Các quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng đã thể hiện vai trò quan trọng của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
NGUYỄN TIẾN THÀNH
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
NGUYỄN TIẾN THÀNH
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
Ngành : Luật hình sự và tốt tụng hình sự
Mã số : 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lại Viết Quang
Hà Nội - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lại Viết Quang Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, các dẫn chứng, các trích dẫn và các kết quả được nghiên cứu, phân tích, đánh giá đảm bảo tính trung thực, chính xác và tin cậy, cùng với đó để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật hình sự, trường đại học Kiểm sát Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Tiến Thành
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn, được sự hướng dẫn, giảng dạy của các thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thànhđến:
Các thầy cô Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tận tình giảng dạy
và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lại Viết Quang, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trang 7MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮPTÀI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰHIỆN NAY VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 7
1.1 Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 7
1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản 7
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự hiện nay 13
1.1.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm quyền sở hữu khác quy định trong BLHS hiện hành 19
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự việt nam về tội trộm cắp tài sản 24
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 có hiệu lực thi hành 24
1.2.2 Giai đoạn ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 25
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đến nay 26
1.3 Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản 29
1.3.1 Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản 29
1.3.2 Quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 34
Trang 8CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ NAM 35
2.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam 35
2.1.1 Tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam 35
2.1.2 Kết quả áp dụng quy định của pháp luật về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam 38
2.2 Những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam 41
2.2.1 Xác định sai tội danh 41
2.2.2 Xác định sai khung hình phạt và mức hình phạt 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 58
CHƯƠNG III YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 59
3.1 Yêu cầu để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự việt nam về tội trộm cắp tài sản 59
3.1.1 Yêu cầu bảo đảm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân 59
3.1.3 Yêu cầu cụ thể hóa được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản 61
3.1.4 Yêu cầu đảm bảo phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ta 61
3.2 Các giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quy định của pháp luật hình sự việt nam về tội trộm cắp tài sản 62
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản 62
3.2.3 Nâng cao cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác tư pháp 67
3.2.4 Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản 68 TIỂU KẾT CHƯƠNG III 72
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu tội trộm cắp tài sản so với số tội phạm nói chung 36 Bảng 2.2 Số liệu tội trộm cắp tài sản so với các tội xâm phạm về sở hữu nói chung 36 Bảng 2.3 Số liệu điều tra, truy tố, xét xử tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Hà Nam 37 Bảng 2.4 Kết quả xét xử tội trộm cắp tài sản theo các khoản cụ thể 38
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, quyền sở hữu là một trong các quyền con người quan trọng được quy định và bảo hộ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật ở các lĩnh vực: hình sự, hành chính, dân sự Hiến pháp năm 2013 tại Điều 32 đã quy
định: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa
kế được pháp luật bảo hộ.”
Để bảo vệ quyền sở hữu được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật Việt Nam đã quy định bảo vệ bằng nhiều ngành luật khác nhau trong đó có luật hình sự Trong pháp luật hình sự hiện nay, Bộ luật hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 cũng bảo vệ sở hữu của các cá nhân, tổ chức khác nhau thông qua các điều luật tại các Chương khác nhau và tập trung nhất ở Chương XVI (các tội xâm phạm sở hữu) trong đó có tội trộm cắp tài sản Các quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng đã thể hiện vai trò quan trọng của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước, tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp năm 2013 quy định
Hà Nam là một tỉnh thuộc vùng Bắc Bộ nước ta và là tỉnh có diện tích rộng lớn, lao động sản xuất thuận lợi, là tỉnh nằm trên trục đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A – huyết mạch giao thông quan trọng của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu hợp tác kinh tế với các tỉnh, thành phố và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước cũng như từ đó tới các cảng biển, sân bay ra nước ngoài Bên cạnh phát triển của kinh tế thì tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, nhất là tội phạm trộm cắp tài sản với tính chất và mức độ hậu quả
do loại tội phạm này gây ra ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật
Trang 11tự, an toàn xã hội ở các địa phương trong tỉnh, tác động không tốt đến cuộc sống của người dân.Các đối tượng tập trung thành nhóm tội phạm có tính chất chuyên nghiệp, có sự phân công chặt chẽ giữa các đối tượng từ khâu thực hiện hành vi phạm tội đến khi tiêu thụ tài sản, với các phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong người dân
Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về tội trộm cắp tài sản để xử lý loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Nam cho thấy những bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác động của tội phạm, một số dấu hiệu định tội, một số tình tiết định khung hình phạt và mức hình phạt đối với người phạm tội Trong khi đó, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng chưa thống nhất; đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn mới về các tội này theo quy định của
Bộ luật hình sự năm 2015 dẫn đến thực tế áp dụng quy định về các tội này còn lúng túng
Do nhu cầu của thực tiễn cần đưa ra các giải pháp, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về tội
trộm cắp tài sản, đồng thời đóng góp những tri thức lý luận nhằm phục vụ
công tác nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã
lựachọn đề tài:“Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh
Hà Nam”làm luận văn Thạc sĩ ngành luật hình sự và tố tụng hình sự của
mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, Việt Nam đã có rất nhiều công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu về lý luận, đưa ra các giải pháp, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vềtội trộm cắp tài sản, có thể liệt kê theo các nhóm như:
Trang 12- Nhóm các giáo trình Luật hình sự tại các cơ sở đào tạo:
+ Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm”, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm”, nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Quyển 1”, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
- Nhóm các bài viết, bình luận khoa học liên quan đến tội trộm cắp tài sản:
+ Trần Mạnh Hà (2007), “Một số dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản cần nhận biết khi định tội danh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 3)
+ Nguyễn Văn Trượng (2008), “Một số vấn đề cần hoàn thiện đối với tội trộm cắp tài sản”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 4)
+ Nguyễn Đức Mai (Chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
+ Võ Khánh Vinh (2013), “Lý luận chung về định tội danh”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
- Một số đề tài Luận văn thạc sĩ qua các năm gần đây:
+ Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2016), “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ luật học
+ Dương Anh Tuấn (2016), “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc
sỹ luật học
+ Trần Văn Dâu (2016) “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định”, Luận văn Thạc sỹ luật học
Trang 13+Nguyễn Thị Thu Ba (2016), “Tội trộm cắp tài sản theo pháp luật hình
sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Nam)”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội
+ Trần Thị Bích Liên (2016), “Tội Trộm cắp tài sản do người nước ngoài thực hiện từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
+ Phạm Tuấn Anh (2018), “Tội Trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội,” Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội
+ Đỗ Hồng Thủy (2018), “Tội Trộm cắp tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội,” Luận văn thạc
sĩ, Học viện Khoa học xã hội
+ Trần Châu Bá Linh (2021), “Tội trộm cắp tài sản theo luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Trà Vinh
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn một số tỉnh, thành phố, tuy nhiên do những khác biệt về đặc thù kinh tế, chính trị, địa lý, văn hóa của từng vùng miền và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, có hệ thống về tội trộm cắp tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và việc vận dụng trên thực tế tại địa bàn tỉnh Hà Nam Vì vậy, thông qua việc nghiên cứu Luận văn này tôi
đi sâu tìm hiểu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, kế thừa những nội dung đã được tiếp cận từ các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trước, tìm
ra những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm, những vấn đề cơ bản và đưa ra ý kiến cá nhân nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về tội trộm cắp tài sản, nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn tại tỉnh Hà Nam
Trang 143 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Pháp luật hình sự Việt nam hiện nay và thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Nam, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ mục đích đặt ra, để thực hiện đúng mục tiêu nghiên cứu thìbài luận văn có các nhiệm vụ chính sau:
+ Khái quát, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay
+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian từ năm 2018-2021
+ Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vềtội trộm cắp tài sảnvà thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy
định vềtội trộm cắp tài sảntại địa bàn tỉnh Hà Nam trong khoảng thời gian từ năm 2018-2021
- Về phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản
dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam
- Về chủ thể áp dụng pháp luật là Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Hà Nam
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng; Pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tội phạm và các luận điểm chung của khoa học Luật hình sự
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, tham khảo ý kiến của các Luật sư, chuyên gia… để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, quy định của pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:Luận văn là công trình đóng góp cho việc hoàn thiện
hơn về nhận thức đối với bản chất của tội trộm cắp tài sản, đồng thời luận văn còn có ý nghĩa làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo nhằm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự
- Ý nghĩa thực tiễn:Luận văn đã làm rõ thực trạng việc vận dụng quy
định về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam, từ đó đề ra các giải pháp đối với loại tội phạm này Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức tham khảo để vận dụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt động phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương bao gồm:
Chương I:Những vấn đề lý luận chung về tội trộm cắp tài sản và quy
định của Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay về tội trộm cắp tài sản
Chương II:Thực tiễn áp dụng quy định của Pháp luật hình sự Việt
Nam về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Trang 16Chương III:Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của BLHS về tội trộm cắp tài sản
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP
TÀI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
HIỆN NAY VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1.1 Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản
1.1.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, mang tính lịch sử và phát triển cùng sự phát triển của xã hội Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm tội phạm được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra với những quan điểm khác nhau Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì “tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”1 Như vậy, về mặt khoa học, các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa
về tội phạm dựa trên bốn yếu tố chính, đó là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi có lỗi (vô ý hoặc cố ý), hành vi đó phải trái quy định của pháp luật hình sự và người thực hiện hành vi sẽ phải chịu hình phạt
1
Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn, (2006), Từ điển pháp luật hình sự, nxb Tư pháp, Hà Nội
Trang 17những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật Hình sự phải bị xử lý hình sự
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”
Theo quy định trên của BLHS thì về cơ bản , khái niệm tội phạm vẫn giữ theo tinh thần của BLHS năm 1999, chỉ sửa đổi mang tính chất khái quát cao hơn về quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Ngay trong nội hàm của khái niệm tội phạm có các dấu hiệu cơ bản để phân biệt tội phạm và những hành vi không phải là tội phạm, đó là tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt
Sở hữu trong kinh tế chính trị là một phạm trù cơ bản thể hiện các quan
hệ sản xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối tài sản trong các hình thái kinh tế - xã hội và quan hệ xã hội nhất định Ở Việt Nam, quyền sở hữu về tài sản luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, ghi nhận cụ thể tại
Điều 32 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”
Hành vi xâm phạm sở hữu là hành vi của một người nhằm tác động đến việc thực hiện các quyền sở hữu tài sản như phá hoại tài sản, chiếm đoạt tài sản…gây nguy hiểm cho xã hội.Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu khi thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS thì được coi là tội phạm Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu về tài sản luôn là vấn đề trọng tâm được ghi nhận ở tất cả các quốc gia trên thế giới.Ở Việt Nam, bên cạnh cơ chế để bảo vệ quyền sở hữu về tài sản thông qua các quy định được ghi nhận trong BLDS và pháp luật tố tụng dân sự, các chế tài xử phạt vi phạm
Trang 18hành chí được Đảng và Nhà nước ta đã quy định cụ thể các chế tài hình sự trong BLHS được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản Đây là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất thể hiện quyền lực của nhà nước trong xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu về tài sản một cách bất hợp pháp Từ BLHS năm 1985 lần đầu tiên được pháp điển hóa đến BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, pháp luật hình sự Việt Nam đều dành một chương riêng trong phần các tội phạm để quy định về các tội xâm phạm sở hữu, điều đó cho thấy phần nào ý nghĩa, tầm quan trọng của chế định này Dưới góc độ khoa học pháp lý
hình sự, các tội xâm phạm sở hữu được hiểu “là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự và đạt độ tuổi luật hình sự quy định thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự”
Tội trộm cắp tài sản thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu Hành vi trộm cắp tài sản thuộc nhóm hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trong khoa học luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về tội trộm cắp tài sản, nhưng về cơ bản đều nêu lên được nội hàm của hành vi trộm cắp tài sản như:
- “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn nào khác nhằm uy hiếp tinh thần của người quản
lý tài sản”
- “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác
có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà con vi phạm”
Trang 19-“Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đọa tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý”
Qua 3 quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy rằng hành vi trộm cắp tài sản có một số đặc trưng như sau:
Thứ nhất, trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
Lén lút là hành vi thể hiện sự vụng trộm, sự giấu giếm, không công khai và có ý đồ gian dối Tính chất lén lút, vụng trộm của hành vi trộm cắp tài sản được thể hiện ở cả hành vi khách quan lẫn ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi được coi là tội phạm được quy định trong BLHS
Hành vi lén lút được hiểu là sự giấu giếm vụng trộm lấy tài sản khi chủ
sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị mất tài sản, chỉ khi tài sản bị chiếm đoạt họ mới biết tài sản đã bị mất Hành vi lén lút ở đây không nhất thiết là làm việc mà không ai biết, nó có thể được thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm, nhưng có thể được thực hiện một cách công khai, giữa nơi đông người Tuy nhiên, việc giấu giếm hay công khai thì chúng đều có một đặc điểm chung thống nhất đó là “lén lút” với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản
Thứ hai, trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật
Lén lút không phải đặc trưng duy nhất của hành vi trộm cắp tài sản mà trong nhiều tội phạm, người thực hiện hành vi được coi là tội phạm cũng lén lút nhưng là để thực hiện hành vi khác như: cố ý lẻn vào nhà người khác giết hại những người trong gia đình vì mục đích hận thù hay lẻn vào phòng ngủ của người khác để thực hiện hành vi hiếp dâm…Vì vậy, khi nói đến tội trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không chiếm đoạt tài sản thì không phải dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
Trang 20Hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi trái pháp luật hình sự xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản Xét về mặt khách quan là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản đó Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó Quá trình này xét về mặt pháp lí không làm cho chủ sở hữu mất quyền
sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu
Chính vì vậy, trong khoa học luật hình sự, thực tiễn xét xử thống nhất, tội trộm cắp tài sản là tội mà dấu hiệu chiếm đoạt thể hiện qua việc người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Để đánh giá người phạm tội đã chiếm đoạt được hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt, được thể hiện qua 3 mức độ sau: (1) Nếu vật chiếm đoạt gọn nhỏ thì coi đã chiếm đoạt được khi người phạm tội đã dấu được tài sản trong người; (2) Nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi chiếm đoạt được khi đã mang được tài sản ra khỏi khu vực bảo quản; (3) Nếu vật chiếm đoạt là tài sản để ở những nơi không hình thành khu vực bảo quản riêng thì coi là đã chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu
Thứ ba, đối tượng tác động của tội phạm là tài sản đang có chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
Tài sản của người khác được hiểu là tài sản đang có chủ sở hữu hoặc đang có người quản lý hợp pháp Nó có thể là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân và tổ chức; tài sản phải đang trong tầm kiểm soát của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hay cũng có thể là tài sản do chiếm hữu không hợp pháp Hành vi lấy tài sản không còn nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị bỏ quên, đánh rơi, tài sản vô chủ hoặc tài sản mà chủ sở hữu đã từ
Trang 21bỏ quyền sở hữu thì không phải là hành vi trộm cắp tài sản mà có thể cấu thành tội danh khác như tội chiếm giữ trái phép tài sản
Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản có thể là tài sản hợp pháp tức là những loại tài sản được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu theo các căn cứ: do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; được chuyển quyền sở hữu; thu hoa lợi, lợi tức; được thừa kế tài sản; chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên…; chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu do BLDS quy định … hoặc có thể là tài sản bất hợp pháp như do phạm tội, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự mà có Tuy nhiên, do pháp luật hình sự không loại trừ tính chất hợp pháp hoặc bất hợp pháp của đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Vì vậy, tài sản hợp pháp hay bất hợp pháp đều có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Như vậy thông qua việc nghiên cứu đặc trưng cơ bản của hành vi trộm cắp tài sản được đưa trong các quan điểm nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” Tuy nhiên để đưa ra được khái niệm về tội trộm cắp tài sản, trước hết cần khẳng định tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm như sau: bình diện khách quan – tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; bình diện pháp lý – tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; bình diện chủ quan – tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi
Theo đó, có thể đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS,
do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình
Trang 22sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản bằng hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu, người quản lý tài sản”
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự hiện nay
Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản thể hiện qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm,
đó là: Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm Do đó, việc xác định dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội trộm cắp tài sản chính là việc xác định cụ thể bốn yếu tố trên
* Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Theo quy định của pháp luật hình sự, khách thể của tội phạm là những quan hệ
xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại2 Cũng như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong phần các tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp tài sản đặc trưng bởi hành vi chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên hành vi chiếm đoạt tài sản của tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách lén lút, không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản mà nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt Sau khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị đuổi bắt mà có hành vi chống lại người đuổi bắt để tẩu thoát mà gây chết người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hành vi tương ứng (Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP)
* Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
Trang 23hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả3
a) Về hành vi khách quan: Trong tội trộm cắp tài sản, người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất đó là chiếm đoạt tài sản nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, bí mật Đặc trưng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải có trong ý thức của người phạm tội, nó thể hiện ở việc người phạm tội che giấu hành vi đang phạm tội của mình, không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt tài sản khi hành vi này đang xảy ra Thực tế cho thấy, khi người phạm tội thực hiện hành
vi lén lút chiếm đoạt tài sản với chủ sở hữu nhưng lại công khai chiếm đoạt tài sản với những người có mặt ở đó nhưng những người có mặt lúc tài sản bị chiếm đoạt vì lý do nào đó mà không biết chủ tài sản là ai, không có trách nhiệm quản lý tài sản đó thì hành vi của người chiếm đoạt tài sản trong trường hợp này vẫn bị coi là hành vi trộm cắp tài sản; trong trường hợp này, người chiếm đoạt tài sản chỉ có hành vi che giấu hành vi trộm cắp của mình đối với chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không cần che dấu với những người khác
b) Về đối tượng tác động: Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản có nhiều hình thức khác nhau Điều 105 Bộ luật dân sự năm
2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản”4 Vật là một bộ phận của thế giới vật chất,
nó tồn tại khách quan bên ngoài ý thức mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và
Trang 24đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có trong thế giới vật chất, có những bộ phận ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Như vậy, trong giao lưu dân sự muốn trở thành vật thì phải thỏa mãn được những điều kiện, đó là: là bộ phận của thế giới vật chất; mang lại lợi ích cho chủ thể; con người chiếm hữu được; có thể đang tồn tại hoặc có thể sẽ hình thành trong tương lai Vật là một hình thức tài sản và
có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người thì khi đó vật mới là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đối với trường hợp vật vô chủ (có thể là trường hợp chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình và tài sản không nằm trong phạm vi quản lý) thì hành vi lấy đi loại tài sản này không bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản
Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính
là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi
sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại
và vật đặc định Ngoài ra, người ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đông bộ
Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các
Trang 25loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị
Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong
đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ
có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro
Quyền tài sản: Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác5 Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác
c) Về hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản do người phạm tội gây
ra là thiệt hại về giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp Tài sản bị người
5
Bộ luật dân sự 2015, trang 65
Trang 26phạm tội chiếm đoạt bao gồm các loại tiền, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như ngân phiếu, công trái, trái phiếu… Căn cứ quy định của BLHS hiện hành, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm; còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168 (tội cướp tài sản), 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 170 (tội cưỡng đoạt tài sản), 171 (tội cướp giật tài sản), 172 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), 175 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) và điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) của
Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người
bị hại và gia đình họ; tài sản là di vật, cổ vật Có thể khẳng định tội trộm cắp tài sản có cấu thành vật chất bởi dấu hiệu cấu thành hậu quả được phản ánh trong cấuthành tội phạm của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, mặc dù người có hành
vi trộm cắp chưa chiếm đoạt được tài sản mà nằm ngoài ý muốn chủ quan của
họ thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản nhưng là phạm tội chưa đạt chứ không nhất thiết phải có thiệt hại về tài sản mới cấu thành tội phạm
d) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Mối quan hệ nhân quả phản ánh hành vi và hậu quả trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; trong hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả; hậu quả xảy ra phải là hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật
* Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
Trang 27“Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và
4 Điều 173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS” Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: Người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151,
168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này6 Như vậy, căn cứ theo Điều 8 và Điều 173 BLHS hiện hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Còn người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo 17 khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS
* Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm đó là những diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội trộm cắp tài sản nhận thức được rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó khi tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép và mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích của tội phạm là chiếm tài sản của người khác7
Trang 28Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã xuất hiện mục đích chiếm đoạt Do vậy, có thể khẳng định dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội trộm cắp tài sản là mục đích CĐTS Tuy nhiên, cùng với mục đích chiếm đoạt thì người phạm tội còn có thể có những mục đích khác nếu mục đích đó không cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản
1.1.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm quyền
sở hữu khác quy định trong BLHS hiện hành
- Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS năm 2015)
Theo quy định tại khoản 1 Điều 176 BLHS năm 2015 thì Tội chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật Những điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS năm 2015) như sau:
Thứ nhất, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang
trong sự quản lý của người khác, còn đối tượng tác động của tội chiếm giữ trái phép tài sản là tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý của chủ tài sản như tài sản không có chủ, tài sản đang trong tình trạng không nằm trong sự quản lý của chủ tài sản như tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị giao nhầm
Thứ hai, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản của người khác, còn hành vi khách quan của tội chiếm giữ tái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý
Trang 29hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật
- Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều
290 BLHS năm 2015)
Theo quy định tại khoản 1 Điều 290 BLHS năm 2015 thì tội sử dụng mạngmáy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của
Bộ luật này: (a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; (b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; (c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan,
tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; (d) Lừa đảo trong thương mại điện
tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản; (đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản
Điểm khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là:
Thứ nhất, khách thể trực tiếp của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu
của người khác, còn khách thể trực tiếp của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là an
Trang 30toàn thông tin, mạng viễn thông (thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng)
Thứ hai, hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản của người khác, còn hành vi khách quan của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là các hành vi chiếm đoạt tài sản có đặc trưng là thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử - đa dạng hơn rất nhiều
và bao gồm cả hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản
Trong trường hợp hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn lén lút
và có đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015) thì sẽ bị xử lý về tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015) chứ không xử lý về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tàisản (Điều 290 BLHS năm 2015) Cơ
sở của việc quy định này xuất phát lý luận định tội danh theo khách thể là quan hệ sở hữu thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử hơn là an toàn thông tin, mạng viễn thông Chẳng hạn: hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ có giá trị
từ 2 triệu đồng trở lên thì xử lý về tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015), còn ngược lại nếu tài tài chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng (không thuộc các trường hợp chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng của tội trộm cắp tài sản) thì sẽ bị
xử lý về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS năm 2015)
- Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản
Trang 31Bảng 1.1 Phân biệt tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản và tội trộm cắp
Tội cướp giật tài sản (Điều
171 BLHS)
Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS)
Hành vi khách
quan
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
– Lợi dụng chủ
sở hữu hoặc người quản lý tài sản không chú ý, bất ngờ giật lấy tài sản, hoặc lợi dụng chủ sở hữu hoặc người quản
lý tài sản đang bị vướng mắc hoặc đang điều khiển phương tiện giao thông để giật tài sản… rồi nhanh chóng tẩu thoát
– Trong quá trình thực hiện hành vi giật, nếu người chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản chống cự để giành lại tài sản,
– Lợi dụng sự sơ
hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, người quản
lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết để chiếm đoạt tài sản một cách lén
lút
– Hành vi lén lút đối với chủ sở hữu, người quản
lý tài sản mà không nhất thiết phải lén lút với tất cả mọi người
Trang 32mà người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực với người
đó để chiếm bằng được tài sản thì hành vi cướp giật tài sản sẽ trở thành hành vi cướp tài sản
Chủ sở hữu, người quản lý tài sản không biết, mất cảnh giác
Tính chất
Nhắm vào tài sản nhưng xâm phạm đến sự an toàn, tính mạng, sức khỏe của nạn nhân
Nhắm vào tài sản, có thể xâm phạm đến an toàn, tính mạng, sức khỏe của nạn
nhân
Chỉ nhắm vào tài sản, không gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân
Giá trị tài sản bị
xử lý hình sự
Không có quy định giá trị tối thiểu
Không có quy định giá trị tối thiểu
Tài sản có giá trị
từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới
2 triệu nhưng thuộc các trường hợp quy định tại Điều 173
Trang 331.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình
sự việt nam về tội trộm cắp tài sản
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 có hiệu lực thi hành
Ở nước ta, ngay từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, các văn bản thể hiện chính sách hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu lần lượt xuất hiện Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/2/2019 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành quy định về các hành vi pháp hoại cộng sản; Sắc lệnh số 12 ngày 12/03/1949 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dung nhà binh trong thời bình và thời kì chiến tranh; Sắc lệnh số 267 ngày 15/6/2019 trừng trị những âm mưa và hành động phá hoạt tài sản của Nhà nước, Hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước trong hoạt động xây dưng nền kinh tế, xã hội, văn hóa ở nước ta
Từ khi Hiến pháp năm 1946 và 1959 lần lượt ra đời trong đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản theo đó tại
Điều 42 Hiến pháp năm 1959 quy định “Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng”
Trên tinh thần kế thừa tinh thần của Hiến pháp năm 1959, ngày 21/10/1970, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Nhìn chung, các tội phạm xâm phạm sở hữu có sự khác biệt giữa các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân cụ thể các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa sẽ có mức hình phạt cao hơn so với các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
Trang 34Ngoài hai pháp lệnh trên, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số
185 ngày 09/12/1970 về vấn đề tăng cường bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích chỉ đạo thi hành nội dung của hai pháp lệnh trong thực tiễn Đến ngày 15/03/1976, Sắc lệnh số 03 quy định về tội phạm và hình phạt được
thông qua Điều 4 Sắc lệnh số 03 quy định “Phạm các tội như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm Trường hợp nghiên trọng thì bị phạt đến 15 năm”
1.2.2 Giai đoạn ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985
Năm 1985 có thể nói làm một năm chứa đựng dấu mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển về kỹ thuật lập pháp trong lĩnh vực pháp luật hình sự ở nước ta Ngày 27/6/1985, Quốc hội đã thông qua BLHS năm 1985, là nơi tập hợp và thống nhất các quy định của pháp luật về hình sự, là công cụ quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh phòng chống tội phạm Trên tinh thần kế thừa từ các văn bản hình sự có từ trước, BLHS năm 1985 vẫn quy
định về hai hình thức của tội phạm trộm cắp bao gồm “Tội trộm cắp tài sản
xã hội chủ nghĩa” và “Tội trộm cắp tài sản của công dân” Hai hình thức của
tội phạm trộm cắp nói riêng tuy khách thể của hai tội danh này có sự khác nhau nhưng nhìn chung, trong cấu thành tội phạm và cụ thể là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm đều tương tự nhau Ngoài ra, hình phạt được áp dụng đối với tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa có mức hình phạt cao hơn so với tội phạm trộm cắp tài sản của công dân
Bộ phận cơ sở hạ tầng luôn vận động và phát triển, bộ phận kiến trúc thượng tầng tất yếu cũng có sự thay đổi nhất định theo trên tinh thần loại bỏ các quan điểm không phù hợp và tiếp thu những nhân tố tiến bố và có những
bổ sung BLHS năm 1999 ra đời trên tinh thần kế thừa và phát huy nhiều điểm tiến bộ mà cụ thể tại BLHS năm 1999 đã thống nhất gộp hai hành vi trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và trộm cắp tài sản công dân lại thành một
Trang 35điều luật thống nhất tại Điều 138 Bên cạnh đó nếu như BLHS năm 1985 cứ chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân một cách trái pháp luật thì đã bị xem là tội phạm mà không cần quan tâm đến giá trị tài sản
đã bị chiếm thì đến BLHS năm 1999 đã có sửa đổi mang tính đột phát theo đó
đã quy định cụ thể những hành vi trộm cắp tài sản nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội và bị coi là tội phạm; những hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa nguy hại đáng kể chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự
Và tại BLHS năm 1999 giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt là căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản
Có thể nói BLHS năm 1999 được ban hành đã góp phần quan trọng trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa đấu tranh tội phạm, giữ vững an toàn, chính trị, trật tự an toàn xã hội, đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc BLHS năm 1999 được sửa đổ, bổ sung lần đầu vào năm 2009, trong đó tội phạm trộm cắp tài sản có những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng đó là sửa đổi mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu bị chiếm đoạt của hành vi trộm cắp tài
sản, cụ thể sửa cụm từ “năm trăm nghìn đồng” tại khoản 1 Điều 138 thành “hai
triệu đồng” Các nội dung còn lại của Điều luật thì vẫn được giữ nguyên
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017 đến nay
Trước sự đổi mới của các chính sách của Đảng và Nhà nước về mọi mặt từ kinh tế, xã hội và pháp luật, đòi hỏi các quy định của pháp luật hình sự phải không ngừng có những sửa đổi, bổ sung để đáp ứng cho yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Theo đó, trong báo cáo kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLHS do Bộ tư pháp chủ trì Tại kì họp quốc hội khóa XIII ngày 27/11/2015 đã thông qua BLHS năm 2015 sau đó với nhiều lẫn kiểm duyệt khắc ke, chiều ngày 20/06/2019, với tỉ lệ hơn 88% đại biểu có mặt tán thành Luật sử đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã được ban hành, sẽ có hiệu vào
Trang 36ngày 01/01/2018 và được gọi là BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung là BLHS năm 2015) Điều 173 BLHS năm 2015 quy định:
“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và
290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; đ) Tài sản là di vật, cổ vật
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Tài sản là bảo vật quốc gia; g) Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Về cơ bản, tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 BLHS năm 2015 đã có sự
kế thừa Điều 138 BLHS năm 1999, tuy nhiên có một số điểm sửa đổi, bổ sung đáng chú ý như sau:
Trang 37Về nội dung kế thừa:
Thứ nhất, giữ nguyên giá trị tài sản bị chiếm đoạt là từ 2.000.000 đồng
hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này mà tái phạm khi chưa được xóa án tích
Thứ hai, giữ nguyên các khung hình phạt (gồm 1 khung hình phạt cơ
bản và 3 khung hình phạt tăng nặng)
Thứ ba, kế thừa các tình tiết định khung hình phạt Nhìn cung, các tình
tiết định khung hình phạt về cơ bản đã được giữ lại như phạm tội có tổ chức hay phạm tội có tính chất chuyên nghiện, hành hung để tẩu thoát…
Thứ tư, giữ nguyên hình phạt bổ sung được áp dụng là hình phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Một số nội dung sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật hình sự 1999:
- Tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vẫn giữ nguyên mức hình phạt bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nhưng đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn về các yếu tố định tội trong trường hợp tài sản có giá trị dưới hai triệu đồng Cụ thể: Tình tiết định tội “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” được nêu rõ tại điểm a khoản 1 Điều 173 là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” Tình tiết “đã bị kết án
về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” đã được sửa đổi theo hướng liệt kê cụ thể các điều luật tại điểm b khoản 1 Điều 173 là “đã
bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169,
170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” đã được thay thế bằng quy định cụ thể “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” tại điểm c khoản 1 Điều 173 BLHS Bổ sung thêm các tình tiết“tài sản là phương
Trang 38tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ” và“tài sản là di vật, cổ vật” quy định tại điểm d và đ khoản 1 Điều 173 BLHS
- Tại khoản 2 Điều 173 vẫn giữ nguyên mức hình phạt từ 02 năm đến
07 năm tù, đã bỏ tình tiết định khung tăng nặng “gây hậu quả nghiêm trọng”
và thay bằng tình tiết “tài sản là bảo vật quốc gia” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 173 BLHS
- Tại Khoản 3 Điều 173 BLHS 2015 vẫn giữ nguyên mức hình phạt 07 năm đến 15 năm tù đã bỏ tình tiết định khung tăng nặng “gây hậu quả rất nghiêm trọng” và thay bằng tình tiết “lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”quy định tại điểm b khoản 3 Điều 173 BLHS
- Tại Khoản 4 Điều 173 đã bỏ hình phạt tù chung thân, chỉ quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm Đồng thời đã bỏ tình tiết định khung tăng nặng “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” và thay bằng tình tiết “lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”quy định tại điểm b khoản 4 Điều 173 BLHS
- Khoản 5 Điều 173 vẫn giữ nguyên quy định về hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng Như vậy, các tình tiết định tội, định khung “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” đã được thay thế bằng những quy định cụ thể, tránh việc áp dụng tùy tiện, không thống nhất
1.3 Định tội danh và quyết định hình phạt đối vớitội trộm cắp tài sản
1.3.1 Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản
Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình
sự Bên cạnh đó, định tội danh còn là tiền đề cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
Trang 39Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic, được thể hiện dưới hai khía cạnh, đó là xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của CTTP cụ thể trong BLHS quy định hay không; trên cơ sở đó đưa ra sự đánh giá nhất định
về mặt pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trong thực tiễn Người áp dụng luật hình sự phải căn cứ vào CTTP từ những quy định cụ thể trong BLHS để định tội cho một hành vi cụ thể Khi các tình tiết của một hành vi phạm tội cụ thể mà phù hợp với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS thì hành vi đó được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm đó Định tội danh còn có thể được hiểu là một hình thức hoạt động thực tiễn pháp lý của các cơ quan tiến hành tố tụng để cụ thể hóa các quy phạm PLHS vào thực tế, nghĩa là lựa chọn đúng các quy phạm PLHS để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào đó được thự hiện trong thực tế để từ đó đưa ra kết luận hành vi đó có đầy
đủ các dấu hiệu của tội phạm tương ứng
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự”, gắn với tội trộm cắp tài sản theo
quy định tại Điều 173 BLHS có thể định nghĩa: Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm trộm cắp tài sản đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm trộm cắp tài sản đã được quy định trong khoản 1 Điều 173 BLHS
Để việc định tội danh được đúng đắn, nhận thức của người áp dụng pháp luật phải bao quát đầy đủ, chính xác, khách quan các loại yếu tố sau:
- Xác định chính xác, đầy đủ các tình tiết thực tế của vụ án;
Trang 40- Nhận thức đúng nội dung của quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến tội phạm đã thực hiện;
- Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế của hành vi và các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự
Như vậy, định tội danh tội trộm cắp tài sản là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tại Điều 173 BLHS và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 173 BLHS với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định
Việc định tội danh tội trộm cắp tài sản được phân chia thành các trường hợp khác nhau:
Thứ nhất, căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản (tức là theo
các dấu hiệu định tội quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015), định tội danh tội trộm cắp tài sản được chia thành:
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo khách thể của tội phạm là định tội danh theo quan hệ sở hữu mà hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản xâm hại
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt khách quan của tội phạm là định tội danh theo các dấu hiệu hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015
Định tội danh tội trộm cắp tài sản theo mặt chủ quan của tội phạm là định tội danh theo dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp của tội trộm cắp tài sản hoặc trong các trường hợp sai lầm