1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu

107 14 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Tác giả Hồ Như Thủy
Người hướng dẫn Bùi Thị Tâm
Trường học Trường Đại Học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 732,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Lịch sử vấn đề (12)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (16)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.1. Những quan niệm về từ, từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian (19)
      • 1.1.1. Các quan niệm về từ (19)
      • 1.1.2. Các quan niêm khác nhau về từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian (0)
        • 1.1.2.1. Quan niệm của ông Diệp Quang Ban về từ chỉ thời gian ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 2) (0)
        • 1.1.2.2. Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 1) (23)
        • 1.1.2.3. Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt) (0)
        • 1.1.2.4. Quan niệm của tác giả Đào Thản ( trong cuốn Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật) (25)
        • 1.1.2.5. Quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh ( trong cuốn Tiếng việt hiện đại) (0)
    • 1.2. Thời gian và thời gian nghệ thuật (31)
      • 1.2.1 Khái niệm thời gian (0)
      • 1.2.2. Khái niệm từ chỉ thời gian nghệ thuật (0)
  • CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU (19)
    • 2.1. Những nét chính về cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu (36)
      • 2.1.1. Cuộc đời (36)
      • 2.1.2 Tác phẩm (37)
      • 2.2.1 Danh từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
      • 2.2.2 Phó từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
      • 2.2.3. Đại từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (0)
    • 2.3. Một số nhận xét về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió (60)
      • 2.3.1. Vị trí của từ chỉ thời gian (0)
      • 2.3.2. Từ chỉ thời gian đƣợc dùng với các biện pháp tu từ (0)
  • CHƯƠNG 3: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC DÙNG TỪ CHỈ THỜI GIAN (36)
    • 3.1. Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện khát khao giao cảm với đời (67)
      • 3.1.1. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện cái nhìn cuộc sống tươi đẹp (67)
      • 3.1.2. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha (71)
    • 3.2. Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu đôi lứa (77)
      • 3.2.1. Niềm khát khao mãnh liệt tình yêu đôi lứa (77)
      • 3.2.2. Tình yêu đôi lứa thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp (83)
    • 3.3. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn (86)
      • 3.3.1. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nhà thơ về nỗi buồn (86)
      • 3.3.2. Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn về sự tiếc nuối cho những phút giây yêu thương trôi qua quá ngắn ngủi (90)
  • KẾT LUẬN (93)

Nội dung

Cho nên, trong bài làm luận văn để tốt nghiệp người viết đã quyết định chọn đề tài " từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu” để tìm ra nhữ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN

KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ

THƠ THƠ, GỬI HƯƠNG CHO GIĨ CỦA NHÀ

THƠ XUÂN DIỆU

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Trong quá trình thực hiện khóa luận văn, người viết gặp không ít những khó khăn, vướng mắc Nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của Thầy, cô, bạn bè và bằng tất cả sự

cố gắng của bản thân mình, người viết đã vượt qua những khó khăn đó

Đặc biệt người viết xin chân thành ghi lại lòng biết ơn đến với cô Bùi Thị Tâm, với tư cách là một giảng viên, người cô, người hướng dẫn, cô đã tận tình giúp tôi tìm được hướng giải quyết, phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này Và người viết cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô, các anh chị em ở Thư viện Cần thơ, Trung tâm học liệu Cần thơ, Thư viện trường Đại học Võ Trường Toản đã cung cấp dữ liệu, thông tin cho người viết hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, Thầy cô, bạn bè đã luôn nhiệt tình ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Sinh viên thực hiện

Hồ Như Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Hồ Nhƣ Thủy

Trang 4

PHIẾU ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

(Giảng viên hướng dẫn)

-

1 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Bùi Thị Tâm

2 SINH VIÊN THỰC HIỆN: Hồ Như Thủy

MSSV: 0956010844……… KHÓA: II

3 TÊN ĐỀ TÀI: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 1 Đánh giá chung quá trình làm luận văn tốt nghiệp: 1.1 Chuyên cần:

1.2 Thái độ:

1.3 Khác:

2 Đánh giá luận văn: 2.1 Đặt vấn đề (theo 5 bước):

2.2 Nội dung chính:

Trang 5

2.3 Chú thích, thƣ mục:

2.4 Hình thức trình bày:

2.4.1 Dung lƣợng (trang):

2.4.2 Khuôn khổ:

2.4.3 In ấn:

2.4.4 Trình bày:

2.4.5 Chính tả, ngữ pháp:

3 Đánh giá, xếp loại:

Đánh giá:

Trang 6

Xếp loại:

………, ngày tháng năm 20

Giảng viên hướng dẫn (Kí và ghi rõ họ tên)

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn còn có 3 chương chính

Chương 1: Tìm hiểu một số vấn đề chung về từ chỉ thời gian Trong chương này

gồm có 2 nội dung chính:

- Thứ 1: Đưa ra các quan niệm về từ, từ chỉ thời gian của các nhà ngôn ngữ học Và

đưa ra các ý kiến phân loại về từ chỉ thời gian của một số tác giả Bên cạnh đó, người viết đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá

- Thứ 2: Tìm hiểu về thời gian và thời gian nghệ thuật Trong phần này, người viết

đưa ra các định nghĩa, cũng như các quan niệm khác nhau của các nhà thơ, nhà khoa học về thời gian và thời gian nghệ thuật

Chương 2: Khảo sát về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho

gió của nhà thơ Xuân Diệu Ở chương này người viết trình bày 3 nội dung chính:

- Thứ 1: Tìm hiểu sơ lược về cuộc đời của nhà thơ Xuân Diệu và đôi nét về nội

dung chính của hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió

- Thứ 2: Đi sâu và khảo sát lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu Ở đây người viết khảo sát và liệt kê tỉ lệ

phần trăm (%) các lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ

- Thứ 3: Đưa ra những nhận xét chung về các lớp từ chỉ thời gian trong Thơ thơ, Gửi hương cho gió

Chương 3: Giá trị của việc sử dụng từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi

hương cho gió Gồm có 3 nội dung chính:

- Thứ 1: Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện khát khao giao cảm với cuộc đời Qua

đó, thể hiện cái nhìn cuộc sống tươi đẹp và thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha

- Thứ 2: Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu đôi lứa Niềm say mê, khát

khao tình yêu đôi lứa mãnh liệt và tình yêu đôi lứa được thể hiện qua những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp

- Thứ 3: Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn Từ chỉ thời gian đã góp phần

thể hiện Xuân Diệu là nhà thơ về nỗi buồn, đồng thời thể hiện nỗi buồn về sự tiếc nuối cho những phút giây yêu thương qua đi quá ngắn ngủi

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN

9

1.1 Những quan niệm về từ, từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian 9

1.1.1 Các quan niệm về từ 9

1.1.2 Các quan niêm khác nhau về từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian 12

1.1.2.1.Quan niệm của ông Diệp Quang Ban về từ chỉ thời gian ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 2) 12

1.1.2.2 Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập 1) 13

1.1.2.3 Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên ( trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt) 15

1.1.2.4 Quan niệm của tác giả Đào Thản ( trong cuốn Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật) 15

1.1.2.5 Quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh ( trong cuốn Tiếng việt hiện đại) 17

1.2 Thời gian và thời gian nghệ thuật 21

1.2.1 Khái niệm thời gian 21

1.2.2 Khái niệm từ chỉ thời gian nghệ thuật 22

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU

26

2.1 Những nét chính về cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu 26

2.1.1 Cuộc đời 27

2.1.2 Tác phẩm 27

Trang 9

2.2 Khảo sát về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió

của nhà thơ Xuân Diệu 27

2.2.1 Danh từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió 29

2.2.2 Phó từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió 37

2.2.3 Đại từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió 44

2.3 Một số nhận xét về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió 50

2.3.1 Vị trí của từ chỉ thời gian 50

2.3.2 Từ chỉ thời gian được dùng với các biện pháp tu từ 53

CHƯƠNG 3: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC DÙNG TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ 57

3.1 Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện khát khao giao cảm với đời 57

3.1.1 Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện cái nhìn cuộc sống tươi đẹp 57

3.1.2 Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu thiên nhiên thiết tha 61

3.2 Sử dụng từ chỉ thời gian để thể hiện tình yêu đôi lứa 67

3.2.1 Niềm khát khao mãnh liệt tình yêu đôi lứa 67

3.2.2.Tình yêu đôi lứa thể hiện qua hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp 73

3.3 Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn 76

3.3.1 Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nhà thơ về nỗi buồn 76

3.3.2 Dùng từ chỉ thời gian để thể hiện nỗi buồn về sự tiếc nuối cho những phút giây yêu thương trôi qua quá ngắn ngủi 80

KẾT LUẬN

83

Trang 10

DANH MỤC BIỂU BẢNG

1

Bảng 1.1.2 Bảng phân loại từ chỉ thời gian

2 Bảng 2.2 Bảng thống kê tần số xuất hiện các lớp từ chỉ thời gian trong hai tập

thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió

3 Bảng 2.2.1.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ thời gian trong

tập thơ Thơ thơ

4 Bảng 2.2.2.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ thời gian trong

tập thơ Gửi hương cho gió

5 Bảng 2.2.2.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ thời gian trong

tập thơ Thơ thơ

6 Bảng 2.2.2.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ thời gian trong

tập Gửi hương cho gió

7 Bảng 2.2.3.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ thời gian trong

tập Thơ thơ

8 Bảng 2.2.3.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ thời gian trong

tập Gửi hương cho gió

Trang 11

MỞ ĐẤU

1 Lí do chọn đề tài

Xuân Diệu một nhà thơ lớn, nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại Trong phong trào thơ mới Việt Nam, cũng đã có rất nhiều các nhà thơ nỗi tiếng như: Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư….Và để lại rất nhiều thi phẩm tuyệt vời cho thế hệ sau này Tuy nhiên hãy nói đến nhà thơ Xuân Diệu Một nhà thơ góp phần không nhỏ cho sự thành công trong phong trào thơ mới Việt Nam ở những năm 1932-1945 Mang hồn thơ lãng

mạn, sâu lắng và được biết đến với hai tập thơ đầu tay là Thơ thơ và Gửi

hương cho gió Xuân Điệu đã thật sự để lại trong lòng người đọc những ấn

tượng thật sâu sắc

Thi phẩm thơ ông là một bản tình ca dài và đẹp Nó khẳng định cái tôi, khẳng định tình yêu của con người Đó là tâm hồn luôn biết trân trọng, yêu mến cuộc sống, biết sống tích cực với cuộc đời Nếu ai đó đã đôi lần đọc thơ Xuân Diệu thì chắc hẳn chưa quên được một tâm hồn Xuân Diệu luôn muốn sống vội, sống vàng cho kịp với thời gian Thơ ông làm chúng ta nhận thức rõ hơn về giá trị cuộc sống xung quanh, biết trân trọng mỗi giây, mỗi phút trôi qua nhanh chóng Thời gian là thứ có thể nhìn thấy được, cảm nhận được nhưng không thể nào nắm bắt được Chính vì thế thời gian đã trở thành nguồn cảm hứng vô biên cho các nhà thơ, nhà văn thỏa sức thả hồn mình theo nhịp đập của thời gian Tuy nhiên, nét độc đáo và điều riêng biệt

ở đây là mỗi nhà văn, nhà thơ lại có một cảm nhận rất khác nhau về thời

gian Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã nói " Ngày vui ngắn chẳng tày gang

" Hay Tản Đà cũng phải thốt lên rằng " Trăm năm là ngắn, một ngày dài

ghê.” Thời gian trong cảm nhận của mỗi nhà văn, nhà thơ nó đều được xuất

phát từ điểm nhìn nghệ thật khác nhau, và ở đây tôi muốn đến nhà thơ Xuân

Diệu Có thể nói đây là nhà thơ “dốc hết sức mình để đuổi kịp thời

gian”.Thời gian trong thơ ông là một phạm trù rất đặt biệt, thời gian đến

một rất tự nhiên nhưng nó không phải là ngẫu nhiên

“Xuân của đất trời nay mới đến

Trong tôi xuân đến đã lâu rồi

Trang 12

Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”

( Nguyên Đán – Thơ thơ)

Cũng như bao nhà thơ khác trong phong trào thơ mới, thì nhà thơ Xuân Diệu người viết cũng đã được tiếp xúc ở bậc THPT Tuy nhiên, sự tiếp xúc

ấy vẫn còn ở hình mức độ hạn hẹp trong hai tiết học, cho nên, thơ ông người viết vẫn chưa được tìm hiểu ở mức độ chuyên sâu.Thi phẩm được

biết qua là bài thơ Vội vàng cũng để lại trong lòng người viết những ấn

tượng thật đẹp về thơ ông Cho nên, trong bài làm luận văn để tốt nghiệp

người viết đã quyết định chọn đề tài " từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ

thơ và Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu” để tìm ra những nét hay

và đặc sắc của lớp từ chỉ thời gian đã được ông sử dụng Đồng thời, đây cũng là cơ hội cho người viết được tìm hiểu nhiều thêm về tác giả mà mình yêu thích

2 Lịch sử vấn đề

Khi nói về phong trào thơ mới không ai lại không nhớ đến Xuân Diệu Người ta nhớ đến ông bởi ông được xem là người dẫn đầu trong phong trào thơ mới trước và sau Cách mạng Tháng 8 Rất thành công trên con đường nghệ thuật, vì vậy thơ ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc Cho nên khi nghiên cứu về Xuân Diệu cũng như công trình thơ của ông thì các nhà phê bình đã đưa ra rất nhiều ý kiến hay và độc đáo

Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh-Hoài Chân đã viết “ Bởi Xuân

Diệu đã gửi trong thơ của người lẫn với một chút hương xưa của đất nước, bao nhiêu nỗi niềm riêng của thanh niên bây giờ - Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới bây giờ - nên chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà thích thì phải mê Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà tiếng khen chê vẫn chưa ngớt người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời.” [18,

tr96 ] Ta thấy ở ý kiến trên tác giả đã đánh giá về vấn đề “ khen, chê” trong

thơ Xuân Diệu “người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời

Trang 13

* Cũng trong quyển trên tác giả Hoài Thanh- Hoài Chân đã nhận xét về

nội dung thơ trong những tác phẩm thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng Tháng Tám như sau: “ Nhưng thơ Xuân Diệu không những diễn đạt đựơc cái tinh

thần cố hữu của nòi giống Vả chăng tinh thần của nòi giống có cần gì phải bất di dịch Sao lại bắt ngày mai phải giống hệt ngày hôm qua? Nêu

ra một mớ tính tình, tư tưởng, tục lệ, rồi bảo: người Việt Nam phải như thế,

là một điều tối vô lí… Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống cuốn quýt, muồn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình…”

[18,tr93 ] Từ hai ý kiến trên, người viết nhận thấy các nhà phê bình đã đánh giá rất cao về Xuân Diệu, đã khẳng định vị trí quan trọng của ông trong văn học, cũng như khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật trong thơ ông Đặc biệt người viết nhận thấy ở bài viết thứ hai, các nhà phê bình đã nhận ra thời gian đối với Xuân Diệu là vô cùng quan trọng Lời nhận xét của hai nhà phê bình cũng như một lần nữa khẳng định giá trị nội dung tư tưởng nghệ thuật mới mẽ trong thơ ông Tuy nhiên, họ chưa chỉ ra được cái hay và nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu

* Trong cuốn Đến với thơ Xuân Diệu do Ngô Viết Dinh tuyển chọn [5] có

tổng hợp một số bài viết tiêu biểu như sau:

-Bài Xuân Diệu của tác giả Hoài Thanh đã viết “ ngay lời văn Xuân Diệu

cũng có vẻ chơi vơi Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Việt Câu văn tuồng bỡ ngỡ Nhưng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn, ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay.” [5 ,tr25] Ý kiến trên đã nói về việc dùng từ của Xuân Diệu

trong thơ, nhưng đây là cách nói rất chung chung, chưa chỉ ra một cách cụ thể và vẫn còn ở mức độ khái quát khi đánh giá về giá trị nghệ thuật của thơ ông

- Nguyễn Quốc Túy có bài viết Xuân Diệu nhà thơ mới trữ tình cảm xúc,

tràn đầy cảm giác và luôn “ thức nhọn giác quan” khi nói về nghệ thuật

thơ có đoạn viết “ về ngôn ngữ thơ, nét riêng này của thơ mới Xuân Diệu

được thể hiện ở chổ, nhà thơ dùng rất nhiều lần các từ biểu hiện cảm xúc,

Trang 14

cảm giác như: run, rợn, nức ” [ 5; tr65] Ý kiến đã đưa đến cho người đọc

cam nhận về việc dùng từ trong thơ Xuân Diệu, đó là những từ chỉ cảm xúc, cảm giác…., người viết vẫn chưa nhận thấy người nghiên cứu đánh giá về việc dùng từ chỉ tời gian

- Hay trong bài Xuân Diệu nỗi ám ảnh về thời gian của Đỗ Lai Thúy có đưa

ra ý kiến sau “ thơ Xuân Diệu là một thế giới rộng mở, đa thanh Trong

bản giao hưởng âm thanh này nỗi lên những giai âm như Mùa thu: Sự nhận thức thời gian; Vội vàng: một ứng xử với thời gian; Gửi hương cho gió: tình yêu như là một chiến thắng thời gian; và sau cùng Thơ thơ: nghệ thuật như là sự vĩnh cửu hóa của thời gian Trong từng bày thơ, từng giai đoạn thơ, những âm giai này thay nhau nỗi lên làm chủ âm khiến cho toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu vừa phong phú, đa dạng, vừa xuyên suốt, nhất quán,” [5 , tr109] Tác giả đã nói lên được ý niệm thời gian trong thơ Xuân

Diệu một cách chung nhất, điều này cho người viết có một góc nhìn đầy đủ hơn để đi đến lí giải nỗi ám ảnh về thời gian trong thơ Xuân Diệu Tuy nhiên, đây vẫn là thời gian cá nhân, thời gian được nhìn ở góc độ chung, chưa được nhìn ở góc độ nghệ thuật, riêng biệt chuyên sâu.Vì thế, vấn đề người viêt nhiên cứu được coi là vấn đề mới mẽ có tính chuyên biệt

- Trong Xuân Diệu một đời người, một đời thơ của tác giả Lê Tiến Dũng đã viết“ Hình như trong sâu thẳm của nỗi khát khao được sống, được giao

cảm ở Xuân Diệu vẫn ẩn chứa một nỗi lo âu Ông nhận ra được cái giới hạn của con người, giới hạn tưởng như vô phương vượt qua, cứ lặp đi lặp lại trong thơ ông như một nỗi ám ảnh Đó chính là giới hạn về thời gian Ông nhận ra rằng con người ta không vượt qua được cái giới hạn về này, Cái cảm xúc về một “ thời gian không đứng đợi” về một “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” khiến cho Xuân Diệu hốt hoảng” [4 , tr71] Ông cũng đã chú

ý nhiều về việc dùng từ chỉ thời gian, nhưng cái nhìn của ông lại đặt trong mối tương quan chung với những vấn đề khác Vì vậy, từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu vẫn chưa được nhìn nhận ở góc độ riêng biệt

* Hay trong Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám năm 1945 ( Thơ

thơ và Gửi hương cho gió, của tác giả Lý Hoài Thu khi nói về thời gian

Trang 15

nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu đã viết “ Xuyên suốt trong hai tập Thơ thơ

và Gửi hương cho gió, thời gian là người điểm nhịp, là chất “ xúc tác” tạo nên độ nồng nàn đắm đuối riêng mà chỉ người thật sự lưu luyến, nuối tiếc đến từng giọt thời gian như Xuân Diệu mới có được.” [20, tr 92] “ Có thể chẳng có gì mới khi Xuân Diệu ví quy luật vận động của thời gian đời người từ trẻ đến già, từ vui sang buồn như quy luật tự nhiên từ xuân sang đông, từ ngày sang đêm Có khác chăng là ở Xuân Diệu, sự vận động của thời gian được cảm hóa một cách tài tình Cùng với hệ thống quan điểm và phương thức chiếm lĩnh thời gian nghệ thuật, khả năng “ biểu diễn” những bước chuyển động của thời gian qua cảm xúc đặc biệt là cảm giác đã góp phần bổ sung và hoàn thiện một hình tượng thời gian độc đáo và đa dạng trong thơ Xuân Diệu qua hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió.” Hoặc

khi nhận xét về ngôn từ trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió Lý Hoài Thu cũng đã viết “ Thế giới ngôn từ của Thơ thơ và Gửi hương cho

gió là một thế giới ngôn ngữ trữ tình, chan chứa cảm xúc và có rất nhiều mới lạ.” [20, tr124] “ Trong làng sóng tìm tòi đó của thơ lãng mạn, Xuân Diệu nỗi lên như một nghệ sĩ ngôn từ tài ba, bằng “ phép luyện kim đơn” ( Xuân Diệu) của ngôn ngữ, ông đã tạo ra trong thơ mình một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính sáng tạo về hình ảnh , nhịp điệu, về hình thức tổ chức câu thơ cùng lời lẽ, cách nói năng mà đa phần mà trước đó chưa hề thấy ở trong truyền thống.” [20, tr124].Từ hai ý kiến trên người viết nhận thấy

thời gian trong thơ Xuân Diệu được chú ý một cách nghiêm túc, được nhìn nhận và đánh giá một cách đầy đủ hơn Đây cũng là điều kiện tạo nền tản cho người viết có được sự kế thừa thuận lợi trong việc nghiên cứu về từ chỉ thời gian trong bài nghiên cứu của mình

* Trong Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn

có trích bài viết Nhà thơ Xuân Diệu của tác giả Phạm Tiến Duật có đoạn

ông đã viêt“ Trong ngôn ngữ của anh, khi cởi mở, khi cay nghiệt, lúc tỉnh

táo, lúc say mê, luôn luôn đập một trái tim trung thực, luôn luôn hồi hộp một nỗi niềm khám phá Tất cả sự lớn lao của Xuân Diệu bắt đầu từ cái lẽ giản dị sâu sắc ấy.” [12,tr135]

Trang 16

* Qua tất cả những công trình nghiên cứu mà người viết khảo sát, thì đây là những bài viết rất đặc sắc, mở ra một cái nhìn rộng lớn về sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu Tuy nhiên, bên cạnh những vấn đề chung, những vấn

đề lớn được các nhà nghiên cứu đề cập đến như: Nội dung, hồn thơ Xuân Diệu, tư tưởng nghệ thuật , đặc biệt công trình nghiên cứu của của Lý Hoài Thu đã chạm đến rất nhiều khía cạnh nỗi bật trong thơ ông về nghệ thuật thời gian về ngôn từ và còn rất nhiều vấn đề lớn khác cũng được tìm hiểu nghiên cứu Chúng tôi thấy cũng không ít những bài viết rất hay về phong cách thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu như bài viết của bà Đỗ Lai Thúy, Lê Tiến Dũng…Nhưng cũng giống như các công trình nghiên cứu khác, từ chỉ thời gian cũng chưa được tìm hiểu một cách có hệ thống Người viết nhận thấy, còn có rất nhiều những vấn đề khác chưa được tìm hiểu một cách sâu sắc mà trong đó có từ chỉ thời gian Chính vì vậy vấn đề người viết đang nghiên cứu là vấn đề mang tính mới mẽ, chuyên sâu Vấn

đề này được nhìn nhận và đánh giá trong cách nhìn về mặt nghệ thuât Từ

đó, góp phần tìm ra những giá trị nỗi bậc trong việc dùng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diêu trước Cách mạng Tháng 8

3 Mục đích nghiên cứu

- Khi bước vào nghiên cứu đề tài “ Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ

Thơ thơ và Gửi hương cho gió” là người viết muốn tìm hiều sâu sắc và cặn

kẽ hơn nhưng nét độc đáo mới lạ trong vấn đề sử dụng từ chỉ thời gian nghệ thuật được Xuân Diệu thể hiện trong thơ

- Đề tài này giúp tôi khăng định giá trị cao hơn, mới mẽ, độc đáo hơn về từ chỉ thời gian được sử dụng trong thơ Xuân Diệu

- Bên cạnh đó, khi khảo sát về đề tài này chúng tôi có dịp tiếp xúc nhiều hơn với thơ ca Việt Nam hiện đại đặc biệt là nhà thơ Xuân Diệu và tác phẩm của ông, từ đó có cái nhìn toàn diện, đầy đủ những đóng góp của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại

- Được vận dụng kiến thức đã học của mình vào vấn đề cụ thể Có sự đánh giá đúng đắn về giá trị của việc sử dụng từ ngữ, đặc biệt là lớp từ chỉ

Trang 17

thời gian trong nghệ thuật thơ Xuân Diệu Từ đó, hiểu được tài năng của nhà thơ Xuân Diệu

- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của người viết, người viết hi vọng đây không chỉ là luận văn tốt nghiệp mà còn là sự đóng góp của mình trong việc nhìn nhận và đánh giá về nhà thơ lớn Xuân Diệu

4 Phạm vi nghiên cứu

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam Ông

đã để lại cho nền thơ ca Việt nam rất nhiều những thi phẩm có giá trị, nó không chỉ mang giá trị nội dung mà còn mang giá trị nghệ thuật đặc sắc Cho nên, khi nghiên cứu về thơ ông thì có rất nhiều vấn đề đáng để người

viết nghiên cứu quan tâm Nhưng ở đề tài này, trong hai tập thơ “ Thơ thơ,

Gửi hương cho gió” người viết chỉ đi sâu vào lớp từ chỉ thời gian Ở lớp từ

này người viết nhìn nhận và đánh giá về nét độc đáo, cái hay và hiệu quả của cách sử dụng lớp từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

Phạm trù thời gian trong thơ Xuân Diệu rất rộng lớn, thời gian đã trở thành càm hứng nghệ thuật vô biên trong tất cả các sáng tác của ông dù là thơ ông ở thời điểm trước hay sau Cách Mạng Tháng Tám.Vì thế trong đề tài này người viết chỉ nghiên cứu trong phạm vi " Từ chỉ thời gian trong hai

tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió " Để làm nổi bật lên nét riêng và độc

đáo trong việc sử dụng từ chỉ thời gian nghệ thuật Bên cạnh đó trong quá trình khảo sát về đề tài người viết xin đưa ra những ý kiến phân tích, chứng minh, lí giải về từ chì thời gian để có cái nhìn toàn diện, đầy đủ nhằm làm nỗi bật giá trị đề tài mà người viết nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình đi sâu vào khảo sat để hoàn thành tốt công trình nghiên cứu về đề tài này chúng tôi đã tiến hành sử dụng các phương pháp như sau:

- Phương pháp tổng hợp: Người viết sử dụng phương pháp này để tập

hợp, hệ thống hóa, khái quát quá cho các tài liệu có liên quan đến đề tài Giúp cho người viết có được cái nhìn toàn diện để thấy được vấn đề mình đang nghiên cứu, từ đó có sự tiếp thu kế thừa và phát huy

Trang 18

- Phương pháp hệ thống, thống kê và phân loại: Đây là phương pháp

giúp người viết nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khoa hoc, chính xác, giúp người viết có thể hệ thống các từ chỉ thời gian Thống kê được mức độ

sử dụng nhiều hoặc ít và từ đó có sự lí giải một cách khoa học về nguyên nhân, mục đích của tác giả khi sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Để so sánh trong việc sử dụng các

lớp từ chỉ thời gian, dặc biệt là giữa hai tập thơ ( một số bài thơ khác) Khi

so sánh, người viết thấy được nét riêng, độc đáo trong việc sử dụng lớp từ chỉ thời gian của nhà thơ Xuân Diệu Từ đó, người viết đúc kết được phong cách nghệ thuật riêng của nhà thơ

- Phương pháp phân tích miêu tả: Phương pháp này người viết đánh

giá, phân tích nét hay trong việc sử dụng lớp từ chỉ thời gian

- Bên cạnh đó, để có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu người viết đã tổng hợp, xen kẽ, hệ thống phương pháp và sử dụng một cách hợp lí, hệ thống và có logic

Trang 19

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN

1.1 Những quan niệm về từ, từ chỉ thời gian và phân loại từ chỉ thời gian

1.1.1 Các quan niệm về từ

Khi nói về từ, thì cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều quan niệm khác nhau định nghĩa về từ Và nhìn chung vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất về từ Tuy nhiên cũng đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đưa ra các quan niệm của mình về từ một cách hệ thống và chung nhất Trong bài luận văn tốt nghiêp này để hiểu rõ hơn về từ cũng như lớp từ chỉ thời gian người viết đưa ra các quan niệm về từ của một số nhà ngôn ngữ học mà người viết đã từng được học và tiếp xúc trong thời gian vừa qua Với những quan niệm về từ cũng đã từng được biết đến trong quá trình học, thì người viết hy vọng đó sẽ là những tiền đề cơ bản để người viết thuận lợi hơn

trong việc tìm hiểu về lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “ Thơ thơ, Gửi

hương cho gió”của nhà thơ Xuân Diệu.Và sau đây người viết nêu ra các

quan niệm về từ của một số nhà ngôn ngữ học như sau:

Trước hết lấy theo ý kiến của tác giả Nguyễn văn Tư trong cuốn Bài

giảng môn ngữ pháp tiếng việt “ Từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố đinh bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhât định, lớn nhất trong tiếng việt và nhỏ nhât để tạo câu”.[24; tr5] Ý kiến này của tác

giả Nguyễn Văn Tư dựa theo ý kiến của tác giả Đỗ Hữu Châu trong quyển

Từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt, ông cho rằng rằng “ Từ đó là những đơn vị

mà với chúng, ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp và tư duy thông qua thao tác kêt hợp chúng với nhau Những đơn vị như vậy là từ”[3 ; tr5]

Qua hai quan niệm về từ trên, người viết nhận thấy ở cả hai quan niệm điều đưa ra định nghĩa về từ một cách đầy đủ và chung nhất Tuy nhiên, ở hai quan niệm trên từ được hiểu ở mức độ bao quát và khá trừu tượng, chưa được làm rõ trong những khía cạnh nhỏ hơn, cụ thể và dể hiểu hơn

Trang 20

Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, bà đã đưa ra hai khuynh hướng chung về từ tiếng việt, đó là Từ tiếng việt trùng với âm tiết theo các nhà ngôn ngữ học như M B.Emeneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp…và quan niệm thứ hai là từ tiếng việt không hoàn toàn trùng với âm tiết

Trong cuốn Từ vựng học tiếng việt của Nguyễn Thị Thu Thủy tác giả cho rằng “ Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, nó mang tính sẵn

có, cố định, bắt buộc, nhỏ nhất trực tiếp để tạo câu”[21;tr6] Đồng thời

với định nghĩa về từ nêu trên thì tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đồng quan điểm với các tác giả thuộc nhóm hai là Từ tiếng việt không hoàn toàn trùng với âm tiết của các nhà ngôn ngữ học sau:

Ông Nguyễn Văn Tu quan niệm rằng “ Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc

lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh và hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử.[23;tr20]

Tác giả Nguyễn Kim Thản cũng chó rằng “ Từ là đơn vị cơ bản của

ngôn ngữ, có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận vụng và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ngữ nghĩa ( từ vựng, ngữ pháp ) và chức năng ngữ pháp.[17;tr14]

Hồ Lê quan niệm “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi

liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khẳ năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa”[10;tr 147]

Tác giả Đái Xuân Ninh quan niệm “ Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc

ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh” [13; tr24]

Tác giả Lưu Vân Lăng quan niệm “ …Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ

nhất mới là từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cách khác, từ

là ngữ đoạn( tĩnh)nhỏ nhất”[9; tr213] “Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự

do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng việt”[9; tr214 ]

Trang 21

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng “Từ của tiếng việt là một hoặc một số

âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, và nhỏ nhất nằm trong một phương thức( hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”.[3;tr14 ]

Qua các ý kiến của các tác giả thuộc nhóm 2 ở trên, người viết nhận thấy các quan niệm về từ của các tác giả khá thống nhất với nhau, đầy đủ và

rõ ràng dể hiểu.Người viết nhận thấy quan niệm của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy cũng đã khái quát lên được tất cả điều đó Đây cũng là tiền đề rất quan trọng làm cơ sở cho người viết nghiên cứu về đề tài lớp từ chỉ thời

gian trong hai tập thơ “ Thơ thơ, Gửi hương cho gió”của nhà thơ Xuân

Diệu ở những chương tiếp theo

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt thì bà lại định nghĩa về từ như sau “ Từ là đơn vị cơ bản, là đơn vị cốt lõi để tạo nên

những đợn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản Từ là đơn vị hêt sức quan trọng, giống như viên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ Vì vậy từ

là đối tượng nghiên cứu, khảo sát của cả 4 phân ngành: ngữ âm ( mặt âm thanh của từ), từ vựng ( mặt ý ngĩa của từ), ngữ pháp ( mặt kết hợp của từ),

và phong cách ( nghệ thuật sử dụng từ).”[11;tr17].Với định nghĩa nêu trên,

cho người viết thấy được tầm quan trọng của từ trong tiếng việt Từ được xem như một tiền đề vô cùng quan trọng để hình thành nên khối ngôn ngữ tiếng việt hoàn chỉnh Đồng thời tác giả còn cho người viết thấy rằng từ là một đối tượng nghiên cứu rất rộng rãi trên nhiều mặt, và nêu cao giá trị sử

dụng của từ

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt tập 1, của hai tác giả Diệp Quang Ban

và ông Hoàng Văn Thung, khi xét từ ở phương diện ngữ pháp hai ông có

định nghĩa về từ như sau “ Từ là đơn vị nhỏ nhất mà có nghĩa và có thể

hoạt động tự do( trong câu) Từ có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:

từ phía ngữ âm học, từ phía ngữ nghĩa, từ phía ngữ pháp học, từ phía cách

sử dụng v.v…”[2;tr38] Qua định nghĩa trên người viết nhận thấy từ đã

được nhìn nhận ở một phương diện mới mẻ và đầy đủ hơn, từ nhiều góc độ

Trang 22

của Từ cho người viết thêm có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về từ

trong tiếng Việt

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt tập 2 của tác giả Diệp Quang Ban ông lại có định nghĩa về từ như sau: “ Từ là đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ Từ

có thể xem xét về phương diện nghĩa từ vựng mà cũng có thể xem xét về phương diện ngữ pháp Về từ vựng – ngữ nghĩa, từ được nghiên cứu với cac thuật ngữ như nghĩa của từ, cấu trúc nghĩa của từ, trường nghĩa từ vựng, cũng như các hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, v.v… Về mặt ngữ pháp, từ được nghiên cứu ở cách cấu tạo từ, và ở việc phân biệt từ thành những lớp ngữ khác nhau, gọi là từ loại”[1;tr11] Tác giả Diệp

Quang Ban như một lần nữa khẳng định vị trí của từ trong tiếng việt “ Từ là

đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ” từ cũng có thể xét trên nhiều phương diện

sử dụng khác nhau, và đồng thời từ cũng được nghiên cứu với nhiều thuật ngữ và các hiện tượng khác nhau của từ Bên cạnh đó tác giả còn cho người

viết thấy rằng từ còn được phân chia ở nhiều từ loại khác nhau

Tóm lại, qua tất cả những quan niệm về từ của các tác giả vừa tìm hiểu ở trên, đã cho người viết có cái nhìn toàn diện, đầy đủ và mới mẽ hơn

về từ trong tiếng việt Đó cũng chính là cơ sở khoa học rất cần thiết và quan

trọng khi người viết khảo sát về lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “ Thơ

thơ, Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân Diệu

1.1.2 Các quan niệm khác nhau về từ chỉ thời gian và cách phân loại

từ chỉ thời gian

1.1.2.1 Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban về từ chỉ thời gian

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt tập 2 Theo tác giả Diệp Quang Ban

phân loại từ chỉ thời gian gồm có hai loại : Danh từ chỉ thời gian và Phụ từ chỉ thời gian như sau:

rằng “ Từ đó là những đơn vị mà với chúng, ngôn ngữ thực hiện chức năng

giao tiếp và tư duy thông qua thao tác kêt hợp chúng với nhau Những đơn

vị như vậy là từ”[1 ; tr5]

 Danh từ chỉ đơn vị thời gian: Danh từ chỉ đơn vị thời gian bao gồm những danh từ chỉ đơn vị thời gian xác định và danh từ chỉ thời gian không

Trang 23

xác định: thiên niên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm tháng, tuần, ngày, giờ, phút,

giây….Dạo ,khi, hồi, lúc, chốc, hôm, vụ , mùa,…

“Với bàn tay ấy ở trong tay

Tôi đã nguôi quên hận tháng ngày”

( Với bàn tay ấy- Thơ thơ)

“ Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

Vội vàng chi, trăng sáng quà khách ơi”

( Lời kỹ nữ- Gửi hương cho gió) Trong số ngững danh từ chỉ thời gian không xác định, có những từ thường xuất hiện trực tiếp sau tố từ, số đếm xác định Những từ này thường chỉ đứng sau : những, một ( với ý nghĩa phiếm định) và một đôi ( phiếm

định), nhưng tuyệt đại đa số đứng trước được các từ chỉ định ấy, nọ, này

[1; tr30]

 Phụ từ chỉ thời gian: Nhóm phụ từ chỉ cách thúc diễn ra trong thời gian của hoạt động, trạng thái gồm có:

Chỉ tính chất cấp thời: ngay, liền, tức khắc, tức thì,…

Chỉ tính chất không cấp thời như :nữa, hoài, luôn, mãi

“ Tôi chỉ sống để hoài hoài tưởng nhớ

Mãi mãi yêu, nhưng dấu diếm luôn luôn”

( Dối trá – Thơ thơ)

1.1.2.2 Quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung về từ chỉ thời gian

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt 1, hai tác giả Diệp Quang Ban và

Hoàng Văn Thung lại chia từ chỉ thời gian thành 4 loại: Danh từ chỉ thời gian, động từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian

Danh từ chỉ ý nghĩa sự vật thời gian gồm: hồi, dạo, vụ, mùa, lúc,

chốc,…

“ Có nhiều lúc gió kêu thê thiết quá

Như gió đau một nỗi khổ vô hình”

( Tiếng gió – Thơ thơ)

“ Mau đi thôi! Mùa chưa ngã chiều hôm”

( Vội vàng – Thơ thơ)

Trang 24

Động từ chỉ quan hệ thời gian: bắt đầu, kết thúc, tiếp tục, thôi, hết

Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm,

Với sương lá rụng trên đầu gần gũi

Thôi đã hết hờn ghen và giận tủi

( Được giận hờn nhau sug sướng biết bao nhiêu!)

( Tương tư chiều – Thơ thơ)

“ Quá thực thà nên hóa dạy khờ,

Bắt đầu người - chỉ - biết – yêu lo”

( Giới thiệu – Thơ thơ)

 Đại từ chỉ thời gian: gồm có đại từ xác định chỉ thời gian và đại từ phiếm chỉ thời gian

- Đại từ xác định chỉ thời gian: Bây giờ, giờ, bấy giờ, bấy,

“ Cứ như thế cho đến giờ đen tối

Họa ái tình chung phận đóa hồng khô”

( Dối trá – Thơ thơ)

- Đại từ phím chỉ thời gian: Bao giờ, bao lâu

“ Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm

Đôi tay yêu không được nắm bao giờ ”

( Tình thứ nhất – Gửi hương cho gió)

 Hư từ chỉ thời gian gồm có: phó từ và kết từ

- Phó từ chỉ thời gian: là những từ biểu thị về thời gian chuyên đi kèm

danh từ, động từ, tính từ trong các cụm từ chính phụ ví dụ như: đã, đang,

từng, sẽ, vẫn…

“ Tình yêu bảo: “ thôi các ngươi đừng khóc

Các ngươi sẽ đoàn viên trong mộng ngọc.”

Cứ nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau

Hạnh phúc ngừng giữa đôi trái tim đau”

( Biệt ly êm ái – Thơ thơ)

- Kết từ chỉ thời gian: Đến, tới, cho đến, cho tới,…

“ Xuân của đất trời nay mới đến Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi”

Trang 25

( Nguyên đáng – Thơ thơ)

1.1.2.3 Quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên về từ chỉ thời gian

Theo bà Đỗ Thị Kim Liên, từ chỉ thời gian gồm có 3 loại: Danh từ

chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian

Danh từ chỉ thời gian: hôm, ngày, bữa, năm, thời giờ, lúc, thế kỷ, thời gian,

tháng,

 Đại từ chỉ thời gian gồm có:

+ Đại từ nghi vấn thời gian: bao giờ, bao lâu,bấy giờ

Ví dụ: “ Sự thật ngày nay không thật đến ngày mai

Thì ân ái có bao giờ lại cũ”

( Phải nói – Thơ thơ)

+ Đại từ thay thế chỉ ý nghĩa thời gian: bao lâu, bấy lâu, bao giờ, bấy

giờ, đến đâu, đến đó…

“ Chưa đi mà đã cách xa nhau

Lúc biệt ly rồi xa đến đâu”

( Muộn màng – Thơ thơ)

Phó từ chỉ thời gian của hành động: đã, đang, sắp ,sẽ, vừa, mới

,bỗng, còn,…

“ Trăng vú mộng đã muôn đời thi sĩ

Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy”

( Ca tụng – Thơ thơ)

“ Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ

Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ”

( Tương tư chiều –Thơ thơ)

1.1.2.4 Quan niệm của tác giả Đào Thản trong cuốn từ ngôn ngữ

chung đến ngôn ngữ nghệ thuật

Trong cuốn này tác giả chia từ chỉ thời gian gồm hai loại: Danh từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian

Danh từ chỉ thời gian gồm những từ như: khi, lúc, này, chốc, lát,

năm, tháng, giây phút, giây lát… [16; tr48]

“ Và mưa kia là nước mắt gió rơi

Trang 26

Và sương ấy là mồ hôi gió rớt

Trong lúc vội vàng, trên cành thưa thớt”

(Tiếng gió – Thơ thơ)

- Lúc và khi như vậy chỉ đồng nhất với nhau khi dùng chung một thời

điểm Nhưng cùng biểu thị thời điểm lúc nào chúng cũng được dùng như nhau

+ Khi thường dùng thích hợp hơn để chỉ điểm xảy ra trong sự việc, thời

điểm của một hoạt động hoặc quá trình: khi làm lụng, khi nghỉ ngơi, khi suy

nghĩ, khi ăn, khi nói

“ Ta gửi trời ta giữa mắt nào

Ở gần má lửa, cạnh mây dao…

Khi ta trở lại trời đâu vắng

Lạnh lẽo mây xanh phản má đào”

(Gửi trời – Thơ thơ)

+ Lúc thì thích hợp nhất với việc biểu thị thời điểm được chỉ định bằng mốc

thời gian cụ thể trong ngày như: lúc tinh mơ, lúc ban ngày, lúc năm giờ, lúc

xế trưa, lúc chiều, lúc đêm hôm khuya khoắt… mà ít nói “ khi tinh mơ”,

“khi ban ngày” [16; tr48]

- Chốc và lát đều là danh từ biểu thị một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng thời gian này có tính chất ước chừng, không chính xác

“ Đợi tôi một lát, tôi quay lại ngay.”

“ Bảo đi một chốc thế mà đi nửa tiếng vẫn không về” [16, tr63]

- Giây và phút là những từ chỉ dơn vị thời gian ngắn có lượng thời

gian xác định, có thể đo đếm được

Ôi ngắn ngủi là những giờ hợp mặt!

Ôi vội vàng là những phút trao yêu!

Vừa nắng mai sao lại đến sương chiều?

Em hờ hững, để cho lòng anh lạnh.”

( Kỷ niệm – Gửi hương cho gió)

- Giây lát, đó chỉ là khoảng thời gian rất ngắn trong một giây lát

“Gặp nhau giây lát rồi chia tay”

“Việc này đâu phải làm trong giây lát là xong”

Trang 27

- Giây phút thì vừa có thể ở thời đoạn, lại vừa có thể dung ở thời

điểm

Ví dụ: “ Chần chừ giây phút, giây phút chạnh lòng” [16; tr65]

 Phó từ chỉ thời gian

Phó từ chỉ thời gian gồm những từ ngữ sau: sẽ, sắp, mãi…

- Sẽ và sắp là hai phó từ thường dùng với động từ để biểu thị thời

gian tương lai

“ Họ sẽ ôm em với cánh tay

Và em yêu họ đến muôn ngày Thôi rồi! em chẳng thờ ơ nữa Như đối cùng ta tụ bấy giờ”

( Bên ấy bên này – Thơ thơ)

- Mãi là một phó từ thường được dùng để biểu thị sự kéo dài của thời

gian của một hoạt động, một quá trình:

“ Mấy thu công chúa mãi không chồng,

Ngày tháng rơi xuân sang rụng đông!

Khóc dấu không hay đêm cạn hết, Tình xương trông lệ: gối ra hồng

( Kẻ đi đày – Gửi hương cho gió)

1.1.1.5 Quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh

Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh từ chỉ thời gian gồm có 3 loại: Danh từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian cụ thể như sau:

 Danh từ chỉ thời gian: Danh từ chỉ thời gian là biểu thị các khái niệm

về thời gian Các danh từ chỉ thời gian thường dung là: ngày, hôm, tuần

tháng, năm, thời, thời kỳ, đời, sáng trưa, chiều, tối, đêm, buổi, sáng, ban sáng, buổi trưa, ban trưa, buổi tối, ban đêm, ban ngày, khi, hồi, lúc, dạo….Danh từ chỉ thời gian cũng như danh từ khác, cũng có thể kết hợp với

các danh từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, đó và hai từ chỉ định chuyên dung kết hợp với các danh từ chỉ thời gian: nay, nãy

ngày này, ngay nay, ngày kia, ngày đó, ngày ấy

Hôm nay, hôm kia, hôm nọ, hôm đó, hôm ấy

Trang 28

“ Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”

( Chiều – Thơ thơ)

- Các danh từ thời gian kết hợp với nay: ngày, bữa, năm, tháng, một

đời, ba đời, một thời, một tối, năm đêm, vài buổi, dăm bữa…

- Các danh từ thời gian kết hợp với nãy: hồi, khi, lúc, ban

- Các danh từ chỉ thời gian có thể kết hợp với các số từ như: một

ngày, hai ngày, một đời, một thời, một tối, năm đêm, vài buổi, dăm bữa

- Các tổ hợp: một lúc, một hồi, một dạo, đôi khi, đôi hồi, là những cụm

tù cố định, biểu thị ý nghĩa một khoảng thời gian ngắn hoặc thời gian bị ngắt quãng.[ 14; tr136]

 Đại từ chỉ thời gian gồm có các loại:

- Đại từ chỉ định thời gian: nay, này, giờ, bây giờ, bấy giờ…

“ Mây trắng ngang hang tự thuở xưa, Bao giờ viễn vọng đến bây giờ Sao vàng lẻ một trăng riêng chiếc;

Đêm ngọc tê ngời men với tơ ”

( Buồn thơ – Thơ thơ)

- Đại từ để hỏi vị trí và thời gian: đâu, nào, bây giờ, bao giờ

“ Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất!

Chẳng bao giơ ngăn được gót thanh niên”

( Đêm thứ nhất - Gửi hương cho gió)

 Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa thời gian: Thường đi kèm với động từ,

tính từ: đang, vừa, mới, sẽ Trong đó:

- Đang thường chỉ thời gian hiện tại

“ Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,

Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời,

Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm

Em ! Xích lại! và đưa tay anh nắm!”

( Tương tư chiều – Thơ thơ )

- Đôi khi đang trực tiếp đứng trước danh từ như: lúc, khi, mùa, độ,

tuổi…

Trang 29

đang mùa lúa chín, đang độ tuổi xuân thì…

+ Thường biểu thị ý nghĩa quá khứ:

“ Với bàn tay ấy ở trong tay

Tôi đã nguôi quên hận tháng ngày”

( Với bàn tay ấy – Thơ thơ)

- Đã có khi trực tiếp đi kèm danh từ

“ Ở đã chín năm rồi đấy nhỉ” ( Tố Hữu )

- Vừa, mới chỉ thời gian vừa mới xảy ra:

“ Tình thổi gió màu yêu lên phấp phới

Nhưng đôi ngày tình mới đã thành xưa”

( Giục giã – Gửi hương cho gió)

- Sẽ chỉ thời gian tương lai:

“ Tuy thế bài thơ sẽ dở dang

Vì lời không đủ vẻ huy hoàng;

Cho điệu lòng anh thêm ấm diệu Nhịp thiếu êm êm, tiếng thiếu vang”

( Có những bài thơ – Thơ thơ)

Sau khi tìm hiểu qua các quan niệm về từ và cách phân loại về từ chỉ thời gian của một số nhà ngôn ngữ học, người viết nhận thấy có những điểm cần chú ý như sau: nhìn chung các nhà ngôn ngữ học điều trình bày về

từ và cách phân loại về từ chỉ thời gian một cách đầy đủ, hệ thống và rõ ràng Tuy nhiên, bên cạnh đó người viết cũng nhận thấy rằng vấn đề phân loại về từ chỉ thời gian giữa các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa được thống nhất

Đầu tiên là quan niệm của tác giả Diệp Quang Ban về cách phân loại

từ chỉ thời gian.Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt tập 1 khi cùng tác giả

Hoàng Văn Thung nghiên cứu về cách phân loại từ chỉ thời gian thì ông

phân loại từ chỉ thời gian thành 4 loại: Danh từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời

gian, động từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian Nhưng khi một mình

nghiên cứu về từ chỉ thời gian trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt 2 thì cách

phân loại của ông lại thay đổi khác đi Ông phân loại từ chỉ thời gian chỉ

còn lại hai loại: Danh từ chỉ thời gian và phụ từ chỉ thời gian Sự phân loại

Trang 30

này của tác giả Diệp Quang Ban có sự khác biệt nhau khá nhiều cho nên nó cũng làm người viết rất khó khăn trong việc phải lựa chọn một quan điểm hợp lí để khảo sát về từ chỉ thời gian Tuy nhiên đó cũng là cũng là điều kiện để người viết tiếp xúc nhiều hơn với những cách phân loại khác nhau

để có cái nhìn đa chiều về phân loại từ chỉ thời gian

Điểm không thống nhất thứ hai nữa là ở cách gọi tên Trong cuốn

Ngữ pháp tiếng việt 1 tác giả Diệp Quang Ban phân loại từ chỉ thời gian

thành 4 loại: Danh từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian,động từ chỉ thời gian

và phó từ chỉ thời gian Nhưng trái lại, trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt tập 2

khi phân loại từ chỉ thời gian thì tác giả phân thành 2 loại: Danh từ và phụ

từ Tại sao lại có hai cách gọi phó từ trong Ngữ pháp tiếng việt 1 và phụ từ

trong Ngữ pháp tiếng việt 2 thì người viết không thấy tác giả giải thích

Trong khi đó, tác giả Đỗ Thị Kim Liên va tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh cũng gọi là phó từ chỉ thời gian

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt của tác giả Đỗ Thị Kim Liên thì bà cho rằng phó từ chỉ thời gian gồm những từ: Đã, đang, sắp, sẽ, vừa, mới,

bỗng, còn… và trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt,tập 1 thì tác giả Diệp Quang

Ban cũng cho rằng đó là những phó từ chỉ thời gian Nhưng ở cuốn Ngữ

pháp tiêng việt, tập 2 thì ông lại cho không có liệt kê những từ chỉ thời

gian này mà lại xuất hiện các từ như: ngay, liền, tức khắc, tức thì, dần dần,

từ từ…

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, người viết không có nhiều

cơ hội tiếp xúc các với cách phân loại của nhiều nhà ngôn ngữ khác Nhưng, người viết nhận thấy vấn đề phân loại từ chỉ thời gian là một vấn đề phức tạp, và sự thống nhất về phân loại từ chỉ thời gian của các nhà ngôn ngữ vẫn chưa rõ ràng, mạch lạc Và để lựa chọn một quan điểm làm cơ sở

thuận lợi cho việc nghiên cứu từ chỉ thời gian trong hai tập thơ “Thơ thơ,

Gửi hương cho gió” của nhà thơ Xuân Diệu, người viết thống nhất với quan

điểm phân loại từ chỉ thời gian trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt của tác giả

Đỗ Thị Kim Liên Bên cạnh đó, người viết cũng kết hợp thêm cách phân

loại của tác giả Diệp Quang Ban trong – Hoàng Văn Thung trong cuốn Ngữ

pháp tiêng việt, tập 1.Như vậy, người viết phân loại từ chỉ thời gian thành

Trang 31

3 loại như sau: Danh từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian và phó từ chỉ thời gian Từ đó, người viết có bảng phân loại sau:

Bảng 1.1 2 : Bảng phân loại từ chỉ thời gian:

Danh từ chỉ thời gian Phụ từ chỉ thời gian Đại từ chỉ thời

gian

Giây, phút, giừ, ngày, đêm,

sáng, chiều, tối, buổi, hoàng

hôn, bình minh, năm, tháng,

thế kỷ, canh, quá khứ, tương

lai, xuân, hạ, thu, đông,

thuở, dạo, hồi, hôm, lúc,

mùa, thời, khuya, sớm, canh,

khắc……

Đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, chốc, mãi……

Khi, bỗng, bao giờ, bao lâu, bây giờ, bấy giờ, đến… Đã, đang,

sẽ, vừa, mới, sắp, chốc, mãi……

1.2 Thời gian và thời gian nghệ thuật

1.2.1 Thời gian là gì?

Thời gian theo cách hiểu thông thường đó là vòng tuần hoàn của 24 giờ, ngày rồi lại sang đêm, hết 12 tháng rồi lại lại một năm và cứ như thế thời gian cứ trôi mãi, trôi mãi không ngừng Thời gian của tự nhiên cứ theo đó

mà trôi qua từng giờ Tuy nhiên, thời gian là một phạm trù rất đặc biệt Hiểu theo nghĩa thông thường là vậy nhưng ngay từ rất xa xưa thì các nhà khoa học cũng đã bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu để nêu lên ý niệm về thời gian

Theo Newton thì “ thời gian là độc nhất, tuyệt đối, và có giá trị phổ

quát khắp mọi nơi.” Nhưng đối với Eintstein lại cho rằng “ thời gian trôi đi chỉ là ảo ảnh mọi khác biệt giữa quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là những

ảo ảnh dai dẳng mà thôi.”[8; tr66]

Ở hai quan niệm về thời gian trên có vẻ như thời gian tồn tại hai trạng thái khác nhau, đối nghịch nhau, không đồng nhất với nhau Nhưng người

viết nhận thấy dù theo Newton “ thời gian là tồn tại khắp mọi nơi” hay là với Eintstein “ thời gian là ảo ảnh” thì người viết nhận thấy đó điều là

Trang 32

những quan niệm về thời gian đúng đắn và độc đáo Bởi thời gian tồn tại

khắp mọi nơi nhưng đồng thời thời gian chỉ là những cảm nhận “ ảo ảnh

khác biệt giữa quá khứ, hiện tại, tương lai ” Hai quan niệm trên của hai

nhà khoa học đã bổ sung cho nhau để góp phần làm đầy đủ, hoàn chỉnh hơn

ý niệm về thời gian trong cuộc sống

Bên cạnh đó, theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng

việt thì viết rằng “thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, trong đó vật chất chuyển động liên tục không ngừng thời gian là vô cùng vô tận.”[25,tr195]

Tác giả Trần Thanh Đạm, trong cuốn Từ điển tiếng Việt trường giải và

liên tưởng quan niệm như sau “ thời gian là hình thức tồn tại của vật chất diễn biến một chiều theo ba trạng thái: hiện tại, quá khứ, tương lai.”

[6,tr793]

Khi nói về thời gian thì không ai lại không biết đến Nhưng, để hiểu thời gian một cách toàn diện và cảm nhận thời gian một cách đầy đủ, sâu sắc không phải ai ai cũng có thể làm được.Trong văn học nghệ thuật, thời gian không còn đơn thuần là thời gian của tự nhiên, thời gian trôi đi được tính bằng giây, phút theo một chiều không đổi, mà thời gian bây giờ đã trở thành thời nghệ thuật

1.2.2 Thời gian nghệ thuật

Theo tác giả Trần Đình Sử: “ Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được

cảm nhận bầng tâm lý, qua chuổi liên tục biến đổi( biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật là thời gian đựơc cảm nhận bằng tâm lý và mang ý nghĩa thẩm mỹ, nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan đo bằng lịch và đồng hồ nó có thể đảo ngược, từ hiện tại hồi tưởng lại quá khứ, có thể cảm thấy chốc lát dài dằng dặc như nghìn năm, co thể cảm thấy năm tháng như chốc lát “ vó câu qua cửa sổ”, lại có thể cảm thấy ngừng trôi khi đắm say…” [15 ;tr62]

Trong cuốn lí luận văn học được xuất bản năm 2000, tác giả Hà Minh

Đức cho rằng: “ Sự vận động của thời gian trong tác phẩm văn học phản

ánh nhịp độ của cuộc sống Có lúc trong một khoảng thời gian ngắn chất chứa biết bao sự kiện làm biến đổi nhanh chóng cuộc sống và đời

Trang 33

người…Thực chất việc tái hiện thời gian trong văn học là miêu tả sự vận động của cuộc sống, là tái hiện quan niệm của con người về sự tồn tại, là biểu hiện vè tâm lí của con người trước các biến cố, sự kiện Lúc nhớ nhung, khắc khoải, một phút đợi chừ có thể dài bằng mấy năm, còn lúc sống hạnh phúc thì thời gian thật ngắn ngủi” [7; tr87]

Nói chung, người nghệ sĩ có thể ép mỏng hoặc kéo dài thời gian theo góc nhìn nghệ thuật khác nhau của mỗi nhà thơ Có khi tác giả quay ngược lại thời gian để từ hiện tại hồi tưởng lại quá khứ

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi đứng giữa chiến khu Việt Bắc “ Tôi đứng

vui nghe giữa núi đồi” nhưng tác giả vẫn hồi tưởng về những ngày tươi đẹp

ở Hà Nội thân yêu:

“ Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa”

( Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Cũng có khi thời gian được miêu tả từ quá khứ đến tương lai, có lúc quá khứ và tương lai có thể cùng đồng hiện trong thời điểm hiện tại Về nhịp

độ, thời gian trong văn chương có thể trôi nhanh hay chậm, đều đặn, êm đềm hay biến động căng thẳng

Những tháng ngày vui vẻ, hạnh phúc thì con người lại thấy thời gian trôi qua thật quá nhanh chóng:

“ Ngày vui ngắn chẳng tày gang”

( Truyện kiều – Nguyễn Du) Hay có những lúc con người cảm thấy một ngày dài đến vô tận

“ Sầu đông càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

( Truyện kiều – Nguyễn Du)

Trong nghệ thuật, qua lăng kính chủ quan của những nhà thơ nhà văn thì thời gian không còn chuyển động theo một chiều sẵn có, tự nhiên Thời gian ngắn, thời gian dài, thời gian trôi qua nhanh hay thời gian trôi qua chậm tất cả điều tùy thuộc vào cảm nhận rất riêng của từng tác giả Sự cảm thụ về thời gian là khác nhau, cho nên, thi hứng về tác phẩm đúng

Trang 34

trước thời gian của mỗi nhà thơ cũng hoàn toàn không giống nhau, thời gian làm rung động biết bao trái tim của những nhà thi sĩ khi đứng trước cuộc đời, đứng trước con người trong thế giới nhân sinh Nói đến thời gian

là tác giả cũng thể hiện vào đó nét riêng nghệ thuật trong thi phẩm của chính mình Không ít những nhà thơ cũng đã viết lên quan niệm về thời gian trong thơ mình

Hay độc đáo hơn với cảm nhận về thời gian của Tản Đà

“ Đời người thử ngẫm mà hay

Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê”

( Đời đáng chán – Tản Đà) Thực ra thời gian vẫn tồn tại và trôi như nó vốn có, không nhanh cũng không chậm Nhưng ở đây thời gian bị chi phối bởi cái nhìn đầy tâm tư của nhân vật trữ tình Thời gian nghệ thuật có tính liên tục Nhưng nó cũng là

sự liên tục của những thay đổi có ý nghĩa Thời gian nghệ thuật cũng có hiện tại, quá khứ, tương lai, đồng thời, đồng hiện, có độ dài nhưng đó cũng

là khoảnh thời gian có ý nghĩa

Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới Thời gian nghệ thuật được biểu hiện bằng nhiều phương tiện, trước hết

là các từ chỉ thời gian, chẳng hạn: “ hôm qua, hôm nay, ngày xưa, dạo ấy,

hồi ấy…”

“ Cho ta xin, cho ta xin sắc đỏ,

Xin màu xanh về tô lại khung trời Tròi ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ?

Hôm xưa đâu rồi, trời ơi, trời ơi!”

( Xuân đầu – Gửi hương cho gió)

Có khi thời gian nghệ thuật được biêu hiện bằng các dấu hiệu thời gian:

tuổi trẻ, tuổi già, Xuân – hạ - thu – đông, bằng hoa mai nở…

“ Dưới trăng quyên đã gọi hè

Trang 35

Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”

( Cảnh ngày hè – Nguyễn trãi)

Trang 36

Chương 2 KHẢO SÁT VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG HAI TẬP THƠ

THƠ THƠ, GỬI HƯƠNG CHO GIÓ CỦA NHÀ THƠ XUÂN

DIỆU

2.1 Những nét chính về cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ Xuân Diệu 2.1.1 Cuộc đời

Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, quê quán tại làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tỉnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Cha ông là Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mỹ Tho (nay

là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của

Tự Lực Văn Đoàn ( 1938-1940) Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về Hà Nội

Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và

Tiên Phong Ông là một trong những người sáng lập ra Đoàn báo chí Việt

Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam Trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của

mình, Xuân Diệu được biết đến như là một nhà thơ lãng mạn trữ tình, “ nhà

thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu là

thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng là một trong những chủ soái của

phong trào “ Thơ mới” Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ

thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng

(1939), Trường ca (1945) Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt

Minh Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia hoạt động Hội văn hóa

cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền Phong của Hội Sau đó ông công tác

trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc

Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi

cách mạng, một “dòng thơ công dân” Búp pháp của ông chuyển biến

phong phú về giọng vẻ: Có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận,

giọng thơ tự sự trữ tình Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng

Trang 37

(1946), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983) Là cây đại thụ của

nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một

số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút

ký, tiểu luận, phê bình văn học Xuân Diệu từng là đại diện Quốc hội Việt Nam khóa I Ông cò được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983 Ông đã được truy tặng giải thưởng

Hồ Chí Minh đợt I về Văn học nghệ thuật (1996) Tên của ông được cho một đường phố tại Hà Nội (22; tr3)

2.1.2 Tác phẩm

Thơ thơ được viết vào năm 1938 ra đời trước Gửi hương cho gió 7 năm

Thành công lại tiếp nối thành công, 1945 ông cho ra đời tập thơ Gửi hương cho gió từ đó tạo nên làn sóng đấu tranh dữ dội trên thi đàn văn học

Đây là hai tập thơ đầu tay của ông bắt đầu cho con đường viết thơ của

mình Với tập Thơ thơ và sau đó là Gửi hương cho gió Xuân Diệu bắt đầu nỗi tiếng trên thi đàn thơ mới Việt Nam Thơ thơ và Gửi hương cho gió là hai tác phẩm ca ngợi về tình yêu, ca ngợi cuộc sống Thơ thơ là tiếng nói

thiết tha rạo rực của tuổi trẻ, mùa xuân, niềm khát khao mãnh liệt giao cảm với đời Xem thiên nhiên tươi đẹp là tổ ấm, Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc nỗi đau đớn trước thời gian đang trôi chảy, cuốn theo những thanh sắc của đời Sự mong manh của đời người, lòng khát khao vĩnh cửu cái đẹp được

diễn tả qua những câu thơ đầy xúc động, đậm đà triết lí nhân sinh Nếu Thơ

thơ là tiếng ca sôi nổi, rạo rực của tuổi trẻ, của mùa xuân, là bản tình ca

thiết tha nồng nàn, thì Gửi hương cho gió, mang những nỗi buồn não nùng

Buồn vì vô cớ, vì cô quạnh, vì bị chia cắt…cho đến nỗi buồn vì lo sợ ngày mai, buồn vì chuyện thiên cổ Nguyên nhân của nỗi buồn đa phần là do tình yêu: bị phụ tình, bị từ chối, bị làm ngơ Thơ ở đây là tiếng nói của một tâm hồn bị chói buộc bởi những sự lo lắng, mặc cảm, sợ hãi…dù cất tiếng gọi tìm tình yêu một cách hối hả, tâm hồn ấy vẫn mang một trái tim tuyệt vọng,

sẵn sàng chịu đựng nỗi đau Với đề tài “ Gửi hương cho gió”, thi sĩ ví tình

yêu là hương, là hoa đẹp, nhưng người yêu là cơn gió vô tình

2.2 Khảo sát về từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi

hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu

Trang 38

Được mệnh danh là ông hoàng thơ tình, Xuân Diệu không chỉ được biết đến với những trang thơ tình ngọt ngào, chan chứa yêu thương, mà bên cạnh đó, thơ Xuân Diệu còn có sức hút mạnh liệt bởi tài năng sử dụng ngôn

từ hết sức tài tình và độc đáo Đặc biệt, đó chính là cái khă năng sử dụng rất

thành công và khéo léo lớp từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi

hương cho gió được ông viết ở thời kì trước Cách Mạng Tháng Tám năm

1945 Qua việc sử dụng từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi

hương cho gió, cho người viết thấy được hồn thơ rạo rực, sôi nổi cùng với

trái tim luôn tràn đầy tình cảm yêu thương và trân trọng cuộc sống của một nhà thơ lãng mạn Chính vì vậy, khi khảo sát về lớp từ chỉ thời gian người viết đã đưa ra bảng thống kê về tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian qua hai

tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió như sau:

Bảng 2.2: Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian

trong thơ Xuân Diệu

Tập thơ Từ loại Số lần xuất

hiện

Tỉ lệ phần trăm (%)

Số bài thơ xuất hiện trên toàn tập thơ

Thơ thơ

(47 bài)

Danh từ 105 71.4 % 44 / 47 Phó từ 28 19 % 29 / 47 Đại từ 14 9.6 % 17/ 47 Tổng cộng 147 100% 47

Gửi hương

cho gió ( 50

bài)

Danh từ 144 79.6 % 50 /50 Phó từ 17 9.4 % 37 / 50 Đại từ 20 11 % 37 / 50 Tổng cộng 181 100% 50

Đây là bảng thống kê mà người viết thống kê ở cả hai tập thơ Thơ thơ và

Gửi hương cho gió Từ đó, có cái nhìn bao quát hơn về lớp từ chỉ thời gian

Trang 39

trong cả hai tập thơ, để đi vào tìm hiểu một cách dể dàng , cụ thể hơn lớp

từ chỉ thời gian này

2.2.1 Danh từ chỉ thời gian trong tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió

Trong tập Thơ thơ, người viết nhận thấy danh từ chỉ thời chiếm số lượng

nhiều nhất trong ba lớp từ chỉ thời gian Danh từ chỉ thời gian có tần số rất cao 105/ 147 trên tổng số lần xuất hiện danh từ và chiếm 71.4 % Một số

danh từ mà Xuân Diệu dụng nhiều như là Xuân, ngày, chiều và nhiều nhất

là danh từ chỉ thời gian đêm

Bảng 2.2.1.1 : Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ

trong tập thơ Thơ thơ

Danh từ chỉ

thời gian

Số lần xuất hiện

Tỉ lệ phần trăm (

Trăng vừa đủ sáng để gây mơ

Gió nhịp theo đêm, không vội

Trang 40

Xuân Diệu sử dụng không thiếu trong cả hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương

cho gió Đứng sau danh từ xuân, thì chiều cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ

12.3% so với danh từ ngày 9.5 % Trong tập Thơ thơ Xuân Diệu sử dụng

hơn 25 danh từ chỉ thời gian khác nhau, đây là số lượng từ chỉ thời gian

không phải ít Nhưng đến với Gửi hương cho gió, thì danh từ chỉ thời gian

lại được Xuân Diệu sử dụng nhiều hơn, khoảng 34 danh từ chỉ thời gian

xuất hiện trong tập thơ này Danh từ chỉ thời gian trong tập thơ Gửi hương

cho gió chiếm tỉ lệ phần trăm rất cao, chiếm đến 79,6% so với các danh từ

còn lại Danh từ chỉ thời gian này có tỉ lệ phần trăm cao hơn với danh từ chỉ

thời gian của tập Thơ thơ đã được khảo sát ở trên Nhìn chung, hầu hết danh

từ chỉ thời gian có mặt trong tất cả các bài thơ trên toàn tập Gửi hương cho

gió (50/50) Sau đây là bảng thống kê tỉ lệ phần trăm các danh từ chỉ thời

gain trong tập thơ Gửi hương cho gió

Bảng 2.2.1.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ

thời gian trong tập Gửi hương cho gió

Danh từ

chỉ thời

gian

Số lần xuất hiện

Tỉ lệ phần

Đêm 23/ 144 16 %

Rủ màn bỗng thấy trăng mơ sáng

Thôi giậy trông ngoài đêm tỏa

sương

Xuân 19/ 144 13.2 % Xuân ta đã cất trong thơ phú

Tuổi trẻ trong thơ thắm với đời

Ngày 13/ 144 9 %

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai

Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh

viễn

Chiều 11/ 144 7.6 %

Em có nhớ một buổi chiều yên

tĩnh Chúng ta chìm trong một biển ái

ân

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, (1998). Ngữ pháp tiếng việt (tập 2). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt (tập 2)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung, (1998).Ngữ pháp tiếng việt (tập 1). Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt (tập 1)
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Đỗ Hữu Châu, (1981). Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
4. Mai Ngọc Trừ, (1991). Vầng thơ Việt Nam dưới ánh sánh ngôn ngữ học. Nxb ĐH và GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vầng thơ Việt Nam dưới ánh sánh ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Trừ
Nhà XB: Nxb ĐH và GDCN
Năm: 1991
5. Ngô Viết Dinh, (tuyển chọn), (2000). Đến với thơ Xuân Diệu. Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Xuân Diệu
Tác giả: Ngô Viết Dinh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2000
6. Trần Thanh Đạm, (2004). Từ tiếng việt Trường giải và liên tưởng. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tiếng việt Trường giải và liên tưởng
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
7. Hà Minh Đức, (2000). Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Ngô Phúc Hậu, (2002). Viết cho em. Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết cho em
Tác giả: Ngô Phúc Hậu
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
9. Lưu Vân Lăng, (1998). Ngôn ngữ và tiếng việt. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và tiếng việt
Tác giả: Lưu Vân Lăng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
10. Hồ Lê, (1976). Vấn đề cấu tạo từ tiếng việt hiện đại. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ tiếng việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1976
11. Đỗ Thị Kim Liên, (1999). Ngữ pháp tiếng việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Lữ Huy Nguyên tuyển chọn), (2008). Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét độc đáo trong thơ Xuân Diệu
Tác giả: Lữ Huy Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
13. Đái Xuân Ninh, (1978). Hoạt động của từ tiếng việt. Nxb KHXH. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ tiếng việt
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1978
14. Nguyễn Hữu Quỳnh, (1994). Tiếng việt hiện đại. Nxb Từ điển bách khoa. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 1994
15. Trần Đình Sử, (2000) Thi pháp văn học hiện đại Việt Nam. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học hiện đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
16. Đào Thản, (1998). Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật. Nxb Khoa học và xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Nxb Khoa học và xã hội
Năm: 1998
17. Nguyễn Kim Thản, (1991). Cơ sở ngữ pháp tiếng việt. Nxb Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: Nxb Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 1991
18. Hoài Thanh – Hoài Chân, (1942). Thi Nhân Việt Nam. Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi Nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1942
19. Uyên Thao. Đợt sóng mới của làng thơ Việt Nam hôm nay: Xuân Diệu, Tập chí giáo dục phổ thông 1 – 11- 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợt sóng mới của làng thơ Việt Nam hôm nay
Tác giả: Uyên Thao
Nhà XB: Tập chí giáo dục phổ thông
Năm: 1960
20. Lý Hoài Thu, (1997). Thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 ( Thơ thơ và Gửi hương cho gió). Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Diệu trước Cách Mạng Tháng Tám 1945 ( Thơ thơ và Gửi hương cho gió)
Tác giả: Lý Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 2 : Bảng  phân loại từ chỉ thời gian: - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 1.1 2 : Bảng phân loại từ chỉ thời gian: (Trang 31)
Bảng 2.2: Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2 Bảng thống kê tần số xuất hiện lớp từ chỉ thời gian (Trang 38)
Bảng 2.2.1.1 : Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.1.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ (Trang 39)
Bảng 2.2.1.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.1.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các danh từ chỉ (Trang 40)
Bảng 2.2.2.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%)  các phó từ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.2.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ (Trang 48)
Bảng 2.2.2.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.2.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các phó từ chỉ (Trang 49)
Bảng 2.2.3.1: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.3.1 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ (Trang 54)
Bảng 2.2.3.2: Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
Bảng 2.2.3.2 Bảng thống kê tỉ lệ phần trăm (%) các Đại từ chỉ (Trang 55)
BẢNG PHỤ LỤC - Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Từ chỉ thời gian trong hai tập thơ Thơ thơ, Gửi hương cho gió của nhà thơ Xuân Diệu
BẢNG PHỤ LỤC (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN