2004; Tác giả Trần Duy Đức với tác phẩm “Thu thập, đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình sự trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tình Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật ĐH
Trang 1NGUYỄN CẨM TÚ
THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2023
Trang 2NGUYỄN CẨM TÚ
THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH
Hà Nội - 2023
Trang 3Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Nguyễn Cẩm Tú
Trang 4viên hướng dẫn PGS TS Nguyễn Đức Hạnh về đề tài Luận văn: “Thu thập chứng
cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” Đến nay học viên đã thực hiện xong đề tài của
mình
Với kết quả nghiên cứu, học tập của mình học viên xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã trách nhiệm hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường và chân thành cảm ơn người dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Đức Hạnh đã hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện Luận văn của mình
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Ban Giám hiệu, Khoa Pháp luật hình sự và Kiểm sát hình sự, phòng Đào tạo và Quản lý sinh viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tạo điều kiện cho học viên trong suốt quá trình học tập Học viên rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm và kết nối của Quý thầy, cô giáo trong thời gian tới
Tác giả Luận văn
Nguyễn Cẩm Tú
Trang 5Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
KSV Kiểm sát viên VKS Viện kiểm sát
VKSND Viện kiểm sát nhân dân THTT Tiến hành tố tụng CQĐT Cơ quan điều tra BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự THQCT Thực hành quyền công tố KSXX Kiểm sát xét xử
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
5.1 Phương pháp luận của đề tài 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 7
1.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 7
1.1.2 Đặc điểm của thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 15
1.1.3 Ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
17
1.2 Nguyên tắc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
19
Trang 71.3 Nội dung thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
22
Tiểu kết Chương 1 31 Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THU THẬP CHỨNG
CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32 2.1 Quy định về thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
32
2.2 Thực trạng việc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy
tố tại viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông 41
2.2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố tại viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông 41 2.2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 45 2.2.3 Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thu thập chứng cứ 47 2.2.4 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đối với việc thu thập chứng cứ 53
Tiểu kết Chương 2 55 Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ
56
3.1 Yêu cầu đối với việc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 56 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố 59
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thu thập chứng cứ 60
Trang 83.2.2 Giải pháp tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về thu thập chứng
cứ 62 3.2.3 Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Viện kiểm sát và hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Ngành kiểm sát 65
Tiểu kết Chương 3 67 KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phát triển của xã hội tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và có những diễn biến hết sức phức tạp Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn được Đảng và Nhà nước xem là nhiệm vụ quan trọng Từ khi pháp điển hóa BLTTHS đến nay, nghĩa vụ chứng minh tội phạm luôn thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Với chức năng Hiến định là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS nhân dân tham gia tất cả các giai đoạn của tố tụng với tư cách là một trong
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đồng thời có trách nhiệm trong việc buộc tội và tranh tụng Do vậy, VKS luôn phải thực hiện việc thu thập chứng cứ Trong đó, chủ thể chủ yếu đại diện VKSND thu thập chứng cứ đó chính là KSV Truy tố là giai đoạn thứ ba của quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong giai đoạn này VKS có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét việc truy tố các bị can
ra trước Tòa án để xét xử nếu đủ căn cứ Trường hợp mặc dù chưa đủ chứng cứ để truy tố nhưng xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà KSV có thể tự mình thu thập chứng cứ thông qua các biện pháp điều tra theo luật định thì KSV sẽ thực hiện thu thập chứng cứ và bổ sung vào hồ sơ vụ án Thực tiễn cho thấy không phải trong mọi trường hợp khi chứng cứ có trong hồ sơ chưa đầy đủ, chặt chẽ trong giai đoạn truy tố thì Kiểm sát viên đều thu thập bổ sung và củng cố chứng cứ một cách đầy đủ và có chất lượng để có thể đưa ra những quyết định tố tụng giúp giải quyết vụ án chính xác, khách quan ở giai đoạn truy tố, cũng như giai đoạn xét xử tiếp theo
Trong những năm qua, Bên cạnh việc thực hiện Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 một cách nghiêm túc, mạnh mẽ với một số thành tựu đáng kể, trong đó có cải cách tư pháp về các chủ thể thu thập chứng cứ trong đó có biện pháp KSV thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những trường hợp chất lượng thực hiện còn chưa cao, vẫn có trường hợp KSV có thể tự mình thu thập bổ sung chứng
Trang 10cứ nhưng vẫn trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung, cá biệt có trường hợp trả đi, trả lại nhiều lần dẫn đến kéo dài thời gian tố tụng, gây tốn kém nguồn lực tố tụng, giảm lòng tin trong nhân dân đối với các cơ quan tư pháp trong đó có VKSND Hoặc
có trường hợp KSV không chủ động thu thập chứng cứ bổ sung trong giai đoạn truy
tố dẫn đến khi truy tố và chuyển hồ sơ đến Tòa án thì Tòa án đã phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung
Về mặt lý luận mặc dù chế định thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố đã được quy định khá rõ ràng trong BLTTHS năm 2015 Tuy nhiên, vẫn còn những điểm cần được luận giải và làm sâu sắc hơn giúp KSV dễ dàng nắm bắt và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này trong quá trình THQCT
ở giai đoạn truy tố Đặc biệt việc nghiên cứu gắn với thực tiễn địa một địa bàn cấp huyện như quận Hà Đông, thành phố Hà Nội sẽ có khả năng ứng dụng cao
Từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài: “Thu thập chứng cứ của Kiểm
sát viên trong giai đoạn truy tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự được hiểu là việc sử dụng các chứng
cứ đã thu thập được, để làm sáng tỏ sự thật khách quan liên quan đến hành vi phạm tội đã xảy ra, từ đó giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, chính xác Việc thu thập chứng cứ dùng làm căn cứ để chứng minh là một quá trình phản ánh nhận thức của con người, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều Do vậy hoạt động thu thập chứng cứ là một nội dung quan trọng đã được một số nhà khoa học – luật gia quan tâm nghiên cứu
Để có cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, tác giả đã nghiên cứu các công trình khoa học sau đây:
Tác giả Đỗ Văn Đương năm 2006 với tác phẩm “Chứng cứ và chứng minh trong
vụ án hình sự”, do nhà xuất bản Tư pháp phát hành;
Tác giả Trần Quang Tiệp với tác phẩm “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” được nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành năm
Trang 112004;
Tác giả Trần Duy Đức với tác phẩm “Thu thập, đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình sự (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tình Đắk Lắk), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội năm 2015;
Tác giả Nguyễn Minh Ngọc với công trình nghiên cứu “Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự” dưới hình thức Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật (ĐHQG
Hà Nội) năm 2014;
Tác giả Vương Văn Bép với đề tài được nghiên cứu “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa luật (ĐHQG Hà Nội) năm 2014;
Khoa Tội phạm học và Điều tra tội phạm Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm
2016 có “Đề tài khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá chứng cứ trong điều tra các vụ án hình sự”;
Một số bài viết tiêu biểu của tác giả Nguyễn Đức Hạnh trên các Tạp chí khoa học như: “Mối quan hệ giữa dữ liệu điện tử và các nguồn chứng cứ khác trong tố tụng hình sự” đăng trên Tạp chí khoa học Kiểm sát số 02, năm 2019; Bài viết “Quản lý và
xử lý vật chứng là động vật hoang dã trong các vụ án hình sự” đăng trên Tạp chí Tòa
án số 23, năm 2019; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thực nghiệm điều tra” đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 08 năm 2014…
Trên các tạp chí khoa học pháp lý, có các bài viết tiêu biểu như: “Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung chế định viện kiểm sát rút quyết định truy tố trong Bộ luật tố tụng hình sự” của tác giả Hồ Đức Anh, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 19, năm 2008; bài viết "Những bất cập trong các quy định về việc Viện kiểm sát thay đổi quyết định truy tố" của tác giả Hồ Đức Anh đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7, năm 2009… Cuốn “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Nguyễn Hải Phong (Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2014)
Cuốn “Những điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2015) là một ấn
Trang 12phẩm ra đời ngay sau khi BLTTHS năm 2015 được ban hành, đã phân tích khá tổng quát các quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong tố tụng hình sự, có so sánh, đối chiếu với các quy định trong các văn bản pháp luật trước đồng thời bình luận những điểm mới đáng chú ý của BLTTHS năm 2015 về vấn đề này
Bên cạnh đó, cuốn "Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động (26/7/1960 - 26/7/2015)" của VKSND tối cao, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội đã khái quát quá trình phát triển của VKSND qua các thời kỳ và phân tích một số công tác của ngành kiểm sát nhân dân trong đó có đề cập đến công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS; đánh giá thực trạng hoạt động THQCT từ khi ngành kiểm sát được thành lập cho đến năm 2015; chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của hạn chế và đưa ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THQCT Xem xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy mặc dù các công trình nghiên cứu trong thời gian qua ít nhiều đã đề cập đến các góc độ khác nhau về
lý luận và thực tiễn của hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết các
vụ án hình sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố gắn với một địa bàn cấp huyện cụ thể như VKSND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao khả năng ứng dụng và chất lượng hoạt động này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động thu thập chứng trong giai đoạn truy tố của KSV trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, từ đó thấy được vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động này trong thực tiễn
Trên cơ sở phát hiện những bất cập về mặt quy định và khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện quy định, đề tài đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động thu thập chứng trong giai đoạn truy tố của KSV
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục đích nói trên, đề tài Luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó, thấy được thực trạng, khó khăn, vướng mắc và những nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc đối với việc thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đối với hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố gắn với địa bàn quận Hà Đông
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố và giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này trong thực tiễn
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về không gian: Các số liệu Luận văn nghiên cứu khảo sát là các số liệu tại VKSND quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu về thực tiễn thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố trong phạm vi 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp luận của đề tài
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, là các quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn, tác giả sử dụng kết hợp một
số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,
Trang 14thống kê, để giải quyết vấn đề Bên cạnh đó Luận văn còn sử dụng phương pháp phỏng vấn đối với những KSV trong việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn truy tố làm
cơ sở cho việc đưa ra các nhận định, đánh giá
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về thu thập chứng của của KSV trong giai đoạn truy tố
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những giải pháp Luận văn đề xuất có ý nghĩa thiết thực trong việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện thu thập chứng của của KSV trong giai đoạn truy tố
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho cán bộ, sinh viên, học viên khi học tập
và nghiên cứu về thu thập chứng cứ của KSV nói chung và thu thập chứng của của KSV trong giai đoạn truy tố nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Chương 2: Quy định pháp luật và thực tiễn thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố tại viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA
KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
1.1.1 Khái niệm thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Chứng cứ là cái thực tích hay hiện trạng có thể bằng cứ vào mà chứng thực được Chứng cứ cũng có thể hiểu là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì
đó là thật
Để xem xét một vấn đề, hiện tượng thuộc lĩnh vực nào đó là có thật hay không,
có đúng hay không? đều phải dựa trên những căn cứ nhất định, căn cứ dùng để chứng minh các vấn đề của vụ án hình sự thường được gọi là chứng cứ Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, để đưa ra các quyết định hoặc bản án các cơ quan THTT đều phải căn cứ vào các chứng cứ chứng minh về tội phạm và những tình tiết khác có liên quan tới vụ án Giải quyết vụ án hình sự chính là việc chứng minh làm
rõ, tái hiện lại diễn biến của sự việc đã xảy ra, bằng việc thu thập các chứng cứ tài liệu, thông qua đó giải quyết hậu quả của hành vi tội phạm gây ra Muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan, để có cơ sở kết luận đúng
về hành vi phạm tội đã xảy ra thì cơ quan THTT và người THTT phải có những tài liệu, chứng cứ để chứng minh, qua đó sẽ đưa đến nhận thức đúng đắn mang tính khách quan về sự việc phạm tội và con người phạm tội
Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã xây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Nguyên tắc đó là: trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát
từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan Theo nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả khi và chỉ khi thực hiện đồng thời giữa việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan với phát huy tính năng động chủ quan trên cơ sở và trong phạm vi điều kiện khách quan,
Trang 16chống chủ nghĩa duy ý chí trong nhận thức và thực tiễn [8] Dựa trên cơ sở lý luận trên, để đưa ra được những kết luận đúng đắn giúp giải quyết vụ án hình sự thì phải căn cứ vào những chứng cứ tài liệu thu thập một cách khách quan, đúng pháp luật chứ không thể dựa trên những ý kiến chủ quan, cá nhân Việc đưa ra những suy đoán chủ quan thường sẽ dẫn tới những sai lầm làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm Thêm vào đó, theo lý luận về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan, quá trình nhận thức từ trực quan đến tư duy trừu tượng, từ chưa biết đến biết ít, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất [9] Mọi hoạt động của con người đã xảy ra đều sẽ để lại những dấu vết trong thế giới khách quan được thể hiện ở những dạng vật chất khác nhau
Do đó các hành vi phạm tội cũng sẽ để lại những dấu vết trong thế giới khách quan,
ví dụ như: các công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, vết máu, dấu vân tay trên thi thể nạn nhân, vết dao đâm trên cơ thể người bị hại,… Thu thập được đầy
đủ các dấu vết này, sắp xếp một cách có hệ thống giúp quá trình phân tích tổng hợp đưa ra được những kết luận chính xác, nhận thức đúng đắn được bản chất của sự việc, đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn, chính xác, đúng người, đúng tội
Do đó có thế thấy chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm, làm rõ sự thật của vụ án Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chứng cứ, tùy vào bản chất giai cấp của mỗi Nhà nước và trên cơ sở phương pháp luận nhận thức khác nhau mà có những quy định khác nhau về chứng cứ Thêm vào đó, do chứng cứ được xác định trong vụ án là cơ sở để những người tham gia tố tụng hình sự căn cứ vào đó đưa ra ý kiến của mình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và của người khác Nên chứng cứ được coi là đối tượng nghiên cứu ở nhiều môn khoa học pháp lý chuyên ngành Nhiều ngành luật khác nhau cũng quy định chứng cứ là một chế định, là cơ sở cho các hoạt động pháp lý Khi nghiên cứu về chứng cứ có rất nhiều các quan điểm khác nhau về định nghĩa chứng cứ
Vấn đề chứng cứ trong khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau:
Trang 17Quan điểm của các luật gia tư sản nhấn mạnh tới sự giống nhau giữa chứng cứ
tố tụng và chứng cứ thông thường Chứng cứ tố tụng là những sự kiện thông thường,
là những hiện tượng như thế xuất hiện trong đời sống, những sự vật như thế, những con người như thế, những hành vi như thế của con người Chỉ cần chúng được đưa vào phạm vi của trình tự tố tụng, trở thành biện pháp để xác định những tình tiết mà
cơ quan xét xử và điều tra quan tâm, thì chúng là những chứng cứ tố tụng
Quan điểm của TS Đỗ Văn Đương cho rằng: “Chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì có thật liên quan tới hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những người và cơ quan THTT dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án”
Như vậy có thể thấy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chứng cứ Trên nền tảng của học thuyết duy vật biện chứng và kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh chống tội phạm Bộ luật tố tụng hình sự nước ta định nghĩa về chứng cứ như sau:
“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không
có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (khoản 1 Điều 64 BLTTHS hiện hành) Định nghĩa này về chứng cứ mang tính khái quát cao, tuân theo các quy luật khách quan của quá trình nhận thức, nêu ra được những thuộc tính, đặc điểm về hình thức
và nội dung của chứng cứ làm cơ sở cho việc chứng minh tội phạm
Chứng cứ là thông tin phản ánh về những sự vật, hiện tượng có thật và thống nhất không thể tách rời một sự vật, hiện tượng cụ thể, vì vậy xem xét từng thuộc tính của chứng cứ phải trong mối liên hệ với các thuộc tính khác nhau và trong mối quan
hệ tổng thể
Về mặt lý luận, chứng cứ có những thuộc tính sau:
Thứ nhất, tính khách quan Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khách quan là: “Cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người” Chứng cứ là những thông tin có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan và độc lập với ý thức của con người Những sự vật, hiện
Trang 18tượng chứa đựng dấu vết của tội phạm luôn tồn tại khách quan có thể được lưu giữ ở các dạng vật chất hoặc được ghi nhận trong trí nhớ của con người Vì vậy, chứng cứ mang tính khách quan, phản ánh sự nhận thức chủ quan với thế giới khách quan Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực, khi thực hiện người phạm tội phải tác động vào thế giới khách quan bằng các hành vi hành động hoặc không hành động, thông qua đó xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Việc thu thập các dấu vết của tội phạm còn để lại ở thế giới khách quan làm cơ sở cho việc chứng minh tội phạm, vì vậy cũng mang tính khách quan Chứng cứ phải mang tính khách quan thì mới có thể phản ánh được sự thật của vụ án, những tình tiết, sự kiện đã xảy
ra
Nếu chứng cứ không bảo đảm được thuộc tính khách quan, thì sẽ dẫn tới những kết luận không đúng từ đó làm cho việc giải quyết vụ án không chính xác làm oan sai, bỏ lọt tội phạm Như vậy tính khách quan của chứng cứ chính là sự tồn tại độc lập của nó trong thế khách quan không bị phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Những vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức chủ quan của con người Do đó, nên những người THTT phải có sự nhận thức đúng đắn
về hiện thực khách quan, nếu không sẽ dẫn tới suy diễn mang tính chủ quan, cá nhân vào hoạt động thu thập chứng cứ, phản ánh không đúng những gì đã đang tồn tại trong thế giới khách quan Vì vậy nên giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi người THTT
và cơ quan THTT khi giải quyết vụ án phải xuất phát từ những thông tin tồn tại trong thực tế khách quan, tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, phiến diện, định kiến, không trung thực, đồng thời phải phát huy nỗ lực chủ quan của người THTT Thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy, còn nhiều vi phạm nghiêm trọng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có nguyên nhân là do thiếu tôn trọng khách quan, do định kiến chủ quan trong việc xác định tính khách quan của chứng cứ
Thứ hai, tính liên quan
Những thông tin, sự vật, hiện tượng có thật, tồn tại khách quan chỉ được coi là
Trang 19chứng cứ khi có liên quan tới vụ án hình sự, khi nó chứng minh cho những vấn đề mà các cơ quan THTT, người THTT cần biết nhưng chưa biết trong vụ án hình sự đó Những điều cần biết trong vụ án hình sự còn được gọi là đối tượng chứng minh của vụ án hình sự hay những vấn đề chứng minh, bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy
ra hay không, thời gian địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích phạm tội là gì, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất, mức độ của hành vi phạm tôi gây ra, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, những tình tiết khác có liên quan đến vụ án Như vậy, tính liên quan của chứng cứ thể hiện mối liên hệ khách quan, cơ bản của chứng cứ với vấn đề cần phải chứng minh Nói cách khác, đó là mối quan hệ giữa sự kiện dùng làm căn cứ chứng minh với đối tượng chứng minh [10]
Khi sử dụng một thông tin gì để làm căn cứ, cơ sở chứng minh cho quan điểm, lập luận của mình, thì vấn đề đó phải có liên quan đến việc cần chứng minh và phải
có thật Nếu vấn đề có thật mà không liên quan đến vấn đề cần chứng minh thì không chính xác, không có sức thuyết phục
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan THTT, người THTT có thể thu thập được nhiều tài liệu khác nhau và không thể xác định ngay được tính liên quan của tài liệu đó, vì thế cần phải thu thập rộng rãi các tài liệu tránh bỏ sót; trên cơ
sở các tài liệu đã thu thập được đánh giá một cách tổng hợp để xác định được tài liệu nào có liên quan đến vụ án và loại bỏ những tài liệu không liên quan
Cơ sở lý luận của thuộc tính có liên quan của chứng cứ dựa trên nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nguyên tắc này đòi hỏi CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Tòa án khi giải quyết vụ án hình sự, phải xem xét toàn diện các mối quan hệ có liên quan đến vụ án, rút ra được những mối quan hệ bản chất, chủ yếu để làm sáng tỏ bản chất của vụ án Việc xác định tính liên quan của chứng cứ phụ thuộc vào nhận thức của người THTT đối với diễn biến khách quan của vụ án, và nó chỉ được đánh giá đúng khi hiểu biết và vận
Trang 20dụng các quy luật khách quan Đặc biệt, không được áp đặt tính liên quan bằng sự suy luận, suy diễn chủ quan, thiếu căn cứ khoa học của người THTT trong quá trình đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Có như vậy mới có thể tránh được việc thu thập tài liệu một cách tràn lan, hoặc bỏ sót những tài liệu có liên quan Thứ ba, tính hợp pháp
Nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở bình diện khách quan, thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện bình diện pháp lý
Cơ sở lý luận của thuộc tính này là dựa trên nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự Đây là nguyên tắc rất quan trọng và cơ bản của toàn bộ quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta [16] Tính hợp pháp thể hiện
ở việc các tài liệu, thông tin được chứa đựng ở những nguồn và thu thập bằng biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định Nguồn chứng cứ được hiểu là nơi, mà từ
đó, cơ quan THTT, người THTT có thể tìm ra chứng cứ trong vụ án hình sự, ví dụ như: vật chứng, lời khai, lời trình bày của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị bắt, bị tạm giam, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, kết luận giám định, Biện pháp thu thập chứng cứ
là các cách thức mà cơ quan THTT, người THTT sử dụng để thu thập chứng cứ, bao gồm: khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, giám định, hỏi cung bị can, Những tài liệu không được phản án từ những nguồn và thu thập bằng những biện pháp không do pháp luật tố tụng hình sự quy định, thì không được coi là chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ có ý nghĩa phân biệt chứng cứ với những tài liệu có chứa đựng thông tin về tội phạm được thu thập bằng các biện pháp nghiệp vụ của CQĐT
Như vậy, ba thuộc tính của chứng cứ nói trên có mối liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong thể thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó tính khách quan, tính liên quan là mặt nội dung của chứng cứ, tính hợp pháp là mặt hình thức của chứng
cứ Tính khách quan là tiền đề của tính hợp pháp, tính liên quan; tính liên quan lại là tiền để bảo đảm cho tính hợp pháp, tính khách quan; tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan và tính liên quan Vì vậy nếu thiếu một trong ba thuộc tính đó
Trang 21tài liệu sẽ không được coi là chứng cứ dùng để chứng minh tội phạm
Muốn giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, chính xác cần phải có các chứng cứ làm cơ sở để xác định có hay không hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết khác có liên quan Tuy nhiên, chứng cứ không
tự nhiên xuất hiện mà cần phải tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ Do vậy,
có thể khẳng định: thu thập chứng cứ là một bước quan trọng của quá trình chứng minh
Hiện nay trong BLTTHS chỉ có quy định về các phương thức, cách thức để thu thập chứng cứ như: triệu tập người làm chứng, bị can, hỏi, nghe trình bày, trưng cầu giám định, khám nghiệm, mà chưa có quy định về khái niệm thu thập chứng cứ Do vậy dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau về thu thập chứng cứ
Có quan điểm cho rằng thu thập chứng cứ là thu giữ vật chứng, dấu vết, lời khai… tức là thu thập nguồn chứng cứ Cách hiểu này sẽ gây ra hạn chế đó là sự đồng nhất nguồn chứng với chứng cứ gây ra nhiều bất cập Ví dụ như theo cách hiểu đồng nhất như trên dẫn tới khi các cơ quan THTT, người THTT thu thập được các nguồn chứng cứ nghĩa là hoạt động thu thập chứng cứ đã kết thúc, CQĐT, VKS sẽ làm hồ
sơ vụ án, ra các quyết định truy tố một cách nhanh chóng mà không thu thập thêm một tình tiết, sự kiện nào nữa Từ đó dẫn tới bỏ sót các chứng cứ khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án Hậu quả là dễ dàng bỏ sót các chứng cứ chứa đựng thông tin
có giá trị chứng minh, dẫn tới việc giải quyết vụ án không đúng đắn, chính xác
Có quan điểm khác lại cho rằng thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT nhằm phát hiện ra chứng cứ, ghi nhận và thu giữ chứng cứ Cách hiểu này cũng là một cách hiểu chưa đầy đủ, chính xác về thu thập chứng cứ Bởi chứng cứ là phương tiện duy nhất để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án đã xảy
ra trong quá khứ Thu thập chứng cứ chính là hoạt động diễn ra xuyên suốt trong quá trình tố tụng và nó cũng là tiền đề, cơ sở để diễn ra các hoạt động tố tụng tiếp theo
Do vậy nếu chứng cứ không được thu thập đầy đủ thì đồng nghĩa với việc vụ án sẽ không bao giờ có thể giải quyết được chính xác, khách quan Trên thực tế có rất nhiều
vụ án chứng cứ không đơn thuần chỉ là những tài liệu, đồ vật có thể lưu giữ được theo
Trang 22thời gian, mà có rất nhiều các chứng cứ tồn tại dưới các dạng vật chất khác dễ bị biến mất, thay đổi hoặc phân hủy không thể tồn tại lâu trong thế giới khách quan nếu như không được bảo quản đúng cách Ví dụ như: vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận
cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người… Do vậy nên nếu hiểu thu thập chứng cứ là hoạt động phát hiện, ghi nhận và thu giữ của các chủ thể có thẩm quyền thì không đầy đủ và không bảo đảm sự tồn tại nguyên vẹn cho các chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng, từ đó dẫn tới không bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan
Như vậy, thu thập chứng cứ không chỉ đơn thuần là hoạt động thu giữ các tài liệu, đồ vật mà là hoạt động nhằm tìm ra và thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, để từ đó làm sáng tỏ những sự kiện chứng minh Có thể hiểu thu thập chứng cứ là tổng hợp bao gồm các khâu phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ của cơ quan THTT làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh và hiệu quả sử dụng Các khâu của thu thập chứng cứ là một quá trình thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, khâu này là tiền đề để thực hiện khâu kia, thiếu một trong các khâu này, việc thu thập chứng cứ khó thực hiện hiệu quả
Truy tố là giai đoạn thứ ba trong quá trình tố tụng giải quyết các vụ án hình sự Trong giai đoạn này VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm đưa bị can ra trước toà án để xét xử hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự, VKS có nhiệm vụ thực hành quyền công tố nhà nước, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất đồng thời kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Quyền công tố nhà nước do VKS thực hiện gồm nhiều quyền năng tố tụng, trong
đó, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can ra trước toà án trong giai đoạn truy tố
là quyền đặc trưng của VKS Quyền này được thực hiện bằng quyết định truy tố của VKS sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố của
cơ quan điều tra Trong thực tế, để thực hiện tốt quyền truy cứu trách nhiệm hình sự
Trang 23đối với người phạm tội, pháp nhân phạm tội, VKS phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ
vụ án, giải quyết nhiều vấn đề phức tạp đặt ra trong thời hạn nhất định mà BLTTHS hiện hành đã quy định đối với từng loại tội phạm nhằm đảm bảo việc truy tố bị can
là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội, xác định đúng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Với nhiệm vụ riêng, cụ thể, chủ thể duy nhất thực hiện quyền này là VKS, hoạt động truy tố có tính đặc thù riêng về hành vi tố tụng và văn kiện tố tụng áp dụng nên truy tố thực sự là giai đoạn độc lập của quá trình giải quyết vụ án hình sự
Từ những phân tích trên có thể hiểu hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong
giai đoạn truy tố là một quá trình bao gồm các hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin có liên quan đến vụ án từ các nguồn chứng cứ theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự quy định do các KSV tiến hành trong một số trường hợp luật định
1.1.2 Đặc điểm của thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy
tố
Trong giai đoạn truy tố KSV được tiến hành một hoặc một số các hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS Hoạt động này giúp cho việc xác định sự thật, giải quyết vụ án được đúng đắn, chính xác Hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể thu thập chứng cứ trong giai đoạn này là các KSV, VKS có thẩm quyền do pháp luật tố tụng hình sự quy định đang trực tiếp tham gia tố tụng giải quyết vụ án mới được thực hiện Đây là đặc điểm cơ bản nhất bởi không phải bất kỳ KSV, VKS nào cũng có thể tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự Thu thập chứng cứ là một hoạt động của quá trình chứng minh, nếu không được thu thập bởi các chủ thể do pháp luật quy định thì các thông tin, tài liệu mặc dù tồn tại khách quan, có liên quan tới vụ án nhưng sẽ không được coi là hợp pháp, tức là không thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ, không đảm bảo được giá trị chứng minh của chứng cứ Thêm vào đó, việc quy định chỉ những KSV, VKS có thẩm quyền mới được tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ
Trang 24trong giai đoạn truy tố cũng nhằm tránh việc chồng chéo thẩm quyền cũng như bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước được hiệu quả, tránh trường hợp một vụ án có nhiều VKS cùng tham gia thu thập chứng cứ một cách tràn lan Điều này làm cho lãng phí thời gian, công sức và nguồn lực của nhà nước Vì vậy nên chủ thể thu thập chứng cứ phải là các KSV, VKS có thẩm quyền do pháp luật
tố tụng hình sự quy định
Thứ hai, KSV thu thập chứng cứ trong giai đoạn tố tụng chỉ được phép thực hiện trong những trường hợp do pháp luật quy định Chỉ khi có đầy đủ các chứng cứ thì mới có thể tái hiện lại sự thật khách quan đã xảy ra trong quá khứ, từ đó làm rõ được các vấn đề của vụ án hình sự, xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Theo quy định tại Khoản 3 Điều 236 BLTTHS năm 2015 thì trong giai đoạn truy tố VKS được trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp: nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy
tố, hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ
sơ cho CQĐT Như vậy, có thể thấy mặc dù chứng cứ có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh giải quyết các vụ án hình sự, nhưng không phải vậy mà bất kỳ trường hợp nào KSV cũng được quyền tiến hành thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố, mà chỉ trong những trường hợp để kiểm tra, bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả lại hồ sơ cho CQĐT thực hiện Quy định này nhằm bảo đảm cho chu trình tố tụng được diễn ra xuyên suốt, nhịp nhàng, không bị ngắt quãng (trả hồ
sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung), qua đó bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng những vẫn bảo đảm tính chính xác, khách quan
Thứ ba, khi tiến hành thu thập chứng cứ KSV phải thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục luật định Đặc điểm này bảo đảm cho những tài liệu, đồ vật thu thập được phải thỏa mãn thuộc tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi việc thu thập phải đúng trình tự do pháp luật quy định Thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử cho thấy có không ít trường hợp cơ quan có thẩm quyền THTT tiến hành thu giữ
đồ vật, tài liệu không đúng thủ tục rồi sau đó mới tiến hành “hợp pháp hoá” để đưa vào hồ sơ vụ án hoặc “hợp pháp hoá” tài liệu trinh sát để sử dụng làm chứng cứ
Trang 25Trong các trường hợp đó chứng cứ đều thiếu tính hợp pháp nên không thể có giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng Những thông tin, tài liệu, đồ vật tuy tồn tại trong thực tế và có liên quan đến vụ án nhưng không được lưu giữ trong nguồn mà pháp luật quy định thì không được coi là chứng cứ Vì vậy nên các tài liệu, đồ vật KSV tiến hành thu thập trong giai đoạn truy tố chỉ được coi là chứng cứ khi đảm bảo các
yêu cầu của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục
1.1.3 Ý nghĩa thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Các hành vi trái pháp luật có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khi đạt tới một mức độ nhất định, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ sẽ trở thành tội phạm Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với những người phạm tội được coi là cần thiết và tất yếu Nhưng yêu cầu “không bỏ lọt tội phạm” và “không làm oan người vô tội” phải được quan tâm ở cùng một cấp độ khi giải quyết các vụ án hình sự Những người THTT như: Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, không phải là người chứng kiến toàn bộ diễn biến của hành vi phạm tội đó, và lượng thông tin ban đầu mà các chủ thế này có được về vụ án được giao giải quyết là rất hạn chế Để tái hiện lại sự kiện phạm tội đã xảy ra trong quá khứ một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm
cơ sở cho việc giải quyết vụ án đó, các chủ thể thu thập chứng cứ phải áp dụng các biện pháp khác nhau, mà pháp luật cho phép để có thể phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ, làm cơ sở cho việc chứng minh, giải quyết vụ án hình sự
Nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình sự nước ta là phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không
để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi nguời ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Như vậy, có thể thấy nhiệm
vụ đầu tiên của pháp luật tố tụng hình sự đó là thực hiện chức năng bảo vệ Cùng với các quy định của Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ
Trang 26xã hội quan trọng nhất thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trừng trị những người thực hiện hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cao xâm hại tới các quan hệ xã hội đó Thông qua các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể là các quy định về hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố giúp đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh đúng theo pháp luật Bởi lẽ, thông qua các quy định pháp luật có thể thấy hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án, ngay cả khi vụ án đã kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn tiếp theo thì vẫn được tiến hành thu thập chứng cứ Qua đó giúp cho chứng cứ - phương tiện duy nhất để chứng minh tội phạm sớm được thu thập, tránh xảy ra các trường hợp chứng cứ bị thay đổi, hủy bỏ, không thể phục hồi được do các hành vi của các chủ thể khác cố tình thực hiện, nhằm che giấu tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra, giải quyết vụ án
Đồng thời, trong giai đoạn truy tố KSV được tiến hành một số hoạt động điều tra để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình được tốt hơn Tạo điều kiện cho tính chủ động trong hoạt động của mình được phát huy Tránh tình trạng ỉ lại vào hoạt động của các CQĐT, giúp cho chu trình tố tụng được diễn ra liên tục, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, kịp thời
Thêm vào đó, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng ghi nhận trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyền THTT Người bị buộc tội
có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, VKS phải thực hiện các hoạt động cần thiết để xác định chính xác tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKS giao cho người THTT là các KSV thực hiện trách nhiệm chứng minh trong từng vụ án hình sự cụ thể Việc phân nhiệm vụ thu thập chứng cứ cho cá nhân cụ thể là KSV là điều hoàn toàn hợp lý, bởi nhiệm vụ là của tập thể (VKS) nhưng phải có các cá nhân, con người cụ thể thực hiện mới có thể đem lại kết
Trang 27hạn trong hoạt động thu thập chứng cứ không phải là các cá nhân, công dân bình thường mà là những chủ thể có đầy đủ các năng lực pháp luật, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt và một số các điều kiện khác để tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ mang lại hiệu quả Bởi, thu thập chứng cứ bao gồm các hoạt động: phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án Nếu như các chủ thể thu thập chứng không có trình độ, khả năng nhận thức phát hiện xem chứng cứ có liên quan đến vụ án cần giải quyết đang nằm trong những nguồn chứng cứ nào, đang ở đâu thì không thể ghi nhận, thu giữ nó, dẫn tới khó có thể giải quyết được vụ án hình sự Thêm vào đó, để phát hiện ra chứng cứ cần thiết phải đánh giá các thông tin có giá trị chứng minh những sự kiện, tình tiết của vụ án, và điều này không phải bất cứ chủ thể thông thường nào cũng có thể thực hiện tốt được mà đòi hỏi phải là những người được đào tạo có trình độ, chuyện môn, nghiệp vụ Do vậy, muốn đảm bảo thực hiện tốt được nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình sự cũng như hoàn thành tốt nghĩa vụ chứng minh thì hoạt động thu thập chứng
cứ của KSV trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và trong giai đoạn truy tố nói riêng là vô cùng quan trọng
Tóm lại, hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong quá trình tố tụng nói chung
và trong giai đoạn truy tố nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc làm sáng
tỏ sự thật của vụ án, từ đó bảo đảm được nhiệm vụ của pháp luật tố tụng hình sự đó là: phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi nguời thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
1.2 Nguyên tắc thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Nguyên tắc được hiểu chính là các tư tưởng chủ đạo định hướng, xuyên suốt và nhất quán mà các chủ thể phải tuân theo trong quá trình thực hiện các hoạt động nhất định Hoạt động thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan
Trang 28trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự Do đó, dù trong giai đoạn truy tố hay bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng chỉ cần có hoạt động thu thập chứng cứ thì các chủ thể thực hiện đều phải tuân theo các nguyên tắc chung nhất định Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để đảm bảo cho chứng cứ thu thập được hợp pháp và được sử dụng là căn cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, kịp thời
Nguyên tắc đầu tiên của hoạt động thu thập chứng cứ đó là thu thập chứng cứ phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời Trong quá trình chứng minh, để giải quyết
vụ án hình sự, xác định được sự thật khách quan của vụ án, các cơ quan THTT phải
có đầy đủ các thông tin, tài liệu về tội phạm để chứng minh bản chất của sự việc phạm tội đã xảy ra Tuy nhiên, các cơ quan THTT, người THTT không phải là những người chứng kiến sự việc đã xảy ra trong quá khứ của vụ án Do vậy việc phát hiện, thu thập, ghi nhận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ là cách thức duy nhất để các chủ thể THTT làm rõ bản chất vụ án Thông qua hoạt động này các cơ quan THTT mới có được bức tranh toàn diện về quá trình thực hiện hành vi phạm tội trong quá khứ và tái hiện được toàn bộ diễn biến của nó đã xảy ra, để thực hiện được quyền buộc tội,
gỡ tội hoặc đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo trước pháp luật Như vậy, mọi giai đoạn tố tụng được mở ra hay kết thúc đều xuất phát từ chứng cứ, do đó chứng cứ có vai trò hết sức quan trọng trong lý luận và thực tiễn của mọi giai đoạn trong hoạt động tố tụng hình sự Tuy nhiên, cũng chính
vì vai trò đặc biệt quan trọng này của chứng cứ nên những người phạm tội luôn muốn che giấu, thay thế, thêm, bớt, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng chúng để nhằm thoát tội hoặc giảm nhẹ tội của mình Vì vậy nên hoạt động thu thập chứng cứ cần phải được khẩn trương tiến hành thực hiện một các nhanh chóng, kịp thời nếu không rất có thể các chứng cứ quan trọng của vụ án đều đã không còn tồn tại do các chủ thể khác có liên quan thay đổi Thêm vào đó, thực tiễn có rất nhiều các chứng cứ quan trọng của
vụ án là các tài liệu, đồ vật mau hỏng, dễ biến dạng, khó bảo quản như: vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu,… Vì vậy việc thu thập chứng cứ càng
Trang 29phải được tiến hành nhanh chóng, kịp thời nếu không sẽ không thể giải quyết chính xác được vụ án Bởi, một khi chứng cứ quan trọng không còn nguyên vẹn hoặc không còn tồn tại khách quan thì việc làm sáng tỏ bản chất vụ án sẽ không thể thực hiện được
Nguyên tắc thứ hai của hoạt động thu thập chứng cứ mà các chủ thể có thẩm quyền khi tiến hành phải tuân theo đó là: thu thập chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đầy đủ Một trong ba thuộc tính cơ bản của chứng cứ đó là thuộc tính khách quan, do đó hoạt động thu thập chứng cứ cũng luôn phải bảo đảm tính khách Có như vậy tài liệu, đồ vật thu thập được mới có thể được coi là chứng cứ Ngoài ra, một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015 là xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15, theo đó: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền THTT; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền THTT phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Người THTT nói chung và KSV nói riêng không chỉ tập trung vào các chứng cứ buộc tội mà còn phải thu thập một cách đầy đủ
cả các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội Do vậy, chỉ khi hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thì mới có thể tái hiện được toàn cảnh sự việc phạm tội đã xảy ra trong quá khứ Từ đó mới có thể giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng người đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
Nguyên tắc thứ ba khi tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ đó là thu thập chứng cứ phải được tiến hành theo quy định của pháp luật, nghiêm cấm việc thu thập chứng cứ bằng các biện pháp trái pháp luật Nguyên tắc này được đưa ra dựa trên cơ
sở điều chỉnh của pháp luật đối với việc thu thập chứng cứ Tại Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền THTT
có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS Bên cạnh đó, để được coi là chứng cứ các tài liệu, đồ vật phải bảo đảm thuộc tính hợp
Trang 30pháp của chứng cứ Điều này được thể hiện khá rõ trong định nghĩa về chứng cứ được quy định trong điều 86 BLTTHS năm 2015 Nội dung cơ bản của thuộc tính hợp pháp chính là các tài liệu được chứa đựng ở những nguồn và thu thập được bằng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định Do vậy, chỉ khi hoạt động thu thập chứng cứ được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do luật định thì tài liệu, đồ vật thu thập được mới được coi là chứng cứ và đảm bảo giá trị chứng minh
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo tình hình tội phạm cũng ngày càng gia tăng với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng cao Trên thực tế có rất nhiều các vụ án hình sự có tính chất phức tạp, có nhiều đồng phạm, giữa các đồng phạm
có sự móc nối, liên kết tinh vi; hoặc phạm tội bằng các phương tiện hiện đại; người thực hiện hành vi phạm tội lên kế hoạch phạm tội một cách kỹ lưỡng;… những điều
đó đã gây không ít khó khăn trong việc điều tra, truy tìm tội phạm của các cơ quan
có thẩm quyền Để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan; không bỏ lọt tội phạm; không xét xử oan cho người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì hoạt động thu thập chứng cứ nói chung và của KSV trong giai đoạn truy tố nói riêng phải bảo đảm tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc thu thập chứng cứ Hoạt động này cần phải tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời, khách quan, toàn diện, đầy đủ, thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định
1.3 Nội dung thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố
Hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố cũng giống với hoạt động thu thập chứng trong các giai đoạn tố tụng khác Hoạt động này bao gồm các khâu phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ, làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh và hiệu quả sử dụng Các khâu trong hoạt động thu thập chứng cứ là một quá trình thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, khâu này là tiền đề để thực hiện khâu kia, thiếu một trong các khâu này, việc thu thập chứng cứ không thể thực hiện hiệu quả
Phát hiện chứng cứ là việc tìm các sự vật, hiện tượng, tài liệu chứa đựng những thông tin có giá trị chứng minh những vấn đề cần làm rõ của vụ án Đây là khâu đầu tiên và hết sức quan trọng của việc thu thập chứng cứ Bởi, người ta chỉ có thể thu
Trang 31thập được chứng cứ khi phát hiện ra nó, biết thông tin cần tìm là gì, nó ở đâu
Để phát hiện ra chứng cứ cần phải đánh giá, xem xét các thông tin có giá trị chứng minh những sự kiện, tình tiết cần làm sáng tỏ của vụ án Tất nhiên sự đánh giá này chỉ mang tính chất sơ bộ, ban đầu, còn việc kết luận nó có phải chứng cứ hay không phải do Hội đồng xét xử quyết định [23]
Tài liệu phát hiện được cần phải có sự ghi nhận theo những hình thức và thủ tục
do pháp luật tố tụng hình sự quy định mới có thể sự dụng làm chứng cứ chứng minh tội phạm Ghi nhận chứng cứ được hiểu một cách đơn giản là hoạt động mô tả, sao chép những đặc tính và dấu hiệu của đối tượng mang thông tin chứng cứ đã phát hiện được vào trong các nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật [11] Mỗi một loại tài liệu được ghi nhận bẳng một hình thức pháp lý phù hợp Nhờ hoạt động này sẽ đảm bảo lưu giữ được các thông tin có ý nghĩa chứng cứ để sử dụng nhiều lần trong quá trình chứng minh và bảo đảm tích lũy chúng cho đến thời điểm làm sáng tỏ được mọi tình tiết của vụ án
Sau khi phát hiện các tài liệu và ghi nhận chúng cần phải tiến hành hoạt động tiếp theo đó là thu giữ Thu giữ chứng cứ chính là việc tách đối tượng nguyên mẫu (dấu vết, đồ vật) mang thông tin chứng cứ ra khỏi môi trường xung quanh và bản thân
nó không phải là quá trình sao chép thông tin hoặc có sự lựa chọn thông tin để mô tả như việc ghi nhận [12] Thu giữ chứng cứ nhằm mục đích sử dụng chúng vào việc chứng minh trong vụ án hình sự và được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm công tác điều tra, truy tố, xét xử
Quá trình phát hiện, ghi nhận, thu giữ chứng cứ phải gắn liền với việc bảo quản chứng cứ Bảo quản chứng cứ là giữ cho chứng cứ được nguyên vẹn như tình trạng khi bị thu giữ, không bị mất mát, biến dạng, thay đổi, đảm bảo có thể sử dụng được bất cứ thời điểm nào khi có yêu cầu Bảo quản chứng cứ ngoài mục đích bảo vệ giá trị chứng minh, còn nhằm bảo đảm giá trị vật chất và giá trị kinh tế, văn hóa của nó Thực chất của bảo quản chứng cứ chính là bảo vệ các nguồn chứng cứ đã được thể hiện trong hồ sơ vụ án
Nội dung của hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố chính là một quá trình bao gồm các hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo
Trang 32quản các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án theo những trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự quy định
Để thu thập chứng cứ VKS có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ
vụ án Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề
có liên quan đến vụ án với VKS
Trong giai đoạn truy tố VKS trong trường hợp cần thiết được trực tiếp thu thập chứng cứ thông qua việc trực tiếp tiến hành một số biện pháp điều tra như: Trực tiếp hỏi cung bị can, lấy lời khai những người tham gia tố tụng
Trước khi hỏi cung, lấy lời khai người tham gia tố tụng, KSV phải xác định rõ mục đích của việc hỏi cung, lấy lời khai là gì, để giải quyết mâu thuẫn hay để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ, làm rõ tính khách quan trong lời khai của người tham gia tố tụng, qua đó có phương pháp, cách thức nghiên cứu hồ sơ phù hợp với từng tình huống cụ thể Quan tâm đến việc nghiên cứu đặc điểm nhân thân của bị can, người tham gia tố tụng khác trước khi tiến hành hỏi cung, lấy lời khai
KSV phải xây dựng kế hoạch hỏi cung, lấy lời khai, báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định Việc hỏi cung, lấy lời khai phải tuân thủ quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục Kết thúc việc hỏi cung, lấy lời khai, KSV nghiên cứu, đánh giá kết quả thực hiện và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
Một điều cần lưu ý là trước khi bắt đầu lấy lời khai, KSV nên yêu cầu bị can, người tham gia tố tụng khác tự khai về các tình tiết mà họ biết liên quan đến vụ án, điều này là cần thiết vì thực tế có không ít trường hợp họ khai ra các tình tiết mới, quan trọng mà hồ sơ vụ án chưa có, KSV chưa biết được, đồng thời cũng nhằm kiểm tra thái độ khai báo của họ mà định chiến thuật lấy hỏi cung, lời khai phù hợp
Về nội dung hỏi cung, lấy lời khai cần phải tập trung làm rõ tất cả các tình tiết liên quan đến các yếu tố cấu thành tội phạm, những vấn đề cần phải chứng minh trong
vụ án, loại trừ các mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án Ví dụ: Hỏi cung bị can phạm tội về xâm hại tình dục trẻ em cần làm rõ các tình tiết quan trọng như có hành vi phạm tội
Trang 33xảy ra hay không? Nếu có thì là hành vi hiếp dâm, dâm ô hay giao cấu với trẻ em; thời gian, địa điểm xảy ra vụ án; quá trình thực hiện hành vi của bị can; bị can thực hiện một mình hay cùng với ai; nếu vụ án có nhiều người tham gia thì làm rõ vị trí, vai trò của từng bị can trong vụ án; mục đích, động cơ phạm tội của bị can là gì; thái
độ của bị can đối với hành vi phạm tội; việc khắc phục, bồi thường thiệt hại của vụ án; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can; năng lực trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; bị hại trong vụ án là ai, quan hệ giữa
bị can và bị hại thế nào; nguyên nhân bị can thực hiện hành vi phạm tội; những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
Trong những vụ án mà người thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên KSV phải có các kỹ năng nhất định để tiến hành hỏi cung hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người này Xuất phát từ độ tuổi của người chưa thành niên đang trong giai đoạn phát triển, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, lại muốn tự khẳng định mình, không muốn phụ thuộc; dễ bị tác động, rủ rê, lôi kéo của các đối tượng xấu; không kiềm chế được xúc động mạnh, dễ kích động, dễ nổi nóng, chỉ cần có va chạm nhỏ với bạn bè là có thể sử dụng bạo lực để giải quyết; hành động bộc phát, tức thời, hay tò mò, hiếu động, có xu hướng tìm kiếm, khám phá những cái mới lạ hay bắt chước nên rất dễ bị lôi cuốn vào các trò chơi vô bổ, thậm chí thực hiện các hành vi phạm pháp như đua xe máy trái phép, đánh bạc, sử dụng
ma túy, xem phim, ảnh, sách báo bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy trên mạng internet
và các phương tiện truyền thông khác Từ những đặc điểm tâm sinh lý nói trên, nên việc xử lý hình sự đối với người chưa thành niên, phải đảm bảo không ảnh hưởng đến
sự phát triển lành mạnh và để giáo dục, cải tạo họ Khi tiếp xúc với người chưa thành niên, KSV phải có lòng vị tha, đối xử công bằng, thân thiện, để họ có thể dễ dàng chấp nhận trách nhiệm cho các hành vi sai trái của mình Ngược lại nếu bị đối xử không công bằng, không thân thiện họ sẽ có xu hướng cảm thấy uất ức, không tin vào người lớn và những người có thẩm quyền (như Điều tra viên, KSV, Thẩm phán) dẫn đến họ khai báo không khách quan và khiến cho quá trình thu thập chứng cứ thêm
Trang 34khó khăn Do đó, KSV phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo đúng quy định của pháp luật Hỏi cung bị can người chưa thành niên phải
có cha mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của họ và người tham gia bào chữa theo quy định, chỉ được thực hiện hỏi cung bị can trong trường hợp đại diện của gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng hoặc từ chối tham dự Trong quá trình làm việc, KSV có thể bố trí đại diện gia đình, cán bộ của các cơ quan, đoàn thể hay người bào chữa ngồi cạnh người chưa thành niên để giúp họ cảm thấy
an tâm và thoải mái KSV cho phép đại diện gia đình có thể sử dụng những câu hỏi mang tính chất nhắc nhở, động viên, thuyết phục, giáo dục người chưa thành niên khai nhận đúng sự thật Tuy nhiên, KSV yêu cầu đại diện gia đình của người chưa thành niên không được sử dụng những câu hỏi có tính chất gợi ý, dẫn dắt hoặc những câu hỏi khẳng định hay phủ định những sự việc có liên quan đến vụ án
Để đảm bảo cho việc hỏi cung mang lại hiệu quả và chất lượng pháp luật hiện hành cho phép KSV thực hiện ghi âm, ghi hình trong quá trình hỏi cung nhằm tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm và trả hồ sơ điều tra bổ sung do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình hỏi cung Để thực hiện tốt hoạt động này KSV cũng cần phải có một số các kỹ năng nhất định Hoạt động hỏi cung, lấy lời khai là một hoạt động điều tra phức tạp của KSV vì đa phần KSV không được đào tạo bài bản như Điều tra viên Chính vì vậy, trước khi hỏi cung, lấy lời khai có ghi âm, ghi hình có
âm thanh ngoài việc KSV phải tuân thủ quy định tại Điều 10 Quy trình tạm thời Kiểm sát việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh của cơ quan có thẩm quyền điều tra; trực tiếp ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can, lấy lời khai trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố - Ban hành kèm theo Quyết định số 264/QĐ-VKSTC ngày 21/7/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về việc Chuẩn bị ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh như: KSV phải xây dựng kế hoạch; thông báo việc hỏi cung, lấy lời khai; đăng ký địa điểm hỏi cung, lấy lời khai và thực hiện các thủ tục trích xuất bị can bị tạm giam (nếu thấy cần phải trích xuất) hoặc triệu tập
bị can tại ngoại, người đại diện pháp nhân; không được đưa bị can tại ngoại, người đại diện pháp nhân vào hỏi cung, lấy lời khai ở cơ sở giam giữ, trừ trường hợp đối chất với bị can đang bị tạm giam
Trang 35Đối với chứng cứ là các dữ liệu điện tử phải được khai thác và sử dụng triệt để;
áp dụng các biện pháp cần thiết (có thể là giám định) để chuyển hóa thành các tài liệu nghe được, đọc được hoặc nhìn được Khi xem xét cần xác định thời gian thực tế và thời gian được cài đặt, hiển thị trên phương tiện điện tử đã thu giữ (giờ, ngày, tháng, năm) Đây là yếu tố quan trọng để đối chiếu với các chứng cứ khác, đôi khi có ý nghĩa quyết định để giải quyết vụ việc KSV trong trường hợp có căn cứ và cần thiết phải thu thập chứng cứ để củng cố thêm hồ sơ, tài liệu cho việc truy tố phải tiến hành rà soát và thu giữ ngay các phương tiện, dữ liệu điện tử (nếu có) trong mỗi vụ án Tránh
để tình trạng hình ảnh, dữ liệu bị trôi theo thời gian và xáo trộn dữ liệu hoặc chủ sở hữu phương tiện điện tử chủ động xóa dữ liệu vì các lý do khác nhau Đối với một số loại tội phạm như các vụ án về giao thông, cố ý gây thương tích, cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề thì đây là việc làm rất cần thiết và quan trọng KSV phải xác định phương tiện điện tử chứa đựng dữ liệu điện
tử, khi thu giữ phải mô tả đúng đặc điểm, tên gọi, các thông số kỹ thuật, các hiển thị của phương tiện điện tử tại thời điểm thu giữ Ví dụ: đối với các vụ án kinh tế, các vụ
án sử dụng công nghệ cao là hệ thống máy tính có liên quan đến hành vi phạm tội; đối với các vụ án xâm phạm trật tự xã hội là các thiết bị như điện thoại, thông tin qua tài khoản trên mạng xã hội, mạng viễn thông (thu giữ điện tín), camera an ninh xung quanh hiện trường, tại các điểm vào, ra của hiện trường, hệ thống camera hành trình được lắp đặt trên phương tiện tham gia giao thông…Thêm vào đó, trong hoạt động thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử, KSV phải xác định nguồn gốc phương tiện điện
tử và người sở hữu, người sử dụng nó: Đây là hoạt động nhằm xác định chính xác người đã khởi tạo (tạo ra), truyền gửi, lưu trữ dữ liệu điện tử trên phương tiện điện tử; là căn cứ để xác định tính khách quan của dữ liệu điện tử (điều này đặc biệt quan trọng đối với các vụ án đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề; các vụ án sử dụng công nghệ cao…); làm rõ quá trình sử dụng phương tiện điện tử của chủ sở hữu, cách thức khởi tạo, cách thức truyền gửi dữ liệu, phương tiện điện tử có cài đặt mật khẩu hay không, việc quản lý phương tiện điện tử…
Khám nghiệm hiện trường cũng là một trong những biện pháp được KSV tiến hành để thu thập chứng cứ của vụ án hình sự Qua công tác khám nghiệm hiện trường
Trang 36sẽ giúp KSV thu thập được đầy đủ các dấu vết tội phạm, vật chứng của vụ án từ đó làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Để tiến hành khám nghiệm hiện trường mang lại hiệu quả đầu tiên KSV phải nắm bắt tình hình và xử lý thông tin trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường để thu thập, bổ sung chứng cứ Theo quy định của pháp luật và quy trình khám nghiệm hiện trường đặc biệt là hiện trường có tử thi, trong giai đoạn truy tố KSV phải nắm bắt những thông tin có liên quan đến hiện trường và tử thi trong hồ sơ vụ án đã được CQĐT cung cấp Trước khi đến hiện trường, KSV phải nhanh chóng gặp người có trách nhiệm yêu cầu họ cung cấp thêm về công tác bảo vệ hiện trường và tất cả những thông tin mà lực lượng bảo vệ hiện trường đã thu thập được, đồng thời gặp gỡ, trao đổi với những người biết được thông tin về hiện trường như: Người làm chứng, thân nhân nạn nhân và có thể thông tin do chính người bị hại trước khi chết cung cấp Mục đích của việc nắm tình hình hiện trường nhằm giúp KSV xác định và làm rõ một số vấn đề sau:
+ Thông tin về hiện trường mà theo hồ sơ CQĐT cung cấp là hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị thay đổi, nếu bị thay đổi thì do những nguyên nhân nào; đặc điểm thời tiết, khí hậu, ánh sáng…
+ Trong quá trình bảo vệ hiện trường, lực lượng bảo vệ đã xử lý như thế nào đối với dấu vết, vật chứng;
+ Vị trí, tư thế, dáng điệu ban đầu của nạn nhân đã bị thay đổi hay chưa; nếu bị thay đổi thì ai đã làm thay đổi, nguyên nhân nào của việc làm thay đổi đó;
+ Trong quá trình bảo vệ hiện trường, cán bộ bảo vệ đã xử lý như thế nào đối với dấu vết, vật chứng, tử thi và các đồ vật khác ở hiện trường;
+ Xác định tài sản, hành lý của nạn nhân mang theo trước và sau khi phát hiện nạn nhân chết (đối với các vụ án hình sự có tử thi)
Trưng cầu giám định là một trong số các biện pháp được phép sử dụng để tiến hành thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố mà KSV được phép sử dụng khi cần thiết Bản chất của giám định là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Theo quy định của luật giám định tư pháp
Trang 37thì giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định Thông qua kết quả trưng cầu giám định KSV có thể đưa ra các kết luận về các vấn đề chuyên môn nhằm thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá, xác lập chứng cứ, phục vụ điều tra, xử lý vụ án hình sự Trưng cầu giám định được KSV sử dụng để xác định thủ phạm, phương pháp, phương tiện, thủ đoạn phạm tội từ đó làm cơ sở áp dụng các biện pháp như bắt, khám xét, hỏi cung
Trưng cầu giám định có thể được sử dụng để xác định đối tượng tác động của tội phạm và những thiệt hại xảy ra, góp phần xác định khách thể trực tiếp của tội phạm cụ thể, xác định có hay không có tội phạm xảy ra, tính chất và mức độ nguy hiểm tội phạm
Trưng cầu giám định còn được sử dụng để xác định năng lực trách nhiệm hình
sự của bị can hay bị cáo hoặc năng lực nhận thức, năng lực khai báo đúng đắn của người làm chứng, người bị hại đối với những tình tiết của vụ án, trong trường hợp có
sự nghi ngờ về tình trạng tâm thần của những người này
Trong giai đoạn truy tố KSV nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ như biên bản ghi lời khai của người bị buộc tội, người làm chứng, bị hại trong những trường hợp cần thiết KSV được phép tiến hành việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện để thu thập thêm các chứng cứ, củng cố thêm hồ sơ tài liệu để giải quyết
vụ án Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc
đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án KSV phải nghiên cứu thật
kỹ hồ sơ để xác định các vấn đề có liên quan đến đối tượng khám xét (phạm vi, cấu trúc, các hướng ra vào, hệ thống bảo vệ), phạm vi các tài liệu, chứng cứ, đồ vật cần tìm kiếm khi khám xét, tìm hiểu đặc điểm nhân thân của các đối tượng liên quan đến việc khám xét để nhận định thủ đoạn, nơi có thể cất giấu tài liệu, đồ vật có liên quan
Trang 38đến vụ án và có phương án bảo đảm an toàn cuộc khám xét Một vấn quan trọng nữa
là cần quan tâm đến việc dự kiến một cách hết sức kỹ lưỡng và tính toán phương án thật cụ thể để xử lý các tình huống khó khăn, bất ngờ có thể xảy ra khi tiến hành khám xét, như các đối tượng chống đối lực lượng khám xét, nơi khám xét có lắp đặt hệ thống bảo vệ, đối tượng tiêu hủy tài liệu, chứng cứ hoặc bỏ trốn, để việc khám xét được nhanh chóng, an toàn, đạt hiệu quả
Trang 39Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1 Luận văn của tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Qua đó tác giả đã đưa ra được khái niệm, đặc điểm và
ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ của KSV trong giai đoạn truy tố Thêm vào
đó tác giả cũng đã trình bày nội dung và các nguyên tắc về hoạt động này mà KSV phải tuân thủ khi tiến hành Những nội dung được tác giả nghiên cứu, đánh giá trong Chương 1 đã gợi mở và làm tiền đề cho tác giả xây dựng và triển khai các nội dung tiếp theo tại Chương 2 của Luận văn, làm căn cứ để Luận văn khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn truy tố của KSV tại địa bàn quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội trong chương 2