1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen thi minh thuy 20230331111624 e 3392

87 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thúy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Khoát
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 833,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi và đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố (16)
    • 1.1.1. Khái niệm (16)
    • 1.1.2. Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (20)
    • 1.1.3. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (21)
  • 1.2. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (23)
    • 1.2.1. Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (23)
    • 1.2.2. Thực hành quyền công tố trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (26)
    • 1.2.3. Thực hành quyền công tố đối với các hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (32)
    • 1.2.4. Thực hành quyền công tố, kiểm sát các quyết định tố tụng (40)
    • 1.2.5. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS (42)
  • 1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (44)
  • CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG (0)
    • 2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc (47)
    • 2.3. Những hạn chế, thiếu xót và nguyên nhân trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (57)
      • 2.3.1. Những hạn chế, thiếu xót trong hoạt động thực hành quyền công tố (57)
      • 2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế, thiếu xót trong hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (61)
  • CHƯƠNG 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH BẮC GIANG (0)
    • 3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc (68)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc (71)
      • 3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (71)
      • 3.2.2. Nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, phẩm chất và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ kiểm sát (74)
      • 3.2.3. Đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (76)
      • 3.2.4. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (79)
  • KẾT LUẬN (42)

Nội dung

Khái niệm, đối tượng, phạm vi và đặc điểm hoạt động thực hành quyền công tố

Khái niệm

Để hiểu rõ khái niệm THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cần phân tích từng khái niệm liên quan.

Khái niệm thực hành quyền công tố và THQCT là hai thuật ngữ quan trọng trong tố tụng hình sự, phản ánh chức năng của Viện Kiểm sát (VKS) Việc làm rõ khái niệm này không chỉ xác định vị trí và chức năng của VKS trong bộ máy nhà nước mà còn củng cố mối quan hệ giữa VKS và các cơ quan tư pháp khác Quyền công tố được hiểu là quyền của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, theo định nghĩa từ từ điển Luật học Sổ tay thuật ngữ pháp lý cũng khẳng định quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước để truy tố những người vi phạm pháp luật, với hành vi được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa rõ ràng về quyền công tố, dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau trong lý luận pháp luật tố tụng hình sự Một số ý kiến cho rằng quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng theo luật tố tụng hình sự để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra, truy tố và buộc tội người phạm tội, nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền tự do của con người và lợi ích xã hội Tuy nhiên, chức năng công tố và chức năng kiểm sát không phải là một, mà là hai khái niệm độc lập có mối quan hệ tương tác Một quan điểm khác lại cho rằng quyền công tố chỉ là quyền của Nhà nước giao cho Viện Kiểm sát truy tố tội phạm tại Tòa án, với nội dung chủ yếu là đưa ra các lời buộc tội cụ thể và chứng minh tính hợp pháp của cáo trạng tại phiên tòa sơ thẩm, từ đó thu hẹp khái niệm và phạm vi của quyền công tố.

Mặc dù các quan điểm về quyền công tố có những khía cạnh hợp lý, nhưng hiện tại chúng đã bộc lộ một số bất cập Các quan điểm này không phân định rõ ràng khái niệm và nội dung của quyền công tố, dẫn đến việc đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát của VKS, từ đó mở rộng phạm vi quyền công tố ra ngoài lĩnh vực tố tụng hình sự Quyền công tố được hiểu là quyền nhân danh Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, và quyền này thuộc về Nhà nước, được giao cho VKS để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự Tại Việt Nam, quyền công tố chỉ được giao cho VKS, không có cơ quan nào khác có thể thay thế.

Quyền công tố là quyền của Nhà nước, được giao cho Viện Kiểm sát (VKS), nhằm thực hiện việc buộc tội người phạm tội Quyền này dựa trên việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó trong phiên tòa.

Khái niệm THQCT được định nghĩa lần đầu tiên trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 tại Khoản 1, Điều 3, nêu rõ rằng THQCT là hoạt động của VKSND trong TTHS nhằm buộc tội người phạm tội, bắt đầu từ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kéo dài suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Định nghĩa này không chỉ bao hàm bản chất của THQCT mà còn mở rộng phạm vi hoạt động, bao gồm cả công tác giải quyết tin báo và tố giác tội phạm, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, nhằm nâng cao trách nhiệm của VKS trong vai trò buộc tội tại phiên tòa hình sự.

Khái niệm vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản liên quan đến các vụ việc có dấu hiệu tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) Những vụ án này được cơ quan có thẩm quyền khởi tố để tiến hành điều tra, truy tố và xét xử theo quy trình đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 của BLHS.

Bộ luật hình sự 2015 quy định hành vi nguy hiểm cho xã hội khi người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình Hành vi này có thể diễn ra qua các thủ đoạn như vay, mượn, thuê tài sản hoặc ký hợp đồng nhận tài sản, sau đó sử dụng gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt Ngoài ra, việc không trả lại tài sản dù có khả năng, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp cũng xâm phạm quyền sở hữu tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác và chiếm đoạt tài sản đó bằng thủ đoạn gian dối hoặc cố tình không trả lại tài sản khi đến hạn, mặc dù có khả năng, được coi là tội phạm Người phạm tội nhận tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp nhưng sau đó lừa dối để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản Dấu hiệu "cố tình không trả" thể hiện rõ khi người phạm tội có khả năng hoàn trả nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ, ngay cả khi đã có yêu cầu từ chủ sở hữu và sự can thiệp của cơ quan chức năng.

Hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản được coi là tội phạm Người phạm tội đã ký kết hợp đồng hợp pháp nhưng sau đó chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng vào các hoạt động như buôn lậu, đánh bạc, hay làm hàng giả Ngược lại, nếu tài sản được nhận và sử dụng cho mục đích hợp pháp nhưng gặp thua lỗ, dẫn đến không thể trả lại, thì không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Dựa trên những phân tích đã trình bày, định nghĩa về THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể được xác định như sau:

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc Viện Kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý để buộc tội người phạm tội Quá trình này diễn ra từ khi có quyết định khởi tố vụ án cho đến khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Qua định nghĩa trên, có thể thấy:

THQCT là nhiệm vụ và quyền hạn của Viện Kiểm sát (VKS) trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trong giai đoạn điều tra, VKS thực hiện các hoạt động theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội Điều này đảm bảo VKS thực hiện chức năng THQCT mà Nhà nước giao phó, đưa người phạm tội ra truy tố trước Tòa án Theo Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, THQCT trong giai đoạn điều tra là hoạt động của VKS nhằm buộc tội người phạm tội, bắt đầu từ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho đến suốt quá trình khởi tố và điều tra vụ án.

Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Việc hiểu rõ phạm vi và đối tượng của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là rất quan trọng Chỉ khi xác định đúng phạm vi, VKS mới có thể thực hiện đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ và nhiệm vụ quyền hạn theo luật định, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả THQCT trong điều tra các vụ án hình sự, đặc biệt là vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Thứ nhất, phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Theo Điều 3, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, thực hành quyền công tố (THQCT) là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự nhằm buộc tội người phạm tội, bắt đầu từ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho đến khi kết thúc vụ án Điều 159 và Điều 165 BLHS năm 2015 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong việc THQCT liên quan đến nguồn tin về tội phạm và trong giai đoạn điều tra Quy chế tạm thời công tác THQCT, ban hành kèm theo Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 và Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/04/2020, xác định phạm vi THQCT trong điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bắt đầu từ khi giải quyết tố giác và kéo dài đến khi có kết luận điều tra và đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án.

Trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đối tượng của quyền công tố là yếu tố quan trọng mà quyền công tố tác động tới để truy cứu trách nhiệm hình sự Đối tượng này bao gồm tội phạm và người phạm tội, vì vậy, đối tượng của THQCT cũng chính là đối tượng của quyền công tố.

Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Để thực hiện hiệu quả hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cần nắm vững đặc điểm của tội phạm và nội dung cơ bản của công tác THQCT, đồng thời xác định những đặc điểm riêng biệt của hoạt động này.

Chức năng THQCT được thực hiện duy nhất bởi cơ quan VKSND, thể hiện quyền lực Nhà nước và mục đích bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời Điều này nhằm ngăn chặn việc lọt tội phạm và người phạm tội, đồng thời tránh làm oan người vô tội Việc điều tra cần phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

Nhà nước giao cho một cơ quan duy nhất là VKS, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được

Trong quá trình THQCT vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cần làm rõ ý thức chiếm đoạt và các hành vi gian dối hoặc bỏ trốn của người phạm tội Những điểm quan trọng cần lưu ý bao gồm: (i) Người phạm tội có được tài sản hợp pháp qua hợp đồng vay, mượn hoặc hình thức khác, nhưng sau đó sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản, hoặc không trả tài sản dù có khả năng; (ii) Nếu không sử dụng thủ đoạn gian dối nhưng lại dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không thể trả lại, cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Để làm rõ vấn đề này, THQCT cần áp dụng hiệu quả các hoạt động điều tra như hỏi cung bị can và lấy lời khai từ người bị khai và nhân chứng.

Trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc định giá tài sản và xác định quyền sở hữu là rất quan trọng Đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt giúp xác định tội phạm và khung xử lý theo quy định của BLHS Bị can chỉ chịu trách nhiệm hình sự với tài sản thực tế đã chiếm đoạt, bao gồm cả tài sản của Nhà nước và của người khác Nếu người phạm tội vi phạm hợp đồng hoặc thỏa thuận, họ vẫn phải bồi thường Kiểm sát viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc định giá tài sản để yêu cầu CQĐT thực hiện đúng quy trình Nếu định giá không khách quan, cần báo cáo lãnh đạo để yêu cầu định giá lại hoặc giải thích kết quả.

Trong quá trình THQCT vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cần chú ý đến việc xác định tội danh, đặc biệt là phân biệt giữa Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Cả hai tội này đều liên quan đến việc người phạm tội sử dụng hợp đồng vay, mượn, cho thuê để chiếm đoạt tài sản của người khác Do đó, yếu tố quan trọng đầu tiên là xác định sự tồn tại của hợp đồng giao nhận tài sản giữa người phạm tội và chủ sở hữu Cần thu thập tài liệu chứng minh như hợp đồng, chứng từ, sổ sách, giấy nhận nợ, và lời khai của nhân chứng để xác thực việc vay mượn Đồng thời, khi lấy lời khai của bị can, cần làm rõ ý thức chiếm đoạt của họ, xác định thời điểm phát sinh ý thức này để làm căn cứ xác định tội danh Kiểm sát viên cũng cần yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ các vấn đề này và có thể trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra để chứng minh hành vi phạm tội.

Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

*THQCT trong việc khởi tố vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm.

Để xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cần dựa vào các căn cứ nhất định theo quy định tại Điều 143 BLTTHS Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thường thì nạn nhân chỉ trình báo khi phát hiện tài sản của mình bị chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Do đó, phần lớn các căn cứ khởi tố vụ án liên quan đến tội này chủ yếu xuất phát từ tố giác của người bị hại.

Theo Điều 153 BLTTHS, thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về CQĐT, VKS và HĐXX Khi CQĐT khởi tố vụ án, trong vòng 24 giờ sau khi ban hành quyết định khởi tố, CQĐT phải gửi quyết định cùng tài liệu liên quan đến VKS có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm sát.

Trong vòng 03 ngày kể từ khi nhận quyết định khởi tố vụ án hình sự và tài liệu liên quan, Kiểm sát viên được phân công có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định khởi tố Nếu cần thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố, việc này sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 44 Quy chế 111/QĐ-VKSTC.

* Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố bị can đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành, nhằm khởi tố đối với cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện hành vi được quy định là tội phạm theo Bộ luật Hình sự.

Theo Điều 60 BLTTHS năm 2015, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố hình sự Trong trường hợp tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chỉ có thể là người Quyết định khởi tố bị can trong vụ án này là văn bản tố tụng do cơ quan có thẩm quyền ban hành đối với người thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm theo Điều 175 BLHS năm 2015 Theo Điều 179 BLTTHS năm 2015, trong vòng 24 giờ sau khi ra quyết định khởi tố, CQĐT phải gửi quyết định và tài liệu liên quan cho VKS cùng cấp để phê chuẩn Hoạt động phê chuẩn này thuộc thẩm quyền của VKS, và trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được quyết định, KSV được phân công phải kiểm tra kỹ lưỡng quyết định cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo.

179, 180 BLTTHS, trong thời hạn này, VKS có thẩm quyền:

Trong trường hợp phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, nếu quyết định này có căn cứ, hợp pháp và đúng người, đúng tội, Viện kiểm sát sẽ ra quyết định phê chuẩn và gửi cho cơ quan điều tra kèm theo hồ sơ vụ án Sự phê chuẩn này thể hiện sự đồng ý của Viện kiểm sát với cơ quan điều tra, đồng thời thừa nhận hiệu lực của quyết định khởi tố bị can.

Trong trường hợp hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, nếu VKS xác định rằng quyết định này không có căn cứ sau khi nghiên cứu tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án, VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ và gửi cho CQĐT để thể hiện sự không đồng ý Kết quả là, quyết định khởi tố bị can của CQĐT sẽ mất hiệu lực.

Trong trường hợp yêu cầu bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu Viện Kiểm sát (VKS) phát hiện bị can thực hiện hành vi phạm tội khác ngoài tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy trình xử lý sẽ như sau: (1) Nếu tội phạm đã được khởi tố vụ án, VKS sẽ yêu cầu Cơ quan Điều tra (CQĐT) ra quyết định bổ sung khởi tố bị can và gửi quyết định đến VKS để phê chuẩn (2) Nếu tội phạm chưa được khởi tố, VKS yêu cầu CQĐT bổ sung quyết định khởi tố vụ án trước, sau đó mới bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi đến VKS để phê chuẩn Lưu ý rằng tội phạm mới phát hiện phải có liên quan trực tiếp đến tội phạm đã có quyết định khởi tố vụ án.

Trong trường hợp yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố bị can, có ba tình huống chính cần lưu ý Thứ nhất, nếu bị can không chỉ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm tội khác đã có quyết định khởi tố vụ án, cần yêu cầu CQĐT thay đổi quyết định khởi tố bị can và gửi đến VKS để phê chuẩn Thứ hai, nếu bị can phạm tội khác không thuộc các tội đã khởi tố, yêu cầu CQĐT thay đổi quyết định khởi tố vụ án trước, sau đó mới thay đổi quyết định khởi tố bị can và gửi đến VKS Cuối cùng, nếu thông tin về họ, tên, tuổi, hoặc nhân thân của bị can trong quyết định khởi tố không chính xác, cần yêu cầu CQĐT điều chỉnh và gửi quyết định đến VKS để phê chuẩn.

Trong trường hợp 5, VKS có thể yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can mới khi phát hiện bị can phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và thực hiện tội phạm mới chưa được xử lý VKS sẽ yêu cầu khởi tố vụ án mới về tội phạm này, sau đó ra quyết định khởi tố bị can và gửi đến VKS để xét phê chuẩn, đồng thời xem xét việc nhập vụ án theo quy định tại Điều 170 BLTTHS Lưu ý rằng tội phạm mới phải không liên quan đến các tội phạm đã có quyết định khởi tố trước đó.

Trong trường hợp VKS tự mình ban hành quyết định khởi tố bị can hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu CQĐT không thực hiện theo yêu cầu của VKS nhưng VKS vẫn thấy đủ căn cứ để khởi tố, thì VKS sẽ trực tiếp ban hành quyết định và chịu trách nhiệm Tuy nhiên, VKS không được khởi tố ngay mà chỉ thực hiện khi yêu cầu với CQĐT không có kết quả Ngoài ra, sau khi nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, nếu VKS phát hiện còn bị can hoặc tội phạm chưa bị khởi tố, VKS có quyền tự mình ban hành quyết định khởi tố.

Pháp luật đã thiết lập một cơ chế chặt chẽ nhằm hạn chế việc khởi tố bị can một cách tràn lan, từ đó giảm thiểu oan sai, đồng thời đảm bảo rằng mọi tội phạm đều phải bị khởi tố và xử lý theo đúng quy định Những quy định này không chỉ thể hiện rõ chức năng của Viện Kiểm sát (VKS) mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của VKS trong giai đoạn điều tra.

Thực hành quyền công tố trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

* Đối với các biện pháp ngăn chặn -Về việc áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Theo Điều 110 BLTTHS, trong mọi trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT phải thông báo cho VKS trong vòng 12 giờ kèm theo tài liệu liên quan VKS có trách nhiệm kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này Có ba căn cứ để CQĐT giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nhưng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thường chỉ áp dụng hai căn cứ: một là, người chứng kiến tội phạm xác nhận cần ngăn chặn kẻ thực hiện tội; hai là, có dấu vết tội phạm tại nơi ở, làm việc hoặc trên phương tiện của nghi phạm Căn cứ còn lại rất ít khi được áp dụng do khó khăn trong việc xác định người chuẩn bị phạm tội, và Điều 14 BLHS năm 2015 không quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị này, do đó việc giữ người chuẩn bị phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không có ý nghĩa thực tiễn.

Trong vòng 12 giờ sau khi nhận hồ sơ xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện Kiểm sát (VKS) phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn theo đề xuất của Cơ quan Điều tra (CQĐT) Nếu có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đủ căn cứ để bắt giữ, Kiểm sát viên (KSV) cần trực tiếp gặp gỡ và lấy lời khai của người bị giữ trước khi báo cáo lãnh đạo Viện để xem xét phê chuẩn.

Để ngăn chặn lạm dụng tạm giữ, việc gia hạn tạm giữ (lần 1 và lần 2) đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải được VKS phê chuẩn Theo Điều 118 BLTTHS, trong vòng 12 giờ sau khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn, VKS sẽ đánh giá dựa trên tài liệu và chứng cứ đã thu thập trong thời gian tạm giữ trước đó Nếu cần thiết, VKS sẽ phê chuẩn gia hạn tạm giữ; nếu không, VKS sẽ từ chối và yêu cầu CQĐT thả người bị tạm giữ Nếu đã gia hạn lần 1 nhưng không phê chuẩn lần 2, VKS sẽ trực tiếp thả người bị tạm giữ.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường áp dụng biện pháp tạm giữ để thuận lợi cho việc thu thập chứng cứ và xem xét khởi tố Biện pháp này còn giúp ngăn chặn việc tiêu hủy hoặc tẩu tán tài sản đã chiếm đoạt Đặc biệt, đối với những tội phạm chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, việc để họ tại ngoại có thể dẫn đến nguy cơ bỏ trốn cao.

- Về biện pháp tạm giam, bắt bị can để tạm giam

Trong vòng 03 ngày kể từ khi nhận lệnh bắt bị can và lệnh tạm giam, VKS và CQĐT phải kiểm tra tài liệu và chứng cứ liên quan Việc này cần đối chiếu với các quy định tại Điều 113, 119 và 173 BLTTHS để xác định tính hợp pháp và căn cứ của lệnh tạm giam.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân loại thành 04 loại tội phạm theo Điều 9 BLHS, từ ít nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng Bị can của tội này, bất kể loại tội phạm nào, nếu thỏa mãn các căn cứ theo Điều 119 BLTTHS, có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam.

Trong thời gian xét phê chuẩn, Viện Kiểm sát (VKS) phải dựa vào tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án để quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ lệnh tạm giam đối với bị can phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Nếu chưa rõ căn cứ, VKS sẽ yêu cầu Cơ quan Điều tra (CQĐT) bổ sung tài liệu và chứng cứ cần thiết Sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn, VKS sẽ ban hành quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam và trả hồ sơ cho CQĐT.

Trong thời gian tạm giam, nếu có lý do cho thấy biện pháp này không còn cần thiết đối với bị can phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Viện Kiểm sát có thể quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam Ngược lại, nếu cần thiết để phục vụ công tác điều tra, VKS có thể gia hạn thời gian tạm giam hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.

Theo Điều 17 Quy chế số 111/QĐ-VKSTC, nếu có đủ căn cứ để tạm giam bị can theo Điều 119 BLTTHS nhưng CQĐT không ra lệnh bắt, VKS có quyền yêu cầu CQĐT thực hiện lệnh bắt Nếu CQĐT không thực hiện yêu cầu này, VKS sẽ tự ra lệnh bắt bị can để tạm giam và chuyển cho CQĐT thực hiện.

Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm là biện pháp thay thế cho tạm giam theo Điều 121, 122 BLTTHS Sau khi quyết định áp dụng biện pháp này, CQĐT phải gửi văn bản nêu rõ lý do và chứng cứ cho VKS để đề nghị phê chuẩn Thời hạn xét phê chuẩn của VKS là 03 ngày kể từ khi nhận hồ sơ, trong thời gian này, VKS cần kiểm tra chặt chẽ các căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và thời hạn bảo lĩnh, đặt tiền theo quy định.

Trong thực tế, một số bị can phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sử dụng những thủ đoạn tinh vi và chuyên nghiệp, dẫn đến hậu quả tài chính nghiêm trọng Vì vậy, việc bảo lĩnh hoặc đặt tiền được bảo đảm sẽ không được áp dụng trong những trường hợp này.

Trong trường hợp thiếu tài liệu và chứng cứ cần thiết để phê chuẩn, như việc chưa có giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 121 và khoản 2 Điều, việc xem xét sẽ gặp khó khăn.

VKS yêu cầu CQĐT bổ sung chứng cứ và tài liệu để xem xét việc phê chuẩn 122 BLTTHS của bị can Quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc thay thế biện pháp tạm giam bằng hai biện pháp khác sẽ được VKS đưa ra trong thời hạn quy định.

Trong thời gian áp dụng biện pháp ngăn chặn, nếu có căn cứ xác định bị can vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan, VKS sẽ yêu cầu CQĐT gửi văn bản đề nghị Ngoài ra, nếu CQĐT phát hiện vi phạm, họ cũng phải đề nghị VKS ra quyết định hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh và áp dụng biện pháp tạm giam.

- Cấm đi khỏi nơi cư trú

Căn cứ Điều 123 BLTTHS, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng với bị can có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT và VKS Trong giai đoạn điều tra, KSV cần kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, đặc biệt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, do bị can thường có tính toán và mưu mẹo Tuy nhiên, nếu giá trị tài sản không lớn và bị can thành khẩn khai báo, biện pháp này vẫn có thể được áp dụng Nếu lệnh cấm không có căn cứ, VKS có quyền yêu cầu CQĐT hủy bỏ, và nếu CQĐT không thực hiện, VKS có thể tự mình ra lệnh hủy bỏ Trong trường hợp bị can vi phạm nghĩa vụ, VKS sẽ yêu cầu CQĐT hủy bỏ lệnh cấm và áp dụng biện pháp tạm giam.

Thực hành quyền công tố đối với các hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Khi nhận hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh khám xét liên quan đến tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Viện Kiểm sát (VKS) cần nghiên cứu kỹ lưỡng các căn cứ, điều kiện và thẩm quyền để quyết định phê chuẩn hay không Nếu đủ căn cứ, VKS sẽ phối hợp với Cơ quan Điều tra (CQĐT) để tham gia và kiểm sát quá trình khám xét Trong quá trình này, VKS phải đảm bảo rằng thủ tục khám xét của CQĐT tuân thủ đúng quy định tại chương XIII của Bộ luật Tố tụng hình sự, bao gồm việc kiểm tra thành phần tham gia, trình tự khám xét và lập biên bản khám xét theo đúng quy định.

Trong quá trình kiểm sát hoạt động khám xét, Kiểm sát viên (KSV) cần theo dõi chặt chẽ mọi biến động tại địa điểm khám xét để yêu cầu Cơ quan điều tra (CQĐT) thực hiện hoặc khắc phục các vi phạm khi cần thiết Nếu cần thiết, KSV cũng có thể yêu cầu CQĐT thực hiện khám xét lại hoặc khám xét bổ sung.

Trong các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc khám xét được thực hiện nhằm mục đích thu thập chứng cứ quan trọng để chứng minh tội phạm Tất cả các đối tượng phạm tội đều có thể bị khám xét, vì tài sản bị chiếm đoạt là yếu tố then chốt trong việc xác định hành vi lừa đảo và người thực hiện tội phạm.

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tính, bưu kiện, bưu phẩm

Việc thu giữ và tạm giữ thường gắn liền với quá trình khám xét Trong quá trình này, Kiểm sát viên (KSV) cần kiểm sát việc thu giữ tài liệu và đồ vật liên quan đến tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản KSV cũng phải đảm bảo việc niêm phong và bảo quản các phương tiện, tài liệu đã tạm giữ, cũng như lập biên bản tạm giữ Nếu cần thiết, KSV có thể yêu cầu điều tra bằng lời nói để chấm dứt và khắc phục các vi phạm.

Trong trường hợp thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, Kiểm sát viên (KSV) cần nghiên cứu căn cứ, điều kiện và thẩm quyền ban hành khi tiếp nhận hồ sơ xét phê chuẩn từ Cơ quan điều tra (CQĐT) VKS phải đưa ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn.

Việc thu giữ và tạm giữ tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là rất quan trọng Do đó, quá trình này cần được thực hiện một cách cẩn thận và kỹ lưỡng để tránh hư hỏng hoặc mất mát tài sản, từ đó đảm bảo không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc hỏi cung bị can

Ngay sau khi quyết định khởi tố bị can về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ban hành, Cơ quan Điều tra đã tiến hành hỏi cung bị can lần đầu tiên theo quy định tại Điều

Theo Điều 50 Quy chế số 111/QĐ-VKSTC, VKS có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ quá trình hỏi cung bị can Kiểm sát viên (KSV) có thể tham gia trực tiếp cùng điều tra viên (ĐTV) để đảm bảo việc hỏi cung diễn ra một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.

KSV cần kiểm sát chặt chẽ các quy định tại Điều 183, 184 BLTTHS, đặc biệt là thành phần tham gia hỏi cung, bao gồm người bào chữa và người đại diện hợp pháp Trong lần hỏi cung đầu tiên, ĐTV phải giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can, và sau khi kết thúc, bị can cần được đọc lại biên bản hỏi cung Biên bản hỏi cung phải được lập theo quy định tại Điều 178 BLTTHS, với chữ ký của bị can trên từng trang và chữ ký của tất cả những người tham gia Việc tuân thủ các quy định này là cần thiết để đảm bảo tính hợp pháp của các biên bản hỏi cung bị can.

KSV cần chủ động hợp tác với ĐTV để trao đổi và lập kế hoạch hỏi cung bị can, xác định rõ yêu cầu hỏi cung, đặc biệt là những yêu cầu nhằm làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

KSV cần yêu cầu ĐTV thu thập chứng cứ xác định cả tội phạm và vô tội của bị can, làm rõ mâu thuẫn trong lời khai Cần làm rõ thủ đoạn gian dối, nơi nhận tài sản, giá trị và đặc điểm tài sản chiếm đoạt KSV phải chuẩn bị kế hoạch hỏi cung, dự liệu các câu hỏi và tình huống có thể xảy ra, yêu cầu ĐTV hỏi bổ sung nếu cần Đối với bị can thành khẩn, KSV cần hỏi chi tiết về hành vi phạm tội, bao gồm thời gian, số lần thực hiện, và tài sản liên quan Đối với bị can ngoan cố, KSV nên nghiên cứu lời khai của đồng phạm và nhân chứng để chuẩn bị các câu hỏi phù hợp trong buổi hỏi cung.

Khi bị can nhận tội, ĐTV và KSV không thể chỉ hài lòng với lời nhận tội đó, vì những đối tượng phạm tội lạm dụng tín nhiệm thường rất mưu mô và có thể thay đổi lời khai để che giấu giá trị thực của tài sản bị chiếm đoạt KSV cần yêu cầu ĐTV thẩm vấn kỹ lưỡng về hành vi phạm tội, xác định rõ tài sản bị chiếm đoạt và số lượng bị hại, nhằm tránh trường hợp bị can phản cung sau này Đối với các bị can chủ mưu trong các vụ án phức tạp, họ thường không nhận tội hoặc chỉ khai báo rất hạn chế, vì vậy ĐTV và KSV cần phối hợp chặt chẽ để đấu tranh Khi làm việc với những đối tượng này, cần áp dụng biện pháp giáo dục, thuyết phục kết hợp với việc sử dụng mâu thuẫn và chứng cứ để khuyến khích bị can khai báo đúng sự thật.

Trong quá trình hỏi cung bị can, nếu phát hiện vi phạm, KSV có thể đề xuất phương án xử lý phù hợp với ĐTV hoặc lãnh đạo VKS Nếu chỉ là thiếu sót hoặc nhầm lẫn có thể khắc phục, yêu cầu CQĐT sửa chữa Tuy nhiên, nếu sai phạm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, cần đề xuất hủy bỏ biên bản hỏi cung.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 283 BLTTHS và khoản 4 Điều 50 Quy chế 111/QĐ-VKSTC, VKS có trách nhiệm trực tiếp hỏi cung bị can trong một số trường hợp cụ thể Đầu tiên, khi phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Thứ hai, trước khi kết thúc giai đoạn điều tra Thứ ba, khi bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra, hoặc có căn cứ cho thấy việc điều tra vi phạm pháp luật Ngoài ra, VKS cũng thực hiện hỏi cung khi có đề nghị từ CQĐT, khi tài liệu và chứng cứ mâu thuẫn hoặc chưa rõ ràng, khi lời khai của bị can không nhất quán, hoặc khi có nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai Cuối cùng, trong trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng và các trường hợp khác khi cần thiết.

Theo quy định pháp luật, Viện Kiểm sát (VKS) thực hiện quyền công tố thông qua việc tiến hành hỏi cung trực tiếp Hành động này không chỉ đảm bảo rằng hoạt động điều tra của Cơ quan Điều tra (CQĐT) tuân thủ đúng quy định pháp luật, mà còn là cơ sở để VKS truy tố đúng người, đúng tội trước Tòa án.

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, bị hại

Thực hành quyền công tố, kiểm sát các quyết định tố tụng

- Quyết định gia hạn thời hạn điều tra

Khi nhận được đề nghị từ CQĐT, VKS cần đánh giá chính xác loại tội phạm liên quan đến Tội LĐCĐTS đã khởi tố và xem xét các kết quả điều tra đã đạt được Dựa trên những thông tin này, VKS sẽ quyết định việc gia hạn thời gian điều tra.

- Quyết định chuyển vụ án

Khi có căn cứ để chuyển vụ án theo Điều 169 BLTTHS, Viện Kiểm sát (VKS) yêu cầu Cơ quan Điều tra (CQĐT) gửi văn bản đề nghị ra quyết định chuyển vụ án VKS chỉ thực hiện quyết định chuyển vụ án khi nhận được văn bản đề nghị từ CQĐT hoặc trong trường hợp VKS đã yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện.

- Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Trong giai đoạn điều tra, CQĐT có quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn VKS sẽ ra quyết định áp dụng thủ tục này khi vụ án đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều.

Trong trường hợp 456 BLTTHS mà CQĐT không ra quyết định và đã có văn bản yêu cầu nhưng không thực hiện, VKS cần kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong vòng 24 giờ Nếu quyết định không có căn cứ và không đúng pháp luật, VKS sẽ hủy bỏ việc áp dụng thủ tục rút gọn Tuy nhiên, tội LĐCĐTS thường không áp dụng thủ tục rút gọn do có nhiều mâu thuẫn về chứng cứ.

- Quyết định nhập, tách vụ án

Tội LĐCĐTS thường gắn liền với tội tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do phạm tội mà có, do đó có thể thực hiện việc nhập hoặc tách vụ án để thuận lợi cho điều tra Khi có căn cứ theo Điều 169 BLTTHS 2015, CQĐT sẽ ra quyết định nhập hoặc tách vụ án và gửi cho VKS trong vòng 24 giờ Nếu VKS không đồng ý với quyết định này, họ có quyền hủy bỏ và nêu rõ lý do.

-Quyết định tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can

Khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra có thể tạm đình chỉ điều tra trong các trường hợp như chưa xác định được bị can, bị can không rõ vị trí, hoặc khi có kết luận giám định cho thấy bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo Ngoài ra, việc tạm đình chỉ cũng xảy ra khi chưa có kết quả từ các yêu cầu giám định, định giá tài sản, hoặc hỗ trợ tư pháp từ nước ngoài Trong vòng 02 ngày kể từ khi ra quyết định, CQĐT phải gửi quyết định này cho Viện Kiểm sát Nếu Viện Kiểm sát nhận thấy việc tạm đình chỉ không có căn cứ, họ có quyền hủy bỏ quyết định đó và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra.

Người thực hiện hành vi lừa đảo thường tìm cách bỏ trốn sau khi chiếm đoạt tài sản giá trị lớn Trong quá trình điều tra, nếu bị can bỏ trốn hoặc không xác định được vị trí, cơ quan điều tra (CQĐT) sẽ ra quyết định truy nã Nếu hết thời hạn điều tra, CQĐT sẽ truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra Nếu CQĐT chưa ra quyết định truy nã, Viện kiểm sát (VKS) có quyền yêu cầu CQĐT thực hiện điều này.

- Quyết định đình chỉ vụ án

Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận quyết định đình chỉ điều tra và hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định này Đối với các vụ án về Tội LĐCĐTS, CQĐT sẽ được đình chỉ điều tra khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Năm 2015, theo quy định tại Điều 16, Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự, thời hạn điều tra vụ án đã hết mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm.

Nếu quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ, cần ra văn bản trả lại hồ sơ cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền Ngược lại, nếu quyết định này không có căn cứ và vi phạm pháp luật, VKS sẽ hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu phục hồi điều tra.

- Kết luận điều tra, đề nghị truy tố

Khi nhận được kết luận điều tra và đề nghị truy tố từ CQĐT, KSV cần xem xét kỹ lưỡng nội dung bản kết luận so với hồ sơ vụ án trước khi quyết định thụ lý Việc thụ lý vụ án đánh dấu giai đoạn truy tố, do đó, nếu phát hiện kết luận điều tra không có căn cứ trong giai đoạn này, VKS phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung Nếu ngay từ đầu, KSV nhận thấy nhiều điểm chưa hợp lý trong dự thảo kết luận điều tra, họ có quyền yêu cầu CQĐT sửa đổi hoặc ban hành kết luận mới cho phù hợp.

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS

Viện Kiểm sát (VKS) có quyền đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan Điều tra (CQĐT) tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Yêu cầu điều tra của VKS là một phần quan trọng trong quá trình thực hành quyền công tố, nhằm đảm bảo điều tra diễn ra khách quan, toàn diện và đầy đủ Điều này tạo cơ sở vững chắc cho VKS trong việc phê chuẩn và ra các quyết định tố tụng hợp pháp Để đạt được kết quả điều tra, VKS cần đề ra yêu cầu ngay từ khi có quyết định khởi tố vụ án và trong từng giai đoạn điều tra Kiểm sát viên (KSV) được phân công phải theo dõi sát sao quá trình điều tra của CQĐT để kịp thời đưa ra các yêu cầu cụ thể, nhằm đảm bảo giải quyết vụ án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói hoặc bằng văn bản, và phải nêu rõ những vấn đề cần điều tra cùng với chứng cứ, tài liệu cần thu thập Văn bản yêu cầu điều tra sẽ được lưu vào hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát Kiểm sát viên cần kịp thời trao đổi với điều tra viên về nội dung điều tra ngay khi nhận quyết định khởi tố vụ án Nếu phát hiện vấn đề cần điều tra mà điều tra viên chưa thực hiện, kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra Đối với các vụ án phạm tội quả tang với chứng cứ rõ ràng, không cần thiết phải có yêu cầu điều tra bằng văn bản.

Nội dung yêu cầu điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần phải cụ thể và rõ ràng, phù hợp với nội dung vụ án Điều này nhằm định hướng thu thập chứng cứ để làm rõ cấu thành tội phạm, cũng như các vấn đề cần chứng minh theo quy định tại Điều 85 và Điều 441 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp và yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện đầy đủ nội dung yêu cầu điều tra Nếu Điều tra viên, Cán bộ điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, Kiểm sát viên sẽ báo cáo và đề xuất lãnh đạo đơn vị kiến nghị bằng văn bản với Thủ trưởng hoặc Cấp trưởng Cơ quan có thẩm quyền Trong trường hợp gặp trở ngại khách quan, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra giải thích và nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra.

- Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS

Trong giai đoạn điều tra, việc kiểm tra và bổ sung tài liệu, chứng cứ là cần thiết khi phê chuẩn lệnh hoặc quyết định của cơ quan điều tra Nếu phát hiện dấu hiệu oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, Viện Kiểm sát (VKS) có quyền yêu cầu bằng văn bản, và nếu không được khắc phục theo quy định tại khoản 7 Điều 165, sẽ có những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên (KSV) có trách nhiệm trực tiếp hỏi cung bị can, lấy lời khai từ người bị tạm giữ, người bị bắt, bị hại, đương sự, người làm chứng và người chứng kiến Ngoài ra, KSV cũng thực hiện đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS Trước khi tiến hành, KSV phải thông báo cho Điều tra viên (ĐTV) để phối hợp.

Biên bản, tài liệu và chứng cứ do Kiểm sát viên lập và thu thập trong quá trình điều tra cần được đưa vào hồ sơ vụ án và lưu trữ trong hồ sơ kiểm sát.

TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH BẮC GIANG

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm