*Quy định về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện: Theo đó, các quy định về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm quyền sở hữu do
Trang 1NGUYỄN CÔNG THÀNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM
SỞ HỮU DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2NGUYỄN CÔNG THÀNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM
SỞ HỮU DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Sơn
Hà Nội - 2022
Trang 3dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Công Thành
Trang 4
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan, các đồng nghiệp và các bạn cùng khóa Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên động viên và hỗ trợ tác giả trong quá trình học tập, làm việc và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2022
Tác giả
Nguyễn Công Thành
Trang 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm các vụ án xâm phạm sở hữu 7
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội 12 1.2.1 Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở
1.2.2 Ý nghĩa thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người
1.2.3 Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU DO NGƯỜI DƯỚI
18 TUỔI PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 25
2.1 Quy định của pháp luật về thực thành quyền công tố các vụ án xâm
2.1.1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án xâm
2.1.2 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố đối với vụ án xâm
2.1.3 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án xâm phạm sở
2.2 Thực tiễn thực thành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội 32 2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và tình hình tội phạm xâm
Trang 62.2.2 Kết quả thực thành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
2.3 Tồn tại, hạn chế của hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố
2.3.1 Tồn tại, hạn chế của hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn TP Hà Nội 46 2.3.2 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế của hoạt động thực hành quyền công
tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn
CHƯƠNG 3 YÊU CẦU, GIÁP PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU DO NGƯỜI
3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố các vụ án xâm
3.1.1 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động thực hành quyền công
tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội 57 3.1.2 Yêu cầu xử lý, giáo dục, phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội các
3.1.3 Yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố các vụ
án xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội 61
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố các vụ án
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm
3.2.2 Các giải pháp khác nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố các
vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội 66
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1 Số bị can là người chưa thành niên bị truy tố về các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ năm 2017 – 2021 33
Bảng 2.2 Cơ cấu số bị can là người chưa thành niên phạm các tội xâm phạm
sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ năm 2017 – 2021 34
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu số bị can là người chưa thành niên phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ năm 2017 – 2021 34
Bảng 2.4 Các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố yêu cầu khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can là người
Bảng 2.5 Các trường hợp VKSND thực hành quyền công tố hủy bỏ quyết định khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm vụ án người dưới 18 tuổi phạm tội 38
Bảng 2.6 Các trường hợp VKSND thực hành quyền công tố khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can 39
Bảng 2.7 Các trường hợp Viện kiểm sát áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn TP Hà Nội 40
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề người chưa thành niên phạm tội không những là hiện tượng tiêu cực
mà còn là vấn đề nhức nhối, bức xúc của xã hội được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm và đề ra các giải pháp đấu tranh, phòng ngừa Trong những năm qua, tình hình tội phạm ở nước ta ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, trong đó có các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội xảy ra ở các thành phố lớn, như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Các tội phạm này có tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội ngày càng tinh vi, nguy hiểm; thủ đoạn phạm tội ngày càng manh động, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà còn tác động xấu đến an ninh, trật tự, gây bức xúc trong xã hội, đặc biệt tác động và ảnh hưởng xấu đến xu hướng phát triển của tầng lớp thanh thiếu niên trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước
Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm Đặc biệt, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong những năm qua đã được quan tâm và có nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và tạo điều kiện để người dưới 18 tuổi phạm tội có điều kiện, cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội Công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong những năm qua đã phần nào đáp ứng yêu cầu về việc đảm bảo việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Đứng trước yêu cầu đó, trong những năm qua, công tác tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn TP Hà Nội tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng trong công tác
Trang 10thực hành quyền công tố đối với loại tội phạm này còn có những hạn chế nhất định, như: Vẫn còn tình trạng lạm dụng việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên hoặc tuyên phạt hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi mà chưa quan tâm đến tâm lý, độ tuổi, điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân phạm tội; chưa chú trọng sử dụng các biện pháp giám sát, giáo dục phòng ngừa tại gia đình, nhà trường và cộng đồng; chưa bảo đảm quyền cơ bản của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi đặc biệt
là quyền bào chữa; đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả năng giao tiếp, làm việc với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích một cách khách quan, toàn diện, hệ thống thực tiễn công tác này trên địa bàn TP Hà Nội nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới
18 tuổi phạm tội Vì vậy, việc chọn đề tài “Thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và rất cần thiết trong tình hình hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, thực tiễn trên địa bàn Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng mang tính chất đặc thù, nên chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách trực tiếp vấn đề này Tuy nhiên, một số công trình có liên quan nghiên cứu các vấn đề về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong vụ án hình sự và tội phạm chưa thành niên, dưới
các khía cạnh, góc độ khác nhau, như:
Bài viết "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố
ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay" của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tiến Sơn với đề tài ““Mối quan hệ giữa Cơ quan
điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012
Trang 11Bài viết "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra theo yêu
cầu cải cách tư pháp" của Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình
sự về trật tự xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đăng trên Cổng thông tin điện
tử VKSNDTC ngày 10/11/2014
Bộ Tư pháp năm 2000; hay cuốn: Thủ tục điều tra và xét xử liên quan đến trẻ
em và NCTN: Đánh giá về các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của Tòa án nhân dân
(TAND); Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội với công trình: Đào tạo kiểm sát viên
làm việc với NCTN (Sách dự án Danida)
Luận văn thạc sỹ của Võ Huỳnh Ngọc Thủy với đề tài “Thủ tục giải quyết
các vụ án đối với người chưa thành niên (trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Bình Dương)” năm 2013, luận văn thạc sỹ của Bùi Ngọc Tú với đề tài “nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra” năm 2013, luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Anh
Đào với đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị
can, bị cáo là NCTN” năm 2014
Luận văn thạc sỹ luật học của Vũ Thị Thu Quyên về "Hoàn thiện pháp luật
bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam hiện nay” năm 2003
Nguyễn Đình Gấm: "Nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm vị thành niên",
Tạp chí Tâm lý học số 5, năm 2002
Trương Minh Mạnh: "Phân loại tội phạm với việc qui định trách nhiệm hình
sự của người chưa thành niên", Tạp chí Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao số
8, tháng 4 năm 2002
Tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: Áp dụng các quy định của BLTTHS về
thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát Viện kiểm sát
nhân dân tối cao số 6 tháng 3 năm 2007
Tác giả Mai Bộ với bài viết: Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số
6 tháng 3 năm 2007
Tác giả Phan Trung Hoài với bài viết: Vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của
NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 6
tháng 3 năm 2007
Trang 12Tác giả Phạm Hồng Quân với bài viết: Về chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự đăng trên Tạp chí khoa học, ĐH
Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 năm 2012
Tác giả Trần Thị Minh Thư với bài viết: “Kỹ năng của Kiểm sát viên khi thụ
lý, giải quyết các vụ án do người chưa thành niên phạm tội” đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 07, năm 2014
Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ Thạc sĩ Những bài viết, sách chuyên khảo và các công trình khoa học nêu trên là những tài liệu tham khảo rất hữu ích và có giá trị trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội, từ thực tiễn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hành quyền công tố vụ
án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận, xác định các khái niệm có liên quan đến tội phạm
dưới 18 tuổi, thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu của VKSND
- Phân tích, đánh giá tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu ở thành phố Hà Nội; thực trạng thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế trong công tác này, nguyên nhân những hạn chế đó
- Xác định các quan điểm, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
Trang 134 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác thực hành quyền công tố vụ
án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện tại TP Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn về công tác thực hành quyền công tố (từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự) đối với các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới
18 tuổi phạm tội
- Về thời gian, không gian: Đánh giá tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội và thực trạng công tác thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trong 05 năm (từ năm 2017 đến năm 2021)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; căn cứ vào quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và tội phạm dưới 18 tuổi nói riêng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đối với hoạt động của các cơ quan công quyền trong đó có hoạt động của cơ quan tư pháp, VKS phải phát huy tính dân chủ, công khai, minh bạch, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Trong luận văn, tác giả áp dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật làm cơ sở đánh giá các vấn đề Để đạt được hiệu quả cao, tác giả sẽ kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, logic để nghiên cứu các vấn đề đưa ra
Trang 14Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện và
hệ thống về thực hành quyền công vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội, từ thực tiễn của thành phố Hà Nội Chính vì vậy, luận văn có một số đóng
góp khoa học mới sau:
- Luận văn xây dựng được khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai trò của thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn thành phố Hà Nội Xác định và phân tích các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn thành phố Hà Nội
- Đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng, làm rõ nguyên nhân, những hạn chế của hoạt động thực hành quyền công tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn ở thành phố Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2020
- Đưa ra quan điểm và một số giải pháp bảo đảm thực hành quyền công tố vụ
án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, từ thực tiễn thành phố Hà Nội trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn hiện nay
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên ngành luật và không chuyên ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng hoặc kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các Điều tra viên, kiểm sát viên…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố các
vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn TP Hà Nội
Chương 3: Yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm các vụ án xâm phạm sở hữu
1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu
* Khái niệm quyền sở hữu:
Quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức và một trong những quyền được ghi nhận tại các bản Hiến pháp của nước ta, quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Theo quy định tại Điều 158 BLDS năm 2015 thì Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật Còn Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai
*Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu:
Các tội xâm phạm sở hữu là những tội phạm được quy định tại Chương XVI của BLHS, gồm 13 điều luật, từ Điều 168 đến Điều 180 BLHS Do đó, để hiểu được khái niệm tội xâm phạm sở hữu, trước hết cần làm rõ khái niệm tội phạm Theo đó, Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.1
Như vậy, tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
Trang 16cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
*Khái niệm vụ án xâm phạm sở hữu:
Theo đó, Vụ án hình sự được hiểu là vụ việc có dấu hiệu tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự và đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm vụ án xâm phạm sở hữu là
vụ việc mà người nào đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân, và đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự
*Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội:
Người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, bị luật hình sự quy định là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự
*Quy định về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện:
Theo đó, các quy định về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, bao gồm các quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu, được quy định tại các Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 173 (Tội rrộm cắp tài sản), Điều 178 (Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản) trong Bộ luật Hình sự và các quy định về thực hành
Trang 17quyền công tố, được quy định tại các Điều 161, 162, 163, 164, 165, Điều 236 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng hình sự
1.1.2 Đặc điểm các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
* Chủ thể:
Để trở thành chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, trước hết phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi do BLHS quy định Theo đó, họ phải không thuộc trường hợp đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.2 Ngoài ra, họ còn phải đạt đến độ tuổi do BLHS quy định, cụ thể:
Họ là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, hoặc người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 178 (Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản) (Điều 12 BLHS)
* Khách thể:
Khách thể của tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là quan
hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ bị xâm phạm bởi hành vi phạm tội Theo đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ
sở hữu được luật hình sự bảo vệ, đó là sự xâm phạm đến các quyền cụ thể như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản Bên cạnh đó, hành
vi nguy hiểm cho xã hội còn có thể xâm phạm đến các khác thể khác là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quan hệ sở hữu thông qua việc tác động lên đối tượng cụ thể là tài sản, thông qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu
* Mặt khách quan:
Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu là biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của tội phạm xâm phạm sở hữu, bao gồm hành vi phạm tội, hậu
Trang 18quả của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm, những dấu hiệu này diễn ra và tồn tại ở thế giới khách quan Trong đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội là yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định trong việc xác định cấu thành tội phạm
Hành vi nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu được hiểu là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu được Luật hình
sự bảo vệ Theo đó, quan hệ tài sản là quan hệ chủ yếu, bên cạnh đó còn có các quan hệ khác như tính mạng, sức khỏe, trật tự an, an toàn xã hội Biểu hiện của hành vi xâm phạm các quyền sở hữu nói chung và tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng chủ yếu là bằng hành động, như: hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; hành vi trộm cắp tài sản; hành vi bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Bên cạnh đó hành vi phạm tội của một số tội trong nhóm các tội xâm phạm sở hữu có thể được thực hiện dưới dạng không hành động, như: hành vi vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác; hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
Đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung, xâm phạm sở hữu do người chưa thành niên thực hiện nói riêng thì tính chất chiếm đoạt là đặc trưng của hành vi phạm tội Tuy nhiên, có một số tội được xếp vào nhóm các tội xâm phạm sở hữu nhưng hành vi không có tính chất chiếm đoạt, như: Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180)
Ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội thì hậu quả thiệt hại là một trong những yếu tố thuộc mặt khách quan của hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu do người chưa
Trang 19thành niên thực hiện Đặc trưng về hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu là hậu quả
mà các hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản Hậu quả thiệt hại về tài sản là căn cứ để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Đặc biệt, một số tội xem định lượng tài sản bị thiệt hại là căn cứ để xác định có truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ là hành vi vi phạm, như: hành vi công chiếm đoạt tài sản, hành vi trộm cắp tài sản, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì
bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thiệt hại có giá trị từ 2.000.000 đồng; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi mức thiệt hại có giá trị từ 4.000.000 đồng; hành vi chiếm giữ trái phép tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hậu quả thiệt hại là từ 10.000.000 đồng Ngoài ra, trong hầu hết các tội xâm phạm quyền sở hữu thì hậu thiệt hại còn là cơ sở để xác định khung hình phạt, như: đối với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thi hành vi phạm tội thuộc khoản 1 Điều 172 BLHS khi thiệt hại từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, thuộc Khoản 2, khi thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, thuộc khoản 3, khi thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng Như
đã trình bày trên, nên cạnh là những thiệt hại về tài sản thì đối với một số tội, hậu quả thiệt hại còn có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, như: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Ngoài ra, để được xem là hậu quả của hành vi xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, yêu cầu giữa hậu quả thiệt hại và hành vi xâm phạm
sở hữu phải có mối quan hệ nhân quả, hành vi là cái có trước, hậu quả thiệt hại phải
là cái có sau và là kết quả của hành vi xâm phạm sở hữu
*Mặt chủ quan:
Mặt chủ quan của tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là mặt bên trong của tội phạm, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi xâm phạm sở hữu và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: Lỗi và động cơ mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội, trong
đó quan trọng nhất là yếu tố lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi phạm tội Đối với
Trang 20các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng, chủ thể phạm tội đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý và có mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội là vụ lợi, như: hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, cũng có một số tội thuộc nhóm các tội xâm phạm ở hữu được thực hiện với lỗi cố ý nhưng không vì mục đích chiếm đoạt tài sản, như: hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác Ngoài ra, một số tội thuộc nhóm các tội xâm phạm ở hữu được thực hiện với lỗi vô ý, như: hành vi của người có nhiệm
vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; hành vi vô ý gây thiệt hại cho tài sản của người khác
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi thực hành quyền
công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm
sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
* Khái niệm thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội:
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, trước hết cần làm rõ khái niệm quyền công tố Theo
Từ điển tiếng Việt thì “Công tố” là từ ghép Hán Việt, trong đó, “Công” có nghĩa là thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư Còn“Tố” là nói về những sai phạm, tội lỗi
của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều
người; “Công tố” có nghĩa là “truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa
án, nhân danh Nhà nước” 3 Qua đó, có thể hiểu Quyền công tố là quyền nhân danh
3 Viện khoa học pháp lý-Bộ tư pháp (1999), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phổ thông
Trang 21Nhà nước để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Tại Việt Nam, quyền này được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân, do đó, Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này được thực hiện trong các giai đoạn: giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố tội phạm; giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và trong hoạt động tư pháp về hình sự
Theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì Thực hành quyền công tố được hiểu là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Cùng với thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp cũng là chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân Tại Điều 3, Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã phân biệt và quy định cụ thể hai chức năng này của Viện kiểm sát nhân dân Căn cứ quy định của pháp luật và tổng kết hoạt động thực tiễn, có thể xác định các dấu hiệu cơ bản để phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Về phạm vi: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND từ khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc việc truy cứu trách nhiệm hình sự Trong khi đó, Kiểm sát hoạt động tư pháp từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi thi hành xong bản
án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án
Về đối tượng: Thực hành quyền công tố có đối tượng là tội phạm và người
phạm tội Trong khi đó, Kiểm sát hoạt động tư pháp có đối tượng là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Về hình thức: Thực hành quyền công tố thường sử dụng các hình thức văn
bản như: Cáo trạng, lệnh, quyết định, kháng nghị Trong khi đó, Kiểm sát hoạt động
tư pháp thường sử dụng các hình thức văn bản như: Công văn, kiến nghị…
Trang 22Về hậu quả pháp lý: Thực hành quyền công tố dẫn đến việc truy cứu hoặc
không truy cứu trách nhiệm hình sự Trong khi đó, Kiểm sát hoạt động tư pháp thì chỉ xem xét, xử lý vi phạm, thiếu sót của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.4
Hoạt động thực hành quyền công tố đối với các vụ án xâm phạm sở hữu do người chưa thành niên thực hiện là một trong những hoạt động thực hành quyền công tố đối với những vụ án cụ thể, đó là vụ án xâm phạm sở hữu do người chưa thành niên thực hiện, hoạt động này được bắt đầu từ giai đoạn giải quyết nguồn tin
về tội phạm và kết thúc khi vụ án được giải quyết xong
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố
các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện như sau: Thực hành
quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là tổng hợp các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu, được thực hiện từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố đến giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
* Đặc điểm thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội:
Từ khái niệm về thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, có thể thấy hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội này có những đặc điểm như sau:
Một là, thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18
tuổi thực hiện là sự thể hiện quyền lực Nhà nước trong TTHS
Như đã phân tích trên, hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là việc VKSND nhân danh Nhà nước quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự và hình thức, mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, không đề cập đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHS
4 TS Nguyễn Tiến Sơn (2012), ““Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
Việt Nam”, Luận án tiến sỹ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012
Trang 23Đây là các hoạt động thể hiện quyền lực Nhà nước trong việc thực hiện chức năng buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Qúa trình thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện chính là quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật nhằm đảm bảo cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi thực hiện, đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật nói chung và quy định đối với người dưới 18 tuổi nói riêng Tất cả các quyết định của VKS khi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới
18 tuổi thực hiện đều thể hiện quyền lực nhà nước và bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi, qua đó, bảo đảm cho quá trình giải quyết các vụ án hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi cho người chưa thành niên
Hai là, thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18
tuổi thực hiện là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành theo quy định của pháp luật
Tại Điều 107 Hiến pháp đã khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Tiếp đó, Điều 2, Luật tổ chức VKSND tiếp tục khẳng định chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát Qua đó có thể khẳng định Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được phát động quyền công tố, thực hiện việc buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội nói chung, người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu nói riêng Khi thực hành quyền công tố trong các giai đoạn của tố tụng hình sự thì VKS được pháp luật quy định cho các nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, như: Yêu cầu
Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật; Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc
Trang 24tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân Qua phân tích trên có thẻ thấy được VKSND là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng
Ba là, thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18
tuổi thực hiện phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của pháp luật, đặc biệt là những quy định đối với đặc điểm của người dưới 18 tuổi
Thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhằm buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội nói chung, người dưới 18 tuổi nói riêng, là quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình
sự và các văn bản pháp luật có liên quan Do đó, việc tuân thủ chặt chẽ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan trong quá trình thực hành quyền công tố, sẽ đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình
sự, việc buộc tội của VKS diễn ra đúng pháp luật, đảm bảo không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm Theo đó, BLTTHS đã quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của các hoạt động trong các giai đoạn của Tố tụng hình sự Việc quy định này đảm bảo quá trình thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ và truy cứu trách nhiệm hình sự diễn ra khách quan và đúng pháp luật Bên cạnh đó, hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người dưới 18 tuổi mà còn bảo đảm quyền con người, quyền công dân của người dưới 18 tuổi, vì hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án do người dưới
18 tuổi thực hiện, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi
Do đó, đây là yêu cầu luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện Thực tế hiện nay, pháp luật đã có nhiều sửa đổi theo hướng tiến bộ, nhằm đảm bảo các quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội Từ đó có thể khẳng định các hoạt động thực hành quyền công tố đối với người dưới 18 tuổi thực hiện của VKSND đều phải tuân
Trang 25theo quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan, đặc biệt là các quy định đối với người dưới 18 tuổi nhằm đảm bảo hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu diễn ra khách quan và đúng quy định pháp luật, đồng thời đảm bảo tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi
1.2.2 Ý nghĩa thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Một là, ý nghĩa trong việc bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người dưới 18 tuổi
phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Có thể thấy rằng, thông qua việc thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, Viện kiểm sát có đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được, từ đó, xác định người bị tình nghi có thực hiện hành vi phạm tội hay không để thực hiện việc buộc tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị tình nghi Qúa trình thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng đúng, đầy đủ các biện pháp được quy định tại BLTTHS quy định để thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp cần thiết, phát hiện vi phạm của Cơ quan điều tra, Tòa án để kịp thời yêu cầu khắc phục, chấm dứt, cũng như thực hiện việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa để xét xử và truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Thông qua đó, bảo đảm việc phát hiện, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan để xử lý, khởi tố, điều tra mọi hành vi phạm tội, người dưới 18 tuổi phạm tội xâm phạm sở hữu, góp phần đảm bảo kịp thời xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không
bỏ lọt tội phạm
Hai là, ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt
là quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi
Trang 26Theo đó, trong quá trình thực hành quyền công tố các tội xâm phạm quyền sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, Viện kiểm sát có trách nhiệm đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu được cũng như trình tự thủ tục và thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng để xem xét quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giáo thì các
cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có vi phạm pháp luật hay không, tài liệu chứng cứ thu được có đủ để xác định người bị tình nghi đã thực hiện tội phạm hay không để ra quyết định buộc tội hay không tội Từ
đó, thực hiện việc truy tố ra trước Tòa án và thực hiện việc kháng nghị nếu cho rằng Bản án của Tòa án sơ thẩm là không có căn cứ pháp luật, trái pháp luật, làm oan người vô tội, hay bỏ lọt tội phạm Tất cả những hoạt động trên ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi
bị tình nghi thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu Thông qua nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong BLTTHS, VKS kịp thời phát hiện và yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khắc phục, xử lý các vi phạm tố tụng, không phê chuẩn, yêu cầu hủy hoặc ra quyết định hủy đối với các quyết định không có căn
cứ, trái pháp luật của Cơ quan điều tra, đặc biệt các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm nếu xét thấy không có căn cứ pháp luật, trái pháp luật, làm oan người vô tội Thông qua đó, đảm bảo không có người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật, góp phần đảm bảo các quyền công dân, quyền con người, đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi bị tình nghi thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu
Ba là, hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người
dưới 18 tuổi thực hiện có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
Hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện chính là quá trình áp dụng và sử dụng pháp luật trên thực tiễn của Viện kiểm sát, là quá trình đưa các quy định trong các văn bản pháp luật vào các hoạt động, tình huống, vụ việc cụ thể Thông qua hoạt động thực hành quyền
Trang 27công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, Viện kiểm sát kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập, lỗi thời được quy định trong BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan nói chung và các quy phạm pháp luật quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng đặc biệt với đối tượng tội phạm chưa thành niên Từ đó, Viện kiểm sát có đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm khác phục các tồn tại, hạn chế để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Bên cạnh đó, thông qua thực tiễn công tác thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, giúp Viện kiểm sát phát hiện ra những dạng vi phạm pháp luật mới, những dạng quan hệ xã hội mới nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh, từ đó có kiến nghị để kịp thời ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ trên Thông qua đó, giúp hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hình sự đặc biệt là quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, hệ thống pháp luật nói chung
1.2.3 Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm
sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
* Đối tượng thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện:
Đối tượng của quyền công tố được hiểu là những gì mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích nhất định Do đó, đối tượng của thực hành quyền công tố chính là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành vi xâm phạm các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ mới có thể là đối tượng của thực hành quyền công tố Theo đó, Viện kiểm sát thông qua hoạt động thực hành quyền công tố tác động vào tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, là chủ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội mà BLHS quy định là tội phạm Từ phân tích trên, có thể hiểu đối tượng thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện chính
là tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện và người phạm tội là
Trang 28người dưới 18 tuổi Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của BLHS bao gồm: Tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170), tội cướp giật tài sản (Điều 171), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản (Điều 173), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176), tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177), tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178), tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180)
Người thực hiện hành vi phạm tội trong hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là người dưới 18 tuổi, khi
họ thực hiện một trong các hành vi xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI của BLHS Xuất phát từ việc, đối tượng là người dưới 18 tuổi, là những người chưa phát triển toàn diện về cả thể chất và tinh thần Do đó, BLTTHS quy định riêng để áp dụng đối với họ, như: Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt; Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.5 Hay yêu cầu Người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh
5 Điều 414 BLTTHS
Trang 29nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi.6
* Phạm vi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện:
Phạm vi thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện được bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, đến khi giải quyết xong vụ án Theo đó, VKS bắt đầu thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu từ khi Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý, giải quyết nguồn tin
về tội phạm (khi có quyết định phân công Điều tra viên giải quyết nguồn tin về tội phạm, có thông báo về việc giải quyết nguồn tin về tội phạm), trong suốt giai đoạn giải quyết nguồn tin, giai đoạn điều tra vụ án, truy tố bị can, đến khi vụ án được giải quyết xong (vụ án bị đình chỉ hoặc có bản án có hiệu lực của Tòa án)
* Nội dung thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người
dưới 18 tuổi thực hiện:
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án xâm phạm
sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội, như: yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố, hủy bỏ các quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố…
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội, như: quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp cần thiết
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội, như: tham gia xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ, luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết
Trang 30định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.
*Một số lưu ý khi thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện:
- Căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi: Việc xác định tuổi của người
bị buộc tội dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu, như: Giấy chứng sinh; Giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn cước công dân; Sổ hộ khẩu;
Hộ chiếu Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức,
cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác
có giá trị chứng minh về tuổi của người đó
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đối với vụ án người dưới 18 tuổi thực hiện phải có ít nhất một trong các điều kiện sau đây: Có kinh nghiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi; Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia
tố tụng là người dưới 18 tuổi; Đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi
- Thông báo tố tụng đến người dưới 18 tuổi: Trước khi lấy lời khai, hỏi cung người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước trong thời gian hợp lý cho người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung để những người này tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Hình thức thông báo là bằng văn bản, trong
đó ghi rõ họ tên, địa chỉ, điện thoại liên lạc của người ra thông báo và người được thông báo, hoặc bằng hình thức khác, như: thông báo trực tiếp, qua điện thoại hoặc phương tiện điện tử khác nhưng ngay sau đó phải gửi thông báo bằng văn bản
Trang 31- Việc lấy lời khai, hỏi cung người dưới 18 tuổi: Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ Việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa, người đại diện có thể hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Thời gian lấy lời khai người dưới
18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp: Phạm tội có tổ chức; Để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn; Ngăn chặn người khác phạm tội; Để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án; Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án
- Bào chữa cho người dưới 18 tuổi: Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Trang 32Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của Luận văn đã phân tích các vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện, qua nội dung phân tích thấy được, tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân Đồng thời kết quả phân tích cũng cho thấy, thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát được thực hiện trong phạm
vi quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu bị coi là tội phạm;được thực hiện từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố tội phạm; giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và trong hoạt động tư pháp về hình sự theo đúng quy định của pháp luật Thực hành quyền công tố các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện có ý nghĩa trong việc bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người dưới 18 tuổi phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi và có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Hoạt động trên có đối tượng là tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện và người phạm tội là người dưới 18 tuổi phạm vi bắt đầu từ khi giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, đến khi giải quyết xong vụ án
Trang 33Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Quy định của pháp luật về thực thành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Theo quy định của BLTTHS, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát được thực hiện trong các giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự Theo đó, trong quá trình thực hành quyền công tố nói chung, thực hành quyền công tố đối với việc giải quyết vụ án xâm phạm sở hữu
do người dưới 18 tuổi phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp của thành phố Hà Nội được pháp luật quy định cho các quyền và nhiệm vụ cụ thể như sau:
2.1.1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu do
người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 161 và 165 Bộ luật tố tụng hình
sự Bao gồm các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như:
Một là, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố đối với
những vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội
thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra, Cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra mà Viện kiểm sát phát hiện ra có vi phạm hoặc việc khởi tố của Cơ quan điều tra chưa chính xác hoặc bỏ lọt tội phạm
Hai là, hủy bỏ các quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi
Trang 34thực hiện hành vi phạm tội; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can khi xét thấy có đủ căn cứ để xác định người dưới 18 tuổi đã thực hiện hành vi thuộc các tội xâm phạm
sở hữu Trong khi tiến hành điều tra, nếu xét thấy có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố nếu xét thấy người thực hiện là người dưới 18 tuổi nhưng hành vi phạm tội thuộc trường hợp không cần thiết phải bị khởi tố
Ba là, khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án xâm phạm sở hữu
do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội, khởi tố bị can trong những trường hợp: (1) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (2) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và phát hiện có dấu hiệu tội phạm; (3) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử
Bốn là, phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đặc biệt đối với người thực hiện hành vi phạm tội lại là người dưới 18 tuổi thì việc áp dụng các biện pháp trên cần phải được cân nhắc thận trọng và đúng nguyên tắc quy định tại Điều 414 BLTTHS, nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực có thể gây ra cho người dưới 18 tuổi
Năm là, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (như: giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh), biện pháp cưỡng chế (như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản) Như đã trình bày trên, khi xem
Trang 35xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, xác định thực sự cần thiết mới được áp dụng Theo đó, chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết Đồng thời chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại BLTTHS Khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì
cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác Bên cạnh đó, cần phải tuân thủ đúng quy định: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của BLTTHS; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c,
d và đ khoản 2 Điều 119 của BLTTHS; Đối với bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm thì có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn
Sáu là, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt trong quá trình điều tra vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội
Bảy là, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để
kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc
Trang 36trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố
Tám là, khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát
hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của BLHS
Chín là, quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết
định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội
2.1.2 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố đối với vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong
giai đoạn truy tố đối với các vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu do
người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại Điều 236 Bộ luật
tố tụng hình sự Bao gồm các nhiệm vụ, quyền hạn như:
Một là, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (như: giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh), biện pháp cưỡng chế (như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); yêu cầu CQĐT truy nã bị can
Hai là, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ
án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp cần thiết
Ba là, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung
tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho CQĐT
Trang 37Bốn là, quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết
định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra
Năm là, quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ
sung khi thuộc một trong các trường hợp:(1) Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; (2) Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; (3) Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can; (4) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Sáu là, quyết định tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây
nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can: Bị can bỏ trốn; Bị can mắc bệnh hiểm nghèo; Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Quyết định tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp: Bị can phạm nhiều tội; Bị can phạm tội nhiều lần; Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có Quyết định chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền khi thuộc một trong các trường hợp: Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra và đề nghị chuyển vụ án; Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra; Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát đã yêu cầu chuyển vụ án mà Cơ quan điều tra không thực hiện Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú; Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, khi có kết luận giám định pháp y tâm thần xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự
Bảy là, quyết định truy tố Theo đó, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can
trước Tòa án bằng bản cáo trạng Trong đó, ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội,
Trang 38chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng
Tám là, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án khi thuộc một trong các
trường hợp: Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản và hành vi thực tế đã thực hiện chưa đủ yếu tố cấu thành của một tội khác; Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc khi có quyết định đại xá; Đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả và thuộc một trong các trường hợp sau: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp
phạm các tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”,
“tội hiếp dâm”, “cướp giật tài sản”, “sản xuất trái phép chất ma túy”, “tàng trữ trái phép chất ma túy”, “vận chuyển trái phép chất ma túy”, “mua bán trái phép chất ma túy”, “chiếm đoạt chất ma túy”; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250,
251 và 252 của BLHS; Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án Quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc các trường hợp: có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố; bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm
Trang 39đình chỉ vụ án; Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi
vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can
Chín là, quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng
các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
2.1.3 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
Nhiệm vụ và quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự nói chung, vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi
phạm tội được quy định tại Điều 266 BLTTHS, bao gồm:
* Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:
Một là, Kiểm sát viên được phân công tiến hành công bố cáo trạng, công bố
quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;
Hai là, KSV tham gia xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
Ba là, KSV được phân công tham gia luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc
toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
Bốn là, Viện kiểm sát thực hiện việc kháng nghị bản án, quyết định của Tòa
án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
* Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm:
Một là, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố trình bày ý
kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị;
Hai là, Kiểm sát viên bổ sung chứng cứ mới;
Ba là, Kiểm sát viện được phân công có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị;
rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị;
Bốn là, KSV tham gia xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
Trang 40Năm là, Kiểm sát viên được phân công phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp;
Sáu là, Kiểm sát viên tham gia tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người
tham gia tố tụng khác tại phiên tòa
* Trong việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật:
Một là, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án và quyết định
đã có hiệu lực pháp luật Theo đó, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
Hai là, VKS đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi,
bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa, hoặc tại phiên tòa nếu chưa hết thời hạn kháng nghị; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm
Ba là, VKS đã ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm có quyền quyết định
việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó đã bị kháng nghị giám đốc thẩm
2.2 Thực tiễn thực thành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội
* Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của thành phố Hà Nội tác động đến hoạt động thực hành quyền công tố các vụ án xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi phạm tội:
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, Thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước Vị trí địa lý thành phố Hà Nội nằm ở vị trí từ 20°53' đến 21°23'