Đáp ứng yêu cầu này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử [16, Điều 27] mà trong đó xét xử sơ thẩm được thực hiện bởi Tòa án ở cấp xét xử thứ nhất và xét
Trang 2riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ QUỲNH
Trang 3Tiến Sĩ Phạm Minh Tuyên- người thầy đã rất tâm huyết, tận tình giúp đỡ học viên trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Học viên trân trọng, cảm ơn thầy rất nhiều vì những kiến thức khoa học, bài giảng phong phú, thực tiễn sâu sắc, giúp học viên nhận thức được vấn đề nghiên cứu và hoàn thành luận văn đúng theo quy định
Học viên chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội trong suốt chương trình học thạc sĩ đã tận tình, nhiệt huyết hỗ trợ học viên
Cuối cùng học viên xin chân thành cảm ơn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và các Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các huyện trên địa bàn đã hỗ trợ giúp học viên tìm kiếm được nguồn số liệu đáng tin cậy, làm phong phú thêm luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ QUỲNH
Trang 4BAHSST Bản án hình sự sơ thẩm
Trang 5Bảng số 1: Kết quả xét xử phúc thẩm của tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa
37
Trang 6LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM TRONG VIỆC HỦY BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 6
1.1.1 Khái niệm thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 6
1.1.2 Đặc điểm thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 11
1.2 Mục đích, ý nghĩa của quy định thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm 12
1.2.1 Mục đích của việc quy định thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm 12
Trang 71.3 Nội dung thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản
án hình sự sơ thẩm 16
1.3.1 Chủ thể có thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 16 1.3.2 Căn cứ hủy bản án hình sự sơ thẩm 16 1.3.3 Nguyên tắc trong xây dựng thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm 18 1.3.4 Mối quan hệ giữa phạm vi xét xử và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 20
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ 27 2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 27
Trang 8nhân dân tỉnh Thanh Hóa 34
2.2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 34
2.2.2 Những kết quả đạt được trong thực hiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 38
2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 48
Tiểu kết chương 2: 60
Chương 3:YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG VIỆC HUỶ BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN 62
TỈNH THANH HOÁ 62
3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng trong việc việc huỷ bản án hình sự sơ thẩm tại Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá 62
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng trong việc huỷ bản án hình sự sơ thẩm tại Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá 63
3.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng của đội ngũ thẩm phán và và các hoạt động xét xử tại TAND tỉnh Thanh Hóa 63
3.2.2 Giải pháp nhằm hạn chế việc hủy bản án hình sự sơ thẩm 66
Tiểu kết chương 3 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử hai cấp là một nguyên tắc tiến bộ được áp dụng phổ biến trên thế giới Theo đó bản án, quyết định sơ thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì được đưa lên Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại Cấp xét xử phúc thẩm cũng là cấp xét xử cuối cùng trong tiến trình tố tụng của Việt Nam Việc quy định cấp xét xử phúc thẩm ngoài mục đích tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự thì còn mục đích khắc phục những sai lầm trong hoạt động xét xử của TACST; Đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được phán quyết thận trọng, khách quan, chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật; đảm bảo cho Tòa án cấp trên giám sát hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới, khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới bảo đảm cho quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân, nhất là quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần của Hiến pháp và BLTTHS
Thực tiễn xét xử tại TAND tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua, việc xét xử vẫn còn tồn tại những việc hủy bản án của TACST chưa có căn cứ thuyết phục, tạo
dư luận chưa tốt trong hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và cấp phúc thẩm nói riêng Những thiếu sót trong việc giải quyết các VAHS của cấp phúc thẩm bên cạnh xuất phát từ một số quy định chưa rõ ràng của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự thì thường tập trung ở việc có những nhận thức chưa thống nhất giữa cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong định tội danh và vi phạm thủ tục tố tụng, và có những hạn chế từ năng lực của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là của thẩm phán Do vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Thẩm quyền của tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án
hình sự sơ thẩm từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa” là rất cần
thiết, đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước đối với việc tiếp tục cải cách tư pháp
và công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận cũng như về thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST của TAND tỉnh Thanh Hóa
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trang 10Thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST đã được rất nhiều chuyên gia Luật học nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau trong đó phải kể đến một
số công trình nghiên cứu sau đây:
- Đoàn Văn Hải (2021), “Thẩm quyền của tòa án cấp phúc thẩm trong việc
hủy bản án hình sự sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Trong luận văn đã
phân tích, làm sáng tỏ những yếu tố thuộc về lý luận về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST; quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST trên địa bàn tỉnh Điện Biên, luận văn
đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST, và các giải pháp khác bảo đảm nâng cao chất lượng áp dụng quy định thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Trần Thị Hương Lan (2020) “Thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm đối
với bản án hình sự sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.”
Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội Nội dung đề tài tập trung vào việc Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với VAHS sơ thẩm Phân tích quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với BAHSST tại toà án nhân dân thành phố Hà Nội Đưa ra một
số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với vấn đề này
- Nguyễn Thị Hiền Lương (2019), “Thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự của Toà án nhân dân và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lào Cai”, luận văn thạc sĩ
Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Nội dung đề tài tập trung vào việc trình bày một số vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền xét xử phúc thẩm VAHS của TAND Phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử phúc thẩm VAHS của toà án nhân dân tỉnh Lào Cai; từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Trang 11- Phạm Minh Huấn (2018), “Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với
bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”: Luận văn thạc sĩ
luật học, Đại học Luật Hà Nội Nội dung đề tài tập trung vào việc trình bày những vấn
đề lý luận về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với BAHSST trong tố tụng hình
sự Phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm đối với BAHSST, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình khác có liên quan như: Tạp chí
Tòa án số 20; Đinh Văn Quế (2004),“Những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy
bản án sơ thẩm”; Tạp chí Tòa án số 8; Hoàng Thị Liên (2005), “Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”; Tạp chí Tòa án số 17; Đỗ Đại Hữu (2006),“Xác định Tòa
án xét xử lại, khi Tòa án tối cao hủy bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 72; Phạm Thanh Hải (2007),“Tòa án cấp phúc thẩm phải
hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án”, Tạp chí Tòa án số 4; Vũ Gia Lâm
(2012),“Về quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại của
Tòa án cấp phúc thẩm”, Tạp chí Luật học số 11; Đinh Văn Quế (2013),“Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng có tội - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 5…; Ngoài ra, đề tài này còn
được đề cập tới ở một số tài liệu khác như: Giáo trình luật tố tụng hình sự của Trường đại học luật Hà Nội năm 2021 và các sách chuyên khảo về kỹ năng xét xử
Qua thực tiễn nghiên cứu tại một số công trình nghiên cứu đã kể trên có thể khẳng định rằng vấn đề thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST được sự quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ Các công trình đã đánh giá chuyên sâu và làm
rõ những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của các công trình nghiên cứu đã công bố, luận văn tiếp tục nghiên cứu và làm rõ hơn về những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST từ đó đưa ra những đề xuất để hoàn thiện
Trang 12những quy định pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST cũng như đưa ra những giải pháp về mặt tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng áp dụng thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST của TAND tỉnh Thanh Hóa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST; quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSSTtừ thực tiễn TAND tỉnh Thanh Hóa, làm rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân;
Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST, và các giải pháp khác nâng cao chất lượng áp dụng quy định thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST từ thực tiễn TAND tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
Thứ nhất, đề tài làm rõ những vấn đề lý luận thẩm quyền của TACPT trong
việc hủy BAHSST bao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa; nội dung thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST bao gồm: chủ thể có thẩm quyền trong việc hủy BAHSST, căn cứ hủy, nguyên tắc, Mối quan hệ giữa phạm vi xét xử và quyền hạn của TACPT trong việc hủy BAHSST và thực tiễn áp dụng thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST
Thứ hai, đề tài phân tích và làm rõ về thực trạng áp dụng thẩm quyền của
TACPT trong việc hủy BAHSST tại TAND tỉnh Thanh Hóa thông qua hoạt động dùng phương pháp nghiên cứu để chỉ ra những kết quả đạt được trong quá trình áp dụng thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST từ thực tiễn TAND cũng như chỉ ra những tồn tại vướng mắc trong việc hoạt động này Qua kết quả trên từ đó tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 134.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST từ thực tiễn tại TAND tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung: Tập trung nghiên cứu quy định về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST quy định trong BLTTHS 2015
Về không gian: Tại TAND tỉnh Thanh Hóa
Về thời gian: Số liệu, bản án được thu thập trong khoảng thời gian từ năm
2016 - 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác-Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật; quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về chiến lược xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST Bên cạnh đó, công trình còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và chú trọng phương pháp nghiên cứu vụ án phù hợp với định hướng nghiên cứu ứng dụng để làm sáng tỏ thực tiễn thẩm quyền của TACPT
trong việc hủy BAHSST của TAND tỉnh Thanh Hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài
Kết quả của việc nghiên cứu luận văn có ý nghĩa trong việc góp phần nhận thức đúng đắn và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST Luận văn đưa ra các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, có giá trị trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và áp dụng pháp luật của hệ thống TAND trong việc huỷ BAHSST
Trang 147 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
Chương 2: Quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm và thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng trong việc hủy bản án
hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM TRONG VIỆC HỦY BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM
1.1 Khái niệm, đặc điểm về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong
việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
1.1.1 Khái niệm thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản
án hình sự sơ thẩm
+ Khái niệm hủy bản án hình sự sơ thẩm
Xét xử là chức năng của hoạt động bảo vệ pháp luật và do TAND thực hiện, đây là một trong những chức năng của Nhà nước Xét xử còn là một trong những thẩm quyền đặc biệt quan trọng mà việc thực hiện sẽ liên quan chặt chẽ đến việc thể hiện và vận hành các quyền tư pháp Vì vậy, xét xử đóng vai trò trọng tâm trong hệ thống hoạt động bảo vệ pháp luật và trong cấu thành thẩm quyền của quyền tư pháp[1,tr 01-05] Khi nói đến chất lượng hoạt động xét xử thì vấn đề được quan tâm đầu tiên và quan trọng nhất chính là chất lượng các phán quyết của TAND, bởi vì phán quyết của TAND chính là kết quả cuối cùng của tiến trình tố tụng Đối với VAHS thì chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên bố một người bị đưa ra xét xử tại phiên tòa là có tội hoặc không có tội[5,tr121] Tính chất đặc biệt quan trọng của VAHS đặt ra yêu cầu xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp
Trang 15luật, không làm oan người vô tội, không để sót tội phạm, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân[16, Điều 1] Vì vậy, phán quyết của TAND được thể hiện bằng hình thức bản án, quyết định có tác động rất lớn tới tất cả các bên có liên quan, không chỉ cho các cá nhân, tổ chức cụ thể mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự công cộng, sự ổn định và phát triển của đất nước
Đối với bản án hình sự, mặc dù yêu cầu về tính chính xác, đúng pháp luật luôn được đặt lên hàng đầu, nhưng không thể loại trừ có những bản án tuyên xử không đúng hoặc có thiếu sót vì những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan Đối với những bản án như vậy, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền phản đối lại các phán quyết trái pháp luật gây bất lợi cho họ và pháp luật cũng phải quy định một cấp Tòa án cao hơn để giải quyết các phản đối đó Đáp ứng yêu cầu này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử [16, Điều 27] mà trong đó xét xử sơ thẩm được thực hiện bởi Tòa án ở cấp xét xử thứ nhất và xét xử phúc thẩm được thực hiện bởi Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa
án đã xét xử sơ thẩm khi mà bản án của Tòa án đã xét xử sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị bởi các chủ thể có quyền Từ đó cho thấy, vụ án có thể được xét xử lại lần nữa, Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm về mặt nội dung, cũng như xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của BAHSST TACPT có quyền giữ nguyên các quyết định trong bản án của TACST nếu xét thấy các quyết định đó là đúng pháp luật hoặc có quyền sửa lại những vấn đề không đúng trong quyết định của BAHSST hoặc có quyền hủy các quyết định trong BAHSST để điều tra, xét xử lại hay chỉ để xét xử lại theo thủ tục chung hoặc hủy BAHSST và đình chỉ vụ án Các phán quyết của TACPT là có hiệu lực pháp luật
Nhìn chung, TACPT xét xử là để khắc phục những khiếm khuyết, sai lầm của BAHSST[29,tr 406] Tuy nhiên, không phải cứ BAHSPT quyết định khác so với quyết định của BAHSST thì cho rằng BAHSST có khiếm khuyết, sai lầm Thực tế cho thấy, có những vụ án TACPT phát hiểu BAHSST có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc thu thập đánh giá chứng cứ hay trong việc áp dụng
Trang 16pháp luật nội dung hay vi phạm tố tụng khác đến mức mà TACPT không thể khắc phục được đòi hỏi buộc TACPT phải hủy BAHSST này để giải quyết lại vụ án Từ đó cho thấy, hủy BAHSST trong tố tụng hình sự là một hoạt động quan trọng đòi hỏi chủ thể thực hiện phải am hiểu vững vàng về pháp luật, bởi vì khi phán quyết BAHSST đúng hay không đúng, cần phải hủy vấn đề gì đều phải căn cứ vào luật nội dung và luật hình thức, thậm chí phải căn cứ vào các ngành luật ngành khác có liên quan Đồng thời, các quyết định về hủy BAHSST trong BAHSPT có hiệu lực thi hành ngay nên đòi hỏi tính chính xác, đúng pháp luật và tính thuyết phục phải cao, mọi phán quyết sai của Tòa án cấp phúc thẩm đều có thể dẫn đến những hậu quả rất khó khắc phục
Mặc dù hủy BAHSST là vấn đề rất quan trọng, nhưng cho đến nay thì khái niệm về vấn đề này xuất hiện không nhiều.Trong giáo trình của các Trường Đại học luật hoặc các Trường Đại học có ngành Luật ít khi đề cập đến khái niệm, mà chỉ tập trung nghiên cứu về nội dung của nó; trong các Tạp chí chuyên ngành cũng chỉ đi sâu phân tích để kiến nghị một số nội dung cụ thể còn vướng mắc của quy định hủy bản án trong BLTTHS mà chưa nói đến khái niệm về nó Từ điển Luật học –Viện
khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) có đưa ra khái niệm hủy bản án, theo đó “Hủy bản
án là việc Tòa án có thẩm quyền ra quyết định chấm dứt hiệu lực thi hành đối với bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành của Tòa án cấp dưới khi phát hiện bản án, quyết định có sai sót”[2,tr404] Theo tác giả Hồ Thị Kim Chi đưa ra khái niệm hủy
bản án như sau: “Hủy bản án là một trong những quyền hạn của Tòa án cấp trên
trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án hoặc xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp dưới theo thủ tục nhất định, nếu xét thấy
có căn cứ theo quy định của pháp luật, nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ bản án
đó để điều tra, xét xử lại hoặc tạm đình chỉ vụ án”[6,tr8] Còn theo tác giả Phạm
Anh Quân cho rằng: “Hủy bản án là một trong những quyền của Tòa án cấp trên
đối với bản án quyết định của Tòa án cấp dưới khi có kháng cáo, kháng nghị Tòa
án cấp trên xét thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ nội dung trong quyết định của Tòa án cấp dưới để tiến hành điều tra,
Trang 17xét xử lại những nội dung trong vụ án đó hoặc đình chỉ vụ án đó”[15, tr7] Theo các
khái niệm trên đây thì chủ thể thực hiện quyền hủy BAHSST chính là HĐXX phúc thẩm; đối tượng bị hủy trong BAHSST chính là quyết định của BAHSST; nội dung hủy BAHSST là phần quyết định BAHSST có sai sót mà TACPT không thể khắc phục; căn cứ hủy BAHSST là theo quy định của pháp luật
Các khái niệm trên đây khá đầy đủ đã nêu lên được đối tượng, nội dung và căn cứ pháp lý của việc hủy BAHSST Tuy nhiên cần phân tích làm rõ một số nội dung trong khái niệm này:
Thứ nhất, khái niệm trên xem đối tượng bị hủy trong BAHSST không phải là
toàn bộ BAHSST mà chỉ là quyết định của BAHSST Tác giả cho rằng hủy phần quyết định của BAHSST cũng được coi là hủy BAHSST, bởi vì theo quy định của BLTTHS cũng như văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật thì phần quyết định trong bản án chính là kết quả được rút ra từ phần mở đầu, phần nhận thấy, phần xét thấy của bản án, không chấp nhận một bản án mà các phần này có mâu thuẫn với nhau Đồng thời, BAHSPT được sử dụng để hủy BAHSST cũng phải có phần nhận thấy, phần xét thấy trùng khớp với phần quyết định Do đó, không thể coi hủy BAHSST chỉ đơn thuần là dùng phần quyết định của BAHSPT để hủy phần quyết định của BAHSST mà thực chất chính là dùng BAHSPT để hủy BAHSST
Thứ hai, khái niệm trên xác định HĐXX phúc thẩm có quyền hủy BAHSST
nhưng chưa xác định đầy đủ cả quyền về nội dung và quyền về hình thức Khái niệm trên cho rằng HĐXX phúc thẩm được hủy BAHSST BAHSST có sai sót mà TACPT không thể khắc phục theo quy định của pháp luật là chỉ khẳng định được quyền về nội dung, còn quyền về hình thức tức là xem hủy BAHSST có phải là một quyền được luật tố tụng hình sự quy định hay không vẫn chưa thể hiện được
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hủy BAHSST trong tố tụng
hình sự như sau: “Hủy bản án hình sự sơ thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm thực
hiện thẩm quyền do pháp luật quy định để quyết định khác với quyết định của bản
án sơ thẩm khi bản án sơ thẩm có sai sót mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục theo quy định của pháp luật” Khái niệm này nêu lên được chủ thể thực hiện
Trang 18quyền hủy BAHSST là TACPT với vị trí là chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm và quyền này cũng là quyền về hình thức Bên cạnh đó, khái niệm cũng nêu lên được quyền về nội dung, đối tượng và căn cứ hủy BAHSST
+ Khái niệm thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và
định đoạt một vấn đề theo pháp luật”[31,tr953], theo Từ điển luật học thì “thẩm quyền là quyền đầy đủ để xét đoán, định đoạt vấn đề gì”[2, tr722], còn theo tác giả
Phạm Hồng Hải thì “thẩm quyền là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà
pháp luật quy định cho tổ chức hoặc nhân viên Nhà nước”[7, tr 148] hoặc có khái
niệm cho rằng “thẩm quyền là quyền hạn theo pháp luật quy định của cơ quan công
quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định”[30,tr29] Như vậy, có thể
thấy rằng thẩm quyền là quyền của tổ chức hoặc cá nhân được thực hiện những hành vi nhất định, tuy nhiên quyền này được quy định bởi pháp luật nên hành vi thực hiện phải là hành vi pháp lý Qua phân tích các khái niệm nêu trên, có thể thấy rằng khó có sự phân biệt rạch ròi giữa thẩm quyền và quyền Khi nêu khái niệm thẩm quyền thì đã bao gồm khái niệm về quyền mặc dù thẩm quyền và quyền không đồng nhất với nhau, có thể coi đây là mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng, chủ thể chỉ có thể thực hiện được quyền hạn của mình, nếu trước đó vụ việc thuộc thẩm quyền của chủ thể theo quy định của pháp luật Theo tác giả Đoàn Văn Hải cho rằng
“Thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án sơ thẩm là tổng hợp
các quyền mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho Hội đồng xét xử phúc thẩm được thực hiện khi có những căn cứ luật định để hủy bỏ một phần hay toàn bộ bản án sơ thẩm nhằm điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án”[8, tr 15] Theo khái niệm
trên, thì hủy BAHSST được coi là một trong những quyền hạn của TACPT khi thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm VAHS Như vậy, thẩm quyền hủy BAHSST là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép để TACPT khi xét xử VAHS được kết luận trong BAHSPT khác với những quyết định trong BAHSST Thẩm quyền hủy BAHSST được quy định tại Khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015 và quy định cụ thể về nội dung tại Điều 358 BLTTHS năm 2015
Trang 19Trên cơ sở các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thẩm quyền của toà án
cấp phúc thẩm trong việc hủy BAHSST như sau: “Thẩm quyền của toà án cấp phúc
thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép để Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử vụ án hình sự được kết luận trong bản
án phúc thẩm khác với những quyết định trong bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành bị kháng cáo, kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án khi có những căn cứ được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự”
1.1.2 Đặc điểm thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản
án hình sự sơ thẩm
Từ khái niệm đã được khái quát ở phần trên, thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy BAHSST có các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, bản án bị hủy theo thủ tục phúc thẩm là BAHSST chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị BAHSST có thể bị hủy một phần hoặc hủy toàn
bộ các quyết định của bản án liên quan đến vấn đề tội danh, hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, án phí, cấp dưỡng,…
Thứ hai, hủy bản án theo thủ tục xét xử phúc thẩm do Tòa án cấp trên trực
tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó tiến hành Theo Luật Tổ chức TAND năm 2014 thì TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương sẽ có quyền hủy BAHSST của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự cấp khu vực TAND cấp cao sẽ có quyền hủy BAHSST của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; Tòa án quân sự trung ương sẽ có quyền hủy bản án của BAHSST của Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương
Thứ ba, khi bản án bị hủy theo thủ tục phúc thẩm sẽ dẫn đến hậu quả là vụ án
đó sẽ được chuyển hồ sơ cho VKSND hay Cơ quan điều tra để điều tra lại, Tòa án
để xét xử lại, tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm hoặc bản thân TACPT sẽ đình chỉ vụ án chấm dứt mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án
Thứ tư, khi có căn cứ để hủy bản án theo thủ tục xét xử phúc thẩm thì
TACPT sẽ ra quyết định hủy bản án mà không cần phải xem xét đến nội dung
Trang 20kháng cáo, kháng nghị yêu cầu liên quan đến phần tội danh, tăng, giảm hình phạt, bồi thường thiệt hại đối với bị cáo
1.2 Mục đích, ý nghĩa của quy định thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
1.2.1 Mục đích của việc quy định thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
Hủy BAHSST là quyền hạn của TACPT và là một dạng hoạt động tố tụng Kết quả hủy BAHSST không chỉ tác động đến những vấn đề về pháp lý mà còn tác động đến các vấn đề về chính trị, xã hội Mục đích của việc quy định thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT chính là những yêu cầu về pháp lý, chính trị, xã hội mà các chủ thể mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện quyền hủy BAHSST của TACPT Các chủ thể ở đây rất đa dạng, bao gồm: người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, nhà làm luật, nhà nghiên cứu khoa học pháp lý, thậm chí là mọi công dân có quan tâm
Thứ nhất, quy định về thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT là để thực hiện
thẩm quyền tố tụng mà pháp luật quy định TAND với vai trò là một chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện hoạt động xét xử để xác định sự thật khách quan của vụ án và các vấn đề trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định do luật tố tụng hình sự quy định căn cứ vào giai đoạn xét xử tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết VAHS nhằm góp phần làm cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự đạt hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh chống tội phạm Với ý nghĩa đó, thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT cũng là quyền được nhân danh Nhà nước, tính hiệu quả của việc thực hiện quyền hạn này không chỉ nhằm mục đích làm cho hoạt động của TAND nói riêng, hệ thống tư pháp hình sự nói chung có chất lượng, mà còn là vì uy tín, lòng tin của xã hội vào Nhà nước Mặc dù BLTTHS quy định thẩm quyền hủy BAHSST là quyền hạn của TACPT nhưng để thực hiện đúng quyền hạn này là cả một quá trình khó khăn, phức tạp, TACPT có khi phải đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, tính hợp pháp và tính có căn cứ của kháng cáo, kháng nghị, căn cứ vào
Trang 21quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự hoặc các ngành luật khác
có liên quan để quyết định có hủy BAHSST hay không Trong thực tiễn, việc cân nhắc để đi đến quyết định hủy BAHSST có khi khó hơn nhiều so với việc quyết định sửa BAHSST, đồng thời cũng có những vụ án mà vì tính chất phức tạp của nó làm cho việc lựa chọn quyết định là sửa hay là hủy đối với BAHSST là vấn đề khó khăn đối với TACPT Vì vậy để thực hiện đúng quyền hạn hủy BAHSST không phải là vấn đề dễ dàng đối với TACPT
Thứ hai, việc quy định thẩm quyền hủy BAHSST là để TACPT khắc phục
những hạn chế, thiếu sót của TACST làm cho vụ án được xét xử đúng pháp luật Quyền hủy BAHSST có tác dụng phòng ngừa rất lớn, nó như là “chế tài” quan trọng buộc TACST phải giải quyết vụ án đúng đắn theo quy định của pháp luật
Quyền hạn này còn là “vách ngăn” để đảm bảo không đưa ra thi hành các bản án
còn hạn chế, thiếu sót Khi một BAHSST được TACPT tuyên sửa đúng pháp luật không chỉ đã khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của TACST mà còn đạt được mục đích của tố tụng hình sự, qua đó tạo được lòng tin của người dân vào hệ thống pháp luật, công lý, TAND và Nhà nước
Thứ ba, việc quy định thẩm quyền hủy BAHSST là để giải quyết đúng pháp
luật yêu cầu về kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể tham gia tố tụng Các chủ thể tham gia tố tụng hình sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật đối với BAHSST để yêu cầu TACPT xét xử lại vụ án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mà mình đại diện hay người mà mình bào chữa hoặc bảo
vệ quyền lợi, cũng như có quyền kháng nghị để yêu cầu TACPT xét xử lại vụ án nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan và công bằng xét xử phúc thẩm là thủ tục tố tụng chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị, còn hủy BAHSST là quyền của TACPT, do đó mà quyền hạn này cũng chỉ có khi có kháng cáo, kháng nghị và pháp luật cũng quy định việc hủy BAHSST phải căn cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghị, vì vậy mà giữa kháng cáo, kháng nghị và quyền hủy BAHSST có quan hệ tác động chặt chẽ với nhau Trong các quyền của TACPT thì quyền hủy BAHSST là biểu hiện rõ nhất của việc giải quyết yêu cầu kháng cáo,
Trang 22kháng nghị của các chủ thể tham gia tố tụng, bởi vì khi TACPT quyết định hủy BAHSST cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu kháng cáo của một hoặc một vài chủ thể hoặc yêu cầu kháng nghị của VKSND đã được chấp nhận Trong khi đó, nếu TACPT thực thi quyền giữ nguyên BAHSST thì cũng đồng nghĩa với việc TACPT không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị hoặc nếu như TACPT thực thi quyền hủy BAHSST thì có khi là căn cứ vào yêu cầu kháng cáo, kháng nghị, nhưng cũng có khi là hủy bản
án không căn cứ vào yêu cầu kháng cáo, kháng nghị mà do vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
Trong hoạt động xét xử VAHS, việc quy định thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, quy định về thẩm quyền của TACPT trong việc hủy BAHSST góp
phần thực hiện đúng nguyên tắc hai cấp xét xử của TAND Vấn đề này xuất phát từ việc quy định thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự cũng như đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các quy định về thủ tục này xét dưới góc độ đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử là một tất yếu khách quan Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì quyền hủy BAHSST là quyền của TACPT, ở các thủ tục xét lại vụ án
là giám đốc thẩm và tái thẩm thì TAND không có quyền này mà chỉ có quyền giữ nguyên bản án hoặc hủy bản án Nếu quy định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng có quyền hủy BAHSST thì cũng đồng nghĩa với việc công nhận giám đốc thẩm, tái thẩm là cấp xét xử thứ ba, bởi vì đặc điểm của quyền hủy BAHSST là làm thay đổi trực tiếp nội dung quyết định của BAHSST và theo nguyên tắc hai cấp xét xử thì việc thay đổi đó chỉ phải diễn ra một lần sau khi có phán quyết ở lần thứ nhất (với điều kiện là vụ án có kháng cáo hoặc kháng nghị), tức là sau khi xét xử sơ thẩm, thay đổi đó phải do TACPT quyết định Khi cho rằng quyền hủy BAHSST là biểu hiện của việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử không có nghĩa là quyền giữ nguyên bản án và quyền sửa BAHSST không phải là biểu hiện cho nguyên tắc này
Về nguyên tắc chung, các quyền hạn mà pháp luật quy định cho TACPT đều là biểu
Trang 23hiện của nguyên tắc hai cấp xét xử, nhưng do đặc thù khác với giám đốc thẩm và tái thẩm nên quyền hủy BAHSST là biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc này
Thứ hai, thực hiện quy định về thẩm quyền của TACPT hủy BAHSST đúng
pháp luật sẽ góp phần làm giảm số lượng vụ án phải giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Theo quy định của BLTTHS thì bản án của TAND đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ, kết luận trong bản án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, có vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật và những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện
là không đúng pháp luật; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai; vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật Như vậy, nếu thực hiện thẩm quyền hủy BAHSST đúng pháp luật thì căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sau khi xét xử phúc thẩm sẽ không phát sinh, vụ án sẽ chấm dứt ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, công tác thi hành bản án cũng sẽ được thực hiện ổn định và sẽ không gây lãng phí về chi phí cũng như thời gian tố tụng
Thứ ba, thực hiện thẩm quyền của TACPT hủy BAHSST góp phần tăng hiệu
quả hoạt động giám đốc xét xử của TAND cấp trên đối với TAND cấp dưới Sau khi hủy BAHSST, TACPT ghi nhận những hạn chế, thiếu sót đối với từng vụ án của từng TACST để tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử và có phương hướng chỉ đạo áp dụng thống nhất pháp luật nhằm nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho các TAND cũng như Thẩm phán ở cấp sơ thẩm Bên cạnh đó, TACPT cũng có những kiến nghị, đề xuất đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung đối với các quy định của pháp luật còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
Trang 241.3 Nội dung thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản
và chỉ có HĐXX phúc thẩm mới có quyền ban hành bản án để hủy BAHSST, trong trường hợp này hoạt động tố tụng của HĐXX phúc thẩm chính là thực thi thẩm quyền xét xử của TACPT Vì vậy, khi xem xét quyền hủy BAHSST ở góc độ tổng thể như là một quyền trong thực hiện chức năng xét xử thì chỉ TACPT có quyền này, nhưng khi xem xét quyền hủy BAHSST ở góc độ cụ thể như là một quyền phán quyết khi xét xử phúc thẩm VAHS thì chỉ HĐXX phúc thẩm có quyền này
1.3.2 Căn cứ hủy bản án hình sự sơ thẩm
Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định cụ thể các căn cứ làm cơ sở cho TACPT áp dụng khi thực hiện quyền hủy BAHSST Theo nội dung các quy định có liên quan về tính chất, phạm vi xét xử phúc thẩm, kháng cáo, kháng nghị, nội dung cụ thể của quyền hủy BAHSST của TACPT, có thể xác định các căn cứ hủy BAHSST như sau:
Thứ nhất, hủy BAHSST căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt, điều đó cũng có nghĩa là chỉ người nào phạm một tội đã
Trang 25được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự Vì vậy, để chứng minh tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm xác định: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do
cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Từ đó cho thấy rằng dù xét xử
ở cấp sơ thẩm hay phúc thẩm thì TAND cũng phải có trách nhiệm chứng minh các vấn đề nêu trên, đi cùng với trách nhiệm phải chứng minh, BLTTHS cho phép TAND được quyền áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định trong bản án về tội phạm và hình phạt Điều đó cũng có nghĩa là khi TACPT thực hiện quyền hủy BAHSST về tội phạm và hình phạt cũng phải căn cứ vào quy định của
Bộ luật hình sự Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì TACPT phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự để hủy BAHSST đối với các vấn đề như: Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp…
Thứ hai, hủy BAHSST căn cứ vào quy định của BLTTHS
BLTTHS có nhiệm vụ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, xác định thẩm quyền của TACPT phải căn cứ vào quy định của BLTTHS Điều đó cũng có nghĩa là TACPT chỉ được thực hiện những quyền hạn mà BLTTHS đã quy định, trong đó có quyền hủy BAHSST Từ đó cho thấy rằng hủy BAHSST cũng phải căn cứ vào quy định của BLTTHS, trước tiên là xác định cho được điều luật nào trong BLTTHS quy định quyền hủy BAHSST và nội dung của quyền này khi TAND thực hiện thẩm quyền xét xử phúc thẩm Bên cạnh đó, kháng cáo, kháng nghị không chỉ làm phát sinh xét xử phúc thẩm mà nó còn quyết định đến quyền hủy BAHSST bởi những nội dung mà nó yêu cầu hay đề nghị đến TACPT Vì vậy, khi thực hiện quyền hủy BAHSST, TACPT phải căn cứ vào chủ thể kháng cáo, quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo, nội dung kháng nghị đã được BLTTHS quy định Khi thực hiện quyền hủy BAHSST đối với việc
xử lý vật chứng của vụ án, TACPT cũng phải căn cứ vào quy định của BLTTHS
Trang 26Thứ ba, hủy BAHSST phải căn cứ vào quy định của ngành luật khác có liên
quan
Tội phạm hình sự có thể xâm phạm đến mọi mặt của đời sống xã hội, do đó khi xét xử, TAND không thể chỉ căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự và BLTTHS để xác định tội phạm và hình phạt, mà trong nhiều trường hợp phải căn cứ vào quy định của các ngành luật khác có liên quan để xét xử Mặt khác, ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo còn phải chịu các trách nhiệm vật chất khác
do hành vi trái pháp luật đã gây ra như phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính v.v Vì vậy, khi xét xử VAHS, TACST ngoài căn cứ vào quy định của Bộ luật hình
sự, BLTTHS còn phải căn cứ vào các ngành luật khác như pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, quản lý hành chính nhà nước v.v Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp TACST áp dụng không đúng hoặc không áp dụng quy định của các ngành luật này hoặc có những tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm buộc phải có những quyết định khác so với quyết định ban đầu làm cho TACPT phải tuyên hủy BAHSST Khi tuyên hủy quyết định của BAHSST đối với các phần thuộc ngành luật khác điều chỉnh, TACPT cũng phải căn cứ vào quy định của các ngành luật đó
1.3.3 Nguyên tắc trong xây dựng thẩm quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
Thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT được xây dựng trên nguyên tắc hai cấp
xét xử của TAND, bởi vì chỉ khi vụ án được giải quyết ở TACPT với chức năng là cấp xét xử thứ hai thì mới phát sinh thẩm quyền này Nội dung của nguyên tắc hai cấp xét
xử là BAHSST của TAND có thể bị kháng cáo, kháng nghị BAHSST không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành Những BAHSST bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm BAHSPT có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp bản án của TAND đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Từ đó cho thấy, VAHS có thể chỉ được xét xử ở TACST nếu như BAHSST không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc vụ án đó có thể sẽ
Trang 27trải qua đầy đủ hai cấp TAND là sơ thẩm và phúc thẩm nếu như BAHSST đã xét xử bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm BAHSST chỉ có hiệu lực pháp luật nếu như nó không bị kháng cáo, kháng nghị, còn BAHSPT thì có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án mặc dù có thể bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà nó chỉ là một thủ tục tố tụng đặc biệt có nhiệm vụ xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc có tình tiết mới Khi xét lại bản
án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng giám đốc thẩm hoặc Hội đồng tái thẩm không có quyền sửa bản án mà chỉ có quyền giữ nguyên bản án hoặc hủy bản án của TAND cấp dưới Như vậy, theo quy định của BLTTHS thì xét xử phúc thẩm là cấp xét xử cuối cùng và thẩm quyền hủy BAHSST chỉ là quyền duy nhất có ở TACPT
Mặc dù Điều 27 BLTTHS ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét xử, nhưng trong thực
tế để khẳng định tính khả thi của nguyên tắc này là rất khó, nguyên nhân là giám đốc thẩm và tái thẩm hiện nay chưa thực hiện đúng với tính chất như là một thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại các bản án, quyết định mà trong nhiều trường hợp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án giống như là cấp phúc thẩm Giám đốc thẩm cũng thực hiện việc đánh giá về chứng cứ và ra phán quyết về thực chất vụ án mà chưa thể hiện được là một thủ tục đặc biệt, tức là loại thủ tục chỉ xem xét những vi phạm trong áp dụng pháp luật như giải thích pháp luật sai lầm, áp dụng những căn cứ pháp luật hoàn toàn khác biệt với những nhận định về nội dung của vụ án hoặc những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Mặt khác, có quá nhiều cấp TAND có quyền xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm như TAND nhân dân cấp cao, Hội đồng thẩm phán TANDTC, chưa nói đến quy định hiện nay thì ngay cả quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng có thể bị xem xét lại làm cho việc giải quyết vụ án qua nhiều tầng nấc, bị kéo dài, đã có ý kiến cho rằng hiện nay có nhiều hơn hai cấp xét xử đang tồn tại trong tố tụng hình sự Việt Nam Vì các nguyên nhân trên mà nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự được thể hiện rất mờ nhạt, điều đó ảnh hưởng đến tính ổn định trong các phán quyết của TACPT, trong đó có
Trang 28phán quyết về hủy BAHSST Nhưng cho dù có nhiều quan điểm khác nhau về cấp xét
xử, thì phải khẳng định rằng hủy BAHSST là loại quyền chỉ có ở TACPT mà thôi
1.3.4 Mối quan hệ giữa phạm vi xét xử và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
Quyền hủy BAHSST của TACPT còn phụ thuộc vào phạm vi xét xử phúc thẩm
và thẩm quyền xét xử phúc thẩm của TACPT Phạm vi xét xử phúc thẩm là giới hạn mà pháp luật cho phép TACPT có quyền xem xét và ra các quyết định về vụ án theo căn cứ của pháp luật quy định Theo quy định tại Điều 345 BLTTHS năm 2015 thì phạm vi xét
xử phúc thẩm được xác định như sau: “Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của
bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.”[16, Điều 345] Như
vậy, TACPT chỉ được xét xử lại vụ án khi có kháng cáo, kháng nghị và xét xử trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị, việc xem xét các phần khác của vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị chỉ được thực hiện nếu xét thấy cần thiết, đó là khi xét thấy ở phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần phải hủy vụ án để điều tra hay xét xử hoặc đình chỉ vụ án Từ đó cho thấy, thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT cũng bị ràng buộc bởi phạm vi kháng cáo, kháng nghị mà trong đó chủ thể và nội dung kháng cáo, kháng nghị là quan trọng nhất vì kháng cáo, kháng nghị không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm mà còn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thể, phạm vi xét xử phúc thẩm và thẩm quyền xét xử phúc thẩm[9, tr 52] Phạm
vi xét xử phúc thẩm không hạn chế quyền hủy BAHSST trong trường hợp TACPT có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong BAHSST; Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố , nếu không thuộc các trường hợp trên thì phạm vi xét xử phúc thẩm TACPT hoàn toàn bị hạn chế Quyền hủy BAHSST còn phụ thuộc vào thẩm quyền xét xử phúc thẩm Có thể chia thẩm quyền xét xử phúc thẩm thành hai phần có quan hệ gắn kết với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức của xét xử phúc thẩm là thẩm quyền mà pháp luật quy định cho TACPT được
Trang 29xét xử lại những vụ án mà BAHSST chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, còn thẩm quyền về nội dung của xét xử phúc thẩm là thẩm quyền của TAND được đưa
ra các quyết định trong bản án khi xét xử phúc thẩm vụ án Quyền hủy BAHSST thuộc thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền xét xử phúc thẩm, bởi vì quyết định hủy BAHSST được hình thành sau khi TACPT mà cụ thể là HĐXX phúc thẩm đã xét xử lại
vụ án trên cơ sở xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Theo quy định của BLTTHS thì thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền xét xử phúc thẩm không chỉ có ở quyền hủy BAHSST để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc quyền hủy BAHSST và đình chỉ vụ án hủy BAHSST mà còn là quyền giữ nguyên BAHSST Tuy nhiên, thẩm quyền về nội dung nói trên chỉ phát sinh khi mọi yếu tố cấu thành thẩm quyền về hình thức đã được hội đủ Như vậy, quyền hủy BAHSST thuộc thẩm quyền về nội dung của thẩm quyền xét xử phúc thẩm, nhưng được hình thành trên cơ sở thẩm quyền về hình thức của thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 2003
Sau cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa được thành lập, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 thành lập các TAND quân sự Đây là dấu hiệu phá bỏ hoàn toàn bộ máy tư pháp của chế độ thực dân, phong kiến Do những ngày đầu chính quyền nhân dân còn non kém nên chưa kịp thời ban hành các văn bản pháp luật vì vậy ngày 10/10/1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh số 47 tạm thời giữ nguyên các luật lệ của chế độ cũ cho đến khi ban hành bộ luật pháp duy nhất cho cả nước, với điều kiện những luật
lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này, trong đó Chương IV và chương V Sắc lệnh có các quy định liên quan đến pháp luật hình sự
và tố tụng hình sự Ít lâu sau, ngày 17/4/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh số 51 ấn định thẩm quyền các TAND và
sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa, tại Điều 42 sắc lệnh tiếp tục giữ nguyên
Trang 30những luật lệ của chế độ cũ, trừ những điều khoản trái với sắc lệnh này, trái với chủ quyền và chính thể dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam
Tại Công văn số 479-NCPL ngày 12 tháng 7 năm 1974 của TANDTC còn
quy định “Trường hợp Tòa án nhân dân huyện xử sơ thẩm từ hai năm tù trở xuống,
bản án bị kháng cáo, kháng nghị vì xử quá nhẹ mà Tòa án nhân dân tỉnh, thành nhận định phải chịu hình phạt tù trên hai năm, thì cần phân biệt mức độ vi phạm thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện nặng hay là nhẹ Nếu đáng xử từ trên hai năm cho đến ba năm tù, mà Tòa án nhân dân huyện xử từ hai năm tù trở xuống thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành không hủy án sơ thẩm mà cứ tiến hành xét xử phúc thẩm, tăng hình phạt, sau đó sẽ rút kinh nghiệm với Tòa án nhân dân huyện Nếu vi phạm thẩm quyền nghiêm trọng, vụ án mà Tòa án nhân dân huyện xử đáng ra phải phạt tù trên 3 năm, như 3 năm rưỡi, 4 năm, 5 năm, hay cao hơn nữa thì bản án sơ thẩm sẽ bị hủy và vụ án sẽ do Tòa án nhân dân tỉnh, thành tự mình xử sơ thẩm trong một phiên tòa khác”
Sau đó ngày 28/6/1988 Quốc hội khóa VIII ban hành BLTTHS đầu tiên, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992 và 2000 (BLTTHS năm 1988) thì hoạt động hủy bản án theo thủ tục xét xử phúc thẩm được quy định như sau: Tại Điều 223, Điều 224 BLTTHS năm 1988 quy định:
“Điều 223 Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Khi có một trong những căn cứ quy định tại điểm 1 và điểm 2 Điều 89 Bộ luật này thì Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không có tội
và đình chỉ vụ án; nếu có một trong những căn cứ quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ luật này thì huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Điều 224 Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự
Sau khi Toà án cấp phúc thẩm huỷ án mà vụ án phải điều tra lại hoặc xét xử lại thì cơ quan điều tra tiến hành điều tra lại và Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục chung”
Nhìn chung, BLTTHS năm 1988 đã đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nhưng vì BLTTHS năm 1988
Trang 31được dự thảo và ban hành trong những điều kiện khi cơ chế quản lý cũ còn tồn tại, nền dân chủ chưa cao, sự bàn giao giữa nước ta với các quốc gia khác trên thế giới còn hạn chế, tư duy kinh tế và tư duy pháp lý chưa được đổi mới, mặc dù đã được sửa đổi tới 3 lần (1990, 1992 và 2000) nhưng những quy định trong BLTTHS năm
1988 nói chung và quy định về hủy bản án theo thủ tục phúc thẩm nói riêng vẫn còn nhiều lạc hậu, thiếu sót không phù hợp để có thể đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Tiếp tục kế thừa và phát triển quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước đây, ngày 26/11/2003 Quốc hội khóa XI ban hành BLTTHS năm 2003 có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/7/2004
1.4.2 Giai đoạn từ năm 2003 cho đến nay
Tại các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII, lần thứ 3 và lần 7 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, đặc biệt là Nghị
quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Đảng ta chủ trương cần thiết
phải sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện BLTTHS 1988 nhằm góp phần tạo sự chuyển biến quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy, tại kỳ họp thứ 4, ngày 26 tháng 11 năm 2003 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTHS mới thay thế cho BLTTHS 1988 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS 1988 BLTTHS mới được gọi là BLTTHS 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 BLTTHS 2003 có 08 Phần với 37 Chương và 346 Điều, tăng 01 Phần 5 Chương và 53 Điều so với BLTTHS 1988 Cụ thể, Điều 248 BLTTHS năm 2003, khi tiến hành xét xử phúc thẩm, TACPT sẽ thành lập HĐXX phúc thẩm HĐXX phúc thẩm có những quyền quyết định sau:
“Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;Sửa bản
án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án”[17]
BLTTHS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 Bộ luật gồm 510 điều, được bố cục thành 9 phần, 36 chương, trong đó, bổ sung mới 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17
Trang 32điều, bãi bỏ 26 điều Đây là đạo luật quan trọng do VKSNDTC được giao chủ trì soạn thảo, liên quan trực tiếp đến công cuộc đấu tranh chống tội phạm, đến các quyền cơ bản nhất của con người, của công dân, do đó yêu cầu đặt ra được quán triệt trong suốt quá trình soạn thảo là phải thể chế hóa đầy đủ, sâu sắc chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Hiến pháp năm 2013, phải thực sự công tâm, khách quan, vì cuộc sống bình yên của nhân dân, vì những giá trị văn minh, tiến bộ của nền tư pháp Thẩm quyền hủy BAHSST của Tòa cấp phúc thẩm được quy định quy định tại Điều 355 và 358
1.5 Pháp luật một số nước về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
Thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT cũng được quy định trong BLTTHS ở các quốc gia có lịch sử lập pháp và mô hình tố tụng hình sự tương đối giống Việt Nam
- Thứ nhất,thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy BAHSST
trong BLTTHS Liên Bang Nga
Tại Điều 378 BLTTHS Liên bang Nga quy định về những quyết định của
TACPT như sau: “1 Căn cứ kết quả xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án tại
phòng nghị án ra một trong những quyết định sau đây:1) Giữ nguyên bản án và quyết định của Tòa án và bác kháng cáo, kháng nghị; 2) Hủy bản án, quyết định của Tòa án
và đình chỉ vụ án; 3) Hủy bản án, quyết định của Tòa án và trả lại hồ sơ vụ án để xét
xử lại ở Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp chống án từ giai đoạn thẩm tra sơ bộ hoặc giai đoạn xét xử hoặc các hoạt động của Tòa án sau khi đưa ra phán quyết của bồi thẩm đoàn; 4) Sửa bản án, quyết định của Tòa án 2 Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm được ban hành dưới hình thức quyết định” Như vậy BLTTHS Liên bang
Nga cũng quy định TACPT có thẩm quyền hủy BAHSST Tuy nhiên, có một điểm khác là phán quyết của TACPT được ban hành dưới hình thức quyết định chứ không phải là bản án như ở Việt Nam, đồng thời luật còn quy định TACPT được hủy BAHSST trong trường hợp BAHSST áp dụng không đúng pháp luật hình sự, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong BAHSST;
Trang 33-Thứ hai, thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy BAHSST
trong Bộ luật BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tại Điều 189 quy định: “Khi xét xử vụ án có kháng cáo, kháng nghị bản án
sơ thẩm, tùy từng trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm phải giải quyết theo một trong những hướng sau: (1) Nếu phán quyết ban đầu là đúng trong việc quyết định các tình tiết và áp dụng pháp luật và phù hợp với hình phạt, Tòa án phải bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án ban đầu; (2) Nếu phán quyết ban đầu không có sai sót trong việc xác định các tình tiết nhưng áp dụng pháp luật không chính xác hoặc hình phạt không phù hợp, Tòa án phải sửa bản án; (3) Nếu những tình tiết trong phán quyết ban đầu không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ, Tòa án có thể sửa đổi bản án sau khi điều tra rõ sự việc, hoặc có thể hủy bản án ban đầu và trả lại vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để xét xử lại” Như vậy, theo quy định
của BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì TACPT cũng có quyền hủy BAHSST và được thực hiện quyền này khi xét thấy phán quyết ở BAHSST có những tình tiết ban đầu là không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ và sau đó đã điều tra rõ được sự việc Như vậy, so với Điều 355 BLTTHS Việt Nam, thì Điều
189 BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng quy định quyền của TACPT là được giữ nguyên, sửa hoặc hủy BAHSST, tuy nhiên BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định chi tiết hơn cả ba quyền trong cùng một điều luật, còn BLTTHS Việt Nam tiếp tục quy định nội dung cụ thể của mỗi quyền ở từng điều luật khác nhau Đây chỉ là sự khác nhau về kỹ thuật lập pháp của mỗi nước, tuy nhiên tác giả cho rằng nội dung quy định tại Điều 189 BLTTHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là còn bao quát, chưa cụ thể hóa được từng quyền của TACPT khi xét
xử BAHSST, trong đó có quyền về hủy BAHSST
Tiểu kết chương 1
Thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy BAHSST là quyền mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép để TACPT khi xét xử VAHS được kết luận trong BAHSPT khác với những quyết định trong BAHSST chưa có hiệu lực thi hành bị kháng cáo, kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án khi có
những căn cứ được quy định trong BLTTHS Quyền hủy BAHSST phụ thuộc vào
Trang 34thẩm quyền xét xử phúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm của TACPT Trong đó, quyền hủy BAHSST được coi là loại quyền về nội dung của thẩm quyền xét xử phúc thẩm Khi thực hiện quyền hủy BAHSST, TACPT phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, BLTTHS và các ngành luật khác có liên quan Việc hủy BAHSST được xây dựng trên nguyên tắc hai cấp xét xử và nó là biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc này Khi xét xử phúc thẩm, TACPT phải đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của BAHSST để quyết định hủy BAHSST Hủy BAHSST có mục đích, ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của ngành TAND
Kể từ khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến trước năm 1988, pháp luật tố tụng hình sự nói chung, những quy định về hủy BAHSST nói riêng đã được xây dựng từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện dần, từ những quy định sơ khai tiến dần đến những quy định mang tính hệ thống, nhưng nhìn chung các quy định này chưa
cụ thể và nằm rải rác trong các văn bản dưới luật Tuy nhiên, đây lại là những quy định mang tính chất nền tảng, quan trọng để xây dựng hoàn chỉnh các BLTTHS
1988 và BLTTHS 2003
Như vậy, trong chương 1 luận văn đã khái quát được những vấn đề chung về thẩm quyền hủy BAHSST của TACPT làm tiền đề trong phân tích thực tiễn ở chương 2 của luận văn
Trang 35Chương 2:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TOÀ ÁN CẤP PHÚC THẨM TRONG VIỆC HUỶ BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm trong việc hủy bản án hình sự sơ thẩm
Thẩm quyền của TACPT đối với BAHSST được nêu rõ tại khoản 1 điều 355
BLTTHS năm 2015 Trong đó, thẩm quyền “không chấp nhận kháng cáo, kháng
nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm” và “đình chỉ việc xét xử phúc thẩm” là kết quả
thể hiện sự nhất quán trong đường lối xét xử giữa hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm
Điều cần chú ý ở đây đó là thẩm quyền “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án
để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án” ở những nội
dung này có thể hiểu rằng, khi TACPT phát hiện bản án của TACST có những sai lầm, vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, áp dụng điều luật hay có vi phạm tố tụng ở mức độ đáng kể, đồng thời những vi phạm này tòa cấp phúc thẩm không thể giải quyết, khắc phục được thì được quyền hủy bỏ BAHSST này Tùy theo tính chất
vi phạm của BAHSST mà TACPT quyết định hủy án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án cụ thể:
- Quyết định hủy BAHSST để điều tra lại được quy định tại khoản 1 điều 358 BLTTHS năm 2015 Trong trường hợp này TACPT nhận thấy quá trình điều tra tại cấp sơ thẩm có những căn cứ chưa được làm sáng tỏ như: Có sự việc phạm tội xảy
ra hay không? Ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội đó? Hành vi đó do lỗi cố ý hay vô ý? Có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ mức hình phạt không? Quá trình điều tra được tiến hành chưa đầy đủ, chưa khách quan, còn nhiều tình tiết nghi vấn trong
vụ án chưa được làm sáng tỏ, dẫn đến việc xác định sự thật của vụ án không được khách quan và toàn diện Như vậy, TACPT chỉ hủy án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại khi xác định rằng việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, chưa chính xác mà những thông tin, tài liệu thu thập chưa đầy đủ đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật vụ án, không đảm bảo tính khách quan của hoạt động xét xử, còn nếu
Trang 36TACPT xác định không ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án thì không được hủy BAHSST Ngoài căn cứ cho rằng TAND sơ thẩm còn có nhiều tình tiết chưa điều tra, chứng minh chính xác, khách quan, cụ thể thì việc hủy BAHSST còn phải bảo đảm điều kiện là TACPT không thể bổ sung được, còn nếu TACPT có khả năng bổ sung các căn cứ, tài liệu, chứng cứ mới thì BAHSST không bị hủy mà TACPT phải bổ sung Ví dụ: nếu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm bị cáo không có biểu hiện mắc bệnh tâm thần, nhưng trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo lại có biểu hiện tâm thần Trong trường hợp này tòa cấp phúc thẩm phải trưng cầu giám định để xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, chứ không lấy lý do này
để hủy án sơ thẩm
Bên cạnh đó thủ tục tố tụng thể hiện tính chặt chẽ của quá trình điều tra, truy
tố, xét xử, tính dân chủ của hoạt động tư pháp Vì vậy việc vi phạm thủ tục tố tụng
ở mức độ nghiêm trọng là căn cứ để hủy bản án Cụ thể:
Thứ nhất, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Quyết định đình chỉ vụ án là quyết định tố tụng
do VKSND đưa ra trong giai đoạn truy tố và do TAND quyết định trong giai đoạn xét
xử làm chấm dứt hoạt động tố tụng giải quyết vụ án Chính vì vậy, đối với những vụ
án đã có quyết định đình chỉ vụ án của TAND thì nghiễm nhiên quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật và trong trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, truy tố hay xét xử đối với họ Khi đã xác định được người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố VAHS, trừ trường hợp họ thực hiện một hành vi khác mà luật hình sự coi là tội phạm
Thứ hai, tội phạm mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố: Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là một trong những quy định của pháp
luật tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại Tuy nhiên, trong thực tiễn có những trường hợp việc khởi tố VAHS để truy cứu trách nhiệm người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây thêm những tổn thất khác cho bị hại so với việc không khởi tố VAHS như gây thêm những tổn thất về tinh thần, làm lộ bí mật đời tư
Trang 37của bị hại, phá vỡ sự tha thứ, hòa giải và thỏa thuận bồi thường giữa các bên Chính vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định đối với một số trường hợp tội phạm xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người hoặc xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế, không phải là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không phải là rất lớn hoặc đặc biệt lớn, không có tình tiết định khung tăng nặng thì việc khởi tố vụ án chỉ có thể được thực
hiện khi có yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của họ BLTTHS năm
2015 quy định có 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ được khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, gồm khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và
226 của Bộ luật hình sự So với BLTTHS năm 2003, quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm mới như: BLTTHS năm
2015 mở rộng phạm vi chủ thể có tư cách bị hại, đồng nghĩa với phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố VAHS cũng được mở rộng Ngoài ra, tại khoản 3 điều 155
BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định “Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút
yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”[16, Điều 155] Quy định của BLTTHS năm 2015 là hợp lý vì cả
bị hại và người đại diện của họ đều là chủ thể của quyền rút yêu cầu khởi tố, việc quy định cả hai chủ thể trên đều không được yêu cầu khởi tố lại là phù hợp về kỹ thuật lập pháp
Thứ ba, cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm: Có nhiều dạng bỏ lọt tội phạm khác
nhau, chẳng hạn VKSND truy tố bị cáo ba tội nhưng TACST chỉ xét xử bị cáo hai tội; các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can (bị cáo) đã thực hiện cấu thành một tội hoặc nhiều tội khác nhưng VKSND không truy tố và TACST không thể xét xử các hành vi mà VKSND không truy tố… Đối với trường hợp bỏ lọt người phạm tội (có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can hoặc đã khởi tố bị can nhưng được đình chỉ điều tra…), việc giải quyết của TACPT cũng tương tự như đối với trường hợp bỏ lọt tội phạm Như vậy có thể thấy, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra
đã điều tra không đầy đủ (vi phạm trong việc lập biên bản hiện trường, thu giữ vật
Trang 38chứng, nhận định tội danh…), bỏ lọt tội phạm, quá trình kiểm sát điều tra, kiểm sát viên thụ lý vụ án không phát hiện ra những sai sót, vi phạm trên để khắc phục, toà
án cấp sơ thẩm trước và trong khi xét xử cũng không phát hiện, làm rõ Những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, dẫn tới khi bản án bị kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm phát hiện thấy những vi phạm trên của BAHSST; quan điểm
xử lý vụ án và mức hình phạt đối với các bị cáo giữa hai ngành kiểm sát và koà án trong một số tình tiết của vụ án vẫn chưa thống nhất
Thứ tư, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được: Tại điểm b, khoản 1, điều 358 BLTTHS năm 2015 quy định về
hủy BAHSST để điều tra lại hoặc xét xử lại như sau: “việc điều tra ở cấp sơ thẩm
không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được”[16, Điều 358], điều đó
cho thấy, người được TACST tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội thì TACPT có quyền hủy BAHSST hình sự để TACST xem xét lại theo trình tự sơ thẩm kết án người đó phạm tội Do đó, nếu VKSND đã truy
tố một người về một tội quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng TACST tuyên
bố người đó không phạm tội, thì VKSND mới có quyền kháng nghị và yêu cầu TACPT hủy BAHSST để xét xử lại Tuy nhiên, nếu một người đã bị khởi tố nhưng trong quá trình điều tra, truy tố cơ quan điều tra hoặc VKSND đã đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với người đó mà khi xét xử sơ thẩm TACST cũng thấy có căn cứ xác định người đó phạm tội thì VKSND không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu tại phiên tòa sơ thẩm, qua xét hỏi và tranh luận, VKSND thấy việc đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án đối với một người rõ ràng là không đúng pháp luật
và TACST không có kiến nghị phục hồi điều tra thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật VKSND sẽ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy BAHSST hoặc quyết định phục hồi điều tra để truy tố người mà cơ quan điều tra hoặc VKSND đã đình chỉ (nếu việc điều tra không ảnh hưởng đến các bị cáo khác trong cùng vụ án)
Thứ năm, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để xảy ra vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Ở đây các cơ quan tiến hành tố tụng đã không thực hiện đúng
hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của các bước trong quá trình giải quyết vụ án,
Trang 39cũng có thể vì thiếu các tài liệu chứng cứ mà đánh giá sai các tình tiết vụ án dẫn đến việc xác định sai sự thật vụ án cũng như tính khách quan và toàn diện của vụ án đó Theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về xét xử sơ thẩm VAHS thì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là: (i) Có hành vi không thực hiện những quy định bắt buộc trong BLTTHS khi tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; (ii) Có hành vi thực hiện nhưng thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục đã quy định của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; (iii) Các hành vi trên phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự…; (iii) Bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thủ tục làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện (như đối với các vụ án mà
bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc bị truy tố ở khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bắt buộc phải chỉ định Luật sư, nhưng bỏ qua không thực hiện là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được pháp luật quy định) Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại nên tòa phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm; còn những vi phạm ngoài phạm vi khái niệm này thì được coi là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thực hiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục như vi phạm về thời hạn điều tra, thời hạn xét xử …cũng
là vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng
- Quyết định hủy BAHSST để xét xử lại từ cấp sơ thẩm của TACPT được quy định tại khoản 2 điều 358 BLTTHS năm 2015, theo quy định tại khoản 2 điều
358 cho thấy trong trường hợp HĐXX sơ thẩm không đúng thành phần tham gia thì TACPT có quyền yêu cầu hủy bản án đó, bởi vì theo quy định tại điều 254
BLTTHS năm 2015 thì: “Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội
thẩm Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm Đối với vụ án có bị cáo về tội mà
Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử
Trang 40hình thì hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm”[16, Điều 354]
Qua đó có thể thấy khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 điều 358 BLTTHS năm 2015 thì HĐXX cấp phúc thẩm có quyền hủy BAHSST để xét xử lại tại cấp sơ thẩm Ngoài quyền hạn hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, TACPT còn có quyền hủy BAHSST và đình chỉ vụ án được quy định tại điều 359 BLTTHS năm 2015 [16, Điều 358]
Như vậy, khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều
157 của BLTTHS năm 2015: “Không có sự việc phạm tội hay hành vi không cấu
thành tội phạm”[16, Điều 157] thì TACPT phải tuyên bị cáo không có tội để đảm
bảo khôi phục danh dự, cũng như quyền lợi cho bị cáo và đình chỉ vụ án Trường hợp hủy BAHSST và đình chỉ vụ án là khi TACPT xác định có một trong các căn
cứ như bị cáo chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hay quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm….Các căn cứ trên cũng chính là các căn cứ không được khởi tố VAHS và cũng là những sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự và BLTTHS Những căn cứ này có thể xuất hiện trước khi khởi tố vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không phát hiện được nên vẫn kết án bị cáo nhưng cũng có thể xuất hiện sau khi TACST xét xử Cụ thể:
Thứ nhất, không có sự việc phạm tội: Không có sự việc phạm tội tức có thể
thông tin về tội phạm là không chính xác, hoàn toàn không có sự việc xảy ra như thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận hoặc có sự việc xảy ra nhưng sự việc đó không có dấu hiệu của tội phạm Ví dụ như một người không thực hiện hành vi phạm tội, mà TACST có sai lầm trong việc kết án người đó phạm tội, sai lầm này có thể do cơ quan điều tra hoặc VKSND trong quá trình điều tra, cũng có thể do TAND Việc VKSND truy tố không đúng người, đúng tội, nhưng quá trình xét xử HĐXX không căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa để làm căn cứ kết án dẫn đến làm oan người vô tội