Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực này vẫn còn những hạn chế nhất định chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra vụ án vi phạm
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; theo đó Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác
Từ quy định tại Điều 260 BLHS, có thể khái quát tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, xâm phạm sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác
Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm, xâm phạm trật tự an toàn giao thông và gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác Để ngăn chặn tình trạng này, Nhà nước đã quy định tội phạm và hình phạt đối với những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cao Chỉ những hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng hoặc sức khỏe, tài sản của người khác, và có khả năng dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời mới bị coi là tội phạm hình sự.
Thứ hai, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc cấu thành của tội phạm
Hành vi vi phạm quy định giao thông đường bộ chỉ cấu thành tội phạm khi gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 của điều luật Tội phạm này có tính chất vật chất, nghĩa là trách nhiệm hình sự chỉ được xem xét khi có hậu quả xảy ra Theo khoản 1 Điều 260, hậu quả của hành vi vi phạm có thể bao gồm: a) Làm chết người; b) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương từ 61% trở lên; c) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Chỉ khi có hậu quả xảy ra, và hậu quả đó gây thiệt hại cho tính mạng, thương tích hoặc sức khỏe của người khác với một tỷ lệ nhất định, hoặc gây thiệt hại về tài sản ở mức độ nhất định, thì người phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, tội này thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả
Người vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ có thể tự tin vào hành vi của mình, mặc dù họ nhận thức được rằng hành động đó có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Tuy nhiên, họ thường cho rằng những hậu quả này sẽ không xảy ra hoặc có thể được ngăn chặn.
Hành vi vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ do sự cẩu thả có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù người vi phạm có khả năng nhận thức và dự đoán được những hệ lụy từ hành động của mình.
Thứ tư, về chủ thể của tội phạm
Là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự được xem là tội phạm nghiêm trọng Các quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều này cũng nêu rõ các hình thức vi phạm khác nhau.
Tội phạm theo Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS) được phân loại thành hai mức độ: tội phạm rất nghiêm trọng tại khoản 4 và tội phạm ít nghiêm trọng tại khoản 5 Đối với những người từ 14 đến dưới 16 tuổi, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự cho các tội phạm này, vì chúng thường xảy ra do vô ý và không có trường hợp nào được coi là tội đặc biệt nghiêm trọng.
Chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 BLHS bao gồm những người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.2.1 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Kiểm sát hoạt động điều tra là một phần quan trọng trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Để hiểu rõ về khái niệm kiểm sát điều tra, trước tiên cần nắm bắt định nghĩa về kiểm sát hoạt động tư pháp.
Hiến pháp năm 2013 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã cụ thể hóa quy định này, nhấn mạnh hai chức năng chính của Viện kiểm sát: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 107 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi) và Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một chức năng quan trọng và căn bản của VKSND Điều này tạo nên sự khác biệt trong hoạt động của Viện kiểm sát nước ta, khi không chỉ thực hiện quyền công tố mà còn kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một hình thức giám sát Nhà nước về tư pháp, mang tính quyền lực Nhà nước Khác với giám sát Nhà nước chung, kiểm sát này tập trung vào việc giám sát trực tiếp các hoạt động của cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất Chức năng này có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Do đó, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự được định nghĩa là chức năng hiến định của VKS, với nội dung giám sát trực tiếp các hoạt động của cơ quan tư pháp trong giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất pháp luật tố tụng hình sự.
Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự là một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và công bằng của quá trình tố tụng hình sự Điều này bao gồm việc theo dõi, đánh giá và đảm bảo rằng các hoạt động điều tra được thực hiện đúng quy định pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì trật tự xã hội.
Chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện Kiểm sát (VKS) là kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Cơ quan Điều tra (CQĐT) và các cơ quan khác liên quan Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo rằng việc khởi tố và điều tra được thực hiện đúng người, đúng tội, và đúng pháp luật, đồng thời ngăn chặn việc bỏ sót tội phạm và oan sai cho người vô tội Hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ VKS, với các nhiệm vụ và quyền hạn được quy định bởi luật pháp để đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự Do đó, kiểm sát hoạt động điều tra là việc VKS giám sát sự tuân thủ pháp luật của điều tra viên và các cá nhân liên quan, nhằm đảm bảo rằng tất cả các hoạt động điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Công tác kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là việc Viện kiểm sát thực hiện quyền năng pháp lý để giám sát sự tuân thủ pháp luật trong các hoạt động của Cơ quan điều tra và các cá nhân liên quan Mục tiêu là đảm bảo quá trình điều tra diễn ra đúng quy định, không bỏ sót tội phạm và không làm oan người vô tội.
1.1.2.2 Đối tượng, phạm vi kiểm sát hoạt động điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Từ những quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm
Nội dung kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Công tác kiểm sát hoạt động điều tra, cùng với việc thực hành quyền công tố, đã đóng góp quan trọng trong việc giáo dục người vi phạm giao thông, nâng cao ý thức tham gia giao thông cho cộng đồng Điều này không chỉ giúp răn đe mà còn phổ biến tuyên truyền pháp luật, đồng thời kiến nghị các cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm liên quan đến giao thông đường bộ.
1.2 Nội dung kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.2.1 Kiểm sát việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.2.1.1 Kiểm sát khởi tố vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Theo Điều 166 BLTTHS và các quy định liên quan, sau khi CQĐT chuyển hồ sơ vụ án đến VKS, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án Việc này bao gồm nghiên cứu các tài liệu như biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, và lời khai của người bị hại hoặc nhân chứng để xác định yếu tố lỗi của người gây ra tai nạn Kiểm sát viên cũng cần kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố và các tài liệu liên quan, đồng thời đảm bảo việc tuân thủ các trình tự, thủ tục pháp luật trong quá trình thẩm tra, xác minh và thu thập chứng cứ.
1.2.1.2 Kiểm sát việc khởi tố bị can, xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTHS và khoản 2 Điều 9 thông tư liên tịch số 04/2018, trong vòng 24 giờ kể từ khi quyết định khởi tố bị can được ban hành, cơ quan điều tra (CQĐT) phải gửi văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn Văn bản này cần nêu rõ lý lịch bị can, căn cứ khởi tố, tổng số tài liệu liên quan đến việc khởi tố, cũng như các thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can để Viện kiểm sát xem xét và phê chuẩn.
Theo Thông tư liên tịch số 04/2018, trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi nhận quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định này Đối với các vụ án vi phạm giao thông, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các tài liệu như công văn đề nghị, quyết định khởi tố vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ liên quan Đặc biệt, cần xác minh xem bị can có giấy phép lái xe hợp lệ hay không, và yêu cầu bổ sung tài liệu về nồng độ cồn Sau khi kiểm tra, nếu quyết định khởi tố là đúng, Kiểm sát viên sẽ đề xuất phê chuẩn; nếu không có căn cứ, sẽ đề xuất hủy bỏ; và nếu thiếu tài liệu, yêu cầu CQĐT bổ sung theo quy định tại Điều 85 BLTTHS.
1.2.2 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
Khi CQĐT quyết định khởi tố bị can, nếu cần thiết cho công tác điều tra, CQĐT sẽ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, các biện pháp ngăn chặn có thể bao gồm: tạm giam, bắt bị can để tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, và tạm hoãn xuất cảnh.
Biện pháp bắt bị can để tạm giam và biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 113 và Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Theo đó, Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam, cũng như ra lệnh tạm giam, nhưng cần phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thực hiện.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Quy chế THQCT và KSĐT, cùng với Điều 113 và Điều 119 BLTTHS, khi nhận đề nghị xét phê chuẩn từ CQĐT, Kiểm sát viên cần kiểm tra tài liệu và chứng cứ để xác định thẩm quyền, đối tượng và điều kiện tạm giam Nếu có đủ căn cứ để tạm giam bị can, Kiểm sát viên sẽ phê chuẩn và hoàn trả hồ sơ cho CQĐT Trong trường hợp chưa rõ căn cứ, Kiểm sát viên sẽ yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu và chứng cứ để xem xét quyết định phê chuẩn.
Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú: Theo quy dịnh tại khoản 1 Điều
Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn áp dụng cho bị can có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng, nhằm đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.
Theo Điều 19 Quy chế THQCT và KSĐT, Kiểm sát viên phải kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của CQĐT, đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ Kiểm sát viên cần đối chiếu với Điều 123 BLTTHS để xác định đúng đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp này Cần làm rõ liệu người bị cấm đi khỏi nơi cư trú có phải là bị can hay không, và xem xét nơi cư trú cũng như lý lịch của họ để đánh giá nhân thân.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLTTHS, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm tra thẩm quyền và thủ tục ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú Cần xác minh xem bị can có làm giấy cam đoan hay không, và liệu người ra lệnh có thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị can cư trú để quản lý và theo dõi hay không Thủ tục bàn giao cần được thực hiện đúng quy định, đồng thời cần xác định xem có sự đồng ý của chính quyền địa phương khi bị can rời khỏi nơi cư trú hay không, cũng như có vi phạm lệnh cấm hay không.
Trong quá trình kiểm sát, khi phát hiện vi phạm trong việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên cần báo cáo lãnh đạo Viện để yêu cầu khắc phục những thiếu sót và vi phạm đó.
Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo Điều 124 BLTTHS yêu cầu kiểm sát viên giám sát chặt chẽ việc áp dụng Biện pháp này chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho thấy có dấu hiệu bỏ trốn Thẩm quyền ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát trước khi thi hành Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được vượt quá thời gian điều tra theo quy định của BLTTHS.
Trong quá trình kiểm sát, khi phát hiện vi phạm trong việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh của cơ quan điều tra, Kiểm sát viên cần báo cáo lãnh đạo Viện để yêu cầu khắc phục các thiếu sót và vi phạm.
1.2.3 Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.2.3.1 Kiểm sát việc hỏi cung bị can
Kiểm sát việc hỏi cung bị can là hoạt động của Kiểm sát viên, được thực hiện theo quyền hạn quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Mục đích của hoạt động này là giám sát việc tuân thủ pháp luật của Điều tra viên trong quá trình hỏi cung, nhằm đảm bảo rằng việc hỏi cung diễn ra một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.
Có hai hình thức kiểm sát hỏi cung bị can: Thứ nhất, Kiểm sát viên trực tiếp hỏi cung bị can Trong các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trường hợp này rất hiếm khi xảy ra do lỗi thường là vô ý và bị can thường thành khẩn khai báo để được giảm nhẹ hình phạt Tuy nhiên, trong một số vụ án, Kiểm sát viên cần trực tiếp hỏi cung khi bị can chối tội hoặc kêu oan Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát, Kiểm sát viên phải chủ động nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ vụ án, tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường và tử thi (nếu có), từ đó đưa ra nhận xét về nguyên nhân vụ tai nạn, xác định lỗi của bị can và các vấn đề còn mâu thuẫn để chuẩn bị cho quá trình hỏi cung.
Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Để hiểu mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, trước tiên cần làm rõ khái niệm thực hành quyền công tố là gì.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, nhằm buộc tội người phạm tội từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho đến khi xét xử Viện kiểm sát có chức năng yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố, đề ra yêu cầu điều tra, và quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn Ngoài ra, Viện kiểm sát còn có quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định của cơ quan điều tra, cũng như quyết định việc truy tố hoặc đình chỉ vụ án Phân tích mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn điều tra các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và tác động lẫn nhau, chỉ một số hoạt động là độc lập Mục đích của thực hành quyền công tố là chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội, đảm bảo không bỏ sót tội phạm và không làm oan người vô tội Kiểm sát hoạt động điều tra nhằm phát hiện vi phạm, kiến nghị khắc phục để đảm bảo tính chính xác và khách quan trong điều tra Hiệu quả của kiểm sát sẽ giúp VKS thực hiện tốt chức năng công tố, trong khi thực hành quyền công tố hiệu quả cũng hỗ trợ việc phát hiện vi phạm trong điều tra Cả hai hoạt động này cần được thực hiện đồng thời để đảm bảo không có ai bị khởi tố, bắt giữ trái pháp luật, và việc điều tra phải khách quan, toàn diện, chính xác Do đó, trong tố tụng, VKS không thể tách rời thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã trình bày rõ ràng về khái niệm, đặc điểm và nội dung của thực hành quyền công tố, cũng như mối quan hệ giữa quyền công tố và kiểm sát điều tra trong các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Viện Kiểm sát Nhân dân (Viện KSND) đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Phân tích nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng của Viện KSND giúp xây dựng cơ sở pháp lý cho việc áp dụng luật trong thực tiễn công tác Đồng thời, việc nâng cao vai trò của Viện KSND và năng lực của kiểm sát viên là cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong việc xử lý các vụ án liên quan đến giao thông.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình tội phạm, cơ cấu bộ máy của VKSND tỉnh Nam Định
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định liên quan đến hoạt động kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tỉnh Nam Định, nằm ở phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, có diện tích khoảng 1.668 km² Tỉnh này tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, và tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, đồng thời giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông.
Tỉnh có 52 trong 63 tỉnh thành, với địa hình chủ yếu bằng phẳng, bao gồm hai vùng chính: vùng đồng bằng thấp trũng và vùng đồng bằng ven biển Phía Tây Bắc tỉnh có một số đồi núi thấp, và tổng dân số khoảng 1,85 triệu người.
Hệ thống giao thông vận tải của tỉnh Nam Định được đầu tư đồng bộ với mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và cảng biển, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các tuyến đường huyết mạch như cao tốc Hà Nội - Ninh Bình, Quốc lộ 21, và Quốc lộ 10 đã được nâng cấp để kết nối với hệ thống giao thông quốc gia Tỉnh cũng đã quy hoạch các tuyến đường quan trọng như tuyến đường trục nối cao tốc Bắc Nam và tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh Đồng thời, tỉnh đã cải tạo và xây mới hơn 2.500 km giao thông nông thôn và gần 3.000 cầu, cống dân sinh Mặc dù có nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển, tỉnh cũng đối mặt với tình trạng tội phạm hình sự, đặc biệt là vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến chất lượng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
2.1.2 Tình hình tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm 2016 – 2021
Từ số liệu thống kê của VKSND tỉnh Nam Định trong giai đoạn từ 01/12/2016 đến 30/11/2021, toàn tỉnh ghi nhận 514 vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Tất cả 514 vụ đều có Kiểm sát viên tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, đạt tỷ lệ 100%, và đã chuyển xử lý hình sự 410 vụ Trong số này, có 348 người chết và 264 người bị thương.
Số vụ án và bị can khởi tố về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ đã được thống kê cụ thể theo từng năm, như thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 2.1: Số vụ án, bị can về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đã được khởi tố
Tổng số vụ án, bị can đã khởi tố
Tổng số vụ án, bị can đã khởi tố về trật tự xã hội
Tổng số vụ án, bị can về tội VPQĐVTGGTĐB
Tỷ lệ án VPQĐVTGGTĐB so với án trật tự xã hội
Vụ án Bị can Vụ án Bị can Vụ án Bị can Vụ án Bị can
Tỷ lệ số vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Nam Định chiếm khoảng 25% tổng số án trật tự xã hội, nhưng đã tăng qua từng năm, đặc biệt năm 2021 ghi nhận 128 vụ án, tăng 24% so với năm 2020 Mặc dù các cơ quan chức năng đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để giảm thiểu tai nạn giao thông, tình hình vẫn không cải thiện Năm 2021, số vụ tai nạn giao thông giảm do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng số vụ án vi phạm vẫn gia tăng, cho thấy ý thức chấp hành giao thông của người dân chưa cao Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông nghiêm trọng chủ yếu là do lỗi của người điều khiển phương tiện, như vi phạm tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/9/2018 tại tỉnh lộ 487 thuộc địa phận thôn Đạo Quỹ, xã Nam Tiến, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn Bình ở thôn Đồng Quỹ, xã Nam Tiến, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô BKS 18B2-077.66 có dung tích xi lanh động cơ 110 cm 3 đi trên tỉnh lộ 487 theo hướng từ xã Nam Tiến đi xã Đồng Sơn (hướng Đông - Tây) đã không giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ qua đường đã xô vào ông Tạ Văn Dương - sinh năm 1969, trú ở thôn Đạo Quỹ, xã Nam Tiến, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định đang đi bộ từ bên trái sang bên phải đường tại phần đường bên phải theo hướng đi của xe mô tô, làm ông Dương bị tử vong do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ
Vào ngày 11/9/2021, Phạm Văn Khoa đã điều khiển xe mô tô BKS 18F7-7462, có dung tích xi lanh 100 cm³, chở Nguyễn Thanh Tùng, sinh năm 1990, tại thôn Đông Hạ, xã Trung Đông, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Họ tham gia giao thông trên đường xóm đến khu vực ngã tư giao với đường liên xã WB3 thuộc tổ dân phố Đông Đò, thị trấn Cổ.
Khoa có tầm nhìn hạn chế nhưng không chú ý quan sát và không nhường đường theo quy định Hành động không giảm tốc độ đã dẫn đến việc xe mô tô của Khoa va chạm với xe mô tô không có biển kiểm soát do ông Bùi Văn Điều điều khiển.
1962 ở thôn Cự Trữ 2, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định điều khiển đi trên đường liên xã Hậu quả làm ông Bùi Văn Điều tử vong