1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si dinh thi tuyet 20230331102353 e 9744

89 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án Hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả Đinh Thị Tuyết
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Hương
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Tố Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 739,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này có nguyên nhân của pháp luật hình sự đối với Điều 142 BLHS cá thể hóa hình phạt chưa tương xứng với tính chất hành vi và độ tuổi của người bị

Trang 1

ĐINH THỊ TUYẾT

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔITRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2023

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Trần Ngọc Hương

Hà Nội - 2023

Trang 3

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác và trung thực của Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đinh Thị Tuyết

Trang 4

nghiệp, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm

Trang 5

BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 BPNC Biện pháp ngăn chặn

CQĐT Cơ quan điều tra CAND Công an nhân dân QCT Quyền công tố HĐXX Hội đồng xét xử KNHT Khám nghiệm hiện trường KSND Kiểm sát nhân dân

KSĐT Kiểm sát điều tra KSV Kiểm sát viên ĐTV Điều tra viên

THQCT Thực hành quyền công tố TNHS Trách nhiệm hình sự TTLT Thông tư liên tịch THTT Tiến hành tố tụng TTHS Tố tụng hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân YCĐT Yêu cầu điều tra

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂMNGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 8 1.1 Khái quát chung về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam 8

1.1.1 Khái niệm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 8 1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi 8

1.2 Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ

án hiếp dâm người dưới 16 tuổi 15

1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi 15 1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi 18

1.3 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 20

1.3.1 Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự 20 1.3.2 Thực hành quyền công tố đối với việc khởi tố bị can 21 1.3.3 Thực hành quyền công tố việc xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp 22 1.3.4 Thực hành quyền công tố đối với việc tạm giữ 23 1.3.5 Xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam 23 1.3.6 Thực hành quyền công tố đối với việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác 24 1.3.7 Thực hành quyền công tố trong các hoạt động điều tra vụ án hình sự 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔITRÊN ĐỊA

BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hà Nội 35

2.1.2 Tình hình giải quyết vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 36

2.1.3 Khái quát về cơ cấu tổ chức bộ máy Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội 37

2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

2.2.1 Những kết quả đạt được 38

2.2.2 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 55

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi 55

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi 56

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 56

3.2.2 Giải pháp về thực thi pháp luật 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác

vi phạm quyền trẻ em” (khoản 28 Điều 37) Trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, quyền trẻ em cũng đã được thể chế hóa trong nhiều bộ luật, luật, mà tập trung là Luật Trẻ

em năm 2016, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đặc biệt là BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)….đều quy định rõ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em

Mặc dù vậy, trên địa bàn cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng hiện nay, hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi đang diễn biến hết sức phức tạp, gây nhiều bức xúc, hoang mang trong xã hội Từ 01/01/2015 đến nay, cả nước đã phát hiện,

xử lý 8.442 vụ xâm hại trẻ em, trong đó, số trẻ em bị xâm hại tình dục là 6.432 em; tính trung bình, cứ 1 ngày cả nước có 7 trẻ em bị xâm hại.Việc trẻ em bị xâm hại, đặc biệt là xâm hại tình dục đã để lại hậu quả nặng nề và gây bức xúc trong xã hội.Loại tội phạm này không chỉ xâm hại đến sự phát triển bình thường, lành mạnh của trẻ em, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tâm, sinh lý của trẻ em về lâu dài, làm tổn thương tinh thần trẻ em cũng như gia đình của trẻ, nhiều vụ án gây phẫn nộ, gây bức xúc, nhức nhối trong dư luận Tính chất của các vụ hiếp dâm trẻ em đã đến mức báo động về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận dân cư, ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự văn hóa - xã hội trong cộng đồng Việc đấu tranh phòng, chống của các cấp, các ngành đối với loại tội phạm này ngày càng được nâng cao song vẫn không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật trong thực tiễn, theo đó, đã gây không ít trở ngại cho các cơ quan

tư pháp kịp thời bảo vệ những đối tượng là trẻ em

Với tính chất nguy hiểm và hậu quả của tội hiếp dâm gây ra, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa việc THQCT nhằm đảm bảo hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và có những biện pháp hữu hiệu để từng bước ngăn chặn, giảm thiểu tới mức thấp nhất đối với tội phạm này

Trang 9

Hà Nội là một địa bàn có diện tích rộng, dân số đông, tình hình tội phạm (trong đó có tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi diễn biến phức tạp) Trong những năm qua chất lượng của công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi của VKSND thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng kể, đảm bảo việc truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm Có được kết quả trên là sự hoạt động có hiệu quả của cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có đóng góp không nhỏ của Viện Kiểm sát Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy THQCT đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi còn nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng cải cách tư pháp; vẫn còn xảy ra tình trạng phát hiện, xử lý chưa kịp thời, nghiêm minh gây bức xúc trong dư luận làm giảm niềm tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp Trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này có nguyên nhân của pháp luật hình sự đối với Điều 142 BLHS cá thể hóa hình phạt chưa tương xứng với tính chất hành vi và độ tuổi của người bị hại bị

hiếp dâm người dưới 16 tuổi; “các quy định về chứng cứ và sử dụng chứng cứ có thể gây khó khăn cho người bị bạo lực tình dục” (UNODC, UN Women: Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, 2013);trình độ, năng lực, trách

nhiệm của một số cán bộ, KSV khi được phân công thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với loại án này còn hạn chế,…

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hành quyền

công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật học là cấp thiết cả về phương diện lý

luận và thực tiễn, đáp ứng với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

* Về Giáo trình

- Giáo trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố vụ án hình

sự của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Lại Viết Quang-TS Nguyễn Đức Hạnh (Đồng chủ biên), Nxb, Tư pháp Hà Nội năm 2020

Trang 10

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) Tập 1 của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, do TS Phạm Mạnh Hùng-TS Lại Viết Quang (Đồng chủ biên, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019

* Nhóm Đề tài

Đề tài khoa học cấp cơ sở- Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Tội phạm xâm hại tình dục theo Bộ luật hình sự năm 2015- Một số vấn đề pháp lý hình sự và triển khai thực hiện” do TS Nguyễn Xuân Hà Phó Vụ trưởng Vụ 14- VKSNDTC chủ nhiệm đề tài, Hà

Nội, năm 2019 Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu những khía cạnh pháp lý hình sự của tội phạm xâm hại tình dục theo quy định của BLHS năm 2015; thực trạng triển khai thực hiện các quy định của BLHS về các tội phạm xâm hại tình dục; giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS về các tội xâm hại tình dục

* Nhóm luận văn tiến sĩ, thạc sĩ

- Đặng Văn Thực (2022) “Hoạt động của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự

ở nước ta hiện nay”Luận án tiến sĩ luật học, Học Viện khoa học xã hội

- Trần Thế Anh (2020) “Tội hiếp dâm trẻ em từ thực tiễn Thành phố Hà Nội”

Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội Nội dung đề tài tập trung vào việc nghiên cứu những lý luận, pháp luật về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại thành phố Hà Nội và đề xuất một giải pháp áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

- Duy Tân (2021) “Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em” Cổng thông tin điện tử VKSNDTC Bài viết

nêu đặc điểm, tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; một số khó khăn trong việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em; nêu một số kinh nghiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết án xâm hại tình dục trẻ em và kiến nghị đề xuất bổ sung tội danh mới vào BLHS năm 2015

- Nguyễn Văn Hùng (2014) “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều

tra”.Luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội Nội dung đề tài tập trung vào THQCT và

KSĐT các tội xâm phạm sức khỏe con người; thực trạng THQCT và KSĐT các tội xâm phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh; đề xuất một số kiến nghị về

Trang 11

hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả vào THQCT và KSĐT các tội xâm phạm

sức khỏe con người - Cao Hữu Sáng (2015)“Các tội hiếp dâm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam”, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

- Bùi Thị Hằng Nga (2016), Tội hiếp dâm và hiếp dâm trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sỹ luật học, Học Viện

khoa học xã hội

- Dương Tuyết Miên (2015) “Bình luận về các tội phạm về tình dục trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi)”

* Nhóm sách chuyên khảo

- TS Lê Hữu Thể “Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, (2005);

- PGS.TS Nguyễn Hòa Bình “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015”, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, năm 2016

- TS Phan Thị Lan Hương “Bảo đảm quyền của nhóm yếu thế khoảng trống pháp lý và khuyến nghị vho Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, năm 2020

- TS Lê Lan Chi “Bảo đảm quyền của nạn nhân và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự từ quy định của pháp luật đến hoạt động của người hành nghề luật”, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, năm 2022

Ngoài ra, còn có một số bài viết công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:

“Một số vấn đề tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công

tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Nguyễn Hải Phong, Tạp chí Kiểm sát số 08/2012; “Một số vấn đề về thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam”Vũ Đức Hạnh, Tạp chí Kiểm sát số 05/2018 v.v

cũng đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau

Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên, ở những mức độ khác nhau đã đề cập đến đề tài luận văn Tuy nhiên tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu đến công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đối với công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội để đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu một số vấn đề chung về THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự hiếp dâm người dưới 16 tuổi

- Nghiên cứu thực tiễn THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội, làm rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Đưa ra một số yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi và yêu cầu, giải pháp nâng cao hiệu quả THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

4.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về không gian:Đề tài luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu lý luận, pháp luật

và thực tiễn THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi của VKS hai cấpthành phố Hà Nội, từ khi khởi tố vụ án cho đến khi CQĐT ra bản kết luận điều tra

và đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ vụ án

Phạm vi về thời gian:Luận văn nghiên cứu THQCT trong giai đoạn điều tra

vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 05 từ năm

2018 đến 06 tháng đầu năm 2022

Trang 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận của luận văn là Học thuyết Mác-Lê nin với phép Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp luật nói chung và Tổ chức hoạt động của VKSND về công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phân tích, tổng

hợp, đối chiếu, so sánh, diễn giải, thống kê hình sự, khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu thống kê về thực trạng công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại VKSND thành phố Hà Nội để nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung lý luận về thực hiện chức năng của VKSND Đó là, chức năng THQCT trong giai đoạn điều travụ án hình sự mà cụ thể là vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam

- Luận văn góp phần bổ sung lý thuyết cho các bộ môn pháp luật như: Luật TTHS, Luật hình sự về THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trong chương trình giảng dạy của các trường đào tạo cử nhân luật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là tài liệu phục vụ cho VKSND nói chung, VKS hai cấp thành phố

Hà Nội nói riêng vận dụng trong nghiên cứu, áp dụng trong công tác THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng, góp phần bảo vệ trật tự an toàn trị an xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 16 tuổi, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

03 chương

Trang 14

Chương 1: Một sốvấn đề chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn

điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Chương 2: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án

hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố

trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi trên địa bàn thành phố

Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONGGIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HIẾP DÂMNGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 1.1 Khái quát chung về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được

mô tả trong cấu thành của Điều 142 BLHS năm 2015 và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,

146, 147 Bộ Luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi

Theo đó, hiếp dâm người dưới 16 tuổi được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của người dưới 16 tuổi hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái ý muốn của nạn nhân hoặc giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới mười ba tuổi

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

- Khách thể của tội phạm:Hành vi phạm tội đã xâm phạm quyền được bảo

vệ thân thể, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi.Hành vi hiếp dâm người

dưới 16 tuổi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, gây ảnh

hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi

- Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm này có các

dấu hiệu sau đây:

+ Có hành vi dùng vũ lực: Được hiểu là dùng sức mạnh vật chất như trói,

gây thương tích, vật ngã, xé quần áo, bóp cổ, bịt mồm, đút dẻ vào mồm để không cho nạn nhân kêu cứu, trói chân tay v.v nhằm đè bẹp sự chống cự của người dưới

16 tuổi để giao cấu với người dưới 16 tuổi đó

Trang 16

+ Có hành vi đe dọa dùng vũ lực, như: Người phạm tội giao cấu đe dọa sẽ

gây thương tích, đe dọa giết người thân của nạn nhân, đe dọa trả thù, hoặc dọa sẽ giết nạn nhân v.v nhằm mục đích uy hiếp tinh thần làm cho nạn nhân sợ hãi, bị tê liệt ý chí phản kháng

+ Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là việc người phạm

tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác: (a) Người bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật dẫn đến không thể chống cự được); (b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi)

+ Có hành vi dùng thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân: Bao gồm các

thủ đoạn như đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân uống thuốc ngủ, thuốc gây mê, uống rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác; hứa hẹn cho tốt nghiệp, cho đi học, đi thi đấu, đi biểu diễn ở nước ngoài để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác

+ Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác: Được hiểu là là hành vi của

những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi ), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi sau đây: (a) Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác; (b) Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi ), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận

sinh dục nữ, hậu môn của người khác

Một số lưu ý: Giao cấu với người bị hại dưới 16 tuổi: Được hiểu là hành vi

xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ

Trang 17

xâm nhập nào Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập

Trái với ý muốn của nạn nhân là người bị hại không đồng ý, phó mặc hoặc

không có khả năng biểu lộ ý chí của mình đối với hành vi quan hệ tình dục cố ý của người phạm tội Ngoài ra để xác định người bị hại là người dưới 16 tuổi có đồng ý hay không đồng ý, có thể cần phải xem xét các yếu tố sau: Bạo lực hoặc hành vi khác mà người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi hiếp dâm có đạt đến mức độ làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân hay không? Thái độ phản kháng trước, trong và sau khi bị hiếp dâm, cụ thể như: có biểu hiện kêu khóc, gào thét, chửi bới, cấu xé, vận lộn, đánh lại v.v được biểu hiện như thế nào; hiện trường nơi mà người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi như thế nào?

- Mọi trường hợp giao cấu với người dưới 13 tuổi, người phạm tội có dùng

vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác hay không? Có trái ý muốn hay được sự đồng ý của người dưới 13 tuổi hay không? đều là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; trong trường hợp người phạm tội do không thể tiếp tục thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi mà phải từ bỏ việc phạm tội như bị chống trả quyết liệt, có nguy cơ bị phát hiện v.v thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;trong trường hợp người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi, thì người phạm tội có thể chỉ phải chịu TNHS về những hành vi thực tế đã gây ra cho nạn nhân là người dưới 16 tuổi như: Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 BLHS đã được sửa đổi, bổ sung hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tồn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 BLHS đã được sửa đổi, bổ sung v.v Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu việc giao cấu mà

có sự thỏa thuận của người đó thì có thể phải chịu TNHS về tội giao cấu với người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 145 BLHS

- Về mặt chủ quan của tội phạm:Người phạm tội thực hiện tội phạm này với

lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội hành vi của mình, có thể biết hoặc không biết nạn nhân là người dưới 16 tuổi, nhưng vẫn thực hiện hành vi đó

Trang 18

- Về chủ thể của tội phạm:Chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là

bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, người đó có thể là nam giới nhưng cũng có thể là nữ giới Thông thường người phạm tội là nam giới, tuy nhiên phụ nữ cũng có thể là đồng phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi với vai trò là người

tổ chức, người tổ chức, người giúp sức hoặc người xúi giục

- Về hình phạt:

+ Khung hình phạt tại khoản 1:Người phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm + Khung hình phạt tại khoản 2:Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân, là một trong các trường hợp sau đây: Phạm tội đối

với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; phạm tội đối với cô ruột, dì ruột, chú ruột, bác ruột, cậu ruột, cháu ruột; phạm tội đối với con nuôi, bố nuôi, mẹ nuôi; phạm tội đối với con riêng của vợ, con riêng của chồng, bố dượng, mẹ kế; phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể

b) Làm nạn nhân có thai: Đây là trường hợp phạm tội mà việc hiếp dâm người

dưới 16 tuổi là nguyên nhân làm nạn nhân có thai, không phụ thuộc vào việc người phạm tội mong muốn hay không mong muốn việc có thai với nạn nhân

c) Gây thương tích, gây tốn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi cảu nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60 % Đây là trường

hợp tăng nặng TNHS vì hành vi phạm tội còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của nạn nhân

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh Đây là trường phạm tội mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc (cha mẹ đẻ,

cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế v.v.), trách nhiệm giáo dục (thầy cô giáo), trách nhiệm chữa bệnh (thầy thuốc) đối với bị hại Người phạm tội biết rõ bị hại là người mà mình

có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh

đ) Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành

vi phạm tội từ 02 lần trở lên nhưng chưa bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu

Trang 19

truy cứu TNHS, được đưa ra truy tố xét xử cùng một lúc Trường hợp phạm tội 02 lần trở lên mà người phạm tội cùng với những người đồng phạm khác phạm tội theo một kế hoạch thống nhất trước, thỏa mãn dấu hiệu “phạm tội có tổ chức”, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 142, người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội có tổ chức” theo điểm a khoản 1 Điều 52 BLHS

e) Đối với 02 người trở lên: Phạm tội đối với 02 người trở lên là phạm tội 01

lần đối với 02 người trở lên hoặc phạm tội 02 lần trở lên đối với 02 người trở lên và những lần đó chưa bị xử lý hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, được đưa ra truy tố, xét xử cùng một lúc

Trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên thực hiện 02 lần trở lên thì người phạm tội phải bị áp dụng hai tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” theo điểm đ, e khoản 2 Điều 142 BLHS

g) Tái phạm nguy hiểm:Là trường hợp phạm tội thỏa mãn dấu hiệu được quy

định tại khoản 2 Điều 53 BLHS Trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích hoặc

đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại một trong các diểm a, b, c, d, đ, e khoản Điều 142 BLHS, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “tái phạm nguy hiểm’ theo điểm g khoản 2 Điều 142 BLHS, người phạm tội còn phải bị áp dụng điểm tương ứng trong khoản 2 Điều 142 BLHS

Trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại khoản 3 Điều 142 BLHS, thì phải áp dụng khoản 3 Điều 142 BLHS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội Đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS để quyết định hình phạt đối với người phạm tội

+ Khung hình phạt tại khoản 3:Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau

đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

Trang 20

a) Có tổ chức: Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết

chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Trường hợp phạm tội có tổ chức mà người phạm tội là người đồng phạm cùng với những người khác thực hiện tội phạm 02 lần trở lên theo một kế hoạch thống nhất trước mà những lần đó chưa bị

xử lý về hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, được đưa ra truy tố xét xử cùng một lúc, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt tại điểm a khoản

3 Điều 142 BLHS, người phạm tội còn có thể bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS

“phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS

b) Nhiều người hiếp một người:Là trường hợp 02 người trở lên hiếp dâm 01 người Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên

cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm 01 người, nhưng vì lý do ngoài ý

muốn mới có 01 người thực hiện được hành vi hiếp dâm Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên câu kết với nhau tổ chức, giúp

sức cho 01 người hiếp dâm (trường hợp này là đồng phạm)

c) Đối với người dưới 10 tuổi:Đây là trường hợp nạn nhân là người chưa đủ

10 tuổi, khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội có thể biết hoặc không biết nạn nhân là người chưa đủ 10 tuổi

d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên Đây là trường hợp

tăng nặng TNHS vì hành vi phạm tội còn xâm phạm rất nghiêm trọng đến sức khỏe của người dưới 16 tuổi là nạn nhân

đ) Biết mình nhiếm HIV mà vẫn phạm tội: Đây là trường hợp người phạm tội

biết mình bị nhiễm HIV và nhận thức rõ HIV của mình có thể lây truyền qua đường giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác nhưng vẫn thực hiện hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi Trong trường hợp này thì không xử lý đối với người phạm tội thêm về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 148 BLHS

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Đây là trường hợp phạm tội là nguyên

nhân làm nạn nhân chết hoặc tự sát Tuy nhiên, người phạm tội không cố ý gây ra hậu quả làm nạn nhân chết hoặc làm nạn nhân tự sát, tức là nạn nhân tự tước đoạt sinh mạng của mình, giữa việc bị hiếp dâm và việc tự sát có mối quan hệ nhân quả

Trang 21

với nhau Lỗi của người phạm tội đối với hậu quả là lỗi vô ý, nếu người phạm tội có lỗi cố ý đối hậu quả chết người thì hành vi phạm tội của họ cấu thành tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 142 BLHS

+ Khung hình phạt bổ sung tại khoản 4:Người phạm tội có thể bị cấm đảm

nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Một số lưu ý:KhiTHQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người

dưới 16 tuổiphải bảo đảm các cơ quan có thẩm quyền THTT phải tuân thủ đúng các nguyên tắc được quy định tại Điều 414 BLTTHS năm 2015 Bảo đảm việc các cơ quan THTT phân công người tiến hành tố tụng cầnthực hiện đúng quy định tại Điều

415 BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội liên tịch quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (gọi tắt TTLT 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH) KSV được phân công THQCT trong giai đoạn điều tra đối với

06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải căn cứ Điều 417 BLTTHS năm 2015 và Điều 6 TTLT 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXHđể kiểm sát việc xác định tuổi của người dưới 16 tuổi Đồng thời, phải bảo đảm cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức cử người giám hộ, người đại diện, người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 420 BLTTHS năm 2015,Luật Trợ giúp pháp lý năm

2017, Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng vàTTLT 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH

Trang 22

10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-1.2 Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng được VKS thực hiện bằng các khâu công tác cụ thể Trong TTHS, Viện kiểm sát THQCT và kiểm hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi có vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình giải quyết vụ

án của CQĐT Như vậy, có thể thấy VKSND thực hiện đồng thời hai chức năng: THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra

THQCT là một trong hai chức năng cơ bản của VKS Xét về góc độ lý luận khoa học luật hình sự và thực tiễn thi hành thì QCT luôn gắn liền với THQCT Do

đó, khi bàn tới QCT phải luôn gắn nó với hoạt động THQCT mới có ý nghĩa Việc tách bạch QCT với THQCT chỉ để nhấn mạnh dưới góc độ lý luận, còn đối với thực tiễn thì QCT với THQCT luôn song hành với nhau

Theo từ điển tiếng Việt thì “Công tố là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án, nhân danh Nhà nước”1 QCT là quyền nhân danh Nhà nước truy

tố người phạm tội ra trước Tòa án, là quyền buộc tội và phát biểu ý kiến trước Tòa

án về hành vi phạm tội của bị cáo

Trong khoa học pháp lý, công tố là một dạng của quyền lực công, là quyền lực của Nhà nước truy tố người bị tình nghi phạm tội ra trước “Công đường” để xét

xử Nó xuất hiện với tính cách là bổn phận của Nhà nước đối với xã hội trong việc

xử lý tội phạm, bao gồm từ việc khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội Do vậy, có thể nói Nhà nước độc quyền trong việc khởi tố, điều tra, trong việc truy tố và buộc tội Xuyên suốt quá trình đó là hoạt động chứng minh tội phạm của cơ quan được giao chức năng THQCT Một sự kiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra, để có thể tuyên bố đó

là hành vi phạm tội và xử phạt chủ thể của hành vi đó thì sự kiện đó phải trải qua quá trình nhận thức, quá trình đánh giá (chứng minh) và áp dụng các quy định của

1

Từ điển Tiếng Việt-Nxb Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, năm 2000, trang 210

Trang 23

pháp luật hình sự.Quá trình nhận thức được hình thành và xác lập trên cơ sở thu thập, xác định, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra, truy tố và cuối cùng là qua việc xem xét, đánh giá chứng cứ công khai ở giai đoạn xét xử theo đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định QCT là một trong những quyền thuộc quyền lực Nhà nước và giao cho một cơ quan chuyên trách thực hiện QCT là một phạm trù để chỉ một cơ quan, đơn vị nào đó có thẩm quyền này Hành vi phạm tội chỉ có thể là đối tượng của hoạt động, của THQCT, chứ không phải là đối tượng của QCT.Để bảo đảm QCT được thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm việc tôn trọng các quyền

tự do, dân chủ của công dân, bảo đảm việc THQCT theo một quy định đã định Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể, chi tiết về các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan THQCT

Xuất phát từ các căn cứ lý luận được phân tích ở trên, có thể hiểu khái niệm QCT như sau: Quyền công tố là quyền của cơ quan công tố nhân danh công quyền thực hiện, nhằm truy tố và buộc tội đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước Tòa án2

Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”3và “Công tố là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa

án, nhân danh Nhà nước” Từ điển tiếng Việt không giải thích cả cụm từ “Thực

hành quyền công tố” Theo từ điển luật học thì “Thực hành quyền công tố” là việc

sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử”4 Tuy nhiên, việc giải nghĩa trên của Từ điển luật học là chưa hoàn toàn chính xác.Để QCT được thực hiện một cách có hiệu quả, theo một quy trình đã định, bảo đảm việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của công dân trong quá trình THTT hình sự, Nhà nước phải có các văn bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ, cụ

2

Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Do ông Hoàng Nghĩa Mai, Nguyên PVTTT- VKSNDTC chủ nhiệm đề tài, Hà Nội năm 2014

Trang 24

thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan công tố và việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn được hiểu là hoạt động THQCT

Từ những căn cứ nêu trên, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan công tố trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Tòa án

Trong quá trình THQCT, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Khi có

đủ tài liệu chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, cơ quan công tố quyết định việc truy tố bị can ra trước tòa án có thẩm quyền xét xử và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa Do vậy, đối tượng của THQCT là hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và nội dung của THQCT là sự buộc tội đối với họ

Như vậy, thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Điều tra vụ án hình sự là một trong những giai đoạn tố tụng hình sự, bắt đầu

từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật TTHS nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những quy định

khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án

Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi xâm hại đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khoẻ, danh dự của người khác, bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ

án hình sự và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra vụ án theo quy định pháp luật

Trang 25

1.2.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Căn cứ Luật tổ chức VKSND năm 2014 và pháp luật TTHS, có thể thấy rằng THQCT trong giai đoạn điều tra đối với vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổicó những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, THQCT là chức năng hiến định của VKSND trong việc thực thi

quyền lực Nhà nước Thực hiện quyền lực này VKSND truy cứu TNHS đối với người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKSND mỗi cấp và chịu sự chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC

Thứ hai, công tác khám nghiệm hiện trường đối với loại án này là rất quan

trọng, đòi hỏi tính khẩn trương, kịp thời và nhanh chóng tỉ mỉ, toàn diện, bởi chứng

cứ vật chất phần lớn chỉ thu thập được tại hiện trường và chỉ thu thập được trong một thời gian nhất định Do vậy, phải kịp thời thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em; thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không dấu hiệu xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi; đây là nguồn chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh,truy nguyên đối tượng, để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không,theo đó làm căn cứ để đấu tranh với bị can Do vậy, KSV và ĐTV cần có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra Đồng thời, yêu cầu các cơ quan chức năng có liên quan cùng phối hợp thu thập, ghi nhận dấu vết, vật chứng một cách đầy đủ nhất; cần phải xác định độ tuổi của người bị hại, đây là nội dung bắt buộc trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi Đồng thời, là yếu tố để nhận diện tội phạm và người bị xâm phạm và để làm căn cứ xác định hình phạt đối với người phạm tội;

Thứ ba,VKSND là chủ thể duy nhất được giao nhiệm vụ truy tố đối với

người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, nên VKSND phải được trao đầy đủ quyền năng pháp lý và thực hiện triệt để quyền năng pháp lý của mình để bảo đảm

Trang 26

không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi mang tính công khai và thực hiện theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp luật TTHS quy định Với đặc điểm này nhằm bảo đảm cho hoạt động của VKSND được thực hiện một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không có bất cứ sự can thiệp nào vào hoạt động THQCT của VKSND Đồng thời, hoạt động THQCT của VKSND cũng được giám sát bởi nhiều chủ thể khác trong và ngoài các cơ quan TTHS

Thứ tư, đối với một số vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, khi xảy ra người bị

hại và gia đình vì dư luận, định kiến xã hội, sợ ảnh hưởng đến tâm lý trẻ mà từ chối không hợp tác khai báo và không cung cấp thông tin liên quan, thậm chí tìm cách che giấu hành vi phạm tội cho chính đối tượng Đối với những trường hợp này, KSV cần tìm cách gặp và tiếp cận với bị hại hoặc đại diện bị hại, để nhờ họ động viên, tác động phía gia đình và người bị hại hợp tác để sớm đưa người phạm tội ra trừng trị trước pháp luật

Thứ năm, đối với trường hợp bị hại là những em có quan hệ tình cảm, yêu

đương với đối tượng, đồng ý hoặc chủ động rủ rê, tạo điều kiện, gợi ý quan hệ tình dục trước… Trong những trường hợp này, KSV phải kịp thời nắm bắt diễn biến tâm

lý các em, yêu cầu ĐTV có phương pháp, cách thức tiếp cận ghi lời khai thu thập chứng cứ cho phù hợp như: Chọn địa điểm lấy lời khai tại địa phương khác, địa điểm không nhất thiết phải là trụ sở cơ quan đơn vị theo quy định mà có thể ở nơi khác do

bị hại, người liên quan, người làm chứng lựa chọn… nhằm tạo cảm giác thân thiện và đảm bảo bí mật cá nhân, thân thể để trẻ thấy được tôn trọng, được chia sẻ, được thấu hiểu, yên tâm trình bày nội dung sự việc một cách trung thực nhất

Thứ sáu, đối tượng của THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm

người dưới 16 tuổi là hành vi phạm tội và người phạm tội; phạm vi của THQCT trong giai đoạn này bắt đầu từ có quyết định khởi tố vụ án đến khi VKS ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật5

5

trang 15- Giáo trình THQCT và KSĐT, truy tố vụ án hình sự- Trường đại học kiểm sát Hà Nội- TS Lại Viết Quang-TS Nguyễn Đức Hạnh đồng chủ biên- Nxb Tư pháp, Hà Nội-2020

Trang 27

1.3 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự

1.3.1 Thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động mở đầu của quá trình TTHS, được thực hiện từ khi CQĐT tiếp nhận và kiểm tra, xác minh nguồn tin tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Khi CQĐT và cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, thông qua công tác THQCT đã làm phát sinh mối quan hệ giữa CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS

VKS thực hành quyền công tố bảo đảm các quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, ngăn chặn oan, sai, bỏ lọt tội phạm Thông qua các tài liệu, chứng cứ có liên quan tới việc khởi tố vụ án hình sự do CQĐT chuyển đến, VKS phải đánh giá và ra thông báo bằng văn bản cho CQĐT về tính có căn cứ của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự đó; nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS ra văn bản yêu cầu CQĐT đã khởi tố hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu CQĐT không nhất trí thì VKS căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 161 BLTTHS năm 2015 ra quyết định hủy bỏ theo quy định tại Điều 161 BLTTHS và Điều 7, Điều

8 của Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự (gọi tắt là TTLT 04/2018/TTLT) Nếu quyết định khởi tố vụ

án hình sự không đúng với hành vi hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì VKS yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi

tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 161 BLTTHS năm 2015, nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ

Trang 28

án hình sự không có căn cứ thì VKS yêu cầu cơ quan đã ra quyết định hoặc trực tiếp

ra quyết định hủy bỏ quyết định đó Như vậy, thực hiện tốt công tác THQCT trong việc khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc chống oan, sai là tiền đề

để thực hiện tốt việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

1.3.2 Thực hành quyền công tố đối với việc khởi tố bị can

Theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can Khởi tố bị can là thủ tục tố tụng áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội để tiến hành điều tra, nhằm làm sáng tỏ lỗi của người đó trong việc thực hiện tội phạm và các tình tiết theo quy định của pháp luật

để truy cứu TNHS VKS tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can Nếu thấy quyết đinh khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì VKS quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ quan đã khởi tố Nếu chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì VKS yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố bị can KSV được lãnh đạo VKS phân công thụ lý giải quyết vụ án có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can Nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì VKS ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Trong quá trình THQCT nếu thấy rằng hành vi của bị can không phạm tội đã khởi tố mà phạm tội khác hoặc có hành vi phạm tội khác thì VKS yêu cầu CQĐT

ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Trang 29

1.3.3 Thực hành quyền công tố việc xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

Điều 110 BLTTHS năm 2015 quy định về căn cứ giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; khi người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS, trong mọi trường hợp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn

Theo quy định tại Điều 110 BLTTHS năm 2015 và Điều 15 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/ QĐ-VKSTC ngày 17/04/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Quy chế số 111) thì ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, KSV được lãnh đạo VKS phân công phải tiến hành các hoạt động sau đây: Kiểm tra hồ sơ, bảo đảm đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo khoản 5 Điều 110 BLTTHS năm 2015; trường hợp không đủ tài liệu, chứng cứ thì yêu cầu cơ quan đề nghị phê chuẩn bổ sung; xác định thẩm quyền, căn

cứ của việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 110 BLTTHS Trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, thấy có dấu hiệu lạm dụng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc chưa đủ căn cứ để giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị giữ không nhận tội, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị giữ là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, là nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì KSV phải trực tiếp hỏi người bị giữ trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS xem xét, quyết định việc phê chuẩn Khi cần hỏi người bị giữ trong trường

Trang 30

hợp khẩn cấp, KSV thông báo trước cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi Biên bản ghi lời khai của người bị giữ do KSV lập phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 133 BLTTHS năm 2015 và theo Mẫu do VKSND tối cao ban hành được đưa vào hồ sơ vụ án, vụ việc, lưu hồ sơ kiểm sát; trong thời hạn 12 giờ,

kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, lãnh đạo VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn; thời hạn này được tính liên tục, kể cả trong và ngoài giờ làm việc

1.3.4 Thực hành quyền công tố đối với việc tạm giữ

Ngay sau khi nhận được quyết định tạm giữ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, KSV tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ để báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS cấp mình giải quyết như sau: Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 117 BLTTHS năm 2015; nếu thấy việc gia hạn tạm giữ có căn cứ và cần thiết, thì trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, lãnh đạo VKS phải ra quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ Nếu thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ

và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại khoản 2 Điều 118 BLTTHS năm 2015 Đối với trường hợp VKS

đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ nhất nhưng không phê chuẩn quyết

định gia hạn tạm giữ lần thứ hai thì VKS ra quyết định trả tự do(khoản 1 Điều 16 Quy chế số 111)

1.3.5 Xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam

Căn cứ theo quy định tại Điều 113, Điều 119, Điều 173 BLTTHS năm 2015

và Điều 17 Quy chế số 111 thì:Khi khởi tố bị can, nếu có căn cứ cho rằng người đó

có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Trang 31

thì CQĐT sẽ ra lệnh tạm giam bị can hoặc lệnh bắt bị can để tạm giam và đề nghị VKS phê chuẩn Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam kèm theo tài liệu có liên quan của CQĐT, VKS có trách nhiệm kiểm tra tài liệu, chứng cứ để quyết định việc phê chuẩn và hoàn trả hồ sơ ngay cho CQĐT Trường hợp chưa có căn cứ thì VKS ra văn bản yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ để xem xét, quyết định việc phê chuẩn Nếu thấy đủ căn cứ ra lệnh bắt bị can để tạm giam hoặc lệnh tạm giam bị can theo quy định tại Điều 113 và Điều 119 BLTTHS năm 2015 và cần thiết phải tạm giam bị can, nhưng CQĐT không ra lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh tạm giam bị can thì VKS ra văn bản yêu cầu CQĐT ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam bị can.Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS ra lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam và chuyển cho CQĐT để thực hiện.VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam bị can và thời hạn tạm giam bị can; trong giai đoạn điều tra, nếu còn thời hạn tạm giam nhưng thấy biện pháp tạm giam đối với bị can không còn cần thiết thì VKS yêu cầu CQĐT

có văn bản đề nghị VKS quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế biện pháp tạm giam bằng một biện pháp ngăn chặn khác

Trước khi hết thời hạn tạm giam 10 ngày, nếu CQĐT chưa có văn bản đề nghị VKS gia hạn tạm giam bị can thì KSV yêu cầu ĐTV báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT có văn bản đề nghị gia hạn hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam Chậm nhất 05 ngày, trước khi hết thời hạn tạm giam, KSV phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS để xem xét việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam

1.3.6 Thực hành quyền công tố đối với việc áp dụng, thay thế hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì các Biện pháp ngăn chặn khác gồm: Bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS); đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS); cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123 BLTTHS); tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124 BLTTHS)vàtheo quy định tại Điều 21 Quy chế số 111 thì KSV được phân công thụ lý vụ án phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế BPNC theo quy

Trang 32

định tại Điều 125 BLTTHSnăm 2015; khi xem xét các trường hợp hủy bỏ BPNC theo quy định tại khoản 1 Điều 125 BLTTHS thì KSV báo cáo, đề xuất lãnh đạo VKS cấp mình giải quyết cụ thể như sau: Đối với quyết định áp dụng BPNC của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không do VKS phê chuẩn thì VKS ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì VKS ra quyết định hủy bỏ; đối với quyết định áp dụng BPNC do VKS phê chuẩn hoặc ban hành thì VKS ra quyết định hủy bỏ Việc đặt tiền để bảo đảm được thực hiện theo TTLT số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018 Bộ trưởng BCA, Bộ trưởng BQP, Bộ trưởng BTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDTC quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm (sau đây gọi tắt là TTLT số 06/2018/TTLT)

- Khi xem xét các trường hợp hủy bỏ hoặc thay thế BPNC theo quy định tại khoản 2 Điều 125 BLTTHS thì KSV báo cáo, đề xuất lãnh đạo VKS giải quyết cụ thể như sau: Đối với quyết định áp dụng BPNC của Cơ quan có thẩm quyền điều tra không do VKS phê chuẩn; nếu xét thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng BPNC khác mà Cơ quan có thẩm quyền điều tra không ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế thì VKS ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế Nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế nhưng VKS thấy việc hủy bỏ hoặc thay thế đó không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ; nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì VKS ra quyết định hủy bỏ

- Đối với quyết định áp dụng BPNC do VKS phê chuẩn hoặc ban hành thì VKS

ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế Trường hợp chưa hết thời hạn gia hạn tạm giữ mà

Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và xét thấy không cần thiết tạm giữ thì căn cứ khoản 2 Điều 125 BLTTHS năm 2015, VKS yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra có văn bản đề nghị VKS quyết định việc hủy bỏ biện pháp tạm giữ; Trong trường hợp cần thiết phải áp dụng BPNC khác thì VKS yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra thực hiện, nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì VKS thực hiện

Trang 33

1.3.7 Thực hành quyền công tố trong các hoạt động điều travụ án hình sự

1.3.7.1 Đề ra yêu cầu điều tra

KSV được lãnh đạo VKS cấp mình phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, KSV cần chủ động trao đổi với ĐTV được phân công điều tra vụ án

về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc KNHT, khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra KSV có thể đề ra YCĐT bằng lời nói trong quá trình trực tiếp kiểm sát các hoạt động KNHT, khám nghiệm tử thi, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, nhận biết giọng nói Đối với các trường hợp khác, khi đề ra YCĐT, KSV phải có văn bản YCĐT, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ; hoàn thiện các thủ tục tố tụng; để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự hoặc

để làm rõ những tình tiết có liên quan những vấn đề cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và cấu thành tội phạm, các tình tiết định khung, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nội dung YCĐT phải rõ ràng, cụ thể, có tính khả thi Văn bản YCĐT phải được đưa vào hồ sơ vụ án và lưu vào hồ sơ kiểm sát một bản Trong quá trình THQCT, KSV phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của ĐTV, bảo đảm các YCĐT được thực hiện đầy đủ Khi có vấn đề cần phải điều tra làm rõ thêm, KSV kịp thời đề raYCĐT tiếp theo, tùy theo tính chất của từng loại án,

vụ án KSV có thể đề ra nhiều YCĐT trong vụ án hình sự Trường hợp có nội dung YCĐT mà ĐTV, Cán bộ điều tra không nhất trí, thì ĐTV, Cán bộ điều tra báo cáo lãnh đạo CQĐT; KSV báo cáo lãnh đạo VKS để thống nhất về nội dung YCĐT.Nếu

do điều kiện khách quan mà CQĐT không thực hiện được đầy đủ các YCĐT thì phải nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra theo quy định tại Điều 11 TTLT

Trang 34

các quy định từ Điều 26 đến Điều 36 của Quy chế số 111, Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS phân công KSV trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận, quản lý đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm có liên quan đến KNHT, khám nghiệm tử thi do cơ quan,

tổ chức, cá nhân chuyển đến KSV phải ghi vào sổ thụ lý; ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm tiếp nhận; nội dung tố giác, tin báo về tội phạm có liên quan đến KNHT, khám nghiệm tử thi; tên, tuổi và địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS để chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các tài liệu có liên quan cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết Nếu

là thông tin do Cơ quan có thẩm quyền điều tra cung cấp, KSV được phân công trực phải báo cáo ngay lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo VKS trong ca trực để kịp thời phân công KSV để THQCT, kiểm sát việc KNHT, khám nghiệm tử thi KSV, KTV phải giữ bí mật thông tin của cá nhân đã cung cấp tố giác, tin báo có liên quan đến KNHT, khám nghiệm tử thi nếu có yêu cầu

KSV khi THQCT đối với việc KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định phải yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra hoặc những người biết về vụ việc cung cấp các thông tin liên quan đến vụ việc cần KNHT, khám nghiệm tử thi; KSV phải kiểm sát thành phần tiến hành, tham gia việc KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra bảo đảm đúng thẩm quyền, thành phần theo quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan; Yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra thu giữ, niêm phong, bảo quản vật chứng, tài liệu, đồ vật hoặc dữ liệu điện tử có liên quan đến vụ việc khám nghiệm; lập biên bản, chụp ảnh, vẽ sơ đồ và các hoạt động khác theo đúng quy định của pháp luật; Kiểm sát chặt chẽ việc KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định, kịp thời đề ra các yêu cầu cho

ĐTV, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn, Giám định viên kỹ thuật hình sự,

Giám định viên pháp y thu thập, làm rõ các dấu vết thương tích, giải phẫu tử thi để xác định nguyên nhân chết, sơ bộ kết luận về nguyên nhân chết của nạn nhân (nếu

có thể) để phục vụ công tác truy nguyên hình sự và truy tìm người phạm tội đối với những vụ án không quả tang; Yêu cầu ĐTV, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn, Giám định viên kỹ thuật hình sự, Giám định viên pháp y xác định chính xác phạm

Trang 35

vi hiện trường, bao gồm cả hiện trường chính, hiện trường phụ, hiện trường giả của

vụ án, hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị thay đổi; mở rộng hiện trường để truy tìm dấu vết và công cụ, phương tiện phạm tội Phát hiện, mô tả, thu thập đầy đủ, trung thực, khách quan mọi dấu vết liên quan đến tội phạm và người phạm tội tại hiện trường KSV có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc KNHT, khám nghiệm tử thi để phục vụ cho công tác kiểm sát; KSV phải kiểm tra, đối chiếu giữa

sơ đồ hiện trường, biên bản KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và các tài liệu liên quan khác so với thực tế hiện trường, diễn biến quá trình KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra để bảo đảm chính xác, khách quan, toàn diện và theo đúng quy định của pháp luật KSV được phân công THQCT đối với việc KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, ký tên vào sơ đồ hiện trường, biên bản KNHT, khám nghiệm tử thi

và thực nghiệm điều tra Mọi trường hợp, nếu KSV không trực tiếp THQCT đối với việc KNHT, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra thì tuyệt đối không được ký vào các loại biên bản nêu trên

1.3.7.3 Thực hành quyền công tố đối với việc hỏi cung bị can, việc đối chất, nhận dạng

Căn cứ quy định tại Điều 183 BLTTHS năm 2015 và Điều 50 Quy chế số 111 thì việc hỏi cung bị can do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can

Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó Trước khi hỏi cung bị can, ĐTV phải thông báo cho KSV và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung KSV phải kiểm sát chặt chẽ việc hỏi cung bị can ngay từ lần hỏi cung đầu tiên, bảo đảm tính có căn cứ, hợp pháp, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 183 BLTTHS năm 2015 Khi nhận được thông báo của ĐTV về việc tiến hành hỏi cung bị can, nếu xét thấy cần thiết, KSV trực tiếp tham gia việc hỏi cung bị can Trong trường hợp này, KSV phải nghiên cứu, nắm chắc hồ sơ vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, xác định nội dung cần làm rõ để yêu cầu ĐTV hỏi; KSV phối hợp với ĐTV phát hiện mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với chứng cứ khác nhằm làm rõ những

Trang 36

vấn đề cần phải chứng minh KSV chú ý cách đặt câu hỏi của ĐTV bảo đảm không

để xảy ra việc bức cung, mớm cung, dụ cung KSV chú ý câu trả lời của bị can để phát hiện tình tiết mới, những điểm chưa rõ và yêu cầu ĐTV hỏi làm rõ Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu, KSV trực tiếp hỏi để làm rõ Khi tham gia hỏi cung

bị can cùng ĐTV Kiểm sát viên ký vào biên bản hỏi cung KSV phải kiểm sát chặt chẽ biên bản hỏi cung do ĐTV thực hiện KSV yêu cầu ĐTV cung cấp đầy đủ biên bản hỏi cung, các tài liệu khác đã thu thập được liên quan đến việc hỏi cung bị can Qua đó, KSV tiến hành phân tích, đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác trong hồ sơ

để xác định tính có căn cứ, hợp pháp và sự phù hợp của lời khai, bảo đảm mọi tình tiết trong lời khai của bị can đều phải được kiểm tra, xác minh làm rõ

Theo quy định tại khoản 4 Điều 183 BLTTHS năm 2015 và Điều 50 Quy chế

số 111, trong giai đoạn điều tra, KSV trực tiếp hỏi cung bị can trong các trường hợp

bị can kêu oan; bị can khiếu nại hoạt động điều tra; có căn cứ xác định việc điều tra

có vi phạm pháp luật; khi có đề nghị của Cơ quan có thẩm quyền điều tra; tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn hoặc chưa rõ; lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai của

bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng và các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết Trong những trường hợp như đã nêu trên thì trước khi hỏi cung bị can, KSV phải báo cáo lãnh đạo VKS để xin ý kiến Việc KSV hỏi cung bị can được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 183 BLTTHS; Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình

có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.Việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh phải được thực hiện theo quy định của BLTTHS và Thông tư liên tịch số03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình

có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử(gọi tắt là TTLT 03/2018/TTLT)và kiểm sát

Trang 37

việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh được thực hiện theo Quy chế tạm thời Kiểm sát việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh của cơ quan có thẩm quyền điều tra; trực tiếp ghi âm hoặc ghi hành có âm thanh khi hỏi cung bị can, lấy lời khai trong các giai

đoạn khởi tố, điều tra, truy tốban hành kèm theo Quyết định số 264/QĐ-VKSTC

ngày 21/7/2020 của Viện trưởng VKSNDTC(gọi tắt là Quy chế số 264) Trong quá trình điều tra, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai giữa bị can, người làm chứng, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật, KSV yêu cầu ĐTV tiến hành đối chất hoặc nhận dạng KSV có thể trực tiếp hoặc phối hợp cùng với ĐTV tiến hành đối chất Trước khi kết thúc điều tra, KSV phối hợp với ĐTV, Cán bộ điều tra tổng hợp, đánh giá kết quả hỏi cung; tiến hành phúc cung khi thấy cần thiết

1.3.7.4 Thực hành quyền công tố trong việc lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự

Trong quá trình THQCT trong giai đoạn điều tra KSV phải căn cứ quy định tại Điều 51 Quy chế số 111, KSV chủ động yêu cầu ĐTV kịp thời lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự có liên quan đến vụ án hình sự,KSV phải kiểm sát chặt chẽ việc lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự theo quy định tại Điều 186,

187, 188 BLTTHS năm 2015 Kiểm sát chặt chẽ để ĐTV không bỏ sót những người làm chứng quan trọng mà họ trực tiếp nghe được, nhìn thấy hành vi phạm tội của người phạm tội, bảo đảm cho họ quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu của mình để làm rõ nội dung, bản chất vụ án; nếu thấy cần thiếtviệc ghi lời khai của họ có

thể tiến hành ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với người làm chứng, bị hại, đương sự

Trong quá trình điều tra và sau khi kết thúc điều tra, để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc để quyết định việc truy tố, KSV có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự trong các trường hợp có căn cứ xác định việc lấy lời khai của ĐTV, Cán bộ điều tra không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật; Trong trường hợp lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những chứng cứ khác đã thu thập được; có nghi ngờ về tính trung thực, khách quan trong lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;

Trang 38

Trường hợp cần thiết khác để làm rõ chứng cứ, tài liệu Biên bản ghi lời khai do KSV lập được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát Việc lấy lời khai của những người này, có thể được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo quy định của BLTTHS,TTLT 03/2018/TTLT và Quy chế số 264.Trong giai đoạn điều tra vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi các cơ quan THTT cần phải tuân thủ các quy định tại TTLT số 06/2018/TTLT

1.3.7.5 Thực hành quyền công tố trong việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, tài liệu, đồ vật

Khi được phân công THQCT trong việc khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật trong vụ án hình sự, KSV cần phải thực hiện tốt các quy định từ Điều 192 đến Điều 200 của BLTTHS và Điều 54 của Quy chế số 111 Đó là: KSV yêu cầu ĐTV

và những người tham gia khám xét thực hiện đúng các quy định của BLTTHS Đối với với những trường hợp CQĐT đề nghị phê chuẩn lệnh khám người, khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; lệnh thu giữ thư tín, bưu kiện, bưu phẩm thì VKS phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh này Nếu đề nghị phê chuẩn của CQĐT

có căn cứ thì ra quyết định phê chuẩn; Nếu đề nghị của CQĐT không có căn cứ thì ra quyết định không phê chuẩn Đối với những trường hợp không thể trì hoãn được mà lệnh khám xét hoặc thu giữ bưu kiện, bưu phẩm chưa có sự phê chuẩn của VKS, thì ngay sau khi nhận được văn bản thông báo việc khám xét, VKS phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh, biên bản khám xét để kịp thời phát hiện vi phạm, có văn bản yêu cầu CQĐT khắc phục; đồng thời VKS tiếp tục theo dõi và kiểm tra việc bảo quản tài sản, xử lý vật chứng, giải quyết xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến vật chứng, tài sản theo quy định tại các Điều 90, 105, 106, 107 của BLTTHS năm

2015

1.3.7.6 Thực hành quyền công tố đối với việc chuyển vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa; việc tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can; đình chỉ điều travà kết thúc điều tra đề nghị truy tố bị can

- Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đối với việc chuyển vụ án; quyết định nhập hoặc tách

Trang 39

vụ án; quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại các Điều 169, Điều

170, Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 447, Điều 448, Điều 449BLTTHS năm

2015, Quy chế số 111 và việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định của BLTTHS và TTLT số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (gọi tắt là TTLT 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP)

- KSV được phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cần kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, bảo đảm các trường hợp tạm đình chỉ điều tra được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 229 BLTTHS và thực hiện việc truy nã bị can theo đúng quy định tại Điều 231 BLTTHS; THQCT, kiểm sát việc phục hồi điều tra thực theo quy định tại Điều 65 của Quy chế số 111 và Điều

235 BLTTHS; THQCT, kiểm sát việc đình chỉ điều tra, cần phải thực hiện tốt những nội dung được quy định tại Điều 64 của Quy chế số 111 và Điều 230 BLTTHS

- Trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án, KSV phải chủ động yêu cầu và phối hợp ĐTV đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để ĐTV báo cáo lãnh đạo CQĐT kết thúc điều tra vụ án; Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp hoặc KSV không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội danh, thì KSV phải trao đổi với ĐTV để báo cáo lãnh đạo hai đơn vị tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ

án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật; KSV, ĐTV phải lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ nghiệp vụ của CQĐT, hồ sơ kiểm sát.Ngoài ra, trong quá trình THQCT trong giai đoạn điều tra vụ

Trang 40

án hình sự,VKSND còn khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình

sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc THQCT theo quy định của BLTTHS năm 2015

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2003), Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
3. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2006), Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TWcủa Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (giai đoạn 2006-2010)
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
4. Ban chỉ đạo cải cách tư pháp (2007), Kế hoạch số 06-KH/CCTP về sơ kết Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 06-KH/CCTP về sơ kết Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Ban chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
6. Bộ trưởng Bộ Công an(2018) ban hành “Hướng dẫn công tác phòng ngừa nghiệp vụ, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố về tội phạm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác phòng ngừa nghiệp vụ, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố về tội phạm xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Công an
Năm: 2018
7. Bộ Công an, Cục C02 (2020) “Phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi giai đoạn 2021-2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi giai đoạn 2021-2025
Tác giả: Bộ Công an, Cục C02
Năm: 2020
9. Bộ trưởng Bộ Y tế (2020),Quy trình giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi ngờ bị xâm hại tình dục ban hành kèm theo Quyết định số 5609/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi ngờ bị xâm hại tình dục
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Y tế
Năm: 2020
10.Duy Tân (2021) “Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em”. Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em
Tác giả: Duy Tân
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2021
11. Đảng cộng sản Việt nam (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
12. Đảng cộng sản Việt nam (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
13. Đảng cộng sản Việt nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
14. Đảng cộng sản Việt nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng cộng sản Việt nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
16. Đảng cộng sản Việt nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
19. Đảng cộng sản Việt nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng cộng sản Việt nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
21. Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp” do Ông Hoàng Nghĩa Mai, nguyên PVTTT VKSNDTC chủ nhiệm đề tài, Hà Nội năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về thực hành quyền công tố trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Ông Hoàng Nghĩa Mai
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
22. Đề tài khoa học cấp cơ sở- Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Tội phạm xâm hại tình dục theo Bộ luật hình sự năm 2015- Một số vấn đề pháp lý hình sự và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm xâm hại tình dục theo Bộ luật hình sự năm 2015- Một số vấn đề pháp lý hình sự
Tác giả: Đề tài khoa học cấp cơ sở- Viện kiểm sát nhân dân tối cao
23. GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) Quyển 1, Nxb Tư pháp năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) Quyển 1
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm