1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191

87 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Vi Phạm Quy Định Về Tham Gia Giao Thông Đường Bộ Từ Thực Tiễn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Loan
Người hướng dẫn TS. Vương Văn Bép
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Tố Cao, Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 846,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Ngành kiểm sát thủ đô đã luôn tích cực, chủ động đưa ra những giải pháp tăng cường hoạt động công tố và kiể

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH

VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG LOAN

KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH

VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 8380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VƯƠNG VĂN BÉP

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác và trung thực của Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự khuyến khích, động viên, chia sẻ, giúp đỡ, tạo điều kiện hết sức quy báu từ lãnh đạo Viện KSND thành phố Hà Nội, Lãnh đạo, đồng nghiệp Viện KSND huyện Thường Tín; của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Nhờ những giúp đỡ, tạo điều kiện trên, tác giả đã có thể hoàn thành công việc theo tiến độ được giao

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Khoa Đào tạo và quản lý học viên trường Đại học kiểm sát Hà Nội và đặc biệt là các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các chuyên đề của toàn khóa học đã taọ điều kiện, hướng dẫn, chỉ bảo, chia sẻ kinh nghiệm, góp ý chân thành cho học viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Vương Văn Bép -

Vụ trưởng Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình (Vụ 9) Viện KSND tối cao - Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng luận văn để tác giả hoàn thành luận văn đúng tiến độ, đạt chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đề ra

Do thời gian nghiên cứu, xây dựng luận văn không nhiều, trình độ, kinh nghiệm công tác, quá trình nghiên cứu học tập của tác giả còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi có những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành, qúy báu từ phía các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để tác giả

có thể hoàn thiện luận văn được tốt hơn và tiếp tục nỗ lực nghiên cứu, học tập, công tác tốt hơn nữa, phấn đấu phát triển đề tài nghiên cứu

Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2022

Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Loan

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

7 Kết cấu của Luận văn 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 7

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 17

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 18

1.2 Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 18

1.2.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 18

1.2.2 Kiểm sát việc khởi tố, khởi tố bị can, lập hồ sơ của Cơ quan điều tra 19

1.2.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 20

Trang 6

1.2.4 Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ được giao tiến hành điều tra 21 1.2.5 Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi, đình chỉ điều tra 24 1.2.6 Khắc phục vi phạm 26

1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm sát điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31 Chương 2 CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tai nạn giao thông tại thành phố Hà Nội

2.3 Những kết quả đạt được trong công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và nguyên nhân 39 2.4 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 40 2.5 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 41

2.5.1 Những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 41 2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đối với hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 43

Trang 7

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 49

Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50

3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 50

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 52

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 52

3.2.2 Giải pháp tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật 57

3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 60

3.3.1 Đối với Quốc hội, Chính phủ 60

3.3.2 Đối với các cơ quan tố tụng và các cơ quan, tổ chức hữu quan 61

3.3.3 Đối với Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội 62 3.3.4 Đối với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội 63

3.3.5 Đối với cán bộ, Kiểm sát viên 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 64

KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

37

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thủ đô Hà Nội là địa bàn phức tạp trong công tác bảo đảm an toàn giao thông Từ năm 2008, Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, sáp nhập tỉnh Hà Tây, trở thành thành phố lớn nhất cả nước, đời sống kinh tế của người dân được nâng cao, mật độ các phương tiện tham gia giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội ngày càng gia tăng, đa dạng về chất lượng, chủng loại … là áp lực không nhỏ đến

nỗ lực kiềm chế tình hình tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn của thành phố Hà Nội Trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, trên địa bàn thành phố Hà Nội xảy ra 3.508 vụ tai nạn giao thông đường bộ, tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 1.952 người, 2.310 người bị thương và gây thiệt hại lớn về tài sản Cơ quan điều tra

đã khởi tố 902 vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, chiếm 2,84% tổng số vụ án mới khởi tố (902/31.781 vụ) Các vụ tai nạn giao thông xảy ra không chỉ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, hệ thống y tế, an sinh xã hội

Với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Ngành kiểm sát thủ đô đã luôn tích cực, chủ động đưa ra những giải pháp tăng cường hoạt động công tố và kiểm sát điều tra, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, trong công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng để giải quyết kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng pháp luật, công tác kiểm sát giải quyết vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội còn gặp một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như: chưa thực hiện hết các chức năng, nhiệm vụ được giao; chưa phát huy hết vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra; một số quy định của pháp luật không cụ thể, còn mang tính chung chung nhưng chưa được

Trang 11

hướng dẫn kịp thời đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sá nhân dân thành phố Hà Nội Những vấn đề này cần được nghiên cứu

về cả lý luận và thực tiễn nhằm tìm ra các giải pháp tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát điều tra tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng, Ngành kiểm sát nhân dân trong thời gian tới

Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên nhận thấy việc lựa chọn đề tài

“Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự

và Tố tụng hình sự là cấp thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, đáp ứng với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu

Hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự nói chung, hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Ngành kiểm sát nhân dân Hoạt động này đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu và đã có các công trình được công bố như:

2.1 Về Giáo trình

- Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình

sự của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Lại Viết Quang - TS Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên), Nxb, Tư pháp Hà Nội năm 2020;

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) Tập 1 của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Phạm Mạnh Hùng-TS Lại Viết Quang (Đồng chủ biên), Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019;

- Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học kiểm sát

Hà Nội, do TS Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia sự thật,

Hà Nội năm 2020

Trang 12

2.2 Về Đề tài

- Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp

và thực hành công tố về vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự” của Trường cao đẳng Kiểm sát, năm 2001 và “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” của Viện khoa học Kiểm sát do Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì đề cập đến về lý luận, thực tiễn của hoạt động kiểm sát điều tra trong tố tụng hình sự;

- Sách chuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”, năm 2005 và “Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, năm 2008 do TS Lê Hữu Thể chủ biên;

- Luận án tiến sĩ luật học “Các biện pháp đấu tranh phòng, chống vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở thủ đô Hà Nội” Học viện khoa học xã hội năm 2001 của tác giả Bùi Kiến Quốc;

- Luận văn thạc sĩ luật học “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Nam định” Học viện khoa học xã hội năm 2017 của tác giả Phạm Tuấn Anh;

- Luận văn thạc sĩ luật học “Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, Học viện khoa học xã hội năm 2016 của tác giả Nguyễn Quang Tuấn;

Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu, bài viết liên quan đến hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Báo bảo

vệ pháp luật, Trang điện tử của bộ tư pháp, Trang điện tử của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội …

Đây là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích giúp cho học viên nghiên cứu, hoàn thiện luận văn Các công trình trên có công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận,

có công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn Song, chưa có công trình cụ thể nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra trên địa bàn thành phố Hà

Trang 13

Nội Do đó, đề tài học viên lựa chọn nghiên cứu về một vấn đề mới, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố Học viên xây dựng luận văn mang tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn, trên cơ sở kế thừa những vấn đề lý luận

và cách tiếp cận những công trình nêu trên, đưa ra các giải pháp mới nhằm hoàn thiện luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, những kết quả đã đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, từ đó luận văn đề xuất những biện pháp, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nội dung, phạm vi và các điều kiện bảo đảm việc kiểm sát điều tra đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội trong 05 năm (từ năm 2018 đến năm 2022)

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố

Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Trang 14

từ thực tiễn thành phố Hà Nội từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự hoặc đình chỉ điều tra

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu và sử dụng số liệu trong khoảng thời gian

05 năm (từ năm 2018 đến năm 2022)

Về giai đoạn tố tụng: Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm sát điều tra vụ án

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi

tố, khởi tố vụ án hình sự đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc, đình chỉ điều tra

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch

sử và duy vật biện chứng Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị, cũng như Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII năm 2021 của Đảng Cộng sản Việt Nam và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân về công tác kiểm sát điều tra vụ án hình sự

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để xây dựng Luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp

so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học và các luận chứng về các vấn đề nghiên cứu trong luận văn

Trang 15

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, học viên còn áp dụng phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp dự báo khoa học đối với các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, từ đó rút ra các luận cứ, luận chứng thực tiễn làm cơ sở cho việc đưa ra các nhận định, đánh giá của mình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu làm rõ, hoàn thiện những vấn đề

lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội Từ những phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; nhận định được những tồn tại, hạn chế, thiếu sót trong công tác kiểm sát điều tra; đề xuất các biện pháp, giải pháp, kiến nghị, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn còn có giá trị tham khảo chung trong công tác nghiên cứu, học tập và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi

phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Chương 2 Công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia

giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Chương 3 Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát

điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ

ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Hoạt động kiểm sát điều tra (KSĐT) vụ án hình sự (VAHS) là hoạt động quan trọng, cơ bản của Ngành kiểm sát nhân dân (KSND) Để hiểu về hoạt động KSĐT VAHS nói chung, KSĐT vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng, cần xác định được một số khái niệm cơ bản như sau:

* Vụ án hình sự

Khái niệm vụ án được định nghĩa như sau: “vụ án là một việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [34, tr.860]

Từ khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm VAHS như sau: VAHS là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định trong BLHS, đã được CQĐT

ra lệnh khởi tố VAHS để tiến hành điều tra, VKS truy tố, xét xử hoặc các Cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo các trình tự, thủ tục đã được quy định trong BLTTHS

* Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác Các quy định nhằm đảm bảo cho an toàn giao thông đường bộ đối với người, phương tiện thao gia giao thông đường bộ được quy định tại Luật giao thông đường

bộ năm 2008 Theo đó, người tham gia giao thông đường bộ buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện hành vi cụ thể theo luật định nhằm đảm bảo cho việc tham gia giao thông được an toàn cho chính tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia

Trang 17

giao thông cũng như tính mạng, sức khỏe, tài sản của những người tham gia giao thông khác, những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan

Người thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, tùy từng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm gây ra

có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng hoặc bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường

bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015

* Vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là vụ việc vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ có dấu hiệu là tội phạm đã được quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều

260 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

1 Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù

từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

Trang 18

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%: g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên

mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

4 Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp

có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a,

b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm [28, tr.284 - 286]

Điều 260 BLHS năm 2015 quy định gồm 05 khoản với 04 quy định cấu thành tội phạm, mức hình phạt tương ứng và 01 điều khoản quy định về hình phạt

bổ sung đối với người phạm tội Khoản 1 Điều 260 là cấu thành tội phạm cơ bản, khoản 2, khoản 3 là cấu thành tội phạm định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội, khoản 4 là cấu thành tội phạm với quy định hậu quả xảy ra của

Trang 19

tội phạm ở trường hợp giả định “trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến

hậu quả ” và khoản 5 quy định về hình phạt bổ sung “cấm đảm nhiệm chức vụ,

cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”

- Các yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Từ quy định của pháp luật hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Theo giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm - tập 2) của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội xác định bốn yếu tố cấu thành tội phạm gồm:

* Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường

bộ, đồng thời, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, tài sản của người khác

* Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội vi phạm quy định

về tham gia giao thông đường bộ thể hiện ở hành vi của người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Hành vi của người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của người khi tham gia giao thông đường bộ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau:

- Gây thiệt hại về tài sản 100.000.000 đồng trở lên

- Có khả năng thực tế làm chết 03 người trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời;

Trang 20

- Có khả năng thực tế gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời;

- Có khả năng gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên nếu không được ngăn chặn kịp thời

Trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động trong trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai thác) mà gây tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không bị truy cứu TNHS về tội

vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS mà

bị truy cứu TNHS về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm

đó như tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS), tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129 BLHS) hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 295 BLHS)

* Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm thực hiện với lỗi vô ý Người

phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình có thể xảy ra nhưng cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy trước hậu quả nguy hiểm đã xảy ra nhưng phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó nếu có

sự chú ý cần thiết

* Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên và

có năng lực TNHS, là người tham gia giao thông đường bộ Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ

* Hình phạt:

- Khung hình phạt tại khoản 1: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp

sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

Trang 21

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

- Khung hình phạt tại khoản 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

+ Không có giấy phép lái xe theo quy định;

Không có giấy phép lái xe theo quy định bao gồm các trường hợp: Không có giấy phép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp; điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị tước quyền sử dụng giấy phép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cấp đối với loại phương tiện đang điều khiển; điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm chỉ huy, điều khiển phương tiện đó

Thời hạn sử dụng của giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp được tính từ ngày cấp phép đến khi hết hạn ghi trên giấy phép lái xe đó (hoặc theo quy định của pháp luật về thời hạn của giấy phép lái xe đó)

Trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đã bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ giấy phép lái xe mà cần tiếp tục điều khiển phương tiện nốt hành trình còn lại thì trên hành trình đó không bị coi là không có giấy phép lái xe theo quy định

- Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác là một trong những trường hợp sau đây:

+ Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn

Trang 22

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở

Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc chất kích thích khác

+ Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; Đây là trường hợp sau khi gây tai nạn, người phạm tội đã bỏ chạy để trốn tránh sự điều tra, phát hiện, xử ly của cơ quan có thẩm quyền hoặc tuy không bỏ chạy để trốn trách nhiệm nhưng sau khi gây tai nạn đã bỏ đi, không cứu giúp người

bị nạn khi có điều kiện để cứu giúp

Trong trường hợp người phạm tội cố ý không cứu giúp người bị nạn mà người

bị nạn chết thì người phạm tội cũng không bị truy cứu TNHS thêm về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo Điều 132 BLHS

+ Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; Không chấp hành điều lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông

là không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông hoặc người khác được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông, ở bến phà, tại cầu đường đi bộ đi chung với đường sắt

để mặc cho hậu quả đó xảy ra mà cho rằng hậu quả chết người không xảy ra hoặc

có thể ngăn ngừa được hoặc không thấy hậu quả chết người nhưng người đó phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng

- Khung hình phạt tại khoản 3:

Trang 23

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Làm chết 03 người trở lên;

Phạm tội làm chết 03 người trở lên là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội gây hậu quả chết 03 người trở lên Tuy nhiên, người phạm tội không cố ý gây ra hậu quả này

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

- Khung hình phạt tại khoản 4:

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến một trong các hậu quả sau nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: khả năng thực tế làm chết 03 người trở lên; khả năng thực tế gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; khả năng thực tế gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên

- Hình phạt bổ sung tại khoản 5:

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm [14, tr 28 - 34]

* Hoạt động kiểm sát điều tra

Trang 24

quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, của Công an nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân và người tiến hành điều tra là những người thuộc cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra được phân công thực hiện nhiệm vụ điều tra Quá trình điều tra, các cơ quan, người tiến hành điều tra tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án

Như vậy, theo quan điểm của tác giả có thể định nghĩa: Điều tra VAHS là việc những người có thẩm quyền, được CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra giao nhiệm vụ tiến hành các biện pháp điều tra hợp pháp theo quy định của BLTTHS nhằm thu thập các chứng cứ, tài liệu chứng minh tội phạm, người phạm tội và các vấn đề liên quan, ban hành bản bản Kết luận điều tra kết thúc điều tra VAHS chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát (VKS) để VKS nghiên cứu, quyết định việc truy tố, Tòa án xét xử hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của BLTTHS

- Kiểm sát điều tra

Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận chế định Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), trong đó xác định vị trí, chức năng và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hệ thống VKSND Việt Nam Kể từ đó đến nay, lịch sử Hiến pháp nước ta ghi nhận 03 lần sửa đổi, bổ sung Song, chức năng, nhiệm vụ của Ngành KSND luôn giữ một vai trò quan trọng, được hiến định mà không một cơ quan, ban ngành nào

có thể thay thế được Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định vai trò của Ngành KSND tại khoản 1 và khoản 3 Điều 107:

1 VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

3 VKSND có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [21, tr.57]

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm

2014 đã quy định nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp như sau:

Trang 25

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành

án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [24, tr.10 - 11]

Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, hai chức năng thực hành quyền công

tố (THQCT) và kiểm sát các hoạt động tư pháp được thực hiện thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT và KSĐT Hoạt động KSĐT với tính chất là một chức năng cơ bản của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động TTHS được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra VAHS nhằm bảo đảm việc điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội

- Hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả có thể rút ra khái niệm công tác KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau: KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là một trong những hoạt động của VKS trong những công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS Theo đó, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và những chủ thể tham gia tố tụng khác, bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc giai đoạn điều tra, nhằm bảo đảm cho quá trình điều tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội cũng như không bỏ lọt tội phạm

Trang 26

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hoạt động của VKS nhằm thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Theo đó VKS sử dụng thẩm quyền theo luật định để thực hiện các hoạt động nhằm kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và hành vi của những người tham gia tố tụng khác

Thứ hai, chủ thể của hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên (KSV), Kiểm tra viên (KTV) được phân công giải quyết vụ án Quá trình KSĐT vụ án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng được phân công phụ trách, KSV, KTV được phân công ngoài việc phải nắm rõ các quy định của pháp luật nói chung, của Ngành KSND nói riêng, họ còn phải thường xuyên cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật về việc tham gia giao thông: Luật giao thông đường bộ, luật giao thông đường sắt, …

Thứ ba, đối tượng của KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, điều tra VAHS như: CQĐT, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Cán bộ điều tra, cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

Thứ tư, phạm vi của hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện từ khi có quyết định khởi tố vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và kết thúc khi có kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của công tác KSĐT của VKS, cũng thể hiện đầy đủ bản chất pháp

lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án Vi phạm quy

Trang 27

định về tham gia giao thông đường bộ VKS kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt cả quá trình điều tra VAHS

1.2 Nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định

về tham gia giao thông đường bộ

Hoạt động KSĐT vụ án hình sự được nêu cụ thể tại Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình sự của trường Đại học kiểm sát [20, tr.71-320] Từ những nội dung được nêu trong giáo trình, theo học viên, hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về về tham gia giao thông đường bộ gồm những nội dung sau:

1.2.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Theo quy định tại Điều 160 BLTTHS năm 2015, khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKS phải kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin của các cơ quan; kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết về nguồn tin Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ các nguồn chuyển đến, CQĐT phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu Trong thời hạn

03 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết, Thủ trưởng CQĐT ban hành quyết định phân công Điều tra viên giải quyết; đồng thời trong thời hạn 24 giờ phải chuyển quyết định phân công và thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận kèm theo hồ sơ vụ việc đến VKSND cùng cấp để thụ lý kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 146 BLTTHS [10, tr.2]

Đối với vụ tai nạn giao thông, hiện trường có ý nghĩa hết sức quan trọng, có giá trị mang tính “Cốt lõi” Hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường,

Trang 28

khám nghiệm tử thi của KSV được quy định tại Điều 15 Luật TCVKSND năm

2014, khoản 1 Điều 166 BLTTHS và được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 201,

202 BLTTHS và Quy chế số 03 và Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định ban hành kèm theo Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy chế 170)

Thực hiện tốt công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, chúng

ta có thể xác định được một cách tương đối đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến vụ tai nạn giao thông như: thời gian xảy ra vụ việc, điều kiện thời tiết, ánh sáng, mặt đường, phương tiện gây tai nạn, hướng, tốc độ di chuyển của các phương tiện, vị trí va chạm, … giúp KSV, ĐTV xác định được ngay lỗi của người tham gia giao thông, hạn chế đến mức thấp nhất việc kéo dài thời gian giải quyết, phải tạm đình chỉ giải quyết do không xác định được lỗi trong vụ tai nạn giao thông Vì vậy, công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải được thực hiện một cách cẩn trọng, tỉ mỉ, đúng theo trình tự, thủ tục quy định, do cán bộ kỹ thuật chuyên môn thực hiện Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án khám nghiệm tử thi, CQĐT có trách nhiệm thông báo thời gian, địa điểm tiến hành, sơ bộ nội dung vụ án để VKS phân công KSV kiểm sát việc khám nghiệm [10, tr.6] KSV khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục hướng dẫn tại Quy chế 170, nghiêm túc, cẩn trọng, nhằm đảm bảo không bỏ qua các dấu vết, chứng cứ quan trọng Đối với những vụ

án phức tạp, KSV cần báo cáo ngay lãnh đạo Viện tham gia chủ trì kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trao đổi với CQĐT, cơ quan chuyên môn để xác định đúng đắn diễn biến vụ việc,

1.2.2 Kiểm sát việc khởi tố, khởi tố bị can, lập hồ sơ của Cơ quan điều tra

Kiểm sát việc khởi tố vụ án là việc VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, đảm bảo tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định khởi tố Các quyết định phải kiểm sát trong giai đoạn này bao gồm: Quyết

Trang 29

định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can Mục đích của hoạt động này nhằm đảm bảo việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được tiến hành đúng pháp luật, đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp Nếu thấy căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT không đúng, VKS kiên quyết ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT theo quy định tại Điều 158, 179 BLTTHS

Ngoài ra, khi kiểm sát việc khởi tố, VKS còn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của BLTTHS như ban hành văn bản kiến nghị yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự Đây là quyền hạn hết sức quan trọng của VKS nhằm bảo đảm các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường

bộ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can không để xảy ra vi phạm, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT nhằm đảm bảo hồ sơ vụ án được xây dựng một cách khách quan, đúng thủ tục, trình tự, đúng thẩm quyền và hình thức luật định Hồ sơ vụ án phải thể hiện được đầy đủ các loại tài liệu cần thiết mà pháp luật TTHS quy định, được đánh số bút lục và thống kê các tài liệu có trong hồ

sơ theo quy định của Ngành KSND đã đề ra

1.2.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

Biện pháp ngăn chặn (BPNC) là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc được quy định trong BLTTHS do các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc cản trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc để bảo đảm thi hành án hình sự Các BPNC được quy định tại các Điều 109, 110, 111, 112, 113, 117, 119,

121, 122, 123, 124 BLTTHS gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền để bảo đảm; tạm hoãn xuất cảnh Các BPNC làm hạn chế quyền con người, quyền công dân của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn

Trang 30

Để áp dụng BPNC, KSV cần nghiên cứu, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội để xem xét áp dụng BPNC phù hợp Vì vậy, để xem xét việc áp dụng BPNC, hồ sơ đề nghị phê chuẩn áp dụng BPNC của CQĐT đối với người thực hiện hành vi phạm tội phải được thu thập đầy đủ các căn cứ, tài liệu đảm bảo cho việc đề nghị áp dụng BPNC của CQĐT là phù hợp, cần thiết theo các căn cứ quy định của BLTTHS Nếu CQĐT áp dụng BPNC không tương xứng thì VKS kiên quyết yêu cầu thay đổi BPNC phù hợp hơn

1.2.4 Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra,

Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ được giao tiến hành điều tra

Kiểm sát việc tiến hành một số hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra nhằm đảm bảo các hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các hoạt động điều tra nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án; các vấn

đề cần giải quyết trong VAHS như căn cứ xác định tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vấn đề bồi thường thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án … Kết quả của các hoạt động điều tra là việc làm rõ tất cả các vấn đề trong vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ để các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định giải quyết vụ án một cách phù hợp: CQĐT đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

vụ án đối với bị can, kết thúc điều tra đề nghị truy tố đến VKS, VKS đình chỉ, tạm đình chỉ, truy tố đến Tòa án, Tòa án đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết hoặc xét xử vụ

án theo quy định của pháp luật

Theo quy định của BLTTHS, các biện pháp điều tra của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gồm:

- Kiểm sát việc hỏi cung bị can: Hoạt động hỏi cung bị can được CQĐT thực hiện ngay sau khi ban hành Quyết định khởi tố bị can Hoạt động hỏi cung bị can có

ý nghĩa hết sức quan trọng vì bị can là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động hỏi cung bị can đạt kết quả có thể giúp CQĐT nắm được chính xác, đầy đủ

Trang 31

nhất diễn biến vụ tai nạn giao thông để có định hướng điều tra phù hợp, đảm bảo chất lượng, tiến độ điều tra vụ án Theo quy định của Ngành KSND, trước khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT, VKS bắt buộc phải tiến hành hỏi cung

bị can Đây là biện pháp KSĐT hiệu quả nhất đối với hoạt động điều tra của CQĐT Khi trực tiếp hỏi cung bị can, KSV sẽ gặp hỏi những vấn đề còn nghi vấn, tìm hiểu xem bị can có bị đánh đập, ép cung, bức cung …

Theo quy định tại Điều 183 BLTTHS, quá trình kiểm sát hoạt động hỏi cung

bị can, KSV có thể thực hiện bằng hai hình thức là kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can của CQĐT hoặc kiểm sát gián tiếp qua biên bản hỏi cung bị can KSV cần bàn bạc, trao đổi với ĐTV về nội dung cần đấu tranh làm rõ với bị can, lập kế hoạch hỏi cung, đánh giá thái độ của bị can để lựa chọn phương pháp hỏi cung, đặt

ra câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức của từng bị can, tập trung hỏi đấu tranh làm rõ các vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án (nếu có), đấu tranh làm rõ các vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ, phát hiện các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết mới chưa được phát hiện, thu thập trong hồ sơ vụ án… KSV cần đặc biệt chú ý đến việc kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can khi vụ án có bị can kêu oan, có lời khai mâu thuẫn, bị can chối tội, bị can khai báo gian dối để che dấu người phạm tội hoặc che dấu một tội phạm khác, bị can khiếu nại hoạt động điều tra của CQĐT … KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, xem xét, đánh giá, đối chiếu nội dung biên bản hỏi cung bị can với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án để có thể đảm bảo giải quyết vụ án một cách triệt để, đúng quy định của pháp luật

- Kiểm sát việc lấy lời khai của bị hại, người làm chứng, đương sự: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4, Điều 62, Điều 66 BLTTHS thì: Đương sự trong VAHS gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra; Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ

án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng Việc lấy lời khai của bị hại, người làm chứng và đương sự trong vụ án Vi phạm quy định

Trang 32

về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định tại Điều 185, 188 BLTTHS KSV kiểm sát hoạt động lấy lời khai người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của ĐTV nhằm đảm bảo việc lấy lời khai được thực hiện theo quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện ra những vi phạm, thiếu sót của CQĐT để kiến nghị yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm kịp thời

- Kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra của CQĐT: Hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra của CQĐT được thực hiện theo quy định tại các Điều 189, 190 và Điều 204 BLTTHS Kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra nhằm kiểm tra, phát hiện các tình tiết có ý nghĩa cho việc chứng minh tội phạm, người phạm tội và phát hiện các vi phạm để khắc phục, bảo đảm các hoạt động điều tra của CQĐT được thực hiện theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Khi xét thấy cần tiến hành hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, KSV cần trao đổi với ĐTV xây dựng kế hoạch nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thực hiện các biện pháp điều tra để đảm bảo kết quả điều tra, tránh những vi phạm, thiếu sót dẫn đến phải thực hiện lại hoạt động điều tra Để công tác kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng và thực nghiệm điều tra đạt kết quả, KSV cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật về hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra; nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; xác định điểm mâu thuẫn, nghi vấn và yêu cầu CQĐT tiến hành các biện pháp điều tra

- Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản: Đây là hoạt động của VKS sử dụng các quyền hạn của mình theo quy định của BLTTHS kiểm sát các hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của CQĐT được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm quyền con người, quyền công dân của những người tham gia tố tụng Các hoạt động điều tra trên được thực hiện cần tuân thủ quy định tại các Điều 126, 128, 129, 130, 178, 199 BLTTHS

- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Các biện pháp

Trang 33

điều tra tố tụng đặc biệt được ghi nhận tại Điều 223 BLTTHS gồm: biện pháp ghi

âm, ghi hình bí mật; biện pháp nghe điện thoại bí mật; biện pháp thu thập bí mật dữ liệu điện tử VKS cần kiểm tra, xem xét, đánh giá tính chất, mức độ cần thiết phải

áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt này phải được Viện trưởng VKSND cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 225 BLTTHS và thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải tuân thủ về thời hạn theo quy định tại Điều 226 BLTTHS

Để kiểm sát hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ

sơ, xác định căn cứ đề nghị áp dụng biện pháp điều tra của CQĐT, đề xuất với Lãnh đạo Viện quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận áp dụng hoạt động điều tra của CQĐT Khi đã phê chuẩn biện pháp điều tra của CQĐT, KSV cần kiểm sát chặt chẽ, kịp thời phát hiện vi phạm trong quá trình thực hiện điều tra, kịp thời đề xuất Viện trưởng ra quyết định hủy bỏ quyết định điều tra tố tụng đặc biệt khi thuộc một trong các trường hợp: có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng CQĐT có thẩm quyền, có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Quá trình kiểm sát các hoạt động điều tra, KSV cần lưu ý khi có người dưới

18 tuổi tham gia tố tụng được quy định riêng biệt, chi tiết, cụ thể tại chương XXVIII BLTTHS

Vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ hiện nay trên cả nước nói chung, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng có xu hướng trẻ hóa về tuổi của những người tham gia tố tụng Vì vậy đòi hỏi KSV được phân công KSĐT vụ án cần nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật TTHS nói chung, quy định về các thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng nói riêng và còn phải tự trau dồi, học tập kiến thức tâm lý lứa tuổi nhằm đảm bảo kết quả KSĐT vụ án

1.2.5 Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi, đình chỉ điều tra

1.2.5.1 Kiểm sát việc tạm đình chỉ

Quá trình điều tra vụ án, khi đã hết thời hạn điều tra vụ án mà có những căn

cứ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 229, Điều 443 BLTTHS thì CQĐT ra

Trang 34

quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra VAHS đối với

bị can: chưa xác định được bị can hoặc không biết bị can đang ở đâu; bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có giấy chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y; CQĐT đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định KSV cần kiểm sát chặt chẽ căn cứ tạm đình chỉ của CQĐT theo quy định của BLTTHS

Do đặc trưng của vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có tính chất phức tạp: đối tượng gây tai nạn bỏ trốn, không xác định được bị can; cần trưng cầu nhiều loại giám định như: giám định dấu vết va chạm, giám định tuổi, giám định kỹ thuật phương tiện, giám định thương tích, định giá tài sản, giám định pháp y tâm thần do ảnh hưởng sau tai nạn … Vì vậy, các vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ phải tạm đình chỉ chiếm tỷ lệ cao KSV được phân công cần kiểm sát chặt chẽ căn cứ tạm đình chỉ, thời gian tạm đình chỉ, đôn đốc thu thập các tài liệu cần thiết, kiên quyết phục hồi điều tra vụ án, bị can khi căn cứ tạm đình chỉ đã hết

1.2.5.2 Kiểm sát việc phục hồi điều tra

Khi các VAHS tạm đình chỉ điều tra mà căn cứ tạm đình chỉ điều tra đã hết thì CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của BLTTHS Các trường hợp phục hồi điều tra vụ án được quy định tại Điều 235 BLTTHS Thời hạn điều tra vụ án phục hồi điều tra được quy định tại Điều 172,

174 BLTTHS

Ngay sau khi phục hồi điều tra vụ án, KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, trao đổi với ĐTV nhanh chóng thực hiện các biện pháp điều tra cần thiết, kịp thời xem xét, đánh giá những vấn đề mới phát sinh sau khi phục hồi điều tra vụ án để tiếp tục giải quyết đảm bảo thời hạn điều tra, tránh trường hợp lại phải gia hạn thời hạn điều tra, tiếp tục tạm đình chỉ điều tra vụ án

1.2.5.3 Kiểm sát việc đình chỉ vụ án

Quá trình điều tra VAHS, khi vụ án có một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 230 BLTTHS - căn cứ để chấm dứt hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS thì CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra Các căn cứ đình chỉ điều tra gồm: Người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu đối với các vụ án

Trang 35

khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS; các căn cứ được quy định tại Điều 157 BLTTHS: không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu TNHS, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 27 BLHS, tội phạm đã được đại xá, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã chết, tội phạm thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 các Điều 134, 134, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố; người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 16 BLHS; có căn

cứ miễn truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 29, khoản 1 Điều 91 BLHS; đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm Kiểm sát việc đình chỉ điều tra nhằm bảo đảm việc đình chỉ của CQĐT có căn cứ, đúng pháp luật và phát hiện, yêu cầu khắc phục kịp thời những vi phạm trong việc đình chỉ điều tra

Thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành, trước khi đình chỉ điều tra vụ án, ĐTV phải chuyển hồ sơ cho KSV trao đổi thống nhất việc đình chỉ điều tra KSV tiến hành KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần kiểm sát chặt chẽ ngay từ đầu, hạn chế tối đa những vi phạm, thiếu sót dẫn đến phải đình chỉ điều tra có lỗi của VKS

1.2.6 Khắc phục vi phạm

Phát hiện vi phạm trong quá trình KSĐT VAHS là nhiệm vụ quan trọng của VKS Việc phát hiện vi phạm của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, kiến nghị xử lý người thực hiện hành vi sai phạm nhằm đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh

Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát hiện vi phạm, KSV cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cần kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra, phát hiện vi phạm kịp thời KSV cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, bám sát tiến độ điều tra của CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, kiên quyết yêu cầu chuyển hồ sơ, tài

Trang 36

liệu để VKS tiến hành kiểm sát theo quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS Khi phát hiện có vi phạm, thiếu sót, cần trao đổi, yêu cầu khắc phục ngay và không để xảy ra vi phạm tương tự Nếu CQĐT không khắc phục vi phạm hoặc đối với những

vi phạm có tính chất nghiêm trọng, KSV cần tổng hợp vi phạm, báo cáo Lãnh đạo Viện ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm kịp thời

Hai là, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng Theo quy định của BLTTHS thì người tham gia TTHS bao gồm: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa… Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng là đảm bảo để quyền và nghĩa vụ của họ được tôn trọng, được thực hiện đầy đủ; mọi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được phát hiện và khắc phục kịp thời

Ba là, giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra Khi phát sinh tranh chấp về thẩm quyền điều tra như thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ, thẩm quyền điều tra theo vụ việc, VKS phải nghiên cứu, xem xét giải quyết VKS cũng có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, CQĐT phải đề nghị VKS cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho CQĐT có thẩm quyền để tiếp tục điều tra Trường hợp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của CQĐT cấp mình thì VKS yêu cầu CQĐT tiến hành các thủ tục để VKS ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan có thẩm quyền Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của CQĐT, VKS cùng cấp phải ra quyết định chuyển vụ án cho CQĐT có thẩm quyền

Bốn là, yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra khi cần thiết VKS yêu cầu CQĐT cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan để kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền khi tiến hành các hoạt động điều tra Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu CQĐT tiến

Trang 37

hành hoạt động điều tra đúng pháp luật sau đó kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho VKSvà cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra

Năm là, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra,

xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động

tố tụng Trong quá trình điều tra, khi phát hiện ĐTV, cán bộ điều tra có vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng, VKS ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra đồng thời xử lý nghiêm minh đối với những cá nhân vi phạm Mục đích của quy định này nhằm kịp thời khắc phục các vi phạm pháp luật của ĐTV, cán bộ điều tra trong tiến hành các hoạt động điều tra, đảm bảo quá trình điều tra VAHS được diễn ra một cách đầy đủ, đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng

Sáu là, xử lý vi phạm; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm [24, tr.12] Vì vậy, trong quá trình KSĐT, nếu phát hiện thấy các cơ quan, tổ chức có thiếu sót, sơ hở là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới phát sinh

vi phạm, tội phạm thì VKS phải có kiến nghị cụ thể để các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm sát điều tra và hoạt động thực hành quyền công tố đối với vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

THQCT và KSĐT là hai chức năng của VKS được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, giữa hai chức năng này tuy có đối tượng, phạm vi và nội dung hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Nếu như đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, đối tượng của KSĐT là việc tuân theo pháp luật là hành vi và quyết định của

Trang 38

các cơ quan tiến hành tố tụng, của những người có thẩm quyền; Mục đích và nhiệm

vụ của THQCT là làm sáng tỏ tội phạm đã xảy ra, vạch trần lỗi của người phạm tội

để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, còn mục đích và nhiệm vụ của KSĐT là phát hiện kịp thời các việc làm vi phạm pháp luật của các chủ thể trong TTHS trong giai đoạn điều tra để yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật Hai chức năng này đều có mục đích và nhiệm vụ chung đều là nhằm bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm (Điều 1 và Điều

23 BLTTHS) Như vậy, chính đối tượng, mục đích và nhiệm vụ của từng hoạt động

đã quy định nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS với những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT, tuy không phải là quan hệ nhân quả, quan hệ trước sau; phụ thuộc và chi phối lẫn nhau nhưng chúng có quan

hệ hỗn hợp tác động lẫn nhau do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm mục đích của TTHS là mọi tội phạm đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, không để xảy

ra các trường hợp oan, sai, vi phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ hai, theo quy định của pháp luật thì THQCT trong giai đoạn điều tra và hoạt động KSĐT được bắt đầu từ khi khởi tố VAHS và cùng kết thúc khi giai đoạn điều tra kết thúc, tức là khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra

Thứ ba, THQCT và KSĐT đều được thực hiện theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS là nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Hay nói cách khác, trong quá trình THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong mọi trường hợp đều do Viện trưởng quyết định nhưng có sự phân công, phân cấp trong nội bộ cơ quan VKS; VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo của VKS cấp trên; Viện trưởng VKS các địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC

Thứ tư, THQCT và KSĐT đều do một chủ thể tiến hành đó là VKS mà người trực tiếp tiến hành các hoạt động này gồm có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và các KSV

Hai chức năng THQCT và KSĐT có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, chức năng này làm tiền đề, bổ sung qua lại cho chức năng còn lại Do đó, khi thực

Trang 39

hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKS phải luôn luôn xác định hai hoạt động có tính độc lập tương đối với nhau nhưng chúng cũng đồng thời có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời Hoạt động KSĐT đạt hiệu quả sẽ là điều kiện giúp cho chức năng THQCT được đúng đắn và ngược lại, công tác THQCT có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt động KSĐT đạt được mục tiêu, nhiệm vụ trong quá trình điều tra

Trang 40

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 của khóa luận đã làm rõ những nội dung sau: Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam Trong đó, tác giả đã đưa ra được khái niệm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành về tội phạm nói chung và tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng Cùng với đó, tác giả phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 BLHS Phân tích khái niệm, đối tượng, phạm vi, đặc điểm, nội dung hoạt động KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên cơ sở phân tích các quy định về KSĐT trong BLTTHS, Quy chế 03/2017 và những văn bản pháp luật khác có liên quan Mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Hai chức năng này tuy có đối tượng, phạm vi và nội dung hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, hai chức năng này đều có mục đích và nhiệm vụ chung đều là nhằm bảo đảm việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm Chính đối tượng, mục đích và nhiệm vụ của từng hoạt động

đã quy định nên mối quan hệ chặt chẽ giữa chức năng THQCT và KSĐT

Ngày đăng: 04/07/2023, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Đắc Biên, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2020), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Mai Đắc Biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2020
2. Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng (Đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 [sửa đổi, bổ sung năm 2017], Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 [sửa đổi, bổ sung năm 2017]
Tác giả: Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2017
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số vấn đề trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số vấn đề trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông, Viện KSND tối cao (2017), Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA- BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA- BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Tác giả: Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông, Viện KSND tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2017
7. Chính phủ (2013), Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
8. Chính phủ (2019), Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
9. Chính phủ (2021), Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
10. Công an, Viện kiểm sát, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2019), Quy chế phối hợp số 02/QCPH-CA-VKS-TA ngày 28/11/2019 phối hợp giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong công tác giải quyết vụ án hình sự, công tác thi hành án hình sự và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp số 02/QCPH-CA-VKS-TA ngày 28/11/2019 phối hợp giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong công tác giải quyết vụ án hình sự, công tác thi hành án hình sự và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành
Tác giả: Công an, Viện kiểm sát, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2019
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
12. Trần Văn Độ - Hoàng Mạnh Hùng (Đồng chủ biên) (2019), Giáo trình Định tội danh và áp dụng hình phạt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Định tội danh và áp dụng hình phạt
Tác giả: Trần Văn Độ, Hoàng Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
13. Vũ Đức Hạnh (2018), “Một số vấn đề về thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kiểm sát, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Đức Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kiểm sát
Năm: 2018
14. Phạm Mạnh Hùng - Lại Viết Quang (Đồng chủ biên) (2020), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, (Phần các tội phạm) tập 2, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam, (Phần các tội phạm) tập 2
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng, Lại Viết Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2020
16. Dương Tuyết Miên (2021), Định tội danh và Quyết định hình phạt, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và Quyết định hình phạt
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2021
17. Anh Minh (2022), “Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, Báo Bảo vệ pháp luật, (tháng 4), tr. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tác giả: Anh Minh
Nhà XB: Báo Bảo vệ pháp luật
Năm: 2022
18. Dương Văn Minh (2011), Lý luận và thực tiễn công tác nghiên cứu dấu vết thương tích trên tử thi trong điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thực tiễn công tác nghiên cứu dấu vết thương tích trên tử thi trong điều tra hình sự
Tác giả: Dương Văn Minh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
19. Nguyễn Hải Phong, (2012), “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu của cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu của cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Phong
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2012
20. Lại Viết Quang - Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên) (2020), Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình sự
Tác giả: Lại Viết Quang, Nguyễn Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2020
21. Quốc hội (1959, 1976, 1980, 1992, 2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
22. Quốc hội (2011), Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Bảng thống kê số vụ tai nạn giao thông, số người chết, người bị thương và - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.2. Bảng thống kê số vụ tai nạn giao thông, số người chết, người bị thương và (Trang 44)
Hình sự - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Hình s ự (Trang 45)
Bảng 2.3. Thống kê thể hiện tổng số vụ án, bị can phạm tội Vi phạm quy định về  tham gia giao thông đường bộ so với tổng số vụ án hình sự, bị can Cơ quan điều - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.3. Thống kê thể hiện tổng số vụ án, bị can phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với tổng số vụ án hình sự, bị can Cơ quan điều (Trang 45)
Bảng 2.5. Số liệu thể hiện số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.5. Số liệu thể hiện số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông (Trang 46)
Bảng 2.4. Thống kê kết quả giải quyết vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao  thông đường bộ Cơ quan điều tra thụ lý trong giai đoạn 2018 – 2022 - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.4. Thống kê kết quả giải quyết vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Cơ quan điều tra thụ lý trong giai đoạn 2018 – 2022 (Trang 46)
Bảng 2.6. Số liệu thể hiện số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.6. Số liệu thể hiện số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông (Trang 47)
Bảng 2.7. Thống kê thể hiện tổng số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao  thông đường bộ VKS đề nghị khởi tố so với tổng số vụ án VKS đề nghị khởi tố - Luan van thac si nguyen thi hong loan 20230331111238 e 3191
Bảng 2.7. Thống kê thể hiện tổng số vụ án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ VKS đề nghị khởi tố so với tổng số vụ án VKS đề nghị khởi tố (Trang 47)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm