hành đỗ đạt”, vào luồn ra cúi “theo đuổi công danh” là
“con mọt ăn lộc”, “giặc nước” Do mâu thuẫn nội bộ trong nhà đình nhà họ Giả mà
tư tưởng phản nghịch của Bảo Ngọc có cơ hội nảy nở, cậu ta có thể trốn học, không phải tiếp thu lễ giáo phong kiến, lại được sống chung với những người con gái trong sạch nơi Đại viên, cách li với cuộc sống trụy lạc, độc ác bên ngoài khiến cho Giả Bảo Ngọc có cách nhìn nhận, đánh giá và suy nghĩ khác đời Giả Bảo Ngọc lật đổ chế độ trọng nam khinh nữ, đề cao người phụ nữ 1 cách kỳ lạ Từ nhỏ, cậu ta đã thấy: “ Xương thịt con gái là nước kết thành, xương thịt con trai thì bùn kết thành
Ta trông thấy con gái thì thoải mái, thanh thản, thấy con trai thì như nhiễm hơi dơ bẩn kinh người” Tư tưởng này thể hiện lòng đồng tình đối với phụ nữ bị xã hội chà đạp Chống đối chế độ bất bình đẳng xã hội, GBN coi những người hầu gái như bạn
bè thân thiết, không hề ngăn cách, nhiều lần đã đỡ đòn cho họ
- Tư tưởng của Giả Bảo Ngọc thuộc hệ tư tưởng mới đó là tư tưởng dân chủ sơ khai, kết quả của nhu cầu tầng lớp thị dân mới trỗi dậy Cuộc đấu tranh của Giả Bảo Ngọc
và Lâm Đại Ngọc với tư tưởng truyền thống thể hiện cuộc vật lộn giữa cái mới và cái cũ Cái mới đã ra đời xong còn non yếu Cái cũ đã rạn nứt suy yếu song “con sâu trăm chân, chết vẫn không cứng” này còn đủ sức bóp chết cái mầm mới manh nha kia Kết cục là Lâm Bảo Ngọc phải ngậm hờn mà chết, Giả Bảo Ngọc phải bỏ đi tu
- Tư tưởng về tình yêu của Giả Bảo Ngọc cũng có những thay đổi đứng giữa hai tuyệt sắc giai nhân một là Tiết Bảo Thoa( điển hình giai nhân phong kiến) hơn hẳn Lâm Đại Ngọc về cả sắc và tài nhưng cuối cùng GBN vẫn chọn Lâm Đại Ngọc vì
Trang 8sự giao thoa lý tưởng sống, chống đối xã hội phong kiến Điều này cho thấy lý tưởng
về tình yêu đã thay đổi Sức mạnh của giáo lý phong kiến đã suy yếu Biểu hiện giai nhân phong kiến đã mất sức quyến rũ( Tiết Bảo Thoa) tình yêu tự do, vượt lên trên
lễ giáo gia đình và phong kiến Bảo Ngọc và Đại Ngọc
- Khởi đầu của Hồng lâu mộng là xuất xứ của các nhân vật khác thường Ai cũng có xuất xứ kỳ lạ, đến từ cõi hư không Với hai nhân vật trung tâm Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, tác giả còn chỉ ra cụ thể hơn nguồn gốc hư ảo Bảo Ngọc vốn là hòn
đá, Đại Ngọc vốn là cây cỏ tiên Nhưng dù là cây hay đá thì tiền kiếp của Bảo Ngọc
và Đại Ngọc đều nằm ở thế giới hư không nhưng thế giới trong Hồng lâu mộng lại xuất phát từ hiện thực đời sống, cuộc sống sinh hoạt đời thường của gia đình quý tộc được vẽ nên bằng những đường nét tỉ mỉ, vô cùng chân thực, và cụ thể, cuốn hút người đọc
-Tư tưởng thiên mệnh: Số mệnh của mỗi nhân vật trong Hồng lâu mộng đã được định sẵn Số phận của Kim Lăng thập nhị kim thoa được ghi chép, định đoạt ở những cuốn sổ này Cuộc đời mỗi nhân vật được gói gọn trong một lá số tiền định, những bài thơ đầy ẩn ý, như lời sấm vĩ những điềm báo số phận như: Cây hỏi đường phủ Giả nở hoa trái mùa, sau đó Bảo Ngọc mất ngọc thiêng, gia đình họ Giả quyết định cưới Bảo Thoa cho Bảo Ngọc, Đại Ngọc chết,
Khởi đầu của các nhân vật và các điềm báo trong tác phẩm dường như báo trước cái kết bi thảm của số phận họ Những số phận bi kịch và kết thúc bi kịch của Hồng Lâu Mộng dường như là tất yếu Dự báo trước sự suy tàn, sụp đổ của chế độ phong kiến Cái kết ảm đạm đó khiến cho người đọc như vừa tình một giấc mộng hoàng kim vậy,
mở đầu là hư ảo, cuối truyện mọi thứ đều tan biến, sự giàu có đến cực độ của gia đình họ Giả bỗng chốc như hóa vào cõi không, mờ ảo như chưa từng tồn tại trên đời Đây phải chăng là ý nghĩa của của đầu đề tiểu thuyết: “giấc mộng lầu hồng”
- Cảm giác cuộc đời như mộng, tất cả trở về không là kết quả tất yếu của lẽ biến dịch Nhân sinh như mộng là lời cảm thán của tác giả trước sự vận hành và biến đổi của tự nhiên, xã hội Hồng lâu mộng đã miêu tả quá trình thịnh suy của phủ Giả nằm trong quy luật: Bĩ cực thái lai, phồn hoa phú quý lên tới tột đỉnh ắt sẽ suy sụp
- Một điều đáng chú ý là, mặc dù thấy rõ sự diệt vong tất yếu của giai cấp mình, tâm
Trang 9trạng Tào Tuyết Cần nhìn chung là bế tắc Cũng như nhân vật Bảo Ngọc, tìm kiếm lối thoát trong nhà văn tìm tòi trong sách vở triết học cổ điển Trung Quốc mong có một lối thoát Trong thời điểm lịch sử bấy giờ, tác giả không cách nào khác lý giải
sự diệt vong của chế độ phong kiến là ngẫu nhiên của vận hành vũ trụ
Cái kết là số phận bi thương của họ là nét nổi bật trong bức tranh hiện thực về sự suy tàn của chế độ phong kiến Trung Quốc
Thứ hai, Sự thay đổi về cách viết truyền thống:
Nhân vật trong Hồng Lâu Mộng được miêu tả là những con người thực sống động, đời sống tinh thần phong phú, nhiều mặt Nghệ thuật miêu tả nội tâm, tính cách nhân vật đạt đến đỉnh cao, thể hiện ở nét lạ hóa tính cách, chiều sâu của nội tâm Khác hẳn so với cách miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, các nhân vật đó là nhân vật hành động, tính cách bộc lộ chủ yếu qua hành động, và nét tính cách của các nhân vật mang tính đặc thù, xuyên suốt, nhất quán từ đầu đến cuối Tào Tháo nổi bật là một gian hùng có tài năng và độc ác, Lưu Bị là vị vua tài, hiền đức nổi bật ở mặt phẩm chất, là bậc chính nhân quân tử.Trương Phi thì nóng nảy, bốc đồng, không suy nghĩ Còn trong Hồng lâu mộng:
Các nhân vật hết sức sống động Ví dụ như: Đám tang Tần Thị được Giả Trân
tổ chức hết sức xa hoa Riêng cái quan tài bằng gỗ quý ngàn năm không mục, mượn của một vị vương đã mất năm ngàn lạng, Ông ta còn mua cho Giả Dung chồng của Tần Thị chức “Long cẩm úy” để viết lên cờ tang cho đẹp, mất một ngàn hai trăm lạng tất cả đó chỉ là vỏ ngoài bao che cho mối quan hệ bất chính của Giả Trân( bố chồng)- Tần Thị( con dâu) Sự đối lập giữa vẻ ngoài hào nhoáng, đẹp đẽ với sự bẩn thỉu, thối nát bên trong của Giả Trân Tiếp đến, là Phượng Thư được ví nham hiểm như một Tào Tháo Y làm ra vô số tội ác, giết chết Giả Thụy, Lâm Đại Ngọc và mượn tay Thu Đồng để giết chết Vưu Nhị Thư rồi trong đám tang khóc lóc vô cùng thảm thiết
Sự đối lập về mặt tính cách với bề ngoài của nhân vật cũng chính là sự đối lập giữa sự giàu có, hào nhoáng của gia đình nhà họ Giả với sự băng hoại về mặt đạo đức phong kiến của con cháu nhà họ Giả Các nhân vật vừa phạm vào nhau lại vừa cách xa nhau vừa có điểm chung vừa có điểm riêng Hơn 300 nhân vật nhưng mỗi
Trang 10nhân vật đều là một chủ thể có tính cách riêng, Không ai giống ai Chẳng hạn ở hồi
27, tác giả đã thể hiện diễn biến tâm lý phức tạp vui buồn, giận hờn, mừng, tủi của các cô gái kiêu kì
Việc miêu tả tâm lý trực tiếp và sự tự bộc lộ nội tâm của nhân vật bằng ngôn ngữ và hành động nhân vật, Tào Tuyết Cần đã đưa Hồng lâu mộng lên đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực Hồng lâu mộng là cuốn tiểu thuyết đời thường, miêu tả đời sống hàng ngày một cách chi tiết- cụ thể không cường điệu Nếu như trong các tác tiểu thuyết đời Minh nhân vật và sự kiện đều ít nhiều kỳ lạ thì trong Hồng lâu mộng cuộc sống diễn ra bình thường như nó vốn có Sức hấp dẫn của Hồng lâu mộng là từ những cái bình thường, thường nhật chứ không phải bằng những chuyện li kì, biến
cố rùng rợn, những con người phi thường như những cuốn tiểu thuyết trước
Kết cấu của Hồng lâu mộng là kết cấu đa tuyến đồ sộ, mạch lạc Sự việc trong mỗi chương mỗi hồi có sự mạch lạc nhưng hết sức trọn vẹn, hết sự việc này đến sự việc khác diễn ra VD trong hồi 31, kết cấu cốt truyện xuyên suốt là những tiểu tiết trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày trong phủ Giả: từ việc Tập Nhân bị khạc ra máu và được Bảo Ngọc lo lắng tận tâm, tiệc rượu vào dịp tết Đoan Dương của Giả phu nhân, đến chuyện Tình Văn làm gãy nan quạt hay cuộc trò chuyện của phụ nữ
ở phủ Giả Có thể nói, mỗi hồi là mỗi câu chuyện và hành động trọn vẹn nhưng cũng không tách rời nhau, sang hồi khác thì lại là hành động và sự việc khác Sự phá
vỡ kết cấu truyền thống này thể hiện cái nhìn mới mẻ của tác giả cũng như mở ra chiều hướng giải quyết đa dạng cho tác phẩm
Về ngôn ngữ, Bởi nội dung tiểu thuyết là miêu tả về cuộc sống thường nhật bên cạnh những cảnh sinh hoạt đời thường của hai phủ Ninh – Giả nên ngôn ngữ mà Tào Tuyết Cần sử dụng ở đây là ngôn ngữ bạch thoại, thay vì sử dụng văn ngôn thì ông
sử dụng ngôn từ gần gũi, thân thuộc, giản dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày Bên cạnh đó, ngôn ngữ miêu tả tâm trạng nhân vật một cách trọn vẹn, phù hợp với trình tự phát triển tự nhiên của tâm lí, phù hợp với tính cách, vị thế và hoàn cảnh Không những thế, thông qua ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ta có thể hình dung được cá tính khác nhau của mỗi người, có các nhân vật cùng tuyến với nhau theo hướng tư tưởng mới, không chịu sự đè ép và chà đạp của tầng lớp trên lên quyền
Trang 11sống và tự do của con người, nhưng cũng thông qua ngôn ngữ đối thoại mà hiện lên
sự đố kị ganh ghét của họ Tiêu biểu như nhân vật Tình Văn với Tập Nhân: khi Tình Văn nghe Tập Nhân nói hai tiếng “chúng tôi” thì “trong bụng đâm ra ghen, liền cười nhạt mấy tiếng”: “ đừng để tôi phải hổ thẹn thay cho ai! Các người làm những việc thầm kín với nhau, giấu thế nào được tôi! Tôi cứ nói thẳng: ngay các cô nhà này cũng còn chưa với lên được, huống chi chị cũng như tôi, thế mà lại dám gọi “Chúng tôi” à?”, khiến cho Tập Nhân “xấu hổ, tím bầm mặt lại”, Có thể thấy, những lời nói bắt bẻ và bóc trần của Tình Văn với Tập Nhân đã thấy được nội tâm của cô ta, ghen ghét ra mặt và có sự đố kị Điều đó để có thể thấy rằng, thông qua ngôn ngữ chân thực và giản dị gần gũi với đời sống thường nhật, nhân vật trong tác phẩm hiện lên cũng chân thực, tính cách và nội tâm được bộc lộ một cách trọn vẹn cùng với các mối quan hệ của họ Đây cũng chính là một trong những điểm mới mẻ và sự khéo léo của Tào Tuyết Cần
KL: Có thể thấy, “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần là tiểu thuyết thế sự đặc sắc nhất của Trung Quốc, với sự khác biệt và mới mẻ về nghệ thuật cũng như luồng tư tưởng mới, thông qua việc miêu tả cuộc sống thường nhật của một gia đình quý tộc cũng như đã phản ánh một xã hội đầy biến động với sự thối nát, mục ruỗng, tác phẩm xứng danh trở thành món ăn tinh thần của quần chúng và được độc giả đón nhận một cách tích cực Quả xứng danh là tiểu thuyết vĩ đại, “Hồng lâu mộng đã đánh một dấu son vào lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc vào thời đại nhà Thanh” Chính vì vậy mà Hồng lâu mộng đã trở thành một kiệt tác “hiện thực không
tô vẽ” ( Lỗ Tấn)
Trang 12Câu 3
Giải thích và chứng minh nhận định của Nadim Hicmet, nhà thơ Thổ Nhĩ Kì về thơ R Tagore: “Tôi yêu thơ Tagore và nhạc Bath Tôi cóc cần cái vẻ thần bí của họ Tôi biết họ có điểm thần bí nhưng cái có nhiều nhất là lòng yêu cuộc sống, lòng tin cuộc đời Vì vậy mà Bath vẫn là rất lớn trong các nhạc
sĩ lớn nhất, Tagore vẫn lớn trong các thi sĩ lớn nhất” (Thơ Tagore, NXB Văn học, H, 1962, tr 31)
Mở bài
Giới thiệu hai tác giả
Đưa ra nhận định và hướng các tác phẩm sẽ đưa ra chứng minh
1 Thân bài
Johann Sebastian Bach là nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức Bach chào đời ở Eisenach trong một gia đình có truyền thống âm nhạc Cha ông phụ trách âm nhạc cho thị trấn, tất cả chú bác của ông đều hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp Ngay từ sớm, Bach đã được tiếp thu và học những nhạc cụ như: vĩ cầm, harpsichord, organ, Cuộc đời ông gặp nhiều thiệt thòi khi mất người thân từ khi còn nhỏ Năm 10 tuổi, ông đến sống với người anh cả Chính vì vậy, âm nhạc của ông cũng có sự ảnh hưởng
Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh từng nói về những nguồn mạch tạo nên tâm
hồn Tagore: “Tâm hồn Tagore được chung đúc từ cái trầm ngâm, sâu sắc, trừu
tượng và bình lặng của Ấn Độ hòa hợp với cái sôi nổi, phóng khoáng của văn học
tư sản Anh, trải qua sóng gió hiện thực cách mạng Ấn”
Rabindranath Tagore (1861-1941) là danh hào vĩ đại của Ấn Độ thời cận hiện đại Ông sinh ra trong một thời kì đầy biến động của lịch sử Ấn Độ Đó là thời đại
“Phục hưng Ấn Độ” Đây là thời kì đầy biến động và bế tắc khi nhiều phong trào xã hội, tôn giáo có tính cách mạng do các trí thức Ấn Độ phát động đã xuất hiện ở nhiều nơi mà Bengal – quê hương của Tagore là tâm điểm nhằm kết thúc Đêm trường trung
Trang 13cổ, đời sống người dân bị kìm hãm bởi sự thống trị của các tôn giáo thần bí siêu hình, chế độ đảng cấp lỗi thời, phi nhân tính, thêm đó là ách thống trị tàn ác của thực dân Anh Các phong trào đó đã đưa đất nước này vào thời kì Phục hưng sôi nổi Đến năm 1950, Ấn Độ chính thức trở thành một nước Cộng hòa độc lập Từ trong Đêm trường trung cổ, Ấn Độ đã trỗi dậy giống như con sư tử Châu Á thức tỉnh sau giấc ngủ nghìn năm Ảnh hưởng có ý nghĩa nhất mà phương Tây mang lại cho Ấn Độ là
sự thức tỉnh của ý thức dân tộc và ý thức về con người cá nhân Trong không khí thời đại, R.Tagore đã hướng tầm nhìn của mình tới những chân trời mới lạ
Gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp văn học của nhà
thơ vĩ đại này, R.Tagore xuất thân trong một gia đình thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu có truyền thống văn hóa rạng rỡ được biết đến như “gia đình của những vĩ nhân” Ông nội và cha ông đều là những nhà cải cách xã hội có đầu óc cấp tiến, phóng khoáng, có tinh thần dân tộc Trong 14 anh chị em của R.Tagore có nhiều người là nhân tài của Ấn Độ Trong lịch sử văn minh Ấn Độ, W.Durant nói về sự ảnh hưởng tiên quyết của điều kiện gia đình đối với R.Tagore: “Nhạc thơ và những câu chuyện
về những vấn đề cao thượng bao bọc lấy ông ta như không khí chúng ta thở”
Con người R.Tagore là một người có tư chất và tính cách hết sức đặc biệt
Ông từ nhỏ đã có tinh thần hiếu học, thông minh, chăm chỉ, có năng kiếu nghệ thuật, có ý chí nghị lực, tâm hồn phóng khoáng nhạy cảm, có cá tính mạnh mẽ
Trong sự nghiệp sáng tác suốt 65 năm của mình, R.Tagore để lại một sự nghiệp đồ sộ và phong phú trên nhiều lĩnh vực như hội họa – âm nhạc – văn học, Nhưng ông thành công hơn cả với thể loại thơ văn xuôi tiêu biểu là tập “Thơ Dâng” đoạt giải Nobel văn chương năm 1913 tập hợp hơn 103 bài thơ sáng tác theo thể thơ
Trang 14Nội dung thơ văn xuôi Tagore
Chứng minh nhận định “Tôi yêu thơ Tagore và nhạc Bach Tôi cóc cần cái vẻ
thần bí của họ Tôi biết họ có điểm thần bí nhưng cái có nhiều nhất là lòng yêu cuộc sống, lòng tin cuộc đời”
Thơ R.Tagore hàm chứa những nội dung phong phú nhưng dù viết về đề tài nào, ông cũng thể hiện tình yêu cuộc sống và con người tha thiết Ông là một “người
tình” say đắm của cuộc đời “Trong tất cả mọi cái gì đang tồn tại, trong tất cả mọi
cái gì sẽ tồn tại, Con Người và sẽ là tối cao”
• Tinh thần nhân văn cao cả
Tago là “nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại” (Néru), tinh thần nhân đạo của ông
kế thừa từ truyền thống nhân đạo của nhân dân Ấn Độ qua nền văn học cổ điển từ kinh Veda, còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo và nền văn hóa phục hưng Phương Tây
Với cái nhìn của một trí tuệ sáng suốt và một trái tim yêu thương con người, R.Tagore đã cố gắng đưa tâm trí người Ấn Độ từ hư vô hướng về thực tại, tìm thấy niềm hoan lạc trong sự gắn bó với đời sống trần thế:
Này em yêu, ánh sáng nhảy múa giữa lòng cuộc đời anh đang sống! Này em yêu, ánh sáng đang gảy khúc nhạc tình trong tim anh
Trời mở rộng, gió ùa man rợ, trái đất ngập đầy tiếng cười
➔ Sầu phân ly bao trùm thế giới và sinh ra muôn vàn hình thù trên trời bao la
Buồn phân ly đêm đêm lặng ngắm sao trời, rồi trở nên mơ màng giữa
lá cây rì rào, dưới màn mưa tối mùa Thu
Khổ mênh mông đi vào tình yêu, ước muốn, vui sướng, đớn đau trong
Trang 15gia đình nhân thế; và qua tâm hồn tôi thi sĩ buồn sầu ấy đã hòa tan, tuôn chảy thành những bài ca
(Thơ Dâng) Ngay cả trước cái chết nỗi đau khổ lớn nhất trong cuộc đời con người, nhà thơ cũng không hề thấy sợ hãi Bởi được sống trong cuộc sống tươi đẹp này là một niềm hạnh phúc và khi phải từ giã, nhà thơ không có gì phải ân hận hối tiếc Đối với nhà thơ Thần Chết như một người bạn, vị hôn phu đang chờ ngày cưới
Nhà thơ yêu cuộc sống bằng tình yêu của một tín đồ trước Chúa Đó là tình yêu của một con người dành cho cuộc đời với niềm khao khát được giao cảm, gắn
bó, được dâng lòng thành kính thiêng liêng
➔ Thơ Tagore ca ngợi vẻ đẹp cao quý của con người, thái độ đề cao con người,
phủ nhận vai trò của thần thánh Đây là cốt lõi thuyết phiếm thần của ông Triết học của Tagore vì vậy thực chất là triết học nhân sinh mà nền tảng là tình yêu và sự đề cao con người Con người với ông được xem như một thực thể hoàn hảo, toàn mỹ Tuy nhiên, để có được sự hoàn thiện đó, con người đã phải trải qua một quá trình tiến hóa cả về thể xác, tinh thần, trí tuệ và đạo đức, cái thiện R.Tagore đã sáng tạo ra “Tôn giáo Con Người” để chống lại các tôn giáo siêu hình, phủ nhận thực tại, hướng con người tới hư vô Coi con người
là hiện thân tối cao của Thượng Đế Chúa không tồn tại đâu xa, “Chúa ở trong anh, Chúa chính là anh”
• Tinh thần nhân đạo, yêu nước
Không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của con người và cuộc sống, Tagore cũng chú ý đến
nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đấu tranh quyết liệt với những thế lực thống trị để mang đến cho con người một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhà thơ quan tâm đến những người dân trên đất nước ông, quan tâm đến tự do về mặt xã hội của họ
Trẻ em là đối tượng được nhà thơ dành cho mối quan tâm nhiệt thành nhất
Trong xã hội Ấn Độ cũ chìm đắm dưới ách thống trị của thực dân, chế độ phân biệt gia cấp nghiệt ngã, những thành kiến, hủ tục lạc hậu lỗi thời, trẻ em phải chịu nhiều thiếu thốn về vật chất, đầy đọa, thiếu thốn về mặt tinh thần
Nhà thơ cũng bày tỏ mối cảm thông chân thành đối với thân phận bất hạnh
Trang 16của những người phụ nữ Phụ nữ Ấn Độ là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu, dã
man, nô lệ của vương quyền, thần quyền hay ngay chính người chồng của họ Vì vậy, ông lên tiếng phê phán xã hội đối xử nghiệt ngã với người phụ nữ Tagore kêu gọi, động viên họ đứng lên đấu tranh giành tự do, hạnh phúc, nữ quyền
Tagore cũng đồng cảm với những người lao động làm việc cần cù, lam lũ “thợ
cày nai lưng cày đất cằn sỏi cứng”; “người làm đường đập đá, vất vả dãi nắng dầm mưa, áo quần lấm bụi”, nhưng vẫn không đủ ăn chỉ vì sưu cao thuế nặng Muốn thoát khỏi sự bóc lột của vua chúa, họ đành phải trốn vào trong lao động và cả trong những giấc mơ nhưng không trốn nổi
Nhà thơ còn lên tiếng đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người Tự do đối với ông cũng là giải phóng con người, đất nước Ấn Độ ra khỏi xiềng xích của thực dân, phong kiến, nô lệ và cường quyền
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Tagore không chỉ chú ý đến người dân trên đất nước ông Đối tượng quan tâm của nhà thơ là tất cả người dân nô lệ trên toàn thế giới Từ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, tư tưởng của nhà thơ đã vươn tới tầm chủ nghĩa nhân đạo quốc tế cao cả
• Người tình của thiên nhiên xứ sở
Theo truyền thống Hindu giáo, con người và vạn vật – những Linh hồn cá thể
là những mảnh nhỏ của Linh hồn vũ trụ Xuất phát từ quan niệm đó, người Ấn Độ
đề cao mối quan hệ hòa hợp giữa con người với thiên nhiên
Từ đó, ông chủ trương một triết lý hòa hợp giữa cá nhân và vũ trụ, giữa cá
nhân và tha nhân Tagore rất gắn bó với thiên nhiên, ông yêu thiên nhiên say đắm bằng trái tim của một người tình
Một điều đáng chú ý là thiên nhiên trong thơ Tagore bao giờ cũng thuộc về
xứ sở Ấn Độ, tuyệt nhiên không có hình ảnh của một xứ sở nào khác Đó là sự kế
thừa ý thức dân tộc sâu sắc Vì nhà thơ rất yêu và gắn bó với thiên nhiên Ấn Độ bình
dị mà tươi đẹp, lãng mạn Ông viết: “Ngay từ lúc còn bé, tôi đã rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên, rất thích gần gũi thân mật với cây cối, với mây và như nhập vào trong bản nhạc của các mùa trong không khí”
• “Người làm vườn tình ái”
Trang 17Tagore là nhà thơ tình nổi tiếng thế giới Nhiều tập thơ của ông viết về đề tài
tình yêu, tiêu biểu là tập “Người làm vườn”, nhà thơ tự nhận mình là người làm vườn, chăm sóc cho khu vườn tình ái của nhân gian nở rộ hoa và ngát hương thơm
R.Tagore khẳng định tình yêu là một tình cảm nhân bản cao quý, tình yêu là hạnh phúc Tình yêu khiến cho cuộc đời trở nên có ý nghĩa hơn Yêu và được yêu –
đó là thông điệp đầy tự hào mà con người muốn gửi lại trước lúc ra đi vĩnh viễn sang thế giới bên kia
• Nghệ thuật trong thơ Tagore
Bút pháp hiện thực, lãng mạn, huyền ảo, triết lí Vận dụng những biện pháp
nghệ thuật tượng trưng, ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, những hình ảnh mang tính biểu trưng như: Cánh chim là tình yêu tự do, phóng khoáng Bông hoa là tình yêu tinh thần cao đẹp, Thiên nhiên vô tri nhưng dưới ngòi bút của ông lại trở nên vô cùng sống động
Giọng điệu tâm tình trò chuyện và giọng điều triết lí - Một trong những yếu
tố nghệ thuật làm nên sự sự tinh tế trong ngòi bút trữ tình của Tagore Mỗi bài thơ của ông thường là một “lời thì thầm nhè nhẹ” của nhân vật trữ tình với đối tượng cảm xúc Ngoài ra nhà thơ còn kết hợp với giọng điệu triết lí Ông thường định nghĩa lại các khái niệm quen thuộc như sự sống – cái chết, hạnh phúc - tình yêu, thiên đường – địa ngục,
• Nghệ thuật khơi gợi (dhvani).
Trang 18Câu 3: Thơ Haiku ( đặc điểm, 3 bài thơ nổi bật)
Thơ Haiku xuất hiện ở giai đoạn văn học trung đại vào thời hậu kỳ cùng với tiểu thuyết Nhật Bản Văn học thời kỳ này tràn đầy sức sống và tính hiện thực
Đặc điểm của thơ Haiku:
- 3 dòng 17/19, ngắt nhịp 5/7/5
- sử dụng quý đề, quý ngữ như là nguyên tắc bắt buộc
- Nói ít, gợi nhiều, gợi dậy những vấn đề triết lý nhân sinh sâu sắc
- Thể thơ mang đậm vẻ đẹp truyền thống văn học Nhật
- Một trong những thể thơ kiệm lời nhất thế giới
- Một trong những hiện tượng thơ độc đáo trong lịch sử thi ca nhân loại tác giả tiêu biểu: Basho, Buson, Issa
+Đặc điểm nội dung:
Đề tài trong thơ Haiku cổ điển bao giờ cũng là thiên nhiên bốn mùa (được gọi là quý đề) Hình tượng thơ là những con vật nhỏ bé, cảnh vật bình dị, sự vật nhỏ nhoi, đa dạng của thiên nhiên-> bộc lộ những rung cảm hồn nhiên, chân thành, giản dị mang sắc thái tâm hồn Nhật
Trong thế giới thiên nhiên mộc mạc, xuất hiện nhiều sinh vật nhỏ bé, tầm thường( cua, ốc, cóc, ếch, ) Chúng sống hoạt động tự do, hồn nhiên, bình đẳng cùng vạn vật trong vũ trụ
Mỗi bài là 1 khoảnh khắc bất chợt của thiên nhiên 4 mùa-> thể hiện nhịp điệu của thiên nhiên và đời sống; sự hòa hợp con người- thiên nhiên
Đặc trưng đó của thơ Haiku bắt nguồn từ những nguyên lý cốt yếu của:
+Thần đạo( VH bản địa): tôn thờ thiên nhiên, linh thiêng hóa các sự vật bé nhỏ của
tự nhiên
+Thiền tông( VH du nhập)
+Bản chất thực tại của cuộc sống vốn hiện hữu trong các sự vật và sinh hoạt đời thường
+Con người người chỉ sống trong khoảnh khắc hiện tại
Triết lý Thiền Tông:
+vạn vật trương giao, hòa hợp Vật chất trong vũ trụ tồn tại và tác động lẫn nhau