Về mặt lý luận, khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được đưa ra trong Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam Phần các tội phạm của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội:Tội tàng trữ trái phé
Trang 1ĐINH THỊ HƯỜNG
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2023
Trang 2ĐINH THỊ HƯỜNG
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN VĂN LUYỆN
HÀ NỘI – 2023
Trang 3và trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo đúng quy định Đềtài luận văn này phù hợp với vị trí, chức vụ, đơn vị công tác của tôi và chưa từng được công bố trước đây
Tác giả luận văn
ĐINH THỊ HƯỜNG
Trang 4trong suốt quá trình nghiên cứu, viết luận văn Những ý kiến đóng góp của thầy
là nền tảng đã giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn của mình một cách tốt nhất
Tôi cũng chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian tôi học tập tại trường Với những kiến thức thu thập được đó không chỉ là cơ sở cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là kiến thức phục vụ cho công việc, cuộc sống sau này của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành, ủng hộ
và khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua Đây chính là nguồn động viên lớn lao nhất mà tôi may mắn có được, giúp tôi có thêm niềm tin và động lực để học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2022
Học viên
ĐINH THỊ HƯỜNG
Trang 52 Tình hình nghiên cứu của đề tài 10
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 12
1.1 Một số vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma túy 13
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về ma túy 13
1.1.1.1 Khái niệm về ma túy 13
1.1.1.2 Đặc điểm về ma túy 14
1.1.2 Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy 17
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 19
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi banhành Bộ
Trang 61.3.2 Hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy 29
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚITỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
37 2.1 Khái quát tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa bàn quận Hà Đông,
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 69
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy 69
3.2.2 Các giải pháp tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8Bảng 2.4 Tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy so với các tội phạm về ma túy khi áp dụng BLHS năm 2015 trên toàn quốc giai đoạn 2016 - 2021
Bảng 2.5 Tình hình truy tố, xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên toàn quốc giai đoạn 2016 - 2021
Bảng 2.6 Tình hình truy tố, xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa bàn quận Hà Đônggiai đoạn 2016 - 2021
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau nhiều năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu và tiến bộ về mọi mặt của đời sống xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình tội phạm còn diễn biến hết sức phức tạp, trong đó có các tội phạm về ma túy Ma túy gây ra rất nhiều tác hại đối với sức khỏe của con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ra sự mất ổn định an ninh trật tự xã hội Nhận thức được điều này, pháp luật hình sự đối với các tội về ma tuý luôn được sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng cụ thể và nghiêm khắc hơn nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này
Hiện nay, các quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã phát huy được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống ma túy Tuy nhiên, các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhất là hành vi tàng trữ thường là hành vi cầu nối đan xen liên tiếp với các hành vi khác như mua bán và vận chuyển Từ đó dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức về dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và định tội danh đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội phạm về tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng ở Việt Nam đang diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng Các đối tượng phạm tội rất liều lĩnh, manh động, có tính tổ chức, chuyên nghiệp Đa phần các đối tượng phạm tội đều có tiền án, tiền sự, có kinh nghiệm đối phó nên khi bị bắt đã tìm cách tẩu tán tang vật, ngoan cố không nhận tội khiến cho việc xử lý gặp nhiều khó khăn
Từ những lý do nêu trên, một vấn đề cấp thiết được đặt ra là cần phải hoàn thiện hơn nữa tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong BLHS Việt Nam
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực
Trang 10tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn
tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các tội phạm về ma túy nói chung, tội tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng, cụ thể là:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập II, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2020; Sách Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của Tiến sĩ Trần Văn Biên, Tiến sĩ Đinh Thế Hưng và tập thể tác giả biên soạn, nhà xuất bản Thế giới, năm 2017; Sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (phần các tội phạm), của Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Luyện và tập thể tác giả biên soạn, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2018
Ngoài ra còn có luận văn thạc sĩ của các tác giả như: Luận văn thạc sĩ luật
học của Nguyễn Thị Thu Thảo “Các tội phạm về ma túy trong luật Hình sự Việt
Nam và thực tiễ xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010” năm
2014, trường Đại học Quốc gia khoa Luật; Luận văn thạc sĩ luật học của Võ Văn
Ta “Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, năm 2019, Học viện Khoa học xã hội; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Lê Phú Túc “Tình hình
tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh”, năm
2020, trường Học viện khoa học xã hội Ngoài ra còn có Luận án tiến sĩ Luật
học của Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Mai, “Đấu tranh phòng chống các tội phạm ma
túy ở Việt Nam”, năm 2007, Trường Đại học Luật Hà Nội; Đỗ Thành Trường,
“Các tội phạm về ma túy trên đại bàn tỉnh Điện Biên: tình hình, nguyên nhân và
giải pháp phòng ngừa”, năm 2017, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học
xã hội
Các nghiên cứu nêu trên đã phần nào giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm ma túy nói chung, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về tội phạm ma túy nói chung mà chưa có nghiên cứu cụ thể về một tội danh cụ thể Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu đề tài này vẫn mang tính cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn
Trang 113 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam
Làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để giái quyết tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên thực tiễn Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật luật về tội phạm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-Làm rõ các vấn đề lý luận, các quan điểm khoa học có liên quan đến tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Làm rõ quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các dấu hiệu pháp
lý đặc trưng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Làm rõ những kết quả đạt được, những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hiện nay và đề xuất giải pháp khắc phục các hạn chế bất cập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Các quan điểm khoa học xoay quanh các vấn đề như khái niệm, đặc điểm, các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thực tiễn áp dụng pháp luật trong một số vụ án tiêu biểu trên toàn quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung, đề tài được nghiên cứu dựa trên các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng thực hiện
- Về không gian, thời gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 5 năm (từ năm 2016 – 2021) từthực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Trang 12Để giải quyết những vấn đề trên, việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng chống tội phạm, văn bản pháp luật của Nhà nước về các vấn đề tội phạm và hình phạt
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp, diễn dịch, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án và các phương pháp nghiên cứu của khoa học hình sự
khác
6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Khi nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ được những cơ sở khoa học, cơ sở lý luận
và đánh giá được thực trạng của việc áp dụng quy định của pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy Qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện khi áp dụng đúng pháp luật hình sự để xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã nêu lên những hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và hướng hoàn thiện sẽ có ý nghĩa nhất định trong việc lựa chọn căn cứ để áp dụng đúng pháp luật hình sự
về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các cụm từ viết tắt và kết luận, luận gồm có 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chương 3: Yêu cầu, giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI
TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1.1 Một số vấn đề lý luận về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về ma túy
1.1.1.1 Khái niệm về ma túy
Theo từ điển tiếng Việt, ma túy là một từ Hán Việt với nghĩa “ma” là tê
mê, “túy” là say sưa Như vậy “Ma túy” là say đắm mê mẩn - chỉ chung các chất độc hại gây ra nghiện ngập không dứt bỏ được [12]
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoá giáo
dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể sẽ làm
thay đổi chức năng của cơ thể”
Tổ chức Y tế Thế giới (1982) đã phát triển định nghĩa sau: “Ma tuý theo
nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật” Trong cách hiểu đơn giản, ma túy có nghĩa là mọi vật chất khi đưa vào
trong cơ thể người sẽ thay đổi chức năng sinh lý học hoặc tâm lý học loại trừ thực phẩm, nước và ôxy
Hai định nghĩa mà Từ Điển Hán Việt và Tổ chức Y Tế thế giới đã đưa ra
đã khái quát chung về tác động của ma túy đến cơ thể của con người nói riêng
và sinh vật nói chung Nhưng theo góc nhìn pháp lý thì hai định nghĩa nói trên chưa chỉ ra được sự rạch ròi giữa chất ma túy và chất kích thích
Chất kích thích cũng giống như chất ma túy Khi được đưa vào cơ thể cũng gây ra sự thay đổi về sinh lý và tâm lý con người Nếu sử dụng thường xuyên, sẽ dẫn đến tình trạng lệ thuộc, không thể dứt bỏ được Một số chất kích thích phổ biến là rượu, bia Về bản chất, ma túy cũng là một dạng chất kích thích nhưng mức độ tác động lên cơ thể con người mạnh mẽ và nguy hiểm hơn cả
Bên cạnh đó, Luật phòng chống ma túy năm 2021 cũng đưa ra khái niệm
về chất gây nghiện và chất hướng thần Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc
Trang 14ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng…”
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/05/2018 để thay thế các Nghị định trước đây quy định
về danh mục chất ma túy và tiền chất Theo đó, quy định của pháp luật Việt Nam có 515 chất ma túy và 44 tiền chất ma túy được chia làm 4 danh mục như sau:
Danh mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền Bao gồm 46 chất như heroine,cần sa và các chế phẩm từ cần sa, …
Danh mục II: Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền Bao gồm 398 chất như cocaine, methadone, lá cô ca, thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện, …
Danh mục III: Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền Bao gồm 71 chất như allobarbital, alprazolam, butalbital, clobazam,…
Danh mục IV: Các tiền chất Bao gồm 44 tiền chất như Acetic anhydride, Acetone, Sulfuric acid,…
Như vậy, các định nghĩa được nêu trong các văn bản phát luật nêu trên vừa thể hiện được đặc điểm tự nhiên vừa thể hiện được đặc điểm pháp lý của chất ma túy Tuy nhiên, việc liệt kê các chất ma túy sẽ dẫn đến trường hợp có những chất ma túy mới xuất hiện nhưng lại chưa được ghi nhận trong danh mục, dẫn đến không có cơ sở để xử lý
1.1.1.2 Đặc điểm về ma túy
Theo quy định của BLHS năm 2015 các tội phạm về ma túy, các chất ma túy được phân loại theo các căn cứ:
Trang 15Thứ nhất, căn cứ vào nguồn gốc, ma túy được chia thành: ma túy tự nhiên
+ Cây cô ca (tên khoa học là Erythroxylon), là cây bụi, lá hình trái xoan
hay bầu dục mọc so le, màu xanh lục, đậm, hơi có mũi nhọn, mép nguyên; gân phụ rất mảnh, hoa màu vàng nhạt Do đó, nếu mua bán trái phép lá cây cô ca đến khối lượng nhất định do pháp luật quy định thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự, còn nếu mua bán cây, hoa, quả, hạt của cây cô ca dưới mức quy định thì không phạm tội
+ Lá Khat (tên khoa học là Catha edulis hay còn gọi là lá Thiên đường),
là lá cây Khat, mới xuất hiện tại Việt Nam trong thời gian gần đây Đây là loại
ma túy cực độc, không chỉ gây ảo giác mà còn có khả năng gây ung thư
+ Nhựa thuốc phiện là nhựa lấy từ cây thuốc phiện có màu sắc nâu đen, mùi ngái đặc trưng, vị hơi chát và đắng Nhựa thuốc phiện tồn tại dưới các dạng: Nhựa sống, nhựa chín, xái thuốc phiện
+ Nhựa cần sa được chiết xuất từ các bộ phận lá, hoa, quả,… của cây cần
sa
+ Cao cô ca là sản phẩm công đoạn đầu tiên của quá trình chiết xuất
cocain từ lá côca
lá coca, không màu và không mùi, vị hơi đắng mát và gây cảm giác hơi tê cho đầu lưỡi, thường được bán dưới dạng bột hay tinh thể màu trắng
- Ma túy tổng hợp, bán tổng hợp:
+ Heroin (tên thường gọi: hàng trắng, bạch phiến, xì ke) là loại chất gây nghiện được chiết xuất từ quả cây thuốc phiện hoặc được tổng hợp từ các chất
Trang 16hóa chất trong phòng thí nghiệm Heroin có công thức phân tử là C21H23NO5,
thường ở dạng bột, có màu trắng, nâu hoặc vàng nhạt, không mùi, đắng, không
tan được trong nước
+ Amphetamine (viết tắt AMPH) ngoài ra còn có những tên gọi khác là
ngà, vàng, nâu, dạng viên, tinh thể hoặc nước màu đỏ và thường được trộn lẫn với nhiều chất khác
+ Methamphetamine (viết tắt METH) có công thức C10H15N, dạng bột trắng hoặc vàng, nâu, đỏ, dạng muối hydrochlorit bột, vị đắng, dễ hòa tan trong nước, thường sử dụng theo hình thức nuốt hoặc hít Methamphetamine là chất gây nghiện thuộc nhóm các thuốc kích thích dạng amphetamine, tuy nhiên nó tác dụng dược lý mạnh hơn, kéo dài và độc hại hơn so với amphetamine
+MDMA (tên khoa học MethyleneDioxyl-MethamphetAmine)là thuốc
gây ảo giác giả tạo, tác động trực tiếp lên hệ thần kinh thị giác, hệ thần kinh vận động, gây ra những cơn co cơ ở các chi MDMA thường được lưu hành dưới dạng viên nén, viên con nhộng, kích thước, hình dạng giống như các loại thuốc chữa bệnh thông thường, dễ vận chuyển, dễ cất giấu
+ XLR-11 (tên khoa học 5-fluoro-UR-144) là hoạt chất chính có trong “cỏ Mỹ”, mới được đưa thêm vào danh mục các chất ma túy và tiền chất trong Nghị định 126/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành vào ngày 09/12/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2016 Đây là chất ma túy còn nguy hiểm hơn cả cần sa, khi
sử dụng sẽ gây ảo giác mạnh, loạn thần, giãn đồng tử, kích động, căng thẳng, lo lắng, có thể có những tư tưởng cực đoan gây hại cho mình và người khác Theo
tài liệu của Tổng cục Cảnh sát - BCA, "cỏ Mỹ là các gói thực vật khô, cắt nhỏ,
được tẩm một số hoạt chất và có mùi thơm đặc trưng, thường được ngụy trang, gán mác là trà giảm cân, spice,…để lưu hành, vận chuyển”.[1]
Thứ hai, căn cứ vào trạng thái lỏng, hay rắn: BLHS phân loại các chất ma túy thành các chất chất ma túy ở thể rắn (dạng bột, viên nén, viên con nhộng, bánh,…) và những chất ma túy ở thể lỏng
Trang 17Thứ ba, căn cứ vào trạng thái tươi, hay khô:
+ Quả thuốc phiện khô là quả thuốc phiện chưa chín còn ở trên cây được rạch để lấy nhựa, sau khi thu hoạch nhựa thuốc phiện, quả thuốc phiện để khô hoặc được phơi khô tuy không lấy được nhựa thuốc phiện nhưng hàm lượng Moocphin vẫn còn tuy không nhiều như quả thuốc phiện còn tươi
+ Quả thuốc phiện tươi là quả thuốc phiện đã được tách khỏi cây thuốc phiện nhưng còn tươi, hàm lượng Morphine còn cao Có nhiều trường hợp mắt thường cũng có thể xác định được quả thuốc phiện đó là khô hay tươi, chỉ một
số trường hợp quả thuốc phiện héo nhưng chưa phải đã khô mới khó xác định bằng mắt thường
1.1.2 Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là một loại tội phạm độc lập, cụ thể, vì vậy khái niệm của loại tội phạm này phải mang tính cụ thể hóa và liên quan đến khái niệm “Tội phạm” BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã đưa ra
khái niệm về “Tội phạm” rất cụ thể và rõ ràng tại khoản 1, Điều 8 Theo đó: Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự[21]
Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch 17/2017/TTLT- BCA-VKSTC TANDTC-
BTP cũng đã đưa ra định nghĩa về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Tàng
trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào như trong nhà, chôn dưới đất, giấu trên mái nhà, ngoài vườn, trong vali, cốp thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người… không kể trong thời gian là bao lâu mà không nhằm mục đích mua
Trang 18bán hay sản xuất trái phép chất ma túy Đồng thời phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi cố ý
Trong khái niệm nêu trên, “cất giữ” có nghĩa là giữ lại để sử dụng trong một thời gian dài; “cất giấu” có nghĩa là để nơi kín đáo không cho người khác thấy Cùng với đó, việc cất giữ, cất giấu chất ma túy phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện bất kể là trong thời gian bao lâu
Về mặt lý luận, khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được đưa ra trong Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Trường Đại
học Kiểm sát Hà Nội:Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 249 BLHS [21]
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thường là hành vi cầu nối đan xen liên tiếp với các hành vi khác như mua bán và vận chuyển, sản xuất Cụ thể, người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy sau khi có được ma túy có mục đích là bán ma túy cho người khác nhằm thu được lợi ích; người phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy sau khi có được ma túy thì có mục đích chuyển dịch bất hợp pháp từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào; người phạm tội sản xuất trái phép chất ma túy thì làm ra chất ma túy (chế biến, điều chế…) bằng thủ công hoặc có áp dụng khoa học công nghệ từ cây có chứa chất
ma túy, từ các tiền chất và các hóa chất hoặc làm ra chất ma túy này từ chất ma túy khác Chính vì vậy, người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là người chỉ đơn thuần cất giữ, cất giấu chất bất hợp pháp chất ma túy nhưng không có mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy
Ma túy là một vấn đề nhức nhối của xã hội, ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội Chính vì vậy, nhà nước đã thiết lập chế độ thống nhất quản lý về các chất
ma túy trong các lĩnh vực sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, bảo quản, phân phối, cấp phát, sủ dụng chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện Mọi
Trang 19hành vi liên quan đến ma túy mà không được sự cho phép của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều là những hành vi vi phạm pháp luật
Khái niệm về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý do Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đưa ra đã thể hiện được mặt chủ quan của tội phạm là không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý trong các trường hợp luật định, tuy nhiên lại không thể hiện được rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mặt khách quan của loại tội
phạm này,“hành vi tàng trữ” là như thế nào? Bên cạnh đó, khái niệm này cũng
không thể hiện được về mặt khách thể của loại tội phạm này cũng như mặt chủ thể của người thực hiện hành vi phạm tội Từ những lập luận trên, cần đưa ra khái niệm về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào, không kể trong thời gian là bao lâu mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà Nước về các chất ma túy
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1985
Cách mạng tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chính quyền non trẻ chưa đủ điều kiện để xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Ngày 03/9/1945, trong bài “Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta….Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm thuốc phiện” Đồng thời, để bảo đảm an ninh trật tự, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và
Bộ “Hình luật pháp tu chính” với điều kiện “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”, để đấu tranh xử lý các hành
Trang 20vi vi phạm, tội phạm trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy [8, Điều 21]
Cho tới ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện với những hành vi cụ thể như:
“Điều 5 Ngoài các cơ quan chuyên trách, không ai được tàng trữ…nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu rồi
Điều 6 Những hành vi vi phạm sẽ bị phạt như sau: Tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc chuyển vận trái phép; Phạt tiền từ 1 đến 5 lần trị giá số thuốc phiện lậu Ngoài ra, người phạm pháp còn có thể bị truy tố trước Tòa án nhân dân….” [26, tr.482]
Tiếp theo đó, Thủ tướng ban hành Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện bị xử lý bằng các hình thức cụ thể như: Tịch thu thuốc phiện tàng trữ…[26, tr.482]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại tại miền Bắc, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số số 580/TTg ngày 15/9/1955, quy định những trường hợp có thể bị đưa ra Tòa án xét xử Giai đoạn tiếp sau đó, Nhà nước ta chủ yếu ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi buôn lậu thuốc phiện như: Thông tư số 635/VHH-HS ngày 29/3/1958 và Thông tư số 33/VHH-HS ngày 05/7/1958 để thống nhất đường lối xét xử đối với những vụ
án buôn lậu thuốc phiện Giai đoạn sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhà làm luật chủ yếu ban hành các văn bản điều chỉnh hành vi buôn lậu thuốc phiện, ít đề cập đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy độc lập, ví dụ: ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 76/CP về chống buôn lậu thuốc phiện Đến năm 1982, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn bán, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trong đó
có ma túy được coi là đối tượng của buôn lậu và mức phạt có thể lên tới tử hình
Như vậy, tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 chưa được pháp điển hóa và quy định thành tội phạm độc lập, mà chỉ được quy định trong một số văn
Trang 21bản pháp luật Thực trạng này đòi hỏi phải có một văn bản pháp lý chính thức
quy định thống nhất về tội phạm, trong đó có tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi banhành Bộ luật hình sự năm 1999
BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước ta, đánh dấu sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp, các chính sách hình sự ở nước ta Đây là lần đầu tiên cụm từ
“Chất ma túy” được đưa vào sử dụng trong hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam
Tuy nhiên, BLHS năm 1985 chỉ có duy nhất một điều luật quy định tội phạm về ma túy (Điều 203 Tội tổ chức sử dụng chất ma túy) và hai điều luật có liên quan đến ma túy (Điều 97 Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới) và (Điều 166 Tội buôn bán hàng cấm) …
Trong sửa đổi, bổ sung lần thứ 1 BLHS 1985 (ngày 28/12/1989), hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy lần đầu tiên được quy định cụ thể, rõ ràng trong Điều 96a về “Tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy”, quy định mức hình phạt cao nhất là tử hình, ngày 10/5/1997 trong lần sửa đổi BLHS 1985 (lần thứ tư) thì các tội phạm về ma túy được quy định thành một chương riêng là Chương VIIA “Các tội phạm về ma túy” trong phần các tội phạm của BLHS
Trong đó “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 185c:
“Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1- Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:…” [20]
Để thuận lợi hơn nữa trong thực tiễn xét xử, ngày 02/01/1998 và ngày 05/08/1998, liênngành trung ương đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/BNVVKSNDTC-TSNDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1985 và Thông tư liên tịch số 02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA hướng dẫn cụ thể về các hành vi
Trang 22liên quan đến tội phạm này
Tóm lại: Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi,
bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, với những sửa đổi, bổ sung này luật hình sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được quy định cụ thể với cấu thành tội phạm độc lập, thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là xử lý nghiệm khắc tội phạm về ma túy Tuy nhiên, thực hiện thi hành cho thấy BLHS năm 1985 qua 04 lần sửa đổi đã không còn là thể thống nhất, nhiều nội dung quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng và tội phạm ma túy nói chung không
còn phù hợp với thực tiễn đòi hỏi phải được sửa đổi
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
- Quy định về tội phạm:
Trong quá trình áp dụng BLHS năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế bất cập, để đáp ứng yêu cầu khách quan của xã hội, ngày 21/12/1999 BLHS mới được ban hành trên cơ sở kế thừa những thành tựu khi áp dụng BLHS năm 1985 BLHS năm 1999 quy định các tội phạm về ma túy tại Chương XVIII, gồm 10 tội, từ Điều 192 đến Điều 201
Điều 194 BLHS 1999 được hình thành trên cơ sở ghép 04 điều luật của BLHS năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1997 là “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”- Điều 185c; “Tội vận chuyển trái phép chất ma túy”- Điều 185d, “Tội mua bán trái phép chất ma túy”- Điều 185đ; “Tội chiếm đoạt chất ma túy”- Điều 185e thành “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma túy”
Để hướng dẫn áp dụng thống nhất Điều 194 BLHS 1999, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Điều 194 BLHS 1999; liên ngành BCA, VKSNDTC, TANDTC, BTP đã ban hành Thông tư liên
Trang 23tịch số 17/2007/TTLT-BCAVKSNDTC-TANDTC-BTPngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999, trong đó hướng dẫn cách thức, phương pháp tính, quy đổi định lượng ma túy, định lượng xác định cấu thành tội phạm đối với các hành vi vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ
án về ma túy Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết về định lượng, tỷ lệ phần trăm về trọng lượng của các chất ma túy, là căn cứ để xác định khung hình phạt áp dụng và mức hình phạt tương ứng với trọng lượng do hành vi phạm tội gây ra giúp cơ quan tố tụng và người tiến hành
tố tụng dễ dàng áp dụng, tránh được sự tùy tiện Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nội dung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT về định lượng ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng
Ví dụ điển hình là việc thực hiện Công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 của TANDTC về quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm việc giám định hàm lượng chất ma túy theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT (Vấn đề này sẽ được phân tích trong phần thực tiễn xét xử) Ngày 14/11/2015 liên ngành BCA, VKSNDTC, TANDTC, BTP đã ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP (viết tắt Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT) sửa đổi một số điều của Thông tư liên tịch
số 17/2007/TTLT đã góp phần tháo gỡ khó khăn, bất cập khi áp dụng Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT
- Quy định về hình phạt:
Điều 194 BLHS 1999 quy định hình phạt chính gồm có 4 khung, khung
cơ bản quy định tại khoản 1 có mức hình phạt tù từ 02 đến 07 năm Khung tăng nặng quy định tại khoản 2, 3, 4 có mức cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình Ngoài hình phạt chính, còn có hình phạt bổ sung như: hình phạt tiền, tịch thu 16 một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
Trang 241.2.4 Quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Qua quá trình thực tế áp dụng Điều 194 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 cho thấy những khó khăn, bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung đó là: Khó khăn khi xác định tội danh và hình phạt vì xét về hành vi nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm thì hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy và hành vi chiếm đoạt chất ma túy không nguy hiểm bằng hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng Điều 194 BLHS 1999 lại qui định về định lượng, mức hình phạt đối với các hành vi này là như nhau nên thực tiễn gặp không ít khó khăn
Do đó, để định tội danh và áp dụng mức hình phạt công bằng phù hợp giữa các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã tách Điều 194 BLHS 1999 thành 04 tội riêng biệt qui định tại các Điều: tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252) Nâng tổng số điều luật trong Chương XX BLHS 2015 lên 13 điều (từ Điều 247- Điều 259)
Thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW là hạn chế áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Việc tách Điều 194 BLHS
17 năm 1999 thành các tội phạm độc lập, nhằm bỏ hình phạt tử hình đối với tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”- Điều 249 và “Tội chiếm đoạt chất ma túy”- Điều 252 BLHS chỉ áp dụng mức hình phạt cao nhất là chung thân
Qui định rõ ràng, cụ thể, trực tiếp trong luật về định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự trong từng tội phạm và qui định khung hình phạt nhẹ hơn so với Điều 194 BLHS 1999 BLHS 1999 không qui định cụ thể định lượng của các chất ma túy để xác định cấu thành tội phạm mà căn cứ mục 3.6 Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của BCA, VKSNDTC, TANDTC và BTP để xác định mức tối thiểu cấu thành tội phạm cho các hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy hoặc chiếm
Trang 25đoạt chất ma túy
Thay đổi đơn vị tính: Thực tế các chất ma túy khi thu giữ được xác định bằng gam, kg… hoặc không thu giữ được vật chứng là chất ma túy mà dựa trên lời khai của các đối tượng để xác định ma túy bằng đơn vị bánh, cây, chỉ… Đây
là những đơn vị tính số lượng chứ không phải trọng lượng Ngoài ra dùng từ trọng lượng là không chặt lẽ Vì vậy, BLHS 2015 thay đổi “Trọng lượng” thành
“Khối lượng” để phù hợp với đơn vị tính
Quy định cụ thể thêm các chất ma túy nằm trong Danh mục chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ như: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA
Như vậy, có thể thấy qua việc sửa đổi, bổ sung Điều 194 BLHS 1999, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định chi tiết, cụ thể mức định lượng đối với từng tội phạm trong luật, thay đổi đơn vị tính từ “Trọng lượng” thành “Khối lượng”, tách điều luật nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự giúp cho cơ quan áp dụng pháp luật được chính xác và công bằng hơn, quy định mức tối thiểu của khung hình phạt ở khoản 1 (khung cơ bản) nhẹ hơn, mặt khác hạn chế được việc áp dụng hình phạt tử hình theo đúng chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta
1.3 Quy định của pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong Bộ luật hình sự
1.3.1 Dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1.3.1.1 Khách thể
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại Đây là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội phạm Việc xác định đúng khách thể có ý nghĩa rất lớn và là mấu chốt để định tội danh
và xác định hình phạt Bên cạnh đó, đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động lên nó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Trang 26Nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước đẩy lùi tệ nạn
ma túy, giữ gìn trật tự và an toàn công cộng cũng như tận dụng, phát huy được những lợi ích nhất của các chất ma túy trong lĩnh vực y tế Do đó, chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về ma túy, trật tự an toàn công cộng là những quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Chính vì vậy, khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trật tự, an toàn công cộng Đối tượng tác động của tội tàng trữ trái phép chất ma túy chính là các chất ma túy
1.3.1.2 Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan Những biểu hiện đó bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội…
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện Đây là tội có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm này được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi khách quan cụ thể sau:
Cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người,…mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này
Người thực hiện hành vi phạm tội cất giữ, cất giấu ma túy bất hợp pháp có nghĩa là họ để ma túy tại một nơi kín đáo không cho ai biết và giữ lại cho mục đích sử dụng mà không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền
Như vậy, có thể nói mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội là dấu hiệu bắt buộc để xác định người đó có bị truy cứu trách nhiệm đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy hay không Người phạm tội phải chịu
Trang 27truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thỏa mãn điều kiện được quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
-Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca có khối lượng từ 01 gam trở lên;
-Heroine, cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam trở lên;
- Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cooca có khối lượng
từ 10 ki lô gam trở lên;
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 ki lô gam trở lên;
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 ki lô gam trở lên;
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam trở lên;
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililit trở lên;
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản 1 Điều 249 BLHS
1.3.1.3 Chủ thể
Chủ thể của tội phạm là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm và thỏa mãn điều kiện có năng lực TNHS
và đủ tuổi chịu TNHS
Đầu tiên, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Điều 12 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người từ đủ
16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác " Cụ thể như sau:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do đó những người ở nhóm tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại tất cả các khoản của Điều 249 BLHS năm 2015
Trang 28Người đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173,
178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 288, 289, 290, 299, 303 và
304 BLHS Do đó, những người trong nhóm tuổi này không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 mà phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 249 BLHS năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, vì khoản 1 Điều 249 là tội phạm nghiêm trọng, khoản 2 và 3 là tội phạm rất nghiêm trọng, khoản 4 là tội đặc biệt nghiêm trọng
Thứ hai, về năng lực trách nhiệm hình sự
Năng lực trách nhiệm hình sự được dùng để khẳng định khả năng bị buộc tội của một con người về hành vi phạm tội mà họ thực hiện BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình
sự mà chỉ xác định nó thông qua quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Như vậy, chỉ coi là chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy khi người đó không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 21 BLHS BLHS năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tức là không bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình
1.3.1.4 Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra Mặt bên trong của tội phạm là diễn biến tâm lý của tội phạm nên diễn biến này gồm các dấu hiệu: lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm Mặt chủ quan phản ánh mối liên hệ giữa ý thức của người phạm tội đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó đã thực hiện
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý chỉ có thể được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, không tồn tại trường hợp nào do lỗi cố ý gián tiếp Mục đích là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, tức là mục đích chỉ là tàng trữ, không có mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy
Trang 291.3.2 Hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Khung hình phạt là giới hạn phạm vi các loại cũng như mức hình phạt được luật quy định cho phép Tòa án lựa chọn trong đó hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội
Khung hình phạt cơ bản là khung hình phạt được quy định cho trường hợp phạm tội thông thường của một loại tội Mỗi tội phạm đều phải có một khung hình phạt cơ bản Thông thường khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 1 của điều luật quy định về tội phạm cụ thể
Khung hình phạt cơ bản của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 Theo đó:
Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp
dưới đây bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
“1 Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, hoặc một trong các tội quy định tại Điều 248, 250, 251 và 252 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
… i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”
Thứ nhất, nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao coca
Trọng lượng của nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cô ca mà người phạm tội tàng trữ trái phép làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là từ 01gam đến dưới 500 gam
Thứ hai, heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11
Trang 30Heroine là loại ma túy phổ biến nhất hiện nay Từ nhựa thuốc phiện tạo ra
Morphine bằng cách trộn thuốc phiện với vôi toả (calciumhyđroxide) rồi hoà tan với nước Hỗn hợp này, một phần dùng để chiết xuất Morphine và Codeine, phần khác dùng để chiết xuất Thebaine và Papaverine Khi đã điều chế được Morphine thì từ Morphine lại điều chế thành Heroin Thông thường cứ 10kg thuốc sống chiết xuất được 1kg Morphine và từ 1kg Morphine điều chế được 0,8- 0,9 kg Heroin [11]
Cocainenguyên chất được chiết xuất lần đầu tiên từ lá cây coca họ
Erythroxylon vào những năm giữa thế kỷ XIX Nó nhanh chóng phổ biến và là thành phần trong các thuốc có bằng sáng chế (thuốc bổ và thuốc đau họng) và các sản phẩm khác (như Coca Cola, sau này hãng đã lọc bỏ đi cocaine) Cocain
có hai dạng: Dạng bột và dạng tinh thể
Methamphetamine hay còn gọi là ma túy đá vì trông giống đá, gần giống
mỳ chính, hoặc hạt muối hoặc có dạng cục, bột, viên nén màu vàng, nâu Nócó sức tàn phá âm thầm nhưng hết sức khủng khiếp đối với hệ thần kinh của người
sử dụng Từ những thanh niên khỏe mạnh, người sử dụng ma túy đá sẽ trở thành những bệnh nhân tâm thần theo đúng nghĩa
Amphetamine là một loại ma túy tổng hợp, gây kích thích thần kinh và
gây ảo giác, mất cảm giác thèm ăn, có thể ở dạng bột, dạng tinh thể Chất kích gây nhiều tác dụng tức thì như cảm giác phê sướng, tăng cường sinh lực, trạng thái thức tỉnh, giảm cảm giác đói, tăng khả năng suy nghĩ mạch lạc, tăng tự tin, tăng khả năng giao tiếp, tâm trạng phấn chấn
MDMA hay còn gọi là thuốc lắc có thành phần chính là
3,4-methylenedioxy-methamphetamine Đây là một loại ma túy tổng hợp làm thay đổi tâm trạng và nhận thức MDMA gây ảo giác, tạo ra cảm giác tăng năng lượng, khoái cảm, gây bóp méo và nhận thức về thời gian
XLR-11 hay còn gọi là Cỏ Mỹ Chất này còn nguy hiểm hơn cả cần sa
"Cỏ Mỹ" khi sử dụng sẽ gây ảo giác mạnh, loạn thần, giãn đồng tử, kích động, căng thẳng, lo lắng, có thể có những tư tưởng cực đoan gây hại cho mình và
người khác
Trang 31Trọng lượng củaHeroine,cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 mà người phạm tội tàng trữ trái phép làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm điểm c, khoản 1, Điều 49 BLHS là từ 0,1 gam đến dưới 05 gam
Thứ ba, lá, rễ, thân, cành hoa, quả cây cần sa; lá cây coca hoặc lá khát (lá cây Catha edulis)
Lá, hoa, quả cây cần sa là ba bộ phận của cây cần sa Bên cạnh đó, lá khát hay còn gọi là lá thiên đường Hoạt chất akaloid có trong lá khát gây kích thích
hệ thần kinh trung ương, giống như ma túy tổng hợp nhưng tác dụng nhanh hơn, khoảng 15 phút khi nhai so với 30 phút nếu dùng amphetamine
Cây cô ca có tên khoa học là Erythroxylon Chỉ lá cây cô ca mới chiết xuất được cocaine, còn các bộ phận khác của cây cô ca không thể chiết xuất được cocaine Do đó, nếu tàng trữ trái phép cây, hoa, quả, hạt của cây cô ca thì không phải là tội phạm
Trọng lượng lá, hoa, quả cây cần sa, lá cây cô ca hoặc lá khát mà người phạm tội tàng trữ trái phép làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 là từ 10 kg đến dưới 25 kg
Thứ tư, quả thuốc phiện khô và quả thuốc phiện tươi
Để chiết xuất và lấy được nhựa thuốc phiện làm Morphine thì người ta phải tiến hành các công đoạn hái quả thuốc phiện tươi sau đó chiết xuất ra chúng
Đối với quả thuốc phiện tươi chứa một lượng nhựa cũng như hàm lượng Morphine còn cao, nên nhà làm luật quy định tàng trữ trái phép từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam là người phạm tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm e khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015
Hiện nay, chưa có một quy định nào phân biệt giữa quả thuốc phiện khô với quả thuốc phiện tươi mà việc phân biệt phụ thuộc vào sự nhận định của các
cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét, khám nghiệm hiện vật
Cũng chính vì vậy nên việc giám định quả thuốc phiện khô hay tươi tương đối khó khăn bởi việc giám định cần thời gian trong khi đó “lợi dụng” thời gian
Trang 32này thì quả thuốc phiện có thể từ tươi sang khô và nếu kéo dài thì yếu tố quả tươi sẽ không còn Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần có nhưng quy định cũng như cơ chế xác định và phân biệt quả thuốc phiện một cách hợp lý và chính xác
BLHS năm 2015 chỉ quy định hai loại: thể lỏng và thể rắn Do đó, ngoài thể lỏng thì các chất ma túy còn lại đều được coi là thể rắn ở dạng bột, viên, bánh
Trường hợp phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017
Bên cạnh đó, người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy khác ở thể lỏng từ 10 mililit đến dưới 100 mililit thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo điểm m khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Thứ sáu, có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017
Trường hợp một, các chất ma túy đều có trọng lượng dưới mức tối thiểu
quy định tại khoản 2 Điều 249 của BLHS năm 2015 thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định theo tổng của tỷ lệ phần trăm từng chất so với mức tối thiểu đối với từng chất đó quy định tại khoản 1 Điều 249
Trang 33Trường hợp hai, các chất ma túy đó đều được quy định trong cùng một
điểm của khoản 1 Điều 249 BLHS thì cộng trọng lượng của các chất ma túy đó lại với nhau và so sánh với quy định về trọng lượng trong điều luật tương ứng để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội theo khoản nào phù hợp của điều luật đó
Trường hợp ba, các chất ma túy đó có trọng lượng tại các điểm khác
nhau của cùng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, thì tổng trọng lượng của các chất ma túy đó được xác định bằng cách xác định tổng tỷ lệ phần trăm của tỷ lệ phần trăm của từng chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất ma túy đó tại điểm tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS
Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để cấu thành tội phạm cần phải có số lượng chất ma túy tối thiểu Tàng trữ dưới mức quy định khối lượng
ma túy tối thiểu mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thì bị phạt xử lý hành chính Theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị phạt tiền
từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng Ngoài ra, người có hành vi phạm tội còn
bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
Trường hợp đã bị xử lý hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại Điều 248, 250,
251 và 252 BLHS 2015 mà chưa xóa án tích nay lại tiếp tục vi phạm thì phải truy cứu TNHS theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS
“Đã bị xử phạt vi phạm hành chính” có nghĩa là khi một người nào đó đã bị
xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà tiếp tục vi phạm thì sẽ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy Tuy nhiên, trong thực tế lại phát sinh hai cách hiểu khác nhau dẫn đến cách áp dụng cũng khác nhau
Phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là trường hợp tàng trữ trái phép chất ma tuý không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 của điều luật, là cấu thành cơ bản của tội phạm, được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự
có khung hình phạt từ một đến năm năm tù thuộc loại tội phạm nghiêm trọng
Trang 34Cũng như đối với các tội phạm khác, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Toà án phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt các Điều 54 đến Điều 59 Nếu người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Toà án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất trong khung hình phạt (dưới một năm tù), nhưng không được dưới ba tháng tù
Nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự thì có thể cho người phạm tội được hưởng án treo Tuy nhiên, việc cho người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý được hưởng án treo phải rất thận trọng
Điều 249 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng liên quan đến trọng lượng các chất ma túy Cụ thể, khoản 2 có khung hình phạt
từ 5 năm đến 10 năm tù; khoản 3 có khung hình phạt từ 10 năm tù đến 15 năm tù; khoản 4 có khung hình phạt từ 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân Các khung hình phạt quy định mức phạt theo chiều tăng dần tương đương với trọng lượng tăng dần của chất ma túy đã tàng trữ trái phép
Liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thì Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP cũng phân biệt các trường hợp cụ thể như sau:
Trường hợp thứ nhất, người nào đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy có
số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 194 BLHS
Trường hợp hai, người nào tàng trữ trái phép một trong các chất ma túy có
số lượng được hướng dẫn hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 mục 3 phần II Thông tư mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất
ma túy khác, nhưng chứng minh được là nhằm mục đích sử dụng trái phép chất
ma túy, tuy đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp
Trang 35đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 199 của BLHS năm 1999
Tuy nhiên, hiện nay quy định tại trường hợp hai đã được bãi bỏ bởi Thông
tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015, sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm Qua thực tiễn xét xử cho thấy việc quy định, áp dụng hình phạt tiền trong một số trường hợp đối với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là không phù hợp
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định khái niệm:
“Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” Do đó, dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành về ma túy, tội phạm, hành vi tàng trữ trái phép chat ma túy tác giả đã đưa ra khái niệm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” làm tài liệu tham khảo quy định trong luật Đồng thời phân tích những dấu hiệu pháp lí của tội tàng trữ trái phép chất ma túy, dấu hiệu định khung hình sự theo khung hình phạt cơ bản và dấu hiệu định khung hình sự theo khung hình phạt tăng nặng giúp cho việc áp dụng pháp luật được chính xác, khách quan
Qua phân tích tại chương 1 cho ta thấy, cơ sở lý luận chung về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo BLHS 2015 từ khái niệm “Tàng trữ trái phép chất
ma túy” là cất giấu, cất giữ một cách trái pháp luật chất ma túy ở bất cứ đâu (giấu trên người hoặc một địa điểm nào đó) mà không nhằm mục đích để buôn bán hay vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy
Bên cạnh đó, chương 1 còn khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Tội danh này được pháp điển hóa và quy định thành tội phạm độc lập mà chỉ được quy định trong một số văn bản pháp luật
Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ hơn các quy định của pháp luật về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trong BLHS: Dấu hiệu pháp lý của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy về khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm Qua đó, tác giả cũng khái quát hình phạt của tội Tàng trữ trái phép chất
ma túy theo quy định của BLHS 2015
Trang 37Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚITỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa bàn quận
* Địa lý
Quận Hà Đông nằm ở vị trí trung tâm hình học của thành phố Hà Nội và
là cửa ngõ phía tây nam của thủ đô.Quận nằm tại nơi giao nhau của Quốc lộ 6 từ
Hà Nội đi Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và tỉnh lộ 70A Hà Đông cũng là nơi khởi đầu của Quốc lộ 21B nối trung tâm Hà Nội tới các huyện phía nam và đi các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình Phía đông giáp huyện Thanh Trì, phía đông bắc giáp quận Thanh Xuân, phía bắc giáp quận Nam Từ Liêm, phía tây giáp các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, phía tây nam giáp huyện Chương Mỹ, và phía nam giáp huyện Thanh Oai
* Hành chính
Quận Hà Đông gồm 17 phường: Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội, Hà Cầu, Kiến Hưng, La Khê, Mộ Lao, Nguyễn Trãi, Phú La, Phú Lãm, Phú Lương,
Phúc La, Quang Trung, Vạn Phúc, Văn Quán, Yên Nghĩa, Yết Kiêu
2.1.1.2 Tình hình kinh tế- văn hoá- xã hội
Trang 38* Cơ cấu kinh tế
Tình hình kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với
xu hướng phát triển của địa phương; ước năm 2020 tỷ trọng ngành Công nghiệp
- xây dựng 51,58%, ngành thương mại - dịch vụ - du lịch 48,37%, ngành nông nghiệp 0,05% Trong 5 năm từ 2016 đến năm 2020, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 20.478 tỷ đồng, trong đó thu vượt dự toán Thành phố giao 3.328, 511
tỷ đồng (tăng 19% so với dự toán), thu ngân sách nhà nước năm 2019 đạt 5.514,957 tỷ đồng, tăng gấp 2,62 lần so với năm 2015
* Văn hóa
Hà Đông có hơn 200 di tích lịch sử-văn hóa, trong đó có 83 di tích đã được xếp hạng, 47 lễ hội truyền thống, trong năm 2012, ước tính quận Hà Đông đón 52.300 lượt khách, trong đó có 11.750 lượt khách quốc tế.Các làng nghề truyền thống, di tích lịch sử, văn hóa tại Hà Đông:- Làng lụa Vạn Phúc- Làng rèn Đa Sỹ- Làng dệt La Khê- Chùa Mậu Lương- Bia Bà- Chùa Diên Khánh
* Giao thông và cơ sở hạ tầng
Hà Đông là đầu mối của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đi các tỉnh phía Tây Bắc: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên Hà Đông có vị trí chiến lược
cả về chính trị, kinh tế và quân sự Tuyến đường sắt trên cao Hà Đông - Cát Linh thuộc dự án đường sắt đô thị Hà Nội chạy qua địa bàn quận.Giao thông của quận Hà Đông rất phong phú Gồm có quốc lộ 6, quốc lộ 21B, v v Tuyến đường sắt Bắc Hồng - Văn Điển được xây dựng từ năm 1982 cắt qua quận Hà Đông có 1 nhà ga là ga Hà Đông và giao cắt các tuyến đường như: Lê Trọng Tấn, ĐT72, Quang Trung, Ba La (QL21B)
Hiện nay, trên địa bàn quận Hà Đông đã hình thành một số khu đô thị cao cấp như khu đô thị Mỗ Lao, khu đô thị Văn Quán, khu đô thị Văn Khê, khu đô thị An Hưng, khu đô thị Văn Phú, khu đô thị Dương Nội, khu đô thị Đồng Mai, khu đô thị Thanh Hà, khu đô thị La Khê, khu đô thị Xa La, khu đô thị Geleximco, khu đô thị Lê Trọng Tấn, khu đô thị Kiến Hưng, khu đô thị Park City, khu đô thị Phú Lãm, khu đô thị Phú Lương, khu đô thị Usilk City, khu đô thị Văn La - Văn Khê, khu đô thị Nam La Khê - Bông Đỏ, khu đô thị Yên
Trang 39Nghĩa.Các dự án đường sắt đô thị Hà Nội đi qua địa bàn quận là các tuyến số 2A (Cát Linh - Hà Đông), tuyến số 6 (Nội Bài - Ngọc Hồi), tuyến số 7 (Mê Linh - Ngọc Hồi), trong đó tuyến số 2A đã được chạy thử nghiệm vào đầu tháng 8-
2018 và chính thức vận hành vào năm 2020
* Các cơ quan tại Hà Đông
- Cơ quan trung ương + Trụ sở tiếp dân quận Hà Đông dành cho Trung ương Đảng và Nhà nước + Báo Thanh tra Việt Nam
+ Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam + Trung tâm huấn luyện và đào tạo tại phường Phú La
+ Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Khoa học - Ngân hàng Phát triển Việt Nam
+ Trung tâm Đào tạo - Bảo hiểm Xã hội Việt Nam + Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
+ Viện Nghiên cứu Thống kê thuộc Tổng cục Thống kê
- Cơ quan thuộc Hà Nội + Văn phòng Thành ủy Thành phố Hà Nội + Trung tâm Văn hóa Thành phố Hà Nội + Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Thành phố Hà Nội + Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội
+ Trung tâm nghiên cứu khoa học thuộc Sở Giao thông Vận tảiSở Tư pháp Hà Nội
+ Phòng Công chứng số 7 + Trung tâm dịch vụ bán đấu giá thuộc Sở Tư pháp + Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công an thành phố Hà Nội + Trung tâm Đào tạo và huấn luyện Công an thành phố Hà Nội + Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội
+ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội
Trang 40+ Trung tâm Phát triển Nông thôn Việt Nam thuộc Sở Nông nghiệp Hà Nội
+ Chi cục Kiểm lâm thành phố Hà Nội + Trung tâm Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp + Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội thuộc Sở Nông nghiệp Hà Nội + Liên minh các HTX thành phố Hà Nội
+ Chi cục Quản lý Thị trường thành phố Hà Nội + Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS thuộc Sở Y tế thành phố Hà Nội + Văn phòng 2 của Công ty Xổ số Kiến thiết Thủ đô
+ Trung tâm Đào tạo và Phát triển Thanh niên thuộc Thành đoàn Hà Nội
* Y tế Một số bệnh viện đóng tại địa bàn Hà Đông: Viện Quân y 103; Viện bỏng Quốc gia; Bệnh viện Đa khoa Quận Hà Đông; Bệnh viện Công an Hà Nội; Bệnh viện Y học Cổ truyền Hà Đông; Bệnh viện Tuệ Tĩnh; Bệnh viện 09; Bệnh viện
Đa khoa 16A,…
* Giáo dục Một số trường đại học đóng tại địa bàn Quận Hà Đông:Học viện Quân y; Học viện Chính trị Quân sự; Đại học Kiến trúc Hà Nội; Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông; Học viện An ninh Nhân dân; Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam; Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương; Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội; Trường Đại học Đại Nam; Đại học Phenikaa; Cao đẳng Y tế
Hà Đông; Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
2.1.2 Khái quát tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma tuý tại địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội
Thống kê đến tháng 12/2017 cả nước có 210.751 người nghiện ma túy, đây là số người nghiện có hồ sơ quản lí, tập trung nhiều ở những thành phố lớn dẫn đầu là thành phố Hồ Chí Minh là 21.712 người nghiện có hồ sơ quản lí, đứng thứ 2 là thủ đô Hà Nội có 12.803 người nghiện có hồ sơ quản lí Hà Đông
là một quận nội thành của Thủ đô Hà Nội có số người nghiện ma túy không cao nhưng diễn biến phức tạp, khó quản lí vì có nhiều người nghiện là lao động tự