Nhiều dân tộc ít ngưới có tục hát trong đám cưới, tiêu biểu có dân ca đám cưới Tày Nùng. Ở Nam bộ có hát bá trảo được xem như một nghi lễ đám ma, những loại hình này như một thủ tục không thể thiếu trong một số trường hợp nhất định. Thể loại này tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa của dân tộc, làm nổi bật lên văn hóa riêng của từng dân tộc trong cùng một đất nước. b. Ca dao lao động Ca dao lao động là những bài ca nảy sinh và sử dụng trong qúa trình và lao động sản xuất. Ca dao lao động được chia ra làm hai nhóm nhỏ: hò lao động và bài ca nghề nghiệp Hò lao động Hò lao động là những bài ca được hò hát trong lao động. Trong đó các nhịp điệu, sắc thái, tốc độ thường gắn với một công việc cụ thể. Đây cũng là hình thức chủ yếu của dân ca lao động, nó thường được sử dụng vào những công việc có tính lặp đi lặp lại về động tác và có tính nhịp điệu. Những công việc có nhiều người tham gia thì tiếng hò như một tín hiệu chung để thống nhất sức mạnh tập thể. Mục đích sử dụng là tạo nhịp chung cho tiến trình lao động nhằm làm tăng hiệu quả lao động. Những công việc thường sử dụng hò lao động như: chèo ghe, đương đệm, tác nước, phát cỏ, kéo gỗ,… Hò lao động phát triển phổ biến ở miền trung như: hò sông Mã, hò Nghệ, hò khoan Quãng Bình, hò giã gạo Quãng Nam Bài ca nghề nghiệp Bài ca nghề nghiệp thường gắn với những nghề nghiệp truyền thống của nhân dân. Ca dao nghề nghiệp phản ánh tri thức, đời sống tình cảm của người lao động đó còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong lao động và khả năng diễn đạt tình cảm của nhân dân trong cuộc sống. c. Ca dao sinh hoạt Được chia làm hai mảng nhỏ là: ca dao sinh hoạt gia đình và ca dao sinh hoạt cộng đồng. Ca dao gia đình là nguồn đề tài chiếm phần lớn trong ca dao. Những bài ca dao này thường thể hiện những đạo lí truyền thống của dân tộc. Đó là tình cảm gia đình hết sức cao đẹp và quý báo, tình cảm này luôn được thể hiện thắm thiết với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Đối với mối quan hệ trong gia đình thì chữ hiếu luôn được đặt lên hàng đầu, họ luôn thể hiện sự biết ơn với các bậc sinh thành, và nó như trở thành một chuẩn mực đạo đức chung. Trong ca dao gia đình có hai nội dung tiêu biểu đó là tiếng hát than thân và tiếng hát nghĩa tình. Tiếng hát than thân Chiếm số lượng lớn trong mảng ca dao sinh hoạt gia đình. Đối tượng chủ yếu là phụ nữ. Đây là nhân vật trung tâm. Họ luôn phải chịu sự bất công trong xã hội phong kiến, sự vất vả trong cuộc sống hằng ngày. Từ đó tiếng hát than thân được cất lên với những cảnh đời những nỗi khổ luôn đi kèm với nhũng tâm tư tình cảm của người phụ nữ. Dẫu vất vả, khổ cực là thế nhưng những câu hát than thân vẫn chan chứa tình người vẫn đậm tính nhân văn. Nội dung trong những câu hát than thân thường là những nỗi khổ của người phụ nữ như: nỗi khổ của người con gái lấy chồng xa quê, nỗi khổ của người con dâu, nỗi khổ của những người phụ nữ là nạn nhân của chế độ hôn nhân đa thê. Những câu hát này được lặp đi lặp lại dường như trở thành một công thức chung cho những bài ca dao than thân như: “thân em”, “chiều chiều’,… Tiếng hát nghĩa tình: thể hiện những tình cảm của người phụ nữ đối với thân phận của họ và đối với những người thân. Thể hiện phẩm chất tốt đẹp và tình cảm đáng quý của họ. Trong mảng này có hai nội dung chính là hát ru và đồng dao. + Hát ru: là một dạng của ca dao, nó gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi gia đình, ở mỗi vùng miền đều có một điệu hát ru, nó vừa mang cái chung của dân tộc vừa có cái riêng từng địa phương. Góp phần tạo nên nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Mục đích chung của hát ru là ru ngủ đối tượng được ru ngủ chủ yếu là trẻ nhỏ. Nội dung của những bài hát thường phản ánh cuộc sống hằng ngày thường đề cập đến những sự vật hiện tượng trong cuộc sống nhằm dạy dỗ trẻ nhỏ và để chúng nhận biết được thế giới xung quanh. Hát ru còn thể hiên tình cảm của các thành viên trong gia đình, + Đồng dao: là những bài hát dân gian truyền miệng mà đối tượng sử dụng chủ yếu là trẻ nhỏ. Được sử dụng trong những lúc vui chơi sinh hoạt. Có các loại đồng dao như: đồng dao gắn với sinh hoạt vui chơi của trẻ em, đồng dao gắn với lao động trẻ em chủ yếu là trẻ nông thôn, đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết trí tuệ tâm hồn của trẻ, loại đồng dao được gọi là Sấm kí Ca dao trong sinh hoạt cộng đồng xã hội. Đây là những bài ca mà nhân vật trữ tình là những người dân trong quan hệ xóm làng. Biểu hiện tình cảm của con người, đó là tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước và những vấn đề xã hội. Ca dao sinh hoạt cộng đồng xã hội có hai nhóm chính là những bài ca dao duyên và ca dao về đề tài xã hội. + Bài ca dao duyên Là những bài ca có đề tài về tình yêu đôi lứa. Có số lượng và nội dung nổi bậc nhất trong kho tàng ca dao nói chung. Những bài hát này có thể hát một cách có tổ chức hoặc tự do. Đây là một thể loại mang đậm chất văn hóa và có chức năng giao lưu văn hóa, nó không chỉ đơn thuần là lời tỏ tình bình thường mà là một loại hình mang đậm tính nghệ thuật và tính văn hóa của dân tộc. Đối tượng sử dụng khá đa dạng không chỉ những chàng trai, cô gái mà còn là những cụ già hoặc những người ở tuổi trung niên kể cả những người đã có gia đình. Đặc điểm của loại hình này là khi hát thì họ nhập tâm vào nhân vật trữ tình. Nội dung thường bài tỏ quan niệm, cảm nghĩ của mình về tình yêu, hôn nhân và những vấn đề xã hội. Tình cảm trong ca dao giao duyên rất đa dạng về những cung bậc cảm xúc, những suy nghĩ về tình yêu. Cách bày tỏ tình cảm có khi bộc trực có khi rụt rè kín đáo. Ở loại hình này ta thấy quan niệm của người lao động về tình yêu hôn nhân khá rõ, họ cho rằng tình yêu phải đi đến hôn nhân. Đây là cơ sở để bắt đầu xây dựng hạnh phúc lâu bền. Tình yêu chân chính không quan trọng ở giá trị vật chất mà ở giá trị tinh thần. Họ ca ngợi tình yêu gắn với cuộc sống giản dị, đồng thời đề cao sự chung thủy trong tình yêu, lên án và chê trách những tình cảm qua đường.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG TRONG GIA ĐÌNH
VÀ CƠNG CỤ NƠNG NGHIỆP TRONG CA DAO NAM BỘ
LÊ THỊ YẾN NHI
Hậu Giang, tháng 05 năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG TRONG GIA ĐÌNH
VÀ CƠNG CỤ NƠNG NGHIỆP TRONG CA DAO NAM BỘ
Giảng viên hướng dẫn:
NGUYỄN THỊ THU THỦY
Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ YẾN NHI
Hậu Giang, tháng 05 năm 2013
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Thủy, trường Đại học Cần Thơ, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và cô Vũ Thúy Kiều đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ cũng như tạo điều kiện của các thầy cô Khoa Khoa học cơ bản, Thư viện Trường Đại học Võ Trường Toản, Thư viện Thành phố Cần Thơ, Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè
đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn
Chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
LÊ THỊ YẾN NHI
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
LÊ THỊ YẾN NHI
Trang 5
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ, CA DAO VÀ CA DAO NAM BỘ 6
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1.1 Từ tiếng việt 6
1.1.1.1 Khái niệm từ 6
1.1.1.2 Đặc điểm ngữ âm 7
1.1.1.3 Đặc điểm ngữ pháp 7
1.1.2 Đặc điểm của từ 8
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ 8
1.1.2.2 Các kiểu từ xét về mặt cấu tạo 8
1.1.3 Ý nghĩa của từ 15
1.1.3.1 Ý nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu thái của từ 16
1.1.3.2 Hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ 17
1.2 CA DAO NAM BỘ 20
1.2.1 Khái niệm ca dao và ca dao Nam bộ 20
1.2.1.1 Ca dao 20
1.2.1.2 Ca dao Nam Bộ 21
1.2.2 Đặc điểm 21
1.2.2.1 Nội dung 21
1.2.2.2 Hình thức 22
1.2.2.3 Phân loại 24
Trang 6CHƯƠNG 2
TỪ CHỈ CÔNG CỤ NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỒ DÙNG TRONG GIA
TRONG CA DAO NAM BỘ
2.1 Thống kê 30
2.1.1 Từ chỉ công cụ nông nghiệp 30
2.1.2 Từ chỉ đồ dùng trong gia đình 30
2.2 Khảo sát giá trị ngữ nghĩa 31
2.2.1 Những từ chỉ công cụ nông nghiệp 32
2.2.1.1 Những từ chỉ dụng cụ đánh bắt 32
2.2.1.2 Những từ chỉ công cụ nông nghiệp 36
2.2.2 Những từ chỉ đồ dùng trong gia đình 37
2.2.2.1 Đồ dùng sử dụng cho việc nghỉ ngơi 37
2.2.2.2 Những từ chỉ đồ dùng sử dụng cho việc ăn uống 42
2.2.2.3 Những từ chỉ đồ dùng sử dụng cho việc chứa đựng 45
2.2.2.4 Những từ chỉ các loại đồ dùng khác 46
2.3 Nhận xét 50
PHẦN KẾT LUẬN 52
Tài liệu tham khảo 53
Trang 7
PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ca dao là loại văn học truyền miệng, tồn tại từ rất lâu đời có sức ảnh hưởng lớn
đối với đời sống tinh thần của người Việt Ca dao là những lời ru của mẹ, những bài
vè của trẻ nhỏ Ca dao cũng đã đi vào những lời thơ một cách tự nhiên như trong thơ của Hồ xuân Hương Ca dao Bắc bộ có câu: “Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân” thì trong thơ của bà lại có câu “quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi”
Mỗi vùng miền khác nhau ca dao có những nét riêng, tất cả đã góp phần hình thành nên nền văn hóa chung của dân tộc Được sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam
bộ, tôi rất đổi tự hào về những gì thuộc về miền đất sông nước này và trong đó có ca dao Nam bộ Ca dao Nam bộ phản ánh những nét văn hóa cũng như lịch sử của vùng đất này, nó chứa đựng tình cảm của con người nơi đây thông qua những hình
ảnh gần gũi và rất đỗi bình dị
Mỗi hình ảnh được gợi lên trong ca dao luôn gắn với những tình cảm chân thành, mộc mạc thể hiện tình người, tình yêu thiên nhiên và sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên Những hình ảnh đi vào trong ca dao Nam bộ là những hình ảnh được lấy từ trong chính cuộc sống của nhân dân, đó là những con vật, những đồ vật trong cuộc sống sinh hoạt và lao động như: chiếc xuồng, mái chèo, chiếc ghe, chiếc chiếu… những hình ảnh này đã gắn bó với bao thế hệ con người nên nó đi vào ca dao một cách nhẹ nhàng mà tinh tế
Về ca dao Nam bộ đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu, nhưng đề tài “Từ chỉ đồ dùng trong gia đình và công cụ trong nông nghiệp” thì chưa có công trình nghiên cứu nào Việc nghiên cứu đề tài này là cơ hội để tôi cũng cố và mở rộng thêm kiến thức về ca dao và ngôn ngữ
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu Sau đây là các công trình tiêu biểu:
Công trình nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca việt nam
công trình này nghiên cứu tục ngữ và ca dao dân ca Việt Nam nói chung Ở đây Ca dao được đề cập đến ở phương diện nội dung, hình thức Trong đó nêu ra một số nội dung cơ bản của ca dao như: tình cảm, tinh thần lao động sản xuất, tinh thần nhân
Trang 8đạo, và chia ca dao ra làm các chủ đề chính: ca dao trong mối quan hệ thiên nhiên
và trong mối quan hệ xã hội Về hình thức nghệ thuật ca dao nổi bật ở cách sử dụng hình ảnh liên tưởng và biểu trưng, trong đó hình ảnh đáng chú ý là con cò và con bống Những đặc điểm trên được nghiên cứu trên nền văn hóa chung của dân tộc Theo một trình tự nhất định bước đầu đã nêu ra những đặc điểm của ca dao, phản ánh được nền văn hóa trong ca dao
Công trình nghiên cứu của Hoàng Tiến Tựu trong Bình giảng ca dao chủ yếu tập
trung vào việc bình giảng là chính Ông đã đưa ra những điểm quan trọng của việc bình giảng trong văn học nói chung và ca dao nói riêng qua đó khẳng định vai trò của việc bình giảng Công trình còn chỉ ra những nét chung và riêng của ca dao và những yếu tố quan trọng trong việc bình giảng như: từ, lời, ý, làm nổi bật nét đặc thù của ca dao
Trong phạm vi ca dao Nam bộ không thể không kể đến công trình nghiên cứu
Ca dao dân ca Nam bộ của Bảo Định Giang, đây có thể coi như một công trình tiên
phong cho mảng ca dao Nam bộ Công trình này tác giả khai thác ca dao Nam bộ dựa trên lịch sử, địa lí, qua đó nêu lên tính cách con người Nam bộ
Về lịch sử có thể nói đây là vùng đất mới được khai thác muộn hơn so với khác vùng khác của đất nước kéo theo đó là sự hình thành về văn hóa, đời sống, và sự ra
đời của ca dao cũng muộn “có thể nói ca dao - dân ca trữ tình Nam bộ là bộ phận
sáng tác rất trẻ của dân tộc Sự hình thành và phát triển của vùng đất này gắn liền với lịch sử khai khẩn vùng đất Nam bộ của người Việt.” [4, tr.34]
Về địa lí đây là khu vực có nhiều hệ thống sông ngòi do đó hình thành nên nền văn hóa sông nước và có lượng sản vật vô cùng dồi dào và phong phú như: cá, tôm,… nhưng do còn hoang vu nên cũng nhiều nguy hiểm như: sấu, cọp, điều này góp phần chi phối ca dao và tính cách con người Nam bộ
Nội dung ca dao Nam bộ ngoài những đặc điểm chung còn có sự khác biệt nổi bật là quan điểm về tình yêu và cách bày tỏ tình cảm của con người Nam bộ, qua đó làm nổi bật tính cách của họ Tất cả đều là những con người có tính thẳng thắng, chất phác, phóng khoáng và tinh thần hiệp nghĩa
Ca dao Nam bộ còn là biểu hiện của sắc thái địa phương, mà trước hết rõ nhất là
về mặt ngôn từ bởi đây là phương tiện để thể hiện những nét văn hóa của vùng đất
Trang 9mới này Nhìn chung công trình nghiên cứu này đã nêu lên được một bức tranh khái quát về vùng đất và con người Nam bộ
Trong phạm vi này còn có công trình nghiên cứu Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu long do Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ biên soạn, công trình này nêu
một số mẫu chuyện về những địa danh của Nam bộ như: Cao Lãnh, Rạch Giá,… Những loại đặc sản như: bưởi, thơm, bánh tét, bánh rau râm,… Và sưu tầm những bài ca dao thuộc khu vực Đồng bằng sông cửu long
Nghiên cứu cụ thể hơn về ca dao và văn hóa Nam bộ có công trình nghiên cứu
Cảm nhận ca dao Nam bộ của Trần Văn Nam Công trình này tiến hành nghiên cứu
văn hóa của vùng đất mới Bên cạnh đó chỉ ra những hình ảnh đặc trưng trong ca dao Nam bộ như hình ảnh người vợ khổ cực, hình ảnh Bần và Mù u, hay địa danh nổi tiếng của vùng đất này như Cần Thơ Và đề cập đến biểu trưng văn hóa trong ca dao Nam bộ, đưa ra những đặc tính cơ bản của biểu trưng Trong cơ sở để hình thành biểu trưng, tác giả cho rằng những hình ảnh từ thế giới tự nhiên và thế giới vật thể nhân tạo khi đi vào ca dao với số lần nhất định thông qua biện pháp ẩn dụ tu
từ đã trở thành biểu trưng trong ca dao Từ đó nêu lên nhận định về quá trình biểu
trưng hóa nghệ thuật là quá trình “ liên tưởng so sánh giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.” [6, tr.178]
Công trình này nêu lên được vấn đề đáng quan tâm là vấn đề biểu trưng trong ca dao, cơ sở hình thành, cũng như những điểm cơ bản của tính biểu trưng
Công trình Biểu trưng trong ca dao Nam bộ của Trần văn Nam nghiên cứu về
biểu trưng trong ca dao Nam bộ, đưa ra những ý kiến về biểu trưng và biểu trưng trong ca dao Nam bộ Phân loại biểu trưng theo đặc điểm của ngôn ngữ tượng trưng Biểu trưng được chia làm hai nhóm: biểu trưng có tính chất phổ biến và biểu trưng có tính chất ngẫu nhiên Trong xu hướng lựa chọn cái biểu đạt trong ca dao Nam bộ biểu trưng có tính chất phổ biến chiếm ưu thế hơn Cơ sở hình thành biểu trưng do ấn tượng riêng của người dân Nam bộ về thế giới bên ngoài, và đặc thù của các đối tượng biểu trưng Từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa tính biểu trưng và văn hóa của Nam bộ
Vấn đề ngôn ngữ học tri nhận đây là một bộ phận của ngôn ngữ học ra đời khoảng 20 đến 30 năm trở lại đây Có các công trình sau:
Trang 10Công trình Ngôn ngữ học tri nhận Từ điển của Trần Văn Cơ Ở đây đối tượng
nghiên cứu là ngôn ngữ học tri nhân, trọng tâm là cách con người nhìn nhận thế giới
mà trong đó ngôn ngữ chỉ là phương tiện chứ không phải là trung tâm
Tư tưởng chính của ngôn ngữ học tri nhận là khẳng định nguyên tắc “Dĩ nhân vi trung” tức là con người là trung tâm của tất cả các hiện tượng văn hóa và ngôn ngữ
Đưa ra những yếu tố của tri nhận như Ý niệm là yếu tố cơ bản và là đơn vị nhỏ nhất
của tri nhận, còn ẩn dụ tri nhận là cơ sở để cấu thành các ý niệm Công trình nghiên cứu này đã nêu ra những đơn vị cơ bản, những yếu tố đặc trưng cũng như tư tưởng chủ đạo của ngôn ngữ học tri nhận
Tiếp theo là Một số vấn đề ngôn ngữ học và tiếng Việt của Lý Toàn Thắng
nghiên cứu những vấn đề ngôn ngữ Trong đây ngôn ngữ học tri nhận cũng được đề cập đến ở phương diện ngữ pháp Áp dụng các nguyên tắc ngữ pháp của tri nhận để nghiên cứu tiếng Việt, cách thức tri nhận thế giới của người Việt Đề cập đến một nội dung quan trọng trong tri nhận chiếu xạ trong các ẩn dụ về tình cảm, đây là yếu
tố cơ bản để tạo nên ý niệm của tri nhận
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm khám phá được nét độc đáo của ca dao
Nam bộ cũng như thấy được giá trị của ca dao nói chung và ca dao Nam bộ nói riêng Nam bộ có hệ thống sông ngòi chằng chịt, điều kiện tự nhiên có những đặc thù, theo đó những đồ dùng, dụng cụ của Nam bộ không hoàn toàn giống với Bắc
bộ, do vậy những từ chỉ đồ dùng, dụng cụ trong gia đình cũng khác biệt Tất cả đã
đi vào ca dao Nam bộ
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu có cơ hội hệ thống hóa trường từ vựng chỉ đồ dùng - dụng cụ ở Nam bộ, đồng thời nghiên cứu giá trị ngữ nghĩa của chúng trong ca dao, cũng như hiểu được nhận thức của người Nam bộ về thế giới đồ vật trong ca dao
Nghiên cứu đề tài sẽ giúp tôi mở rộng hiểu biết về Văn học dân gian Nam bộ, từ vựng địa phương Nam bộ
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này thì người nghiên cứu sẽ tiến hành làm việc với ca dao Nam
bộ cần nắm rõ các đặc điểm cơ bản của ca dao nói chung và ca dao Nam bộ nói riêng, cần biết những nét về văn hóa, lịch sử, địa lí, con người của vùng đất này Cụ
Trang 11thể sẽ tiến hành nghiên cứu những câu ca dao có chứa từ chỉ đồ dùng trong gia đình
và công cụ trong nông nghiệp Đây là những đồ dùng - dụng cụ mà người dân Nam
bộ sử dụng phổ biến Luận văn tiến hành khảo sát và chắc lọc chủ yếu dựa vào
nguồn tài liệu chính là: quyển Ca dao dân ca Nam bộ của Bảo Định Giang và Văn học dân gian đồng bằng sông cửu long của Trường đại học Cần Thơ
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tìm hiểu đề tài này người thực hiện phải sử dụng nhiều phương pháp, đầu tiên
sử dụng phương pháp thống kê nhặt ra toàn bộ từ chỉ đồ dùng - dụng cụ trong gia
đình và nông nghiệp trong ca dao, sau đó sử dụng phương pháp phân loại để phân
loại và đi sâu vào nghiên cứu Khi đã phân tích từ ngữ thuộc nhóm này trong ca dao chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh để so sánh và đối chiếu làm rõ vấn đề Cuối cùng dùng phương pháp tổng hợp để tổng hợp lại những kết quả đạt được, từ đó đưa
ra những nhận định đánh giá, cuối cùng
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỪ, CA DAO VÀ CA DAO NAM BỘ
đề này và có nhiều tranh luận nhưng chưa có sự thống nhất do đó đến nay vẫn chưa
có câu trả lời nào thỏa đáng được vấn đề trên Chỉ theo Nguyễn Thiện Giáp hiện nay có khoảng 300 khái niệm về từ nhưng để có được một khái niệm đầy đủ, chính xác và có được sự thống nhất thật không phải chuyện dễ Sau đây là một số khái niệm về từ của các nhà nghiên cứu:
Đầu tiên có thể kể đến khái niệm về từ trong Từ vựng ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu ông cho rằng “từ của tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [1, tr.13] Đỗ Hữu Châu đã dựa vào một số đặc điểm của từ để nêu lên khái niệm này Còn trong 777 Khái niệm ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện giáp đưa
ra khái niệm một cách ngắn gọn nhưng khái quát hơn, theo ông từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ Nó độc lập về ý nghĩa lẫn hình thức Cũng dựa vào những đặc
điểm của từ nói chung nhưng trong Ngôn ngữ học đại cương của Mai Thị Kiều
Phượng đã nêu lên khái niêm về từ trong đó từ là đơn vị có tổng thể hữu cơ, có tính toàn khối chuyên biểu thị thực tế khách quan, bao gồm các đặc trưng về ngữ âm, các thuộc tính về ngữ nghĩa, ngữ pháp, có thể tồn tại tách rời nhau và được tái hiện trong các lời nói khác nhau; từ là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ chứa
đựng trong lòng nó những đơn vị các cấp độ dưới nó; là đơn vị có sẵn, cố định, bắt
buột (có tính chất xã hội); là đơn vị nhỏ nhất trong ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và
hình thức, tạo nên các đơn vị cú pháp: cụm từ và câu Còn trong Giáo trình từ vựng học của Đỗ Việt Hùng cho rằng từ là một đơn vị có tính chất tín hiệu Nó tồn tại
hiển nhiên trong ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh và là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu khi
Trang 13ngôn ngữ hành chức cũng dựa vào cơ sở chung đó trong Nhập môn ngôn ngữ học
có sự tham gia nghiên cứu của Đỗ Việt Hùng cũng có khái niệm tương tự
Có thể thấy rằng do dựa trên cùng một cơ sở nên các khái niệm có những điểm chung nhất định do đó ta có thể hiểu từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa nó mang tính sẵn có, cố định, bắt buột, nhỏ nhất và trực tiếp tạo câu
1.1.1.2 Đặc điểm ngữ âm
Trong từ tiếng Việt đặc điểm ngữ âm và đặc điểm ngữ pháp được xem như hai đặc điểm cơ bản Đối với đặc điểm ngữ âm Đỗ Hữu Châu đưa ra sự so sánh và cho rằng so với ngôn ngữ của các nước Ấn - Âu thì hình thức âm thanh của tiếng Việt có phần cố định và bất biến ở hầu như mọi vị trí, quan hệ và chức năng trong câu Theo ông thì đây là một đặc điểm thuận lợi để nhận diện từ Trên cơ sở đó từ tiếng Việt có những mối quan hệ giữa các đặc tính như tính cố định bất biến có quan hệ mật thiết với tính độc lập của từ tiếng Việt đối với câu và với văn cảnh, cho nên hình thức ngữ âm và cái mà từ biểu thị có mối quan hệ với nhau Từ đó ông đưa
ra lí giải về mối quan hệ này cụ thể là từ tượng thanh điều kiện để cho một từ có thể gợi tả mô phỏng các sự vật hiện tượng phải dựa trên cơ sở là thể chất và vật chất của từ phải trùng với thể chất và vật chất của sự vật hiện tượng
Nói tóm lại có thể hiểu từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa, nhưng không có biến thể hình thái học Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, từ có biến thể
về mặt hình thái Nhưng trong tiếng Việt không có biến thể hình thái học như từ: đi, học, nói… bất biến trong mọi quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu
1.1.1.3 Đặc điểm ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt theo Đỗ Hữu Châu có thể dựa vào định nghĩa của từ mà suy ra được đặc điểm ngữ pháp của từ, và ông cho rằng các từ khác nhau luôn có đặc điểm ngữ pháp khác nhau nhưng bên cạnh đó chúng cũng có tính chất chung, tính chất chung nhất của các đặc điểm ngữ pháp là tính đồng loạt bởi vì
có những từ có cùng từ loại với nhau, ông cũng chỉ ra rằng do đặc tính cố định và bất biến nên bản thân hình thức ngữ âm của tiếng Việt không chứa những dấu hiệu chỉ rõ những đặc điểm ngữ pháp của chúng Nếu như ở các tiếng Nga, Pháp, có thể cho biết chúng thuộc từ loại nào thì tiếng Việt lại không có Các đặc điểm ngữ pháp của từ không biểu hiện trong chính bản thân của từ mà biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ; trong mối quan hệ tương quan của nó với các từ khác trong câu Mối quan hệ tương
Trang 14quan đó thể hiện qua: “khả năng kết hợp giữa từ đang được xét với những từ nhân chứng” (có thể là loại từ hay phó từ) [1, tr.18] Cụ thể có đặc điểm ngữ pháp của từ
với ý nghĩa của từ có quan hệ gắn bó với nhau khi mà cơ sở của các đặc điểm ngữ pháp là ý nghĩa còn đặc điểm ngữ pháp đóng vai trò là cái khuôn hình thức để định hình một ý nghĩa Từ đó nhận định ngữ pháp là cơ sở khách quan để tiến hành xác
định các ý nghĩa khác nhau của một hình thức ngữ âm Từ những tính chất của đặc
điểm ngữ pháp, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt là
tổng thể những đặc điểm ngữ kết hợp với nhau, khả năng làm thành phần câu và khả năng chi phối nhau giữa các cụm từ trong tổng thể đó ứng với một ý nghĩa nào
đó của từ” [1, tr.20]
Nói tóm lại đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt có một số điểm sau: nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu, không như các ngôn ngữ biến hình khác Trong tiếng Việt từ không có những hình thức giúp xác định nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào loại từ hay phó từ nói chung
1.1.2 Đặc điểm của từ
1.1.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ
Về cơ bản từ được tạo nên từ các phương thức khác nhau nhưng đều dựa trên một yếu tố chung làm cơ sở Theo Đỗ Hữu Châu, các yếu tố cấu tạo nên từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất, đó chính là hình vị Điều này cũng được Đỗ Việt Hùng khẳng định, ông cho rằng: hình vị là do âm vị tạo nên và là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa thực hiện chức năng cấu tạo từ và biến dạng thức của từ Do đó có thể thấy hình vị vừa là yếu tố vừa là đơn vị cấu tạo từ Các phương thức cấu tạo từ là cách để biến các hình vị thành các từ có nghĩa mỗi phương thức ứng với một kiểu từ loại Nhìn chung có ba phương thức cấu tạo từ cơ bản đó là: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị; ba phương thức này tương ứng với ba kiểu từ loại: Từ đơn,
Trang 15và ghi nhớ từng từ một riêng rẽ” [1, tr.33] Phần lớn từ đơn thuần Việt hay đã Việt
hóa là những từ đơn có một âm tiết và dù số lượng từ đơn này không nhiều song chúng lại mang những đặc trưng ngữ pháp chủ yếu của từ tiếng Việt nói chung, chúng là cơ sở để tạo những từ khác Bên cạnh đó cũng có một số từ đơn đa âm tiết thường là những từ thuần Việt như: bù nhìn, bồ các… hay là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn - Âu như: apatit, axit, cà phê… cũng dựa trên cơ sở đó, Đỗ Việt Hùng cho rằng từ đơn là những từ được tạo ra chủ yếu theo phương thức từ hóa hình vị, do đó cấu tạo của nó chỉ có một hình vị
Nói tóm lại, có thể hiểu khái niệm từ đơn là những từ được cấu tạo bởi một tiếng
độc lập ví dụ như: nhà, xe, tập… và có một số đặc điểm chung:
- Xét về mặt nguồn gốc: từ đơn có nguồn gốc từ lâu và một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số lại được vay mượn từ những ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, Nga…
- Về mặt ý nghĩa: từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt đời sống hằng ngày của người Việt, các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm…
- Xét về số lượng: tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy nhưng là những từ cơ bản, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến
đời sống và là cơ sở để tạo từ mới cho tiếng Việt
b.Từ láy
Phương thức cấu tạo của từ lái tồn tại hai ý kiến:
- Từ láy được hình thành do lặp lại tiếng gốc có nghĩa
- Từ láy được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm
Trong Từ vựng ngữ nghĩa học, Đỗ Hữu Châu cho rằng trên cơ sở chung từ láy
cũng được tạo nên từ phương thức láy Còn đối với từ láy mà hai âm tiết đều có nghĩa và có thể dùng độc lập được xếp vào từ ghép
Theo Đỗ Hữu Châu, từ láy có thể được chia thành từng kiểu khác nhau theo trình
tự từ lớn đến nhỏ Tiêu chí phân loại chủ yếu dựa vào số lần mà phương thức láy tác
động vào từ, trên cơ sở đó nếu như phương thức láy tác động vào một hình vị gốc
một âm tiết sẽ cho ta các từ láy đôi và cứ như thế phương thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho ta các từ láy bốn âm tiết
Trang 16Khi xét từ láy đôi ở cấp độ nhỏ hơn thì lại chia ra: láy toàn bộ và láy bộ phận Để nhận biết từ láy toàn phần và từ láy bộ phận thì dựa vào bộ phận được giữ lại trong
âm tiết của hình vị cơ sở nếu:
- Toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta có từ láy toàn bộ
- Bộ phân âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận
Trong Từ láy bộ phận lại có từ láy âm và láy vần Còn nếu xét ở góc độ khác trật
tự trước sau của hình vị cơ sở với các mối quan hệ khác thì lại có thêm kiểu láy tận cùng Đỗ Hữu Châu cũng nêu lên một số chú ý về các từ láy và ý nghĩa của các từ
láy ở những phương diện chung Còn trong giáo trình Từ Vựng Tiếng Việt của Đỗ
Việt Hùng, dựa vào sự giống nhau giữa hình vị gốc và hình vị láy chia từ láy thành
từ láy toàn phần và từ láy bộ phận
Để có thể dung nạp cả hai bộ phận (từ láy chân chính và từ ghép có dạng láy mất nghĩa) vào từ láy, ngày nay đứng trên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những
từ gồm nhiều tiếng, các tiếng được ghép lại dựa trên quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa
Từ láy có một số đặc điểm sau:
- Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong số các dạng sau:
+ Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu Ví du: vắng vẻ, vui vẻ,
+ Hoặc giống nhau ở phần vần Ví dụ: lò xo.co ro, lúng túng,…
+ Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần Ví dụ: xanh xanh, hao hao,
+ Riêng thanh điệu, từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh : cao thường
là thanh bằng, sắc, hỏi; thấp thường là thanh huyền, thanh nặng, thanh ngã
Trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc lập, nghĩa không còn đủ rõ Do
đó từ láy trong tiếng Việt xảy ra hai trường hợp:
Từ láy có một yếu tố độc lập, và một yếu tố không độc lập Ví dụ: vắng vẻ, sạch sẽ,…
Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập Ví dụ: bâng khuân, lác đác,
+ Từ một số đặc điểm trên ta có thể phân loại từ láy thành: từ láy đôi, từ láy ba
và láy tư
- Ở từ láy đôi được tạo thành gồm hai tiếng và có có các dạng sau:
Trang 17+ Từ láy bộ phận: từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu
Các từ giống nhau ở phụ âm đầu gọi là từ láy âm (ví dụ: sạch sẽ,vẻ vang, ), tương tự các từ giống nhau ở phần vần thì gọi là láy vần (ví dụ: bâng khuân, lúng túng)
+ Từ láy hoàn toàn
Ngoại trừ các từ láy bộ phận còn lại là các từ láy hoàn toàn Có các dạng sau: Giống cả phần vần phụ âm đầu và thanh điệu
Ví dụ: đùng đùng, lù đù, vàng vàng,…
Giống nhau phần vần, phụ âm đầu khác thanh điệu
Ví dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ,…
Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do
sự chi phối của quy luật dị hóa
Ví dụ: đèm đẹp, bàn bạc, sành sạch,
- Từ láy ba và láy tư:
+ Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, ở từ láy ba có các kiểu phối thanh thường gặp là:
Tiếng thứ hai mang thanh bằng ( thường xuất hiện thanh bằng hơn thanh trắc) Ví dụ: dửng dừng dưng, cỏn còn con,…
Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lặp nhau về đường nét / trắc hoặc cao / thấp Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,
+ Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép
* So với từ láy ba từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo :
+ Láy bộ phận kết hợp với vần - a, - à hay - ơ
Ví dụ: ấm ớ thành: ấm a ấm ớ, hì hục thành: hì hà hì hục, sớn sát thành: sớn sơ sớn sát
+ Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh
Ví dụ: bồi hồi thành bổi hổi bồi hồi
+ Láy bộ phận kết hợp với tách, xen
Ví dụ: thơ thẩn thành lơ thơ lẩn thẩn
+ Láy toàn bộ kết hợp với tách xen
Ví dụ: hăm hở thành hăm hăm hở hở
Trang 18Từ những đặc điểm chung ta rút ra được một số ý nghĩa của từ láy (chủ yếu là từ láy đôi)
- Từ láy phỏng thanh là từ láy mà các tiếng không độc lập các tiếng được hình thành dựa vào sự mô phỏng âm thanh của sự vật hiện tượng trong thục tế ví dụ: gâu gâu, đùng đùng,
- Từ láy sắc thái hóa là những từ trong đó có một yếu tố độc lập và một yếu tố không độc lập Yếu tố độc lập chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với tiếng độc lập khi nó đứng một mình và khác với từ láy có cùng yếu tố độc lập đó Ví dụ so sánh bối rối với rối ren,…
- Từ láy âm cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn làm tác dụng cơ sở nghĩa của toàn từ nữa Ví dụ: bâng khuân, linh tinh,
Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp Đây là trường hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa Ví dụ: cổ hủ, mè nheo, ba láp,…
c Từ ghép
Đối với từ ghép thì trong Từ Vựng Ngữ Nghĩa Đỗ Hữu Châu cho rằng: từ ghép
được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt
riêng lẻ, độc lập, đối với nhau Ông chia từ ghép thành những loại nhỏ
- Dựa vào hình vị chia thành hai loại lớn: từ ghép thực và từ ghép hư
Đối với từ ghép hư được hình thành theo phức ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau mà có đó là những từ cụ thể như: bởi vì, tại sao, do vì, do nên, và giữa các hình vị này khó xác định quan hệ chính phụ hay đẳng lập, về mặt ngữ nghĩa các từ ghép hư thường thu hẹp phạm vi sử dụng của các hình vị
Đối với từ ghép thực lại được chia ra làm:
+ Từ ghép phân nghĩa
+ Từ ghép hộp nghĩa
+ Từ ghép biệt lập
+ Từ phức Hán Việt
Về mặt khái niệm từ ghép phân nghĩa cũng dựa trên cơ sở chung của từ ghép là
được tao thành từ hai hình vị theo quan hệ chính phụ Trong đó có một hình vị chỉ
Trang 19loại lớn và một hình vị còn lại phân hóa hình vị loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn
- Trong từ ghép phân nghĩa lại được chia ra:
+ Từ ghép phân nghĩa một chiều
+ Từ ghép phân nghĩa hai chiều
- Từ ghép hợp nghĩa là từ ghép do hai hình vị tạo nên trong đó không có hình vị chỉ loại lớn và hình vị phân nghĩa, biểu thị những nghĩa rộng hơn so với từng hình
vị độc lập Trong từ ghép hợp nghĩa lại chia thành những loại nhỏ: từ ghép hợp nghĩa tổng loại, từ ghép hợp nghĩa chỉ loại, từ ghép hợp nghĩa bao gộp, từ ghép hợp nghĩa không phi cá thể
- Từ ghép biệt lập là những từ cũng được hình thành trên quan hệ cú pháp chính phụ hay đẳng lập, song tính hệ thống của chúng không có Mỗi từ là một trường hợp riêng lẻ, không có những hình vị chỉ loại lớn chung với các từ khác, không phải là một loại nhỏ trong một loại lớn Những đặc trưng ngữ nghĩa của mỗi từ không lặp lại ở các từ khác Chúng là những sự kiện biệt lập
- Từ phức Hán Việt là những từ do các hình vị gốc Hán tạo nên, trong đó có ít nhất là một hình vị không độc lập
* Về cơ bản từ ghép là những từ có hai hoặc trên hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố có thể phân từ ghép làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
- Từ ghép đẳng lập: từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung:
+ Xét về quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng
+ Xét về quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố: hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau trong đó: có thể có một yếu tố là thuần Việt, có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt, có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt, có thể một yếu tố vốn là toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau hoặc các thành tố trái nghĩa
+ Xét về mặt nội dung: từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Những trường hợp một trong hai thành tố phải
mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập
Trang 20Trong từ ghép đẳng lập lại được phân làm ba loại nhỏ đó là từ ghép gộp nghĩa, hợp nghĩa, từ ghép đơn nghĩa Trong đó từ ghép đẳng lập gộp nghĩa bao gồm những
từ ghép mà nghĩa của thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố
Ví dụ: quần áo được kết hợp từ quần và áo từ nét nghĩa riêng tạo nên nét nghĩa chung
Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa là từ ghép mà nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần giữa các thành tố, mà là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng dựa trên cơ sở ẩn dụ hay hoán dụ Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố
Ví dụ: từ đất nước không phải chỉ đất nói chung hay đất và nước mà là chỉ lãnh thổ của một quốc gia
Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa là từ ghép mà nghĩa khái quát chung của cả từ tương
ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ
Ví dụ: núi non, thay đổi, tìm kiếm,
Bên cạnh đó trật tự các từ ghép đẳng lập cũng được chú ý Khi nói về từ ghép
đẳng lập người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố Nhưng khả
năng xảy ra không phổ biến với toàn bộ từ ghép đẳng lập và vô điều kiện trong mọi trường hợp và có một số điểm chung sau:
+ Hoán vị xảy ra với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán - Việt
Ví dụ: quần áo - áo quần, rủi may - may rủi,…
+ Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa Nhất là
đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa
+ Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu: không đươc phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu, không được ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc, không tạo nên những trật tự khó đọc
- Từ ghép chính phụ: là từ ghép có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp và có một số đặc điểm sau:
+ Cấu tạo có xu hướng nêu lên các sự vật mang ý nghĩa cụ thể Trong từ ghép này yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa sự vật hoạt động hoặc đặc trưng đó
Trang 21+ Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép mà trong đó yếu tố phụ phân loại đối với
đối tượng được đề cập đến
Ví dụ: máy may, máy bay, máy bơm,…
Từ ghép chính phụ sắc tháí hóa: là từ ghép mà trong đó yếu tố phụ có tác dụng
bổ sung sắc thái ý nghĩa nào đó tạo nên sự khác biệt giữa các từ cùng loại và khác loại
xác định ý nghĩa của từ Đồng thời chỉ ra chức năng cơ bản của ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và công cụ tiến hành tư duy trừu tượng
Về chức năng tín hiệu học cơ bản thỉ từ có những chức năng: chức năng biểu vật, biểu niệm, bộc lộ, đưa đẩy Chức năng ngữ pháp: chức năng thay thế, định phong cách
Trong đó thì sự chuyển hóa chức năng của từ cũng tham gia quyết định ý nghĩa của từ
Trong khi đó Đỗ Việt Hùng lại tách ý nghĩa ra làm ý và nghĩa và đưa ra nhận
định trước hết nghĩa của từ là một thực thể tinh thần, nó có quan hệ ổn định với hình
thức còn phần ý cũng là một thực thể tinh thần nhưng nó chỉ xuất hiện lâm thời trong một hoàn cảnh sử dụng cụ thể do đó ông cho rằng khi nghiên cứu từ vựng thì phần nghĩa được đề cập đến là chính và phần ý không cần thiết đề cập đến
Tuy nhiên ta thấy ý kiến của Đỗ Hữu Châu có phần xác đáng hơn bởi vì phần nghĩa phản ánh nội dung của từ và do nhiều nhân tố tạo nên, do đó không thể tách
ra được ta có thể hiểu nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ đó biểu hiện, được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố bao gồm nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan tư duy và người sử dụng Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống của ngôn ngữ
Trang 221.1.3.1 Ý nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu thái của từ
a Nghĩa biểu vật
Nói về nghĩa biểu vật của từ, Đỗ Hữu Châu đã so sánh ngôn ngữ giữa các dân tộc các quốc gia và nhận thấy được không phải tất cả ý nghĩa biểu vật đều trùng hợp hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất trong thực tế khách quan, mà nguyên nhân chủ yếu là do: sự chia cắt thực tế thực tế khách quan trong ngôn ngữ và ý nghĩa biểu vật tính cá thể, cụ thể, của sự vật hiện tượng trong thực tế và tính khái quát của các ý nghĩa biểu vật là những đặc trưng của thành phần nghĩa này Ông cho rằng nghĩa biểu vật cũng là sự phản ánh sư vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ nó là những mảng rất nhỏ trong cuộc sống và không hoàn toàn trùng với thực
tế
Ta có thể thấy được sự không trùng khít này qua những biểu hiên sau :
- Trong thực tế sự vật hiện tượng luôn tồn tại ở dạng cá thể, cụ thể, còn nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt khái quát Hoặc không trùng khít
do sự chia cắt khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ
- Từ đó ta có thể hiểu nghĩa biểu vật là những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị
b Nghĩa biểu niệm
Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có quan hệ nhất định
Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ chính vì nghĩa biểu niệm của
từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm
- Phân loại các nét nghĩa theo trình tự :
+ Nét nghĩa phạm trù: là nét nghĩa lớn nhất không thuộc một nét nghĩa nào lớn hơn
+ Nét nghĩa loại vị: là sự phân hóa tiếp theo của loại vị Đây là nét nghĩa cũng có nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị Hay nói cách khác loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị
+ Nét nghĩa biệt vị: là sự biệt hóa của loại vị Có hai loại biệt vị:
Biệt vị tận cùng: kết quả của sự phân hóa một loại vị ở mức thấp nhất
Trang 23Biệt vị đặc hữu: những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện một từ, không phải là sự phân hóa của loại vị
Khác với nghĩa biểu vật và nghĩa biểu thái, nghĩa biểu niệm có quan hệ mật thiết với khái niệm, Đỗ Hữu Châu nhận rằng khái niệm có vai trò quyết định đối với nghĩa biểu niệm Dù vậy cả hai vẫn có một số điểm giống và khác nhau nhất định:
- Điểm giống nhau là cả hai cùng sử dụng những vật liệu tinh thần mà tư duy con người đạt được
- Điểm khác nhau:
+ Khái niệm là sản phảm của tư duy, do đó chung cho mọi dân tộc còn nghĩa của
từ là dùng chung cho mọi ngôn ngữ
+ Khái niệm có chức năng nhận thức nên tiêu chuẩn đánh giá của nó là chân lí Còn ngôn ngữ có chức năng giao tiếp và tư duy nên tiêu chuẩn đánh giá nó là sự phù hợp hay không phù hợp với hệ thống ngôn ngữ của dân tộc
c Nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái có thể được hiểu là những từ bao gồm những nhân tố thể hiện sự
đánh giá, cảm xúc hoặc thái độ mà từ gợi ra cho đối tượng tiếp nhận
1.1.3.2 Hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
a Hiện tượng nhiều nghĩa
Ta có thể hiểu hiện tượng nhiều nghĩa là cùng một hình thức ngữ âm nhưng từ có thể thích ứng với nhiều phạm vi sự vật hiện tượng khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau Phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa căn cứ vào quan điểm đồng đại
và lịch đại để phân loại
+ Căn cứ vào quan điểm lịch đại chia làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh Trong đó nghĩa gốc là nghĩa có trước còn được gọi là nghĩa từ nguyên Nghĩa phái sinh là nghĩa xuất hiện sau được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc
+ Căn cứ vào quan điểm đồng đại thì chia thành nghĩa cơ bản và nghĩa phụ Nghĩa cơ bản là nghĩa biểu vật mà những người trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ thường sử dụng và nghĩa chính là cơ sở để giải thích nghĩa phụ Nghĩa phụ là nghĩa được phát triển từ một nét nghĩa nào đó của nghĩa chính Nghĩa phụ thường phụ thuộc vào văn cảnh do đó muốn hiểu được phải dựa vào văn cảnh
b Sự chuyển nghĩa của từ
Sự chuyển nghĩa của từ là cơ sở hình thành hiện tượng nhiều nghĩa của từ
Trang 24- Nguyên nhân: sự chuyển nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như : sự phát triển không ngừng của thực tế khách quan Nhận thức của con người thay đổi, hiện tượng kiên cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ Tuy nhiên nguyên nhân chính là do nhu cầu giao tiếp của con người
* Phương thức chuyển nghĩa của từ có hai phương thức chuyển nghĩa thông dụng phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ
- Phương thức ẩn dụ: ẩn dụ là lấy tên gọi của sự vật này để gọi tên sự vật kia khi giữa chúng có điểm giống nhau Ẩn dụ còn được xem là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng
Có hai hình thức chuyển nghĩa: dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể, dùng cái cụ thể
để gọi tên những cái trừu tượng
Một số cơ chế của phương thức ẩn dụ thường thấy:
+ Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật hiện tượng
+ Dựa vào sự giống nhau về vị trí của các sự vật hiện tượng
+ Dựa vào sự giống nhau giữa cách thức thực hiện giữa hai hoạt động
+ Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự các sự vật hiện tượng
+ Dựa vào sự giống nhau về tính chất, trạng thái hoặc kết quả giữa các đối tượng Nhận xét:
Sự phân loại ẩn dụ theo cơ chế ẩn dụ trên không phải bao giờ cũng rạch ròi, dứt khoát Có nhiều trường hợp không chỉ có một mà có nhiều nét nghĩa tác động Phương thức hoán dụ: là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho
sự vật b, c, d khi giữa a, b, c, d có một mối quan hệ nào đó về không gian hay thời gian Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Dạng này có các cơ chế chuyển nghĩa sau:
+ Lấy tên gọi của một bộ phận cơ thể gọi tên cho người hay cho cả toàn thể + Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặc điểm hình dáng của đối tượng gọi tên cho đối tượng
+ Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ để gọi tên cho đơn vị thời gian lớn
+ Lấy tên gọi của toàn bộ gọi tên cho bộ phận
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và vật bị chứa hay lượng vật chất được chứa
Trang 25- Lấy tên nguyên liệu gọi tên cho hoạt động hoặc động hoặc sản phẩm được chế
ra từ nguyên liệu đó
- Hoán dụ dựa trên giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc nghành hoạt động sử dụng dụng cụ đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa chức năng và cơ quan chức năng
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm - sinh lí đi kèm
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tác giả hoặc địa phương và tác phẩm hoặc sản phẩm của họ ngược lại
Tóm lại, mỗi sự vật hiện tượng có quan hệ với nhiều sự vật, hiện tượng khác xung quanh, do đó có nhiều dạng hoán dụ Quan trọng là phải biết lựa chọn quan hệ
cơ bản để chuyển đổi tên gọi
* Mối quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ
- Giống nhau: bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi, cùng dựa trên quy luật liên tưởng
- Khác nhau: cơ sở liên tưởng khác nhau:
+ Ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng Do đó sự vật chuyển đổi tên gọi và
sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác về phạm trù hoàn toàn nên ẩn dụ mang nhiều sắc thái chủ quan hơn
+ Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tiếp cận Mối quan hệ giữa sự vật chuyển đổi và
sự vật được chuyển đổi là có thật chứ không phụ thuộc vào suy luận chủ quan của con người nên hoán dụ mang nhiều tính khách quan hơn
+ Một từ có thể được chuyển nghĩa theo nhiều phương thức
+ Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một phạm vi hoặc có nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì sự chuyển nghĩa theo cùng một hướng
+ Ẩn dụ và hoán dụ tồn tại ở bình diện ngôn ngữ lẫn lời nói nhưng sự chuyển nghĩa của hai bình diện này khác nhau Cần phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ với ẩn
dụ và hoán dụ từ vựng
Ẩn dụ và hoán dụ tu từ được sử dụng với mục đích làm cho sự diễn đạt tăng tính hình ảnh, biểu cảm, không có tác dụng tạo nghĩa mới làm giàu có hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc Ẩn dụ và hoán dụ tu từ là sáng tạo của cá nhân do đó
Trang 26nghĩa tu từ mang tính tạm thời, lệ thuộc hoàn toàn vào văn cảnh khi tách khỏi văn cảnh nghĩa tu từ sẽ biến mất
Ẩn dụ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa đó là sản phẩm của toàn dân, được cố
định hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từ điển như một nghĩa sẵn có
và được tái sử dụng một cách tự do trong lời nói
Tóm lại, hiện tượng nhiều nghĩa vừa phản ánh được độ dài của ngôn ngữ vừa đáp
ứng được quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ mặt khác phản ánh độ phong phú của tư
duy tình cảm, những kinh nghiệm sống của dân tộc Hiện tượng nhiều nghĩa còn giúp ta hiểu sâu sắc bản chất ý nghĩa của từ cũng như hệ thống của chúng
Ca dao thường được dùng với thuật ngữ dân ca do đó có ý kiến cho rằng ca dao
và dân ca là một Trong quyển Ca dao dân ca nam bộ của Bảo Định Giang cho rằng
“ca dao dân ca là một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người và những vấn đề xã hội” [4, tr.19]
Ngoài ý kiến trên còn có ý kiến cho rằng chỉ riêng ca dao thôi đã mang hai yếu tố riêng biệt: ca theo từ nguyên là bài hát ngắn có chương khúc giai điệu, dao là bài hát ngắn nhưng không có chương khúc giai điệu
Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng ca dao và dân ca là hai yếu tố Ca dao là cơ sở để
hình thành dân ca “ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các làn điệu dân ca” [8, tr.42]
Như vậy ta thấy chỉ riêng về ca dao đã có nhiều ý kiến khác nhau và nếu xét kĩ thì ca dao và dân ca thật không dễ để phân biệt ranh giới giữa chúng nhưng điều đó không có nghĩa là ca dao và dân ca là một, có thể thấy rằng ca dao chỉ là lời thơ mà không có phần nhạc điệu như Vũ Ngọc Phan đã nói ca dao có thể xây dựng thành các làn điệu dân ca như vậy dân ca bao gồm cả phần lời thơ và phần nhạc điệu Ta
có thể hiểu khái niệm ca dao theo quan điểm của Hoàng Tiến Tựu Ông cho rằng ca
Trang 27dao là một phần chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian có phong cách truyền thống, có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ
sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình ngắn và tương
đối ngắn ( đoản ca ) của người Việt
1.2.1.2 Ca dao Nam Bộ
Ca dao Nam Bộ là những câu ca dao được hình thành và phát triển ở vùng đất
Nam Bộ phản ánh những sự vật, sự kiện, con người nơi đây và mang dấu ấn riêng
tr.54] Cũng nằm trong ca dao Việt Nam, ca dao Nam bộ có nội dung khá phong phú và đa dạng, đó là những nội dung phản ánh: tình cảm con người trong đó có: tình yêu nam nữ, tình thân, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước và những vấn đề lao động sản xuất, lịch sử xã hội Nhưng trong cái chung đó ca dao Nam bộ cũng tồn tại những cái riêng rất đậm chất Nam bộ Trong ca dao Nam bộ bao giờ bức tranh Nam bộ cũng hiện lên với những hình ảnh rất đặc trưng đó là những cánh
đồng lúa xanh bát ngát, những vườn trái cây trĩu quả, những con sông mang nặng
phù sa Những hình ảnh gần gũi này có quan hệ mật thiết với nhau Những cánh
đồng lúa luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt vì cư dân nơi đây sinh sống chủ yếu
bằng việc trồng lúa Đây là nơi lao động chính của họ, cũng là nơi gặp gỡ, nảy sinh tình cảm của các đôi trai gái Dòng sông là một trong những hình ảnh đặc trưng của Nam bộ Do có hệ thống sông ngòi chằng chịt và các con sông nối liền với nhau nên các con sông trở thành những tuyến giao thông chính của Nam bộ Họ di chuyển chủ yếu bằng ghe, xuồng thuận lợi cho việc đi lại và buôn bán từ đó hình thành nền văn hóa sông nước của vùng đất này Ngoài ra các con sông này còn nó cung cấp lượng phù lớn cho những cánh đồng, nguồn thủy sản dồi dào cho con người Tuy nhiên ở vùng đất mới này cũng những nguy hiểm từ thiên nhiên
“Chiều chiều én luyện trên trời Rùa bò dưới đất khỉ ngồi trên cây”
Trang 28Hay “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đĩa lên rừng sợ ma”
Nam bộ là nơi mới khai phá và còn hoang vu Nhưng thiên nhiên nơi đây cũng tồn tại nét đẹp riêng mà mỗi lần nhắc đến nhân dân Nam bộ đều cảm thấy tự hào
“Quê em Đồng tháp mênh mông Xanh tươi bát ngát ruộng đồng bao la”
Văn hóa Nam bộ khác với Bắc bộ ở cách xây dựng làng mạc Ở Bắc bộ là làng xã
được giới hạn bằng lũy tre làng và xây theo kiểu khép kín Nam bộ làng xã chạy dọc
theo các con sông rạch và các tuyến giao thông Qua cách xây dựng làng xã ấy ta thấy nó cũng gợi lên về tính cách của người Nam bộ nói chung rất phóng khoáng, cởi mở trong các mối quan hệ xã hội, kể cả trong tình yêu Nếu như các chàng trai
cô gái Bắc bộ thể hiện tình yêu một cách e dè, kín đáo như:
Bây giờ mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ? Mận hỏi thì đào xin thưa, Vườn ồng mở lối nhưng chưa ai vào [4, tr.44]
Thì người Nam bộ do tính cách bộc trực thẳng thắng nên trong tình yêu họ bày tỏ một cách rất trực tiếp và tình yêu của họ cũng rất quyết liệt
Anh có thương em thì làm giấy giao kèo, Thò tay điểm chỉ dẫu nghèo cũng ưng [11, tr.333]
Trong các mối quan hệ khác người dân Nam bộ cũng thể hiện thái độ một cách rõ ràng và dứt khoát ghét thương hẳn hoi Dù trong cuộc sống có nhiều khó khăn thì
họ cũng thể hiện một tinh thần hiệp nghĩa và tấm lòng tương thân tương ái với những mối quan hệ xã hội Có lẽ vì thế mà nhân vật Lục Vân Tiên ra đời như một tính cách điển hình của nhân dân Nam bộ
Những hình ảnh những đặc điểm về vùng đất sông nước này và cả tính cách của con người nơi đây tạo nên sự khác biệt về văn hóa con người đối với những vùng
đất khác
1.2.2.2 Hình thức
Xét về mặt hình thức, cũng như ca dao Việt Nam ca dao Nam bộ thường được trình bày dưới dạng thơ lục bát Kết cấu của ca dao cũng khá đa dang Theo giáo
Trang 29trình Văn học dân gian của Trần Văn Nam thì kết cấu ca dao có một số đặc điểm cơ
bản sau:
- Dấu ấn của lối đối đáp in đậm trong ca dao trong một bài thơ bốn hoặc tám câu thường có hai hoặc bốn câu đối và hai hoặc bốn câu đáp
- Ca dao sử dụng đậm đặc các công thức truyền thống Nhất là các công thức mở
đầu như: “rủ nhau”, “ngó lên”, “thân em”, “chiều chiều”,…
Từ những đặc điểm đó, ca dao Nam bộ có một số dạng kết cấu của ca dao như sau:
- Kết cấu song hành tâm lý, thường thì trong một bài ca dao bức tranh thiên nhiên
và bức tranh con người được gợi lên và hai bức tranh này phải có một điểm tương
đồng nào đó nhằm phản ánh một vấn đề nào đó
Ví dụ:
Cây khô chưa dễ mộc chòi Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta Non cao bao tuổi mà già Phải vì sương tuyết hóa ra bạt đầu Đối với thủ pháp này thì trong quyển Ca dao dân ca nam bộ Bảo Định Giang cho
rằng “ca dao dân ca Nam Bộ vẫn sử dụng thủ pháp đối ngẫu tâm lý nhiều hơn” [4,
tr.7] cũng sử dụng những hình ảnh của quê hương để giải bày tâm sự
Kết cấu tương phản, cũng là kết cấu phổ biến ở những bài ca dao ngắn, nhất là
những mảng ca dao trào phúng Kết cấu này có một số công thức quen thuộc như:
“hồi nào - bây giờ”, “khi xưa - bây giờ”,…
Ví dụ
Hồi nào anh nói anh thương Như trâm mà để trong gương chắc rồi Bây giờ trâm gãy, bình rơi Rương long nắp lở, hương phai mùi trầm
Kết cấu trùng điệp là một kết cấu thường gặp trong thơ trữ tình dân gian Đặc biệt là trong ca dao các dân tộc ít người
Ví dụ
Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở Anh đến tìm đò thì đò đã sang
Trang 30Anh đến tìm em thì em đã có chồng
Em yêu anh như rứa hòi có mặn nồng không em ?
Kết cấu trần thuật thu hẹp các tầng bậc hình tượng Biện pháp này thường xuất hiện ở những bài ca dao từ bốn từ trở lên Đây là biện pháp rất đặc trưng đối với những bài ca dao giao duyên
Ví dụ
Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Ngoài những yếu tố trên, ca dao Nam bộ còn mang đậm ngôn ngữ sinh hoạt và
đây là chất liệu chính của ca dao Nam bộ Bảo Định Giang đã khẳng định rằng “có
thể nói ca dao Nam bộ là một lĩnh vực thể hiện rất đậm đặc những đặc điểm của phương ngữ cả về mặt từ vựng và mặt ngữ âm” [4, tr.34]
Ca dao Nam bộ là một phần trong ca dao Việt Nam do đó cũng nằm trong hệ
thống phân loại chung của ca dao nói chung Dựa vào nội dung, trong quyển Tục ngữ ca dao dân ca Việt nam của Vũ Ngọc Phan chia ca dao thành các loại theo các
chủ đề lớn là:
Quan hệ thiên nhiên và quan hệ xã hội Trong đó mỗi loại lại có những tiểu loại:
- Trong chủ đề lớn quan hệ thiên nhiên có hai chủ để nhỏ đó là khí tượng và lao
động sản xuất, kinh nghiệm về sản xuất và chăn nuôi
- Trong chủ đề quan hệ xã hội có các chủ đề như: tình yêu nam nữ, hôn nhân gia
đình, thái độ đối với xã hội phong kiến, đối với thực dân đế quốc và những kẻ tay
sai, ca dao kháng chiến chống Pháp, ca dao kháng chiến chống Mỹ
Trong giáo trình Văn học dân gian của Trần Văn Nam phân loại dựa vào các tiêu
chí đề tài, phân ca dao thành:
+ Đồng dao
+ Ca dao ru con
+ Ca dao về lao động sản xuất
+ Ca dao về tình yêu, hôn nhân, gia đình
+ Ca dao về quan hệ xã hội
+ Ca dao về quê hương đất nước
Trang 31Còn dựa vào mặt diễn xướng chia ca dao thành: ca dao nghi lễ, ca dao lao động,
ca dao sinh hoạt Có thể thấy ba loại này bao quát được những nội dung cơ bản của
ca dao
a Ca dao nghi lễ:
Có quan hệ chặt chẽ với đời sống của nhân dân Phản ánh được phong tục tập quán cùa từng địa phương từng vùng Ca dao nghi lễ nảy sinh trong quá trình lao
động là yếu tố quan trọng, thể hiện các hình thức sinh hoạt tôn giáo của nhân dân
Trong ca dao nghi lễ có hai mảng chính: ca dao nghi lễ trong sinh hoạt cộng
đồng, ca dao nghi lễ trong gia đình
Ca dao nghi lễ trong sinh hoạt cộng đồng thường là những bài ca gắn với đối tượng chủ yếu là nhân dân lao động Những bài ca này thường thể hiện sự tôn sùng, lòng tin vào những lực lương siêu phàm Mục đích là cầu khấn cho con người được bình an, mưa thuận gió hòa, việc trồng trọt chăn nuôi được thuân lợi cuộc sống đầy
đủ Loại này khá phổ biến ở các dân tộc thiểu số dưới dạng đồng dao
Ví dụ:
Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy bát cơm đầy Lấy khúc cá to
Những bài ca dao nghi lễ này thường được sử dụng với mục đích thể hiện sự cầu
mong bình an cho cả năm Tiêu biểu có bài Sắc bùa, bài này có nguồn gốc từ nông
nghiệp Khi tiến hành những bài ca nghi lễ thường kèm theo việc vui chơi ca hát chúc tụng năm mới cho mọi người Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ ca dao nghi lễ còn lại khá nhiều, nội dung chính thường thể hiện sự tôn sùng các vị anh hùng như: Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, còn ở Nam bộ loại hình này cũng tồn tại ở một số
vùng như hát sắc bùa, loại hình này thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất
định với những loại hình và nghi thức riêng
Những bài hát nghi lễ trong sinh hoạt gia đình có ý nghĩa với con người trong những sự kiện trọng đại như: ngày sinh, ngày cưới, ngày làm nhà mới,…
Trang 32Nhiều dân tộc ít ngưới có tục hát trong đám cưới, tiêu biểu có dân ca đám cưới
Tày Nùng Ở Nam bộ có hát bá trảo được xem như một nghi lễ đám ma, những loại
hình này như một thủ tục không thể thiếu trong một số trường hợp nhất định
Thể loại này tạo nên sự phong phú trong bản sắc văn hóa của dân tộc, làm nổi bật lên văn hóa riêng của từng dân tộc trong cùng một đất nước
b Ca dao lao động
Ca dao lao động là những bài ca nảy sinh và sử dụng trong qúa trình và lao động sản xuất Ca dao lao động được chia ra làm hai nhóm nhỏ: hò lao động và bài ca nghề nghiệp
- Hò lao động
Hò lao động là những bài ca được hò hát trong lao động Trong đó các nhịp điệu, sắc thái, tốc độ thường gắn với một công việc cụ thể Đây cũng là hình thức chủ yếu của dân ca lao động, nó thường được sử dụng vào những công việc có tính lặp đi lặp lại về động tác và có tính nhịp điệu Những công việc có nhiều người tham gia thì tiếng hò như một tín hiệu chung để thống nhất sức mạnh tập thể Mục đích sử dụng là tạo nhịp chung cho tiến trình lao động nhằm làm tăng hiệu quả lao động Những công việc thường sử dụng hò lao động như: chèo ghe, đương đệm, tác nước, phát cỏ, kéo gỗ,…
Hò lao động phát triển phổ biến ở miền trung như: hò sông Mã, hò Nghệ, hò
khoan Quãng Bình, hò giã gạo Quãng Nam
- Bài ca nghề nghiệp
Bài ca nghề nghiệp thường gắn với những nghề nghiệp truyền thống của nhân dân Ca dao nghề nghiệp phản ánh tri thức, đời sống tình cảm của người lao động
đó còn là sự đúc kết kinh nghiệm trong lao động và khả năng diễn đạt tình cảm của
nhân dân trong cuộc sống
c Ca dao sinh hoạt
Được chia làm hai mảng nhỏ là: ca dao sinh hoạt gia đình và ca dao sinh hoạt cộng đồng
Ca dao gia đình là nguồn đề tài chiếm phần lớn trong ca dao Những bài ca dao này thường thể hiện những đạo lí truyền thống của dân tộc Đó là tình cảm gia đình hết sức cao đẹp và quý báo, tình cảm này luôn được thể hiện thắm thiết với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Đối với mối quan hệ trong gia đình thì chữ hiếu luôn
Trang 33được đặt lên hàng đầu, họ luôn thể hiện sự biết ơn với các bậc sinh thành, và nó như
trở thành một chuẩn mực đạo đức chung
Trong ca dao gia đình có hai nội dung tiêu biểu đó là tiếng hát than thân và tiếng hát nghĩa tình
- Tiếng hát than thân
Chiếm số lượng lớn trong mảng ca dao sinh hoạt gia đình Đối tượng chủ yếu là phụ nữ Đây là nhân vật trung tâm Họ luôn phải chịu sự bất công trong xã hội phong kiến, sự vất vả trong cuộc sống hằng ngày Từ đó tiếng hát than thân được cất lên với những cảnh đời những nỗi khổ luôn đi kèm với nhũng tâm tư tình cảm của người phụ nữ Dẫu vất vả, khổ cực là thế nhưng những câu hát than thân vẫn chan chứa tình người vẫn đậm tính nhân văn Nội dung trong những câu hát than thân thường là những nỗi khổ của người phụ nữ như: nỗi khổ của người con gái lấy chồng xa quê, nỗi khổ của người con dâu, nỗi khổ của những người phụ nữ là nạn nhân của chế độ hôn nhân đa thê
Những câu hát này được lặp đi lặp lại dường như trở thành một công thức chung cho những bài ca dao than thân như: “thân em”, “chiều chiều’,…
- Tiếng hát nghĩa tình: thể hiện những tình cảm của người phụ nữ đối với thân phận của họ và đối với những người thân Thể hiện phẩm chất tốt đẹp và tình cảm
đáng quý của họ
Trong mảng này có hai nội dung chính là hát ru và đồng dao
+ Hát ru: là một dạng của ca dao, nó gắn bó mật thiết với đời sống của mỗi gia
đình, ở mỗi vùng miền đều có một điệu hát ru, nó vừa mang cái chung của dân tộc
vừa có cái riêng từng địa phương Góp phần tạo nên nét văn hóa truyền thống của dân tộc Mục đích chung của hát ru là ru ngủ đối tượng được ru ngủ chủ yếu là trẻ nhỏ Nội dung của những bài hát thường phản ánh cuộc sống hằng ngày thường đề cập đến những sự vật hiện tượng trong cuộc sống nhằm dạy dỗ trẻ nhỏ và để chúng nhận biết được thế giới xung quanh Hát ru còn thể hiên tình cảm của các thành viên trong gia đình,
+ Đồng dao: là những bài hát dân gian truyền miệng mà đối tượng sử dụng chủ yếu là trẻ nhỏ Được sử dụng trong những lúc vui chơi sinh hoạt Có các loại đồng dao như: đồng dao gắn với sinh hoạt vui chơi của trẻ em, đồng dao gắn với lao động
Trang 34trẻ em chủ yếu là trẻ nông thôn, đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết trí tuệ tâm hồn của trẻ, loại đồng dao được gọi là Sấm kí
- Ca dao trong sinh hoạt cộng đồng - xã hội
Đây là những bài ca mà nhân vật trữ tình là những người dân trong quan hệ xóm làng Biểu hiện tình cảm của con người, đó là tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương
đất nước và những vấn đề xã hội
Ca dao sinh hoạt cộng đồng - xã hội có hai nhóm chính là những bài ca dao duyên và ca dao về đề tài xã hội
+ Bài ca dao duyên
Là những bài ca có đề tài về tình yêu đôi lứa Có số lượng và nội dung nổi bậc nhất trong kho tàng ca dao nói chung Những bài hát này có thể hát một cách có tổ chức hoặc tự do Đây là một thể loại mang đậm chất văn hóa và có chức năng giao lưu văn hóa, nó không chỉ đơn thuần là lời tỏ tình bình thường mà là một loại hình mang đậm tính nghệ thuật và tính văn hóa của dân tộc Đối tượng sử dụng khá đa dạng không chỉ những chàng trai, cô gái mà còn là những cụ già hoặc những người
ở tuổi trung niên kể cả những người đã có gia đình Đặc điểm của loại hình này là
khi hát thì họ nhập tâm vào nhân vật trữ tình Nội dung thường bài tỏ quan niệm, cảm nghĩ của mình về tình yêu, hôn nhân và những vấn đề xã hội Tình cảm trong
ca dao giao duyên rất đa dạng về những cung bậc cảm xúc, những suy nghĩ về tình yêu Cách bày tỏ tình cảm có khi bộc trực có khi rụt rè kín đáo Ở loại hình này ta thấy quan niệm của người lao động về tình yêu hôn nhân khá rõ, họ cho rằng tình yêu phải đi đến hôn nhân Đây là cơ sở để bắt đầu xây dựng hạnh phúc lâu bền Tình yêu chân chính không quan trọng ở giá trị vật chất mà ở giá trị tinh thần Họ ca ngợi tình yêu gắn với cuộc sống giản dị, đồng thời đề cao sự chung thủy trong tình yêu, lên án và chê trách những tình cảm qua đường
Nhìn chung ta thấy hát giao duyên vừa có giá trị về mặt nội dung vừa có giá trị
về nghệ thuật
- Ca dao về đề tài xã hội:
Ca dao lao động thường là những lời than thân tố khổ của nhân dân lao động và thái độ của họ đối với những bất công của xã hội phong kiến Nhân vật trong ca dao thường là những người có địa vị thấp có công việc vất vả như: người làm thuê, người nông dân, người đi phu,…họ hát về những thân phận, những nỗi khổ, sự vất
Trang 35vả khi phải sống trong xã hội đó Những lời ca dao thường sử dụng những hình ảnh
ẩn dụ, giàu ý nghĩa biểu trưng để than thân, phê phán xã hội phong kiến đồng thời
bày tỏ thái độ châm biếm đã kích
d Ca dao về thiên nhiên đất nước và lịch sử dân tộc
Thiên nhiên trong ca dao hiện lên với những hình ảnh mang đậm tính dân tộc Đó
là những địa danh nổi tiếng của đất nước thường gắn với những đặc trưng về địa lí nghề nghiệp và luôn được nhắc đến với niềm tự hào dân tộc
Ví dụ:
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
- Làng ta phong cảnh hữu tình Dân cư giang khúc như hình con long
Trang 36CHƯƠNG 2
TỪ CHỈ CÔNG CỤ NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỒ DÙNG TRONG GIA
TRONG CA DAO NAM BỘ
2.1 Thống kê
2.1.1 Từ chỉ công cụ nông nghiệp
Qua thống kê chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bao gồm những đồ dùng là công cụ lao động, đồ dùng sử dụng cho việc đánh bắt
Trang 37- Những đồ dùng sử dụng cho việc ăn uống: chén, bát, dĩa, li, nồi, bình tích Cụ thể
có tần số xuất hiện như sau:
Đèn Đờn
2 2 Khảo sát giá trị ngữ nghĩa
Các từ chỉ công cụ lao động và đồ dùng trong gia đình xuất hiện trong ca dao Nam bộ khá nhiều Tuy nhiên nghĩa của chúng không giống nhau trong mọi trường
Trang 38hợp tùy theo kết hợp và ngữ cảnh mà chúng mang giá trị ngữ nghĩa khác nhau Sau
đây chúng ta sẽ đi vào khảo sát những trường hợp xuất hiện của các từ này
2.2.1 Những từ chỉ công cụ nông nghiệp
2.2.1.1 Những từ chỉ dụng cụ đánh bắt
Như ta đã biết, Nam bộ có hệ thống sông ngòi chằng chịt, do đó các loài thủy sản phong phú Theo đó các từ ngữ chỉ dụng cụ đánh bắt thủy sản cũng phong phú, đa dạng như: câu, đăng, đó, nơm, lờ Trong ca dao Nam bộ các từ chỉ các dụng cụ
đánh bắt xuất hiện với tần số cao Tùy thuộc vào ngữ cảnh các từ chỉ dụng cụ đánh
bắt mang giá trị ngữ nghĩa khác nhau Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, một số ít các từ thuộc nhóm này được sử dụng ở nghĩa đen, không có sự chuyển nghĩa; còn lại đa số các trường hợp là có sự chuyển nghĩa Ở trường hợp chuyển nghĩa này có thể chia thành ba nhóm chính sau:
- Chỉ phương tiện hay cách thức chinh phục tình cảm của nhân vật trữ tình
- Chỉ lễ giáo phong kiến
- Chỉ tình cảm hay sự giúp đỡ của con người với con người trong xã hội
a Những từ chỉ đồ dùng sử dụng cho việc đánh bắt (mang nghĩa đen)
“Trai không vợ như đăng không đó, Gái không chồng như đó nọ không đăng,
Anh xin em cho anh kết nghĩa đến cùng, Phòng khi mưa gió, bão bùng có đôi.” [11, tr.468]
“Đăng”, “Đó” là dụng cụ dùng để đánh bắt, được làm bằng tre thường được sử dụng cùng với nhau
Trong trường hợp này từ “đăng”, “đó” chỉ mang nghĩa đen và nằm trong phần hứng của bài ca dao nhằm làm nổi bật lời tỏ tình chàng trai
“Tìm nhau như ná tìm chim,
Kẻ đi ngã trước người tìm ngã sau.” [7, tr.171]
Ná là dụng cụ dùng để săn bắt chim trong ngữ cảnh này từ “Ná” chỉ mang nghĩa
đen
b Từ chỉ dụng cụ đánh bắt biểu trưng cho phương tiện hay cách thức chinh phục tình cảm của nhân vật trữ tình
Trang 39Câu là dụng cụ dùng để câu cá, được tạo thành bằng một thanh tre nhỏ, dài, có lưỡi nhỏ bằng kim loại
“Cá không ăn câu, chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi, nói tại cá tham ăn,
Cá không ăn thật là con cá dại, Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn,” [6, tr.26]
“ Cá không ăn câu thật là con cá dại, Bởi câu anh cầm câu ngãi câu nhân.” [6, tr.87]
Từ “ăn câu” thường dùng để diễn tả cá cắn câu Trong bài ca dao này “cá không
ăn câu” nghĩa đen chỉ cá không cắn câu Dựa vào quá trình và mục đích của việc
câu cá là làm cho cá thuộc về mình Thuộc sở hữu của người đi câu việc câu cá chuyển nghĩa như là lời tỏ tình, chinh phục của chàng trai đối với cô gái Ở đây “cá không ăn câu” chỉ cô gái không chấp nhận, lời tỏ tình, sự theo đuổi của chàng trai Kết hợp “ăn câu” được hiểu là sự bằng lòng, chấp nhận lời tỏ tình, chinh phục của
cô gái với chàng trai
Từ “mắc câu” tức cá mắc câu chỉ trạng thái cá đã cắn câu không thể thoát được
Từ đó liên tưởng đến việc cô gái đã đồng ý với lời tỏ tình của chàng trai và trở nên
bị ràng buộc, không được tự do
Cụm từ “câu ngãi câu nhân” ý muốn nói đối tượng mà chàng trai này tìm kiếm chinh phục là những người nhân nghĩa
“Anh ngồi bực lỡ anh câu
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn,
Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ, Câu thời câu vậy cá chờ có nơi,
Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.” [6, tr.85]
Cụm từ ‘câu vàng” cần câu làm bằng vàng Trong ngữ cảnh này “ câu vàng” kết hợp với “ lưỡi bạc nhợ tơ” chỉ phương tiện chinh phục tình cảm được chuẩn bị chu
đáo Qua đó cho thấy chàng trai đã dành những thứ quý giá để chinh phục cô gái,
thể hiện sự trân trọng đối với cô gái
“Uốn câu” là hành động uốn lưỡi câu để cột vào sợi dây và cần câu bắt cá Ở Nam bộ, tùy vào từng loại cá mà người ta có cách thức uốn lưỡi câu cho phù hợp
Trang 40Từ đó trong câu ca dao “uốn câu” được hiểu là sự thăm dò, ước đoán để làm hài lòng cô gái nhằm chinh phục tình cảm trái tim cô gái
“Đó”, “lờ” là dụng cụ đánh bắt, được làm bằng tre
“Bấy lâu đến ngọn sông chờ, Muốn tìm cá lớn phải nhờ trời mưa, Tiếc công đấp đập be bờ,
Để ai quẩy đó mang lờ đến đơm.” [4, tr.187]
“Quẩy đó” chỉ hành động mang đó trên người Cụm từ “quẩy đó mang lờ” ngụ ý chàng trai đã bỏ công sức ra theo đuổi mục tiêu chinh phục trái tim cô gái Nhưng
đã bị người khác đem dụng cụ có lợi thế hơn cướp đi “ Đó”, “ Lờ” ở đây chỉ sính lễ
hoặc phượng vật chất mà chàng trai khác mang đến để chinh phục tình cảm cô gái
“Tiếc công chẻ nứa đươn lờ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi.” [11, tr.464]
“Đươn lờ” là hành động để tạo thành cái lờ, nói đến việc chàng trai đã tốn rất nhiều công sức để vun vén, xây dựng tình cảm với cô gái nhưng cô gái đã chấp nhận người khác “ Để cho con cá vượt bờ nó đi” Từ “đươn lờ” chỉ công sức, tình cảm của chàng trai dành cho cô gái
Ná là “vật dụng có hình chữ “Y”, hai đầu được cột dây cao su, nối liền bởi một miếng da, để đặt viên sỏi, viên bi vào trong, rồi kéo giãn ra, buông tay cho đạn bay
về phía trước” [12, tr.574]
“Trách ai đặng cá quên nơm,
Đặng chim bẻ ná, quên ơn vội thù.” [7, tr.42]
“Bẻ ná” là hành động làm gãy cái ná làm cho nó không thể sử dụng được Ở đây từ
“ đặng” còn được hiểu là “ được” Từ đó “ đặng chim bẻ ná” theo nghĩa đen là đạt
được mục đích thì quên đi phương tiện giúp mình thành công Còn theo nghĩa
chuyển được hiểu là sự vong ơn, bội bạc của những người vô ơn đối với người đã
có công giúp đỡ mình, “Ná” ở đây được hiểu như “ ơn” của con người đã từng giúp