“Trong văn học dân gian có một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người
Trang 1KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
NGUYỄN THỊ DIỄM PHÚC
VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG CA DAO NAM BỘ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
Hậu Giang - 2014
Trang 2KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC
VĂN HÓA VẬT CHẤT TRONG CA DAO NAM BỘ
Giáo viên hướng dẫn:
TS TRẦN VĂN NAM
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ DIỄM PHÚC MSSV: 1056010053
Lớp: Đại học Ngữ văn Khóa: 3
Hậu Giang - 2014
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Người viết xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Tiến sĩ Trần Văn Nam, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, cung cấp tư liệu và giúp đỡ người viết trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Toàn thể Trường Đại học Võ Trường Toản, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Cơ bản
đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho người viết học tập trong suốt bốn năm vừa qua
- Thư viện Trường Đại học Võ Trường Toản, Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ và Thư viện Thành phố Cần Thơ đã cung cấp những tư liệu quý giá cho người viết hoàn thành khóa luận
- Cùng gia đình, bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ cho người viết trong suốt thời gian làm khóa luận
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Diễm Phúc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
HÖI
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Diễm Phúc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Giới hạn vấn đề 7
5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Ca dao và ca dao Nam Bộ 9
1.1.1 Khái quát về ca dao 9
1.1.2 Khái quát về ca dao Nam Bộ 11
1.2 Văn hóa và văn hóa Nam Bộ 15
1.2.1 Khái quát về văn hóa 15
1.2.2 Khái quát về văn hóa Nam Bộ 17
CHƯƠNG 2: NHÀ Ở, TRANG PHỤC, GIAO THÔNG TRONG CA DAO NAM BỘ 2.1 Nhà ở 21
2.2 Trang phục 26
2.3 Phương tiện giao thông 33
2.3.1 Giao thông đường bộ 33
2.3.2 Giao thông đường sông 39
CHƯƠNG 3: ẨM THỰC VÀ SINH HOẠT LAO ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI NAM BỘ TRONG CA DAO 3.1 Các món ăn, thức uống 47
3.2 Lao động sản xuất 59
3.2.1 Nông nghiệp – nghề trồng lúa nước 59
3.2.2 Nghề làm vườn, trồng kiểng 65
3.2.3 Nghề khai thác, nuôi trồng thuỷ hải sản 70
3.3 Thương mại – dịch vụ 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nam Bộ là vùng đất mới, màu mỡ, được khai phá từ sau thế kỷ XVII Buổi ban đầu, đây là vùng đất hoang sơ, đầy rẫy muỗi mòng, cá sấu, cọp dữ của vùng đất
“rừng thiêng nước độc” Mặt khác, đây còn là vùng đất chịu nhiều biến động lịch
sử, cũng là nơi giao lưu văn hóa sớm và có nhiều giá trị
Như chúng ta đã biết, công cuộc khai phá vùng đất mới Nam Bộ được bắt đầu khi người Việt ở Trung Bộ và Bắc Bộ thực hiện quá trình Nam tiến của mình
“Những đoàn người Việt vào phía Nam mở đất đã gánh lên vai mình con cái, lương thực… và cả những truyền thống văn hóa của cha ông Tiềm thức văn hóa ấy, tựa
hồ như những hạt giống tiềm tàng, được ươm trên mảnh đất Nam Bộ mầu mỡ cùng với những hình thức văn hóa mới tràn đầy sức sống do nhân dân sáng tạo ra và tiếp thu của những dân tộc anh em” [6; tr.16]
Hơn thế, Nam Bộ còn là vùng đất mang nhiều nét đặc trưng riêng biệt về văn hóa, điều đó làm cho Nam Bộ không bị lẫn với các nền văn hóa khác của đất nước
Đó là những bài ca dao của vùng đất Nam Bộ, giúp chúng ta hiểu được những giá trị về cuộc sống, những khó khăn, gian khổ mà những con người mở cõi phải đối mặt để có được một vùng đất Nam Bộ giàu đẹp, văn minh như hiện nay, giúp chúng
ta biết được những khí phách hiên ngang, kiên cường, sống chân thành, giàu nghĩa tình của con người Nam Bộ Như vậy, văn học là một bộ phận không thể tách rời văn hóa, gắn bó chặt chẽ với văn hóa
Trong thực tế, việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Song, những công trình nghiên cứu đã được công bố chưa đi sâu vào nghiên cứu các vùng miền văn học cụ thể
Vì vậy, nghiên cứu văn hóa Nam Bộ ở khía cạnh văn hóa vật chất thì ca dao
của vùng đất này là “một ứng cử viên sáng giá” “Trong văn học dân gian có một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương, đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác Bộ phận đó là ca dao – dân ca” “Ca dao – dân ca thật ra không phải chỉ là một lĩnh vực đơn nhất Đến với ca dao – dân ca là đến với sự
Trang 8phong phú đa dạng của tâm hồn, đến với một vườn hoa thơ ca ngào ngạt sắc hương” [6; tr.19] Đến với ca dao Nam Bộ là để tìm tòi, khám phá thêm những nét
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người ở Nam Bộ Thông qua những bài ca dao – dân ca tác giả dân gian đã bày tỏ tình cảm của mình bằng những lời ăn tiếng nói hết sức nhẹ nhàng, chân chất, đồng thời qua đó gửi gắm những kinh nghiệm về đối nhân xử thế
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam Bộ, từng được nghe nhiều những bài ca dao, được tiếp xúc với lời ăn tiếng nói hằng ngày trong ca dao, từ chiếc ghe, cây cầu cho đến trái cà, trái ớt, hạt gạo cũng được tác giả dân gian nâng niu, trân trọng gửi gắm vào những bài ca dao, làm cho tôi muốn tìm hiểu thêm để mở mang kiến thức
về vùng đất mình đang sinh sống Chính vì thế, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Văn
hóa vật chất trong ca dao Nam Bộ” là muốn tìm hiểu sâu hơn về vẻ đẹp tâm hồn,
những tình cảm đối với quê hương, xứ sở, công cuộc khai phá, xây dựng và phát triển vùng đất non trẻ này Đồng thời, tôi cũng có điều kiện học hỏi những cái hay, cái đẹp qua những bài ca dao ấy, cũng như giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp trong thời khắc hiện tại
2 Lịch sử vấn đề
Là vùng đất được khai phá cách đây hơn 300 năm, vùng đất Nam Bộ hứa hẹn những tiềm năng rực rỡ, là vùng trải qua nhiều biến cố lịch sử, giao lưu văn hóa, kinh tế tương đối sớm hơn những vùng đất khác nên vùng đất này đã và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều phương diện khác nhau, đặc biệt là Văn học dân gian ở mảng Ca dao Nam Bộ
Đầu tiên phải kể đến cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo
Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in năm 1984 Các tác giả đã chia cuốn sách này ra làm hai phần Phần một nêu vài nét về miền đất Nam Bộ, nội dung, đặc điểm nghệ thuật của ca dao Nam Bộ, cùng những biểu hiện về sắc thái địa phương Nhà nghiên cứu
Trần Tấn Vĩnh với bài viết Vài nét về miền đất Nam Bộ đã khái quát lịch sử hình thành vùng đất này “Trong lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, cư dân Việt đã trụ ở Đông Nam Bộ đầu tiên, trước khi lấn xuống đồng bằng Châu Thổ, họ đã sống với nghị lực:
Trang 9Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng,
đi khai phá cả một vùng “rừng thiêng nước độc”, bắt nó phục vụ cuộc sống con người” [6; tr.10] Nguyễn Tấn Phát với bài Vài nét về nội dung ca dao – dân ca Nam Bộ đã viết: “Trong văn học dân gian có một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác” [6; tr.19] Bùi Mạnh Nhị với bài Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao – dân ca Nam Bộ đã viết: “Ca dao dân ca Nam Bộ luôn phát triển theo một xu thế chung…
và cảm thụ những truyền thống chung của ca dao – dân ca toàn dân tộc, đồng thời
nó càng luôn phát huy những đặc điểm riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tâm lý, tính cách con người ở địa phương” [6; tr.58] Bảo Định Giang với bài Ca dao – dân ca Nam Bộ, những biểu hiện sắc thái địa phương đã viết: “Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có người ở nhiều địa phương khác nhau, từ cảnh trí, đặc sản, đấu tranh xã hội, phương thức sản xuất, phong tục tập quán,… Hoàn cảnh thiên nhiên và lịch sử địa phương lại tác động đến nếp sống, tính cách con người Tuy vậy, vì dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, có chung một nguồn gốc, một tiếng nói, cho nên bên cạnh những nét riêng cũng có cái chung chứa đựng tinh thần dân tộc và phù hợp với tâm hồn dân tộc” [6; tr.91]
Do đặc điểm cấu tạo tự nhiên, Nam Bộ đã hình thành hai khu vực lớn: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng đất phù sa cổ, cao ráo, là nơi có nhiều sản vật quý với nhiều loại trái cây nổi tiếng (sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,…) Tây Nam Bộ với bạt ngàn ruộng lúa phì nhiêu, màu mỡ Nơi đây cũng có một hệ thống mạng lưới sông ngòi chằng chịt, giao thông thuỷ lợi được thông thương phục vụ cho mục đích kinh tế, văn hóa, quốc phòng Chính điều kiện tự nhiên đã tác động mạnh đến đời sống con người Nam Bộ
Phần thứ hai là sưu tầm những bài ca dao – dân ca Nam Bộ và sắp xếp theo bốn chủ đề chính: tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình
và các mối quan hệ khác
Công trình nghiên cứu trên rất có giá trị và đây sẽ là ngữ liệu đáng tin cậy
Trang 10cho các nhà nghiên cứu khi cần tìm hiểu về Nam Bộ nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng.
Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, do Khoa Ngữ văn Trường Đại
học Cần Thơ sưu tầm và biên soạn Công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng tồn tại của văn học dân gian trong nhân dân thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đã trình bày bao quát được tương đối đầy đủ các thể loại của văn học dân gian vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà trong đó phần ca dao chiếm số lượng tương đối nhiều
Các tác giả đã viết: “Văn hóa của một cộng đồng bao giờ cũng hình thành và phát triển trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên Thiên nhiên ĐBSCL là nhân
tố quan trọng tác động đến nhận thức, thói quen, cách ứng xử,… của cư dân ở đây Quan trọng hơn cả là môi trường sông nước Ngoài hệ thống sông Cửu Long, nơi đây còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra Vịnh Thái Lan và mạng lưới kênh rạch chằng chịt Bên cạnh những dòng chảy tự nhiên, con người còn “khai mương” để làm vườn, đào kênh để xả phèn cho ruộng Môi trường sông nước đã sản sinh ra nền
“văn minh kênh rạch” Do có nhiều dòng chảy nên giao thông đường thuỷ là hệ thống quan trọng của nhân dân từ buổi đầu khai hoang cũng như trong suốt mấy thế kỷ qua Sinh hoạt đời sống trên sông nước của họ gắn với chiếc ghe, xuồng,… nên hò chèo ghe đặc biệt phát triển” [11; tr.16]
Ca dao – dân ca Nam Kỳ lục tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, nhà xuất
bản tổng hợp Đồng Nai xuất bản lần 1 năm 1998 Đây là công trình tập hợp lại các xuất bản của các nhà nghiên cứu công bố từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX ở Nam Bộ Bao gồm:
- Câu hát góp do Huỳnh Tịnh Của sưu tầm và công bố lần đầu vào năm
1897, tái bản năm 1901
- Hát và hò góp do Nguyễn Công Chánh biên soạn, nhà xuất bản Thuận Hòa
xuất bản năm 1967 tại Chợ Lớn
- Hò xay lúa do Hoàng Minh Tự sưu tầm, nhà xuất bản Phạm Văn Cường
xuất bản tại Chợ Lớn
- Câu hát đối đáp do Nguyễn Bá Thời sưu tầm, nhà xuất bản Phạm Văn
Cường xuất bản năm 1959 tại Chợ Lớn
Trang 11- Câu hát huê tình do Đinh Thái Sơn sưu tầm, nhà xuất bản Thuận Hòa xuất
bản năm 1966 tại Chợ Lớn
- Hò miền Nam do Lê Thị Minh sưu tầm, nhà xuất bản Phạm Văn Tươi xuất
bản năm 1956 tại Sài Gòn
Công trình trên là những tài liệu có tính xác thực về lịch sử rất có ích cho việc tìm hiểu ca dao – dân ca Nam Bộ nhất là phần dân ca Trong số sáu công trình
nghiên cứu trên thì chỉ có phần “Câu hát góp” của Huỳnh Tịnh Của là thuộc về ca
dao, năm phần còn lại là ngôn từ của các bài dân ca Nam Bộ
Ca dao – dân ca là một phần của “di sản văn hóa” mà cha ông để lại Vì thế nên, khảo sát Ca dao – dân ca Nam Kỳ lục tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn
giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc sống tình cảm, những quan niệm về thẩm mỹ, đạo lý,… của các thế hệ người Nam Bộ đi khai hoang vùng đất mới, tạo dựng một nền văn hóa hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc
Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của nhóm tác giả Thạch Phương, Hồ
Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh (nhà xuất bản Thời Đại, in năm 2012)
Đây là công trình nghiên cứu văn hóa dân gian từ góc độ văn hóa thông qua
sự kết hợp với Văn học dân gian Nhóm tác giả đã viết: “Văn hóa dân gian bao hàm
“toàn bộ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân chúng, liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống dân chúng” Nói cụ thể hơn, đó là:
- Việc sản xuất ra của cải vật chất (phương pháp, công cụ, quy trình sản xuất);
- Sinh hoạt vật chất của công chúng (phương tiện và cách thức ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh);
- Mọi mặt của phong tục tập quán của các loại cộng đồng (từ gia đình, xóm
ấp, phường hội,… đến các cộng đồng rộng lớn hơn);
- Mọi mặt sinh hoạt tinh thần (đạo đức, tín ngưỡng, thị hiếu, hội hè, văn nghệ);
- Tri thức, kỹ xảo, tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan của dân chúng” [20; tr.34-35]
Cảm nhận ca dao Nam Bộ của Trần Văn Nam (nhà xuất bản Văn nghệ TP
Trang 12HCM, in năm 2008).
Sách tập hợp 15 bài viết của nhà nghiên cứu Trần Văn Nam về các lĩnh vực
ca dao Nam Bộ và văn hóa Nam Bộ Đáng chú ý là các bài viết: “Từ ba yếu tố nền tảng của văn hóa Nam Bộ đến ca dao”, “Ca dao Nam Bộ - ca dao của vùng đất mới”, “Thái độ của tác giả ca dao Nam Bộ đối với văn hóa Pháp, người Pháp: Tiếp nhận và kháng cự”, “Một nét văn hóa Nam Bộ qua hình ảnh cá, câu – cá trong ca dao”, “Biểu trưng văn hóa trong ca dao Nam Bộ”
Ba cụm từ “Văn minh của cây lúa nước”, “văn minh miệt vườn” và “văn minh kênh rạch” được tác giả xác định cho vùng đất Nam Bộ trong bài viết “Từ ba yếu tố nền tảng của văn hóa Nam Bộ đến ca dao”
Bên cạnh đó, tác giả còn viết về vùng đất “Cần Thơ gạo trắng nước trong” qua các bài: “Cần Thơ đất nước con người qua ca dao”, “Vấn đề dị bản ca dao và câu hò Cần Thơ”, “Khát vọng của người xưa qua địa danh Bình Thuỷ, Long Tuyền”
Tuy nhiên những bài viết về văn hóa Nam Bộ và ca dao Nam Bộ vẫn chưa có
sự liên kết chặt chẽ, thống nhất nhau thành một hệ thống liền mạch các yếu tố của một nền văn hóa
Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo của Nguyễn Phương Thảo (nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, in năm 1997)
Đây là tập tiểu luận được in lần 2 có sửa chữa bổ sung, gồm 16 bài viết của tác giả về những nét văn hóa dân gian của Nam Bộ Văn hóa về vật chất (miệt vườn, các món ăn thảo dã,…) và văn hóa tinh thần (nghi lễ, tục thờ cúng thành hoàng, tục thờ mẫu, thờ cúng cá voi,…) của các tỉnh trong khu vực Nam Bộ Mặt khác, tác giả còn đề cập đến văn hóa dân gian của người Khmer ở Nam Bộ
Đây là tập tiểu luận có giá trị Thế nhưng, các bài viết có nội dung độc lập, chưa thống nhất nhau
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của người đi trước, người viết tiếp tục phát triển đề tài theo hướng tiếp cận, tìm hiểu văn hóa vật chất người Việt qua ca dao sưu tầm ở Nam Bộ Chính vì thế, khi thực hiện đề tài này, người viết hy vọng phát hiện thêm nhiều điều thú vị, thấy được những điều hay của các tác giả dân gian trong việc vận dụng những văn hóa vật chất vào ca dao
Trang 133 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu về Văn hóa vật chất trong ca dao Nam Bộ, người viết
mong muốn hiểu thêm về những giá trị, ý nghĩa của văn hóa trong ca dao Đặc biệt
là văn hóa về vật chất Bên cạnh đó, trau dồi, nâng cao, tích luỹ thêm vốn ca dao của vùng đất mới Nam Bộ
Cùng với công trình nghiên cứu này, người viết có dịp vận dụng những kiến thức mình đã học vào một vấn đề cụ thể Với vốn kiến thức còn hạn hẹp, cũng như bước đầu trong việc nghiên cứu, người viết hy vọng góp thêm một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu những bài ca dao của dân tộc
4 Giới hạn vấn đề
- Đối tượng nghiên cứu: chủ yếu trong một số cuốn sách sưu tầm về ca dao ở
Nam Bộ như: Ca dao dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn
Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí
Minh in năm 1984, cuốn Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, do Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ, nhà xuất bản Giáo dục năm 1997, cuốn Văn học dân gian Bạc Liêu của Chu Xuân Diên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2011,… Tuy nhiên, những câu ca dao được trích dẫn trong đề tài nghiên cứu của
người viết chủ yếu được lấy từ cuốn Ca dao dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo
Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn
- Phạm vi nghiên cứu: các bài ca dao Nam Bộ có liên quan đến các khía cạnh văn hóa vật chất của người Việt ở Nam Bộ
Trong quá trình nghiên cứu, người viết chỉ tập trung tìm hiểu một số nét văn hóa vật chất của người Việt được ca dao Nam Bộ phản ánh, không đi sâu vào phân tích nội dung, nghệ thuật, cũng như thi pháp của từng bài ca dao mà chỉ dừng lại ở hình thức giới thiệu sự có mặt của các yếu tố văn hóa vật chất của người Việt ở Nam Bộ bằng những dẫn chứng là các bài ca dao
5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu Văn hóa vật chất trong ca dao Nam Bộ, người viết có dựa
trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước
Các phương pháp chính khi thực hiện đề tài:
Trang 14- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp hữu ích trong việc tập hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của người viết.
- Phương pháp so sánh: Khi thực hiện đề tài, người viết sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra nét tương đồng, cũng như nét khác biệt văn hóa trong ca dao Nam Bộ với văn hóa trong ca dao của các vùng khác trong cả nước, để thấy nét độc đáo
Ngoài ra, người viết còn vận dụng các kiến thức về lịch sử, địa lý, các thao tác phân tích, lập luận, giải thích,… để làm rõ vấn đề nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 CA DAO VÀ CA DAO NAM BỘ
1.1.1 Khái quát về ca dao
Trong những công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Việt Nam” của nhóm
tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn đã có định nghĩa rằng:
“Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời
từ thời công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ
xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay” [10; tr.7]
Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn nêu lên tầm quan trọng của Văn học dân gian,
đó là: “Văn học dân gian gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của nhân dân lao động và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân tố cấu thành của những sinh hoạt đó” [10; tr.14]
Văn học dân gian bao gồm: truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, câu đố,
vè, tục ngữ, ca dao – dân ca,…
Hiện nay, thuật ngữ ca dao – dân ca được gắn liền với nhau Bởi lẽ, giữa ca dao và dân ca có những nét tương đồng về giai điệu, về vần,…
Trước khi tìm hiểu về những định nghĩa của ca dao, chúng tôi sẽ nêu lên một vài khái niệm về dân ca, một bộ phận gắn liền với ca dao
Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên cho rằng: “Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian trong đó cả phần lời và phần giai điệu đều có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng hoàn chỉnh của tác phẩm Mối quan hệ hữu cơ giữa lời ca và giai điệu là một trong những đặc điểm tạo nên tính chất phong phú về thể loại của dân ca” [3; tr.324]
Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra định nghĩa của ca dao là: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt (còn gọi là phong dao) Theo cách hiểu thông thường thì ca dao
là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy,… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca” [3; tr.354]
Trang 16Chẳng hạn như bài ca dao sau:
Ví dầu nhà dột cột xiêu, Muốn đi nói vợ sợ nhiều miệng ăn
Nhiều miệng ăn rằng anh không sợ,
Sợ duyên nợ không tròn gieo khổ cho nhau
Nhân vật trữ tình đang than vãn về cảnh nghèo khó, thiếu thốn của mình
Thành ngữ “Nhà dột cột xiêu” biểu trưng cho cảnh nghèo đó Bài ca dao vừa có nhạc điệu như lời ca, lời ru “Ví dầu”, mang âm hưởng đượm buồn Hơn thế, bài ca
dao này đã trở thành những lời ca trong một số bài hát nói về tình yêu lứa đôi nhưng chưa thành duyên nợ vì cuộc sống còn nghèo khổ
Thế nên, “giữa “ca dao” và “dân ca” như vậy là không có ranh giới rõ rệt
Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa” [3; tr.355]
“Ca dao” hay “ca dao – dân ca” hiện chưa thống nhất một định nghĩa nhất
định Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách định nghĩa riêng về ca dao Chẳng hạn như
trong bài viết Vài nét về nội dung ca dao – dân ca Nam Bộ của Nguyễn Tấn Phát, ông cho rằng: “Trong Văn học dân gian có một bộ phận được sáng tác bằng các thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương, đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác Bộ phận đó
là ca dao – dân ca” [6; tr.19] Hơn thế, ông còn giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về
ca dao “Ca dao – dân ca thật ra không phải chỉ là một lĩnh vực đơn nhất Đến với
ca dao – dân ca là đến với sự phong phú đa dạng của tâm hồn, đến với một vườn hoa thơ ca ngào ngạt sắc hương” [6; tr.19]
Trong một công trình nghiên cứu khác, ông Chu Xuân Diên còn cho rằng:
“Thuật ngữ ca dao dân ca ở đây được hiểu là ca dao dân ca vừa ở dạng thức những bài ca dao, những bài thơ dân gian gồm nhiều thể thơ khác nhau, vừa ở dạng thức dân ca, tức là những bài thơ ấy được ca hát, diễn xướng theo nhiều làn điệu”
[4; tr.749]
Riêng Nguyễn Xuân Kính thì cho rằng: “Phạm vi phản ánh của hai từ “ca dao” và “phong dao” có chỗ giống nhau Người xưa gọi ca dao là phong dao vì có
Trang 17những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương mỗi thời đại” Vì vậy, dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chỗ cho một từ ca dao” [12; tr.628]
“Ca dao là thơ dân gian có nội dung trữ tình và trào phúng Người ta có thể hát, ngâm, đọc (và cả xem bằng mắt sau khi ca dao đã được ghi chép lại)”
[12; tr.633] Chẳng hạn như:
Nước nóng đổ miệng bình vôi, Tôi ngồi tôi nghĩ tía tôi, tôi buồn, Tía tôi dở dại dở khôn, Say mê tinh chồn bỏ mẹ con tôi
Bài ca dao trên là lời trách móc của người con khi người cha của mình quên
nghĩa vợ tình chồng, quên đi tình phụ tử “Dở dại dở khôn” mang tính hài hước,
châm biếm hành động của người cha vì say mê người vợ bé mà quên đi nghĩa tàu
khang
Từ đó, “Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian: Người ta gọi là ca dao tất cả những sáng tác thơ ca nào mang phong cách của những câu hát cổ truyền” [3; tr.355]
Ca dao chủ yếu phản ánh tâm hồn nhân dân lao động, tâm hồn dân tộc Việt
Nam
Tóm lại, ca dao là một bộ phận của Văn học dân gian, được truyền miệng qua nhiều thế hệ Mỗi địa phương, vùng miền đều có những bài ca dao riêng biệt của từng địa phương, làm nên những đặc trưng riêng biệt Ca dao là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, mơ ước của con người, vươn lên cuộc sống tươi đẹp Ca dao còn
là kho tàng được đúc kết từ những kinh nghiệm sống, cách đối nhân xử thế, những
bài học quý báu của dân tộc
1.1.2 Khái quát về ca dao Nam Bộ
Trước khi tìm hiểu về ca dao Nam Bộ, chúng tôi sẽ khái quát đôi nét về vùng
đất mới này
Vùng đất Nam Bộ được hình thành vào khoảng thế kỷ XVII Ban đầu “nơi này đã từng tồn tại một nền văn hóa Óc Eo rực rỡ trong vai trò là một đô thị rộng lớn, một cảng thị phồn vinh, một trung tâm kinh tế sống động với sự giao thương Âu
Trang 18– Á khá điển hình” [1; tr.21-22] Thế nhưng, nền văn hóa này đã bị chìm sâu trong lòng đất và không còn được đề cập đến nữa
“Công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ chính thức được bắt đầu với ý nghĩa đích thực của nó khi người Việt ở Trung Bộ và Bắc Bộ thực hiện quá trình Nam tiến của mình Người Việt trong buổi ban đầu ấy phải đối mặt với một vùng đất mà mọi thứ còn hoang sơ Trên mảnh đất Nam Bộ thời ấy còn được miêu tả là đầy rẫy muỗi mòng, cá sấu, cọp dữ, chướng khí của một vùng “rừng thiêng nước độc” [1; tr.22]
Tới đây xứ sở lạ lùng, Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma
Người Khmer đến khai phá vùng đất này trước tiên, sau đó là người Chăm, nhưng họ chỉ chọn những giồng đất cao hoặc nơi đất khá thuận lợi để sinh sống mà
không cải tạo những vùng đất lầy, trũng Kế đến là người Việt “Lưu dân khai phá người Việt đến Nam Bộ từ ba nguồn chủ yếu là: Những người dân nghèo muốn tránh cuộc chiến tranh Lê – Trịnh tìm đến mảnh đất mới với khao khát thay đổi cuộc đời của mình; Những người có tiền của đứng ra chiêu mộ dân nghèo theo chính sách dân điền của nhà Nguyễn bởi chính sách khai phá cấp tốc của nhà Nguyễn đã buộc triều đình phải có những ưu đãi như giảm thuế và cho phép một số người thuê công nhân lập đồn điền…; Những lính tráng tù nhân, tội đồ bị các Chúa Nguyễn đưa vào các đồn điền” [1; tr.24-25]
Đến Nam Bộ sau người Việt là người Hoa Ngoài bốn tộc người chính ở trên, Nam Bộ còn thu hút nhiều luồng cư dân vào sinh sống nên họ đã đóng góp nhiều
yếu tố văn hóa của dân tộc mình vào văn hóa Nam Bộ
Như vậy, dân di cư đến đây thuộc đủ mọi thành phần khác nhau nhưng đều
có chung một mục đích là tạo dựng cuộc sống mới, thế nên họ biết phải đối diện với
thiên nhiên khắc nghiệt, phải đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau:
Trai tứ chiếng, gái giang hồ, Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên
Trang 19Đá dầu nát vàng dầu phai Trăm năm duyên nợ chẳng phai lời nguyền
Hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội Chính những điều này đã tác động lớn đến tiến trình văn hóa của người Việt trên đất Nam Bộ, đặc biệt là bộ phận Văn học dân gian mà cụ thể hơn đó là ca dao Ca dao Nam Bộ đã thống nhất với ca dao cả nước tạo nên một bộ phận văn học thật đặc sắc và phong phú Bên cạnh những điểm chung thống nhất với ca dao cả nước, ca dao của Nam Bộ còn có những đặc thù
riêng, những sắc thái, biểu hiện mà ta thấy chỉ thể hiện ở Nam Bộ
Ngoài nét tương đồng về nguồn cội với ca dao cả nước Ca dao Nam Bộ còn thống nhất về chủ đề của thể loại như: Chủ đề tình yêu quê hương đất nước, quan hệ yêu đương và suy tư của nam nữ thanh niên, tiếng ca tình nghĩa của người lao động trong quan hệ gia đình hay những khúc ca vui buồn của nhân dân trong các mối quan hệ xã hội khác Với sự giống nhau này của ca dao Nam Bộ đã góp phần làm
cho kho tàng ca dao cả nước thêm phong phú, đa dạng và nhiều hương sắc
Ca dao Nam Bộ là ca dao được các tác giả dân gian sáng tác trên vùng đất Nam Bộ, trên cơ sở kế thừa những câu hát truyền thống của lưu dân miền Bắc, miền
Trung vào khai hoang, lập nghiệp Họ luôn hướng về quê hương, “nỗi niềm hoài nhớ của họ về những miền quê Bắc Bộ, Trung Bộ - nơi họ đã ra đi Và trong trái tim của người Nam Bộ nỗi niềm hoài nhớ ấy thổn thức đến mức sầu tư Bốn dòng thơ của Huỳnh Văn Nghệ đã nắm bắt được tâm trạng đó:
Ai về Bắc cho ta về với Thăm lại giang sơn giống Lạc Hồng
Từ thủa mang gươm đi mở cõi Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”
[1; tr.54]
Bên cạnh đó, ca dao Nam Bộ còn được hình thành qua những ngày tháng
sống khổ cực ở vùng đất “rừng thiêng nước độc” Thế nhưng, không thể phủ nhận
thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những sản vật quý, cá tôm trù phú,… Một
phần không nhỏ, ca dao Nam Bộ cũng ca ngợi điều này:
Cần Thơ gạo trắng nước trong,
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời
Trang 20Gió đưa, gió đẩy về rẫy ăn còng,
Về sông ăn cá về đồng ăn cua, Bắt cua làm mắm cho chua, Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền
Có thể nói, những lời ca được sáng tác và lưu truyền ngay trên vùng đất Nam
Bộ in đậm dấu ấn thiên nhiên và con người của vùng đất này
Một số nhà nghiên cứu đã đánh giá về ca dao của vùng đất Nam Bộ như sau:
“Ca dao sưu tầm ở Nam Bộ thực sự góp phần không nhỏ làm nên tổng thể ca dao Việt Nam nhưng nó cũng mang những nét đặc thù không thể không nhận ra trong tổng thể đó Sự tương đồng và khác biệt đã tạo nên sức hấp dẫn của ca dao nơi này” “Ca dao sưu tầm ở Nam Bộ là ca dao của vùng đất mới Nghiên cứu về
nó chúng tôi thấy rất thú vị bởi dấu ấn của truyền thống, của cội nguồn vẫn tồn tại bền bỉ bên cạnh những yếu tố mới lạ mà con người nơi đây đã sáng tạo ra trong quá trình khai phá suốt hơn 300 năm qua” [1; tr.11]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Phát cũng cho rằng: “Ca dao – dân ca sưu tầm
ở Nam Bộ thống nhất với ca dao – dân ca ở các miền khác của đất nước về cội nguồn Từ một gốc đã sinh sôi thêm những cành lá, nước từ nhiều ngọn suối chảy đến làm dòng sông đầy, ca dao – dân ca Nam Bộ đã nảy sinh và phát triển thuận theo cùng một dòng chảy của nền văn hóa dân tộc” [6; tr.25] Và “Sự thật thì những tập thể người Việt đầu tiên và những lớp người kế tiếp theo đến các vùng đất chưa được khai phá của Nam Bộ đã không ra đi với tấm thân trần trụi, đơn độc Cùng đi với họ là gồng gánh đồ đạc, đầu vợ đầu con, những hạt giống để gieo mầm trên đất mới, những truyện cổ và những bài ca dao – dân ca” [6; tr.25-26]
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu trong công trình “Ca dao dân ca Nam Bộ” còn cho rằng: “Chính nhân dân Nam Bộ và những nhà văn, nhà thơ ưu tú của họ đã làm nên “văn mạch dằng dặt không đứt” đó Qua hàng trăm năm thử thách, văn hóa Nam Bộ, trong đó có phần ca dao – dân ca, đã góp vào kho tàng văn hóa chung của dân tộc Việt Nam một bông hoa đậm hương sắc” [6; tr.18]
Như vậy, ca dao Nam Bộ, hay nói đúng hơn là ca dao sưu tầm ở Nam Bộ là một bộ phận cấu thành của ca dao Việt Nam Ca dao nơi đây mang đầy đủ những thăng trầm lịch sử, điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, nguồn gốc cư dân, sự đan
Trang 21xen chủng tộc cũng như sự giao lưu nhộn nhịp từ rất sớm của Nam Bộ đã tạo nên nét đặc sắc cho văn hóa vùng đất này Làm cho ca dao vùng đất mới Nam Bộ mang
một đặc điểm riêng biệt: trẻ trung khỏe khoắn và không kém phần lãng mạn
1.2 VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.2.1 Khái quát về văn hóa
“Văn hóa là sản phẩm đặc biệt của con người, là sự bộc lộ và phát triển các
“lực lượng bản chất” của con người (Mác) – Một khái niệm có nội dung rất rộng, rộng đến nỗi ngoài thế giới thiên nhiên ra, toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất xã hội và tinh thần đều là văn hóa Khái niệm này chỉ nảy sinh trong
ý niệm của loài người Bản chất thiên nhiên không có khái niệm văn hóa Loài người đặt tên “Văn hóa” để định danh khi con người muốn nói đến tất cả những gì loài người tạo ra nhằm phục vụ sự sống, sự sinh tồn và sự phát triển của nó Như vậy, văn hóa có thể là những sản phẩm vật chất, tinh thần tốt, tích cực hoặc không tốt, tiêu cực nếu xét trên các bình diện khoa học, đạo đức Những cái gọi là tích cực, tiêu cực, tốt, xấu đều mang tính lịch sử không phải nhất thành bất biến, và lại còn tùy thuộc vào sự tiếp nhận theo những quan điểm lợi ích… khác nhau của chính con người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau” [2; tr.15-16] Đây là
cách định nghĩa về văn hóa trong văn hóa giao tiếp - ứng xử
Còn trong văn hóa ẩm thực, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Lê lại định nghĩa
về văn hóa là: “Văn hóa là tất cả những gì không phải là của tự nhiên, do con người sáng tạo ra, thông qua các hoạt động sống của mình” [13; tr.14].
Theo định nghĩa của UNESCO thì: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, tập tục và tín ngưỡng” (Tuyên bố về những chính sách văn hóa, Hội nghị Quốc tế do
UNESCO chủ trì, 1982)
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu: “Văn hóa không phải là một cái gì
cụ thể, không có hình khối, không thể sờ mó,… nhưng văn hóa lại có mặt ở mọi nơi, không có hoạt động nào lại không có mặt văn hóa Bởi vì văn hóa chính là cách lựa chọn, cách ứng xử của con người trong quá trình sống Nó được hình thành trong
Trang 22lịch sử, dưới tác động của môi trường tự nhiên (điều kiện địa lý, địa hình), môi trường xã hội (điều kiện lịch sử, điều kiện sống, tổ chức xã hội,…) mà tạo thành”
[9; tr.24]
Riêng chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, cũng đã định nghĩa
về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt, hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng – Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
[16; tr.431]
Theo Từ điển triết học của Liên Xô do Ro-den-tan và I-u-din biên soạn (Nxb
Sự thật dịch năm 1976) thì: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa là một hiện tượng xã hội tiêu biểu cho trình độ đã đạt được trong từng giai đoạn trong lịch sử nhất định, tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm lao động sản xuất, học vấn, giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật và những tổ chức thích ứng với những cái đó”.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Hà: “Văn hóa là phức thể các giá trị vật chất, tinh thần do con người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử dài lâu mà tạo nên Nó tích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc riêng của mỗi cộng đồng” “Như vậy, văn hóa trước hết là giá trị và tổng hòa các giá trị
do con người tạo ra” [7; tr.20].
Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Bích Hà còn nêu lên đặc trưng của văn hóa, đó là: “Văn hóa là một chỉnh thể rộng lớn và toàn diện Trong bất kỳ hiện tượng nào của đời sống cũng có yếu tố văn hóa hay khía cạnh văn hóa” [7; tr.24].
Mặt dù, có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng chung qui lại, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người tác động đến tự nhiên và xã hội Văn hóa mang dấu ấn riêng biệt của mỗi cộng đồng, tộc người
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Nghĩa Dân thì: “Văn hóa có nguồn gốc từ
“Culture” (tiếng Anh, Pháp) “Kultura” (tiếng Nga) nguyên gốc tiếng latinh
“Cultus” mà ra “Cultus” có 2 nghĩa là “Cultus agri” (trồng trọt ngoài đồng) và
“Cultus animi” tức là bồi dưỡng tâm hồn con người, tức tạo cho con người một
Trang 23Theo từ điển Đào Duy Anh và một số từ điển khác thì nghĩa gốc của “Văn”
là vẻ đẹp, “hóa” là thay đổi một cách tự nhiên về dạy dỗ, sửa đổi phong tục, lại còn
có nghĩa là “biến đổi”, “sáng tạo”.
Còn trong lời mở đầu trong công trình nghiên cứu “Tinh hoa văn hóa Bến Tre”, nhóm tác giả Lư Hội – Xuân Quang có viết: “Trên thế giới, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào đều tìm mọi cách gìn giữ, bảo vệ bản sắc văn hóa của riêng mình, vì mất bản sắc sẽ không còn là một quốc gia, một dân tộc Đối với mỗi dân tộc, để làm được điều đó cần có sự sưu tầm, nghiên cứu tìm hiểu những giá trị văn hóa của mỗi địa phương, mỗi cộng đồng dân cư đang chung sống trong một lãnh thổ quốc gia Bản sắc văn hóa mỗi địa phương đã đóng góp chung cho nền văn hóa dân tộc, làm cho nó đa dạng, phong phú và thống nhất, tạo nên sự kết tinh những tinh hoa văn hóa của các địa phương trên khắp cả nước Sức mạnh văn hóa đa dạng trong thống nhất ấy đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt” [8; tr.11]
Như vậy, văn hóa là một phần không thể thiếu trong mỗi quốc gia, dân tộc
Là một phần rất quan trọng, tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia, dân tộc Đó là đặc trưng riêng làm nên thuần phong mỹ tục của quốc gia, dân tộc, góp phần giáo dục con người, tổ chức xã hội, hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ của đời sống
1.2.2 Khái quát về văn hóa Nam Bộ
Nam Bộ là vùng văn hóa gồm 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP.Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Với địa hình khá bằng phẳng, có nhiều cửa sông giáp biển và còn là vùng nằm trong hai lưu vực của hai hệ thống sông lớn là sông Đồng Nai và sông Cửu Long nên Nam Bộ là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hóa, trao đổi buôn bán với các nước trong khu vực và phương Tây từ rất sớm Giao lưu văn hóa, trao đổi buôn bán, học hỏi kinh nghiệm, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa Nam Bộ
Là vùng đất cộng cư của nhiều tộc người: Việt, Hoa, Khmer, Chăm,… sinh
sống “Ngay người Việt cũng là dân “tứ chiếng” gồm nhiều lớp người với nhiều nguyên nhân từ những phủ, huyện khác nhau của Bắc và Trung Bộ hội nhập về đây Cho nên, đây là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc” [11; tr.5]
“Sự ảnh hưởng qua lại giữa người Việt và người Hoa, người Khmer, người Chăm
Trang 24còn thể hiện ở nhiều phương diện khác nữa, từ cách ăn mặc, xây cất nhà cửa đến lễ hội” [11; tr.6]
Văn hóa Nam Bộ hay nói cách khác là văn hóa vùng đất Nam Bộ, là văn hóa của mỗi tộc người ở Nam Bộ tạo nên văn hóa chung của vùng đất mới này Nam Bộ được thiên nhiên ưu đãi nên giàu có: đất đai phù sa bồi đắp, những con kênh rạch thừa cá tôm, những khu rừng thừa gỗ quý,… nên đời sống người dân nơi đây được đảm bảo
Do Nam Bộ có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên đặc điểm định cư của người Việt ở Nam Bộ cũng chịu ảnh hưởng của sông nước Ngoài loại làng ven biển của lưu dân làm nghề chài lưới, còn có loại làng dọc hai bờ sông, kênh rạch Thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán của người dân
“Thuyền ghe ngược xuôi buôn bán thường nghỉ lại đây, chờ con nước Làng mạc mọc lên ở những nơi này, bởi thế: ở đâu là nơi giáp nước, ở đó trên bờ là thị trấn, thị tứ, chợ búa, tiệm ăn,…” [22; tr.9] Thế nên Nam Bộ đã sớm tiếp xúc với
một nền kinh tế hàng hóa, các hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc nên con người nơi đây đã coi việc buôn bán như một niềm vui, nhưng vẫn có thể kinh doanh làm giàu:
Đạo nào vui bằng đạo đi buôn, Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông
Đặc điểm của văn hóa Việt Nam nói chung được nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Bích Hà chia ra như sau:““Văn hóa nông thôn” (trong tương quan với thành thị) thể hiện rõ tính khu vực, không gian văn hóa – người ta hay nhắc đến tính hiệu chợ phiên và nhấn mạnh thái độ trọng sự tĩnh tại, người nông dân thường ngại ra khỏi không gian nông thôn là không gian quen thuộc với mình; “văn hóa làng” (trong tương quan với nước) thể hiện rõ tính tổ chức cộng đồng, văn hóa xã hội mà đơn vị nhỏ nhất là gia đình, sau đó đến làng, nước, văn hóa làng thường biểu hiện ở tục thờ thành hoàng và những nghi thức của việc thờ cúng vốn là một phong tục gắn với văn hóa làng; “văn hóa lúa nước” (trong tương quan với văn hóa lúa khô) phản ánh rõ phương thức sống, tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp” [7; tr.42]
Như vậy, nếu làng quê ở Bắc Bộ được luỹ tre bao bọc quanh làng, với tường hay rào bao quanh từng nhà theo quần thể khép kín thì làng ở Nam Bộ với không
Trang 25gian mở, thoải mái Họ sống tập trung, tương đối rải rác hoặc hoàn toàn phân tán
trên diện rộng Hơn thế “trong lối sống của nông dân Nam Bộ, không có sự phân biệt giữa dân chính cư và dân ngụ cư như làng Việt ở Bắc Bộ Làng Việt Nam Bộ không có cảnh “ba họ chín đời” như ở Bắc Bộ” [22; tr.12] do thiên nhiên ở đây còn
khá rộng rãi và hào phóng với con người
Mặt khác, cư dân Nam Bộ còn sống trải dài trên trục kênh mương hay lộ giao thông, đây cũng là một nét riêng biệt của làng Việt ở Nam Bộ, cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt, có khả năng tạo cho văn hóa dân gian ở Nam Bộ có nhiều nét khác biệt so với Bắc Bộ
Như chúng ta đã biết, công cuộc khai hoang mở đất ở Nam Bộ là một quá
trình khó khăn, gian khổ, con người phải đối mặt với bao điều khó khăn “Phần lớn đất đai ở Nam Bộ vào các thế kỷ XVII đến XVIII là rừng hoang cỏ rậm, trũng thấp sình lầy nên người lưu dân ngoài việc đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên nhiên còn phải lo chống lại các loại thú dữ, cá sấu, muỗi mòng, rắn rết, cùng nhiều bệnh tật hiểm ác” [20; tr.52]
U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường, Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um
Xứ nào bằng xứ Cạnh Đền, Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền như bánh canh
Điển hình là vùng châu thổ sông Cửu Long, tuy môi trường thiên nhiên ưu đãi cho nhiều yếu tố thuận lợi như đất đai màu mỡ, thời tiết điều hòa, thuận lợi cho cây trồng tươi tốt nhưng đó cũng là điều kiện cho cỏ dại phát triển nhanh chóng Mặt khác, đại bộ phận đất đai còn trong tình trạng sình lầy, bị ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước ngọt vào mùa khô, nhiều vùng phèn, mặn nghiêm trọng, chính là môi trường để cho nhiều loại chuột bọ, sâu bệnh phá hoại mùa màng phát triển, sinh sôi nảy nở Đây là những chướng ngại vật không dễ vượt qua, đòi hỏi tất cả người lưu dân cùng các thế hệ con cháu của họ tiếp tục khắc phục để tạo lập cuộc sống mới
Trang 26x Văn hóa vật chất trong ca dao Nam Bộ
“Trước đây người ta thường chia văn hóa làm hai lĩnh vực: văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần Nhưng trong thực tế rất khó phân định một số yếu tố chỉ là văn hóa vật chất hoặc chỉ là văn hóa tinh thần” [7; tr.28] Như vậy, văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần gắn liền với nhau, bổ sung cho nhau
“Con người tác động đến tự nhiên tạo ra các giá trị vật chất gắn liền với các nhu cầu: Ăn,, mặc, ở, đi lại,…”[7; tr21-22]
Hay theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu thì: “Văn hóa vật chất (hữu hình): Đó là cơ sở vật chất, nơi chốn thờ phụng, đình, chùa, miếu, đền thờ,… với các đồ khí tự và những biểu tượng liên quan” [9; tr.15]
Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Lê thì cho rằng: “Văn hóa gồm hai mảng chính: Văn hóa vật chất (hay văn hóa vật thể) và văn hóa tinh thần (hay văn hóa phi vật thể) Trong quá trình hoạt động sống, con người đã sáng tạo nên nền văn hóa vật chất, thông qua sự tác động của họ trực tiếp vào tự nhiên, mang tính vật chất thuần tuý, như việc con người biết chế tác công cụ lao động, chế tạo ra nguyên vật liệu, biết xây dựng nhà ở, cầu đường giao thông, đền đài, thành quách, đình, chùa, miếu mạo,…” [13; tr.14-15]
Do công trình nghiên cứu của chúng tôi là Văn hóa vật chất trong ca dao
Nam Bộ, thế nên chúng tôi chỉ nêu lên những định nghĩa nhằm khái quát sơ nét về
văn hóa vật chất Còn đi tìm hiểu cụ thể về văn hóa vật chất trong ca dao thì ở chương sau sẽ trình bày cụ thể hơn
Tóm lại, văn hóa Nam Bộ là văn hóa của vùng đất mới, có nhiều nét khác biệt với văn hóa của các vùng khác trong cả nước Góp phần làm nên những nét đặc sắc cho vùng đất Nam Bộ, làm phong phú, đa dạng cho nền văn hóa Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 2:
NHÀ Ở, TRANG PHỤC, GIAO THÔNG
TRONG CA DAO NAM BỘ
Như ở phần trên đã định nghĩa, văn hóa vật chất là do con người tác động lên
tự nhiên, tạo các giá trị vật chất gắn liền với đời sống và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người như: ăn, mặc, ở, đi lại,… Đây là kết quả của hoạt động sáng tạo, nhằm thỏa mãn đời sống vật chất của con người
2.1 NHÀ Ở
Trong dân gian có quan niệm rằng “Sống cái nhà, già cái mồ”, điều đó cho thấy, cái nhà rất quan trọng trong đời sống con người Khảo sát 2638 câu trong Ca dao dân ca Nam Bộ, hình ảnh nhà xuất hiện khá cao, 88 lần Nhà dùng để ở, che
nắng che mưa, ngoài ra nó còn thể hiện sự giàu sang hay nghèo khổ Chẳng phải
mặc nhiên mà giàu thường đi liền với từ sang và nghèo cũng không tách biệt với từ hèn Ở Nam Bộ, nhà cửa tạm bợ, lụp xụp, tồi tàn hay “nhà nhỏ, nhà tranh, nhà lá, nhà mo nang, nhà dột” chỉ sự nghèo khó Trong ca dao có câu:
Anh than nhà nhỏ nợ nhiều,
Nồi mai thì có nồi chiều thì không
Ví dầu nhà dột cột xiêu,
Muốn đi nói vợ sợ nhiều miệng ăn
Nhiều miệng ăn rằng anh không sợ,
Sợ duyên nợ không tròn gieo khổ cho nhau
Nhà vách nát mưa luồn gió tạt,
Nhớ đến mình chua chát lòng qua
Nhà anh lợp những mo nang,
Nói láo với nàng nhà ngói năm căn
Không những vậy, để nói về cái nghèo, cái khổ, ca dao nơi đây còn đề cập
Trang 28bằng một loạt các hình ảnh như: “chiếu rách, có giường không chiếu, cơm thiu,…”
Nghèo đến nỗi có giường không chiếu,
Lo nồi mơi sớm lại thiếu nồi chiều
Đêm khuya ôm lấy cột chèo, Sương sa gió lạnh phận nghèo phải đi
Bốn biển giàu sang em còn cầm đặng,
Cảnh em nghèo hột muối mặn cơm thiu
Như vậy, cái nghèo còn được nhìn nhận, đánh giá qua góc độ cái ăn, cái ngủ Một bộ phận ca dao Nam Bộ khác cũng nói vì cái nghèo, gia cảnh sang – hèn
về vật chất, đã làm nên sự chia lìa trong tình yêu đôi lứa:
Đũa mun bịt bạc anh chê,
Đũa tre lau cạnh anh mê nỗi gì
Thân em như thể xuyến vàng,
Thân anh như mảnh chiếu rách, bạn hàng bỏ quên
Cha tôi già, mẹ tôi yếu, tôi mắc nợ tứ giăng, Muốn mượn anh vô trả thế, sợ anh nói nợ không ăn anh phiền
Tuy nhiên, ca dao Nam Bộ cũng có một bộ phận không ai oán cuộc sống cơ cực, gia cảnh nghèo hèn, nhà tranh vách nát, con người nơi đây tìm thấy niềm vui chính ngay trong cái nghèo, không lo nghĩ, họ thấy an nhàn và thỏa mãn với sự nghèo của họ:
Mầm chi cho lắm cũng mắm kho cà, Mần thấy bà cũng cà kho mắm
Mà mần cho lắm tắm cũng không có quần thay, Mần lai rai một ngày thay hai ba bộ
Trang 29Ngược lại, nhà ngói, nhà lầu thể hiện sự giàu sang, quyền quý:
Nhà anh nhà ngói,
Nhà em nhà lá,
Em đâu dám gá vợ chồng, Nồi đất mà đậy vung đồng ai coi
Trông lên trời, trời cao vằng vặc,
Nó xuống đất, đất rộng thênh thang
Thương em nhưng sợ lỡ làng,
Nhà cao cửa rộng, em đâu màng tới anh
Đồng ý là hình ảnh “nhà” tượng trưng cho tình trạng kinh tế gia đình Tuy
nhiên, không phải mọi thứ giàu sang vật chất, nhà cửa đều có thể đem lại hạnh phúc Đối với một số người Nam Bộ, đôi khi cảnh giàu sang, quyền quý ấy lại đổi bằng nước mắt, bằng chôn chặt cuộc đời vào “lồng sắt mạ vàng” mà không biết ngày nào mới được thoát ra Giàu có về nhà cửa đôi khi cũng chỉ mang tính chất tạm bợ, vì mọi thứ xa hoa đều là phù phiếm:
Đừng ham nhà ngói cao nền,
Lâm thân vô đó biết bền hay không
Nhà lầu bốn cột một căn,
Con loan con phụng chạm trong chạm ngoài
Cửa bằng pha không đóng không gài, Biết nam hay nữ nằm hoài trong cung
Kiến trúc nhà ở của người Nam Bộ khá đơn giản, trước nhà có vườn, sau nhà
có ruộng với không gian mở Hầu như không có hàng rào chắc chắn ngăn cách giữa
các nhà Hơn nữa, Nam Bộ ở vùng sông nước Cửu Long là nơi con người “tứ chiếng” tụ lại, với ruộng lúa cò bay thẳng cánh nên không khép mình trong một
không gian gò bó, nhỏ hẹp Điều đó cũng thể hiện một phần tính cách của con người Nam Bộ, luôn hòa đồng, cởi mở, hào phóng và thân thiện, trọng nghĩa
Trang 30nhân,…
Từ khi mới bắt đầu khai hoang mở đất, người dân không coi trọng nhà cửa là
mấy, “từ đầu thế kỷ XVII đến mãi những năm 50, 60 của thế kỷ này hàng chục vạn
người dân Nam Bộ vẫn cam chịu cảnh phải chui ra chui vào trong những “nhà
đạp”, “nhà đá” hay những túp liều cất bằng cây lá đơn sơ, xiêu vẹo Có gì khó hiểu
đâu, hoàn cảnh bắt buộc phải làm như thế Thứ nhất là do cuộc sống của những
người lao động nghèo đi khai hoang hồi ấy không mấy ổn định Nay tạm dừng chân
ở chỗ này, nhưng ngày mai lại có thể ra đi do nạn cường hào ác bá cũng có, hoặc
do không hợp thuỷ thổ cũng có, hoặc do điều kiện làm ăn khó khăn”
[20; tr.178-179]
Hơn nữa, còn do Nam Bộ là vùng đất trũng, sình lầy, vật liệu kiên cố khó
tìm Thế nên muốn dựng một ngôi nhà tạm bợ là điều không khó, người dân có thể
tận dụng những vật liệu có sẵn từ thiên nhiên như: tràm, đước, vẹt, tre, trúc, dừa
nước, choại, bồn bồn,…
Cây tràm thích nghi tốt với vùng đất chua phèn hay ngập nước, đây là loại
cây thân thẳng, được dùng để làm cừ xây dựng, làm đòn tay, kèo, cột nhà Do đặc
tính của gỗ tràm chôn sâu dưới đất hàng trăm năm không mục, nên gỗ tràm được
dùng để đóng cọc, đóng cừ trong xây dựng
“Đước, vẹt: Hai loại cây này cũng thường dùng trong việc làm cột, xà Ưu
điểm của chúng là ít bị mối mọt, cây cứng và đắng nhưng giòn, dễ bị gãy, loại cây
này thường mọc theo ven sông, ven biển vùng ngập mặn
Tre, trúc: Hai loại vật liệu này người ta thường làm vật liệu phụ như đòn
tay, rừng vách, lạt, rui, ít sử dụng làm cột kèo vì thân cây rỗng, chịu lực yếu”
[15; tr.74]
Phải kể đến cây dừa nước, đây “là loại cây thân bẹ mọc ở ven sông rạch,
vùng ngập trũng phèn lợ và mặn Cành còn gọi là tàu dừa giống như tàu cây dừa
nhưng lá dừa nước dai, chịu được nắng mưa bền hơn các loại lá khác Lá dừa
nước, vật liệu quan trọng vì vừa làm tấm lợp mái, tấm dừng vách” [15; tr.74]
Đây còn là loại lá lợp chịu được nhiệt tốt, nắng nóng, mưa nhiều, thời tiết
đặc trưng của vùng đất Nam Bộ Bên cạnh đó, còn tạo được sự thoáng mát “Nhà
lợp bằng lá dừa nước có một nét đẹp riêng, có cái mô-tip văn hóa miệt vườn mà
Trang 31nhà xây không thể thay thế được Nhà thoáng mát trong mùa hè chói chang ánh nắng, khoan khoái, không dẫn nhiệt như tole kim loại hay xi măng, cũng không nóng hầm như ngói Lá lợp dày (lợp lá tàu) và xuôi mái có thể chịu đựng mưa nắng trên 5 năm” [15; tr.75]
Phải căn duyên nhà lá cột chà là, Không phải căn duyên nhà ngói đôi ba tòa cũng không ham
Phải căn duyên anh không kén không lừa, Đám mây kia đông đặc, gió đùa cũng tan
Nhà của người Việt ở Nam Bộ quay theo hướng nào cũng được, nhưng phải
đủ ánh sáng, tránh gió lùa, mưa tạt và phải thuận tiện cho việc làm ăn, mua bán
Đặc điểm của vùng đất Nam Bộ là nhiều sông ngòi, kênh rạch, nên mặt của ngôi nhà thường quay xuống phía sông hoặc quay về hướng đường lộ Điều đó cũng thuận lợi cho việc mua bán
“Nói chung, nhà ở Trung và Tây Nam Bộ thường dựng kề đường nước (sông, kênh, rạch) để tiện việc lấy nước uống, tắm rửa, giặt giũ và đi lại bằng ghe xuồng Phía sau nhà là đồng ruộng mênh mông
Riêng ở “miệt vườn” thì nhà thường được xây cất theo kiểu khuôn viên theo
mô hình: vườn – sân – nhà – vườn – ao – cá, hoặc sân – nhà – vườn – bến nước”
[20; tr.180]
Nhà ở Nam Bộ cũng khá đa dạng: từ nhà không chái, nhà một hai gian cộng với một chái đến nhà có kiến trúc kiểu chữ đinh, kiểu sắp đọi, kiểu nhà có trái và kiểu chữ công,…
“Nhà ở của người dân miệt vườn lấy hướng trục lộ hay hướng mặt ra kinh, sông là chính Câu tục ngữ “lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam” vẫn quen thuộc
và phổ biến với cư dân cho thấy tâm lý người dân vẫn mang những nét truyền thống, nhưng thực tế, người dân không hoàn toàn theo sự lựa chọn ấy Ngoài hướng Nam, người dân còn chọn hướng đông hay đông – nam Dù hướng nào, nhà ở của người dân luôn đặt theo cách nóc nhà song song với hướng gió chính của vùng là đông, đông nam và tây, tây bắc Hai loại gió của mùa mưa và mùa khô luôn thổi dọc theo nhà Hai đầu nhà đã được che kín từ trên nóc xuống dưới Hướng nhà như thế cùng với việc che kín khiến cho căn nhà không bị gió lùa mưa tạt cả hai mùa:
Trang 32khô và mưa” [22; tr.56-57]
Nam Bộ là vùng đất có nhiều dân tộc sinh sống nên các kiểu nhà ở Nam Bộ cũng mang nhiều nét riêng, cũng như việc sắp xếp, trang trí những đồ đạc trong nhà cũng có phần khác biệt, mang nét đặc thù của mỗi dân tộc
Đó là những ngôi nhà còn chịu ảnh hưởng lớn của kiến trúc truyền thống của mỗi dân tộc Tuy nhiên, ngày nay các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm,… cùng cộng cư lâu đời nên trong kiến trúc nhà ở có sự pha tạp
Mặt khác, do Nam Bộ có đặc trưng là vùng sông nước nên một bộ phận ghe, xuồng, bè cũng trở thành nhà của ngư dân vùng này
“Nhà thuyền (nhà nổi): là dạng nhà kiến trúc tập trung ở vùng đầm lầy của rừng sác Lúc đầu nhà thuyền là một chiếc ghe lớn có mui, phương tiện của lưu dân người Việt từ miệt trên xuống mở đất Do ở trên đầm lầy của rừng sác, ghe được sử dụng xếp thành nhà ở, vừa làm phương tiện di chuyển hoặc làm nơi bán hàng, phù hợp với tình trạng chưa định canh, định cư Vì chủ nhà hầu hết là ngư dân nên nhà thuyền có khoang chứa cá Cả gia đình sinh hoạt trên sàn, phía sau làm bếp núc Lúc đầu, nhà thuyền di chuyển bằng buồm, bằng chèo, sau năm 1960, máy cơ động được đưa về nhiều nên nhà thuyền có thêm một bộ phận để gắn máy cơ động, cách
di chuyển bằng buồm và chèo dần biến mất” [15; tr.76]
Có được một cái nhà chắc chắn hoặc nếu không thì cũng có chỗ nghỉ chân, che mưa chắn gió là mơ ước của bao người dân, không riêng gì người dân ở Nam
Bộ Nên trong dân gian mới có quan niệm rằng: “an cư lạc nghiệp” Thật vậy, nếu
muốn có một công việc ổn định, muốn phát triển được nghề nghiệp của mình thì điều trước tiên là phải ổn định chỗ ở Có như vậy thì mới yên tâm mà làm việc được
2.2 TRANG PHỤC
Nói đến trang phục của người Việt Nam thì không thể không nhắc đến chiếc
áo dài truyền thống, đây là nét đẹp tinh tế, dịu dàng của người phụ nữ được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ Tuy nhiên, ở vùng đất Nam Bộ này thì trang phục tạo nên nét đặc sắc riêng biệt đó là chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn
Nam Bộ có hai mùa mưa nắng rõ rệt Thời tiết như vậy không thuận lợi cho việc ăn mặc sang vì nắng thì đổ nhiều mồ hôi, mưa thì dễ ướt, dễ lấm Hơn nữa,
Trang 33Nam Bộ là vùng đất có nhiều sông ngòi, kênh rạch, người dân suốt ngày phải chèo ghe, lội nước, bươn sình, dãi nắng dầm mưa để trang trải cuộc sống nên quần áo hay thấm nước phèn, nước mặn, mau mục, mau rách Vì vậy, áo bà ba là loại trang phục phù hợp với cuộc sống nơi đây và còn mang nét điển hình của người nông dân Nam
Bộ
Áo bà ba mẹ may chờ con lớn,
Nét dịu dàng thương quá áo bà ba
Áo bà ba cái ngắn cái dài,
Sao anh không bận, bận chi hoài chiếc áo bành tô
Năm ngoái em còn e còn ngại, Năm nay em kêu đại bằng mình,
Áo bà ba nút ốc chung tình ai may?
Chiếc áo bà ba thường có 6 nút, 2 túi ở phần dưới hai vạt trước, màu phổ biến là màu đen để thuận tiện cho việc đồng áng, về sau người ta dùng vỏ trâm bầu,
vỏ sắn,… nhuộm rồi nhận xuống bùn để giữ màu lâu phai Khi có vải nhập khẩu thì
áo bà ba được may bằng vải màu đen vẫn được chuộng dùng, những loại vải hợp với điều kiện lao động, đi lại trên sông rạch, bùn lầy, dễ giặt, mau khô cũng được người nông dân dùng nhiều hơn
Áo trắng không vắn không dài,
Sao anh không mặc mặc hoài áo đen
Tôi bận cho người ta khen,
Áo trắng xếp cất áo đen đi làm
Vùng đất Nam Bộ phèn nhiều, mặn nhiều nên áo đen thuận tiện cho việc đi làm, hơn nữa dân Nam Bộ mặc rất xoàng xĩnh, không cầu kỳ Phải chăng tính cách của người Nam Bộ thẳng thắn, bọc trực, mộc mạc, chất phác phần nào cũng được
kế thừa và thể hiện qua cách ăn mặc ấy?
Trong ca dao Nam Bộ có nhiều hình ảnh khăn xuất hiện, với nhiều loại: khăn lông trắng, khăn tay, khăn lau mặt, khăn bàng, khăn xanh, khăn xéo đỏ,… nhưng
Trang 34hình ảnh chiếc khăn rằn gắn liền với người dân Nam Bộ Áo bà ba thường đi kèm
chiếc khăn rằn Chiếc khăn rằn ấy như một điểm nhấn trong trang phục, tôn lên nét
đẹp của người phụ nữ Mặt khác, khăn rằn còn được dùng cho cả đàn ông:
Khăn rằn nhỏ sọc, khăn rằn tây,
Thấy em ốm ốm mình dây anh ưng lòng
Khăn rằn một sọc vắt vai,
Để tôi vô đó lấy thầy cai kiếm tiền
Khăn rằn nhúng nước ướt mem,
Tại anh chậm bước nên em có chồng
Chiếc khăn rằn rất tiện dụng, “chiếc khăn rằn vừa là để lau mặt, đội đầu che nắng, quàng lên vai lúc lạnh, quấn lên mình lúc thay quần áo những nơi trống vắng không có nhà tắm, choàng lên cổ làm duyên, đắp lên người khi ngủ thay mền nhẹ và còn nhiều công dụng tiện lợi khác” [15; tr.100]
Một công dụng thú vị của chiếc khăn rằn mà có thể rất ít người biết được Đó
là dùng chiếc khăn rằn để nấu cơm, luộc thức ăn Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Diệp Mai, những người dân ở vùng đất U Minh dùng chiếc khăn rằn để nấu cơm ăn tạm qua bữa trong lúc đi rừng Gạo hay thịt thú, cá được bỏ vào chiếc khăn rằn, buộc chặt hai đầu khăn lại, sau đó đào đất, bỏ chiếc khăn rằn ấy xuống, lấp đất lại Đốt lửa trên mặt đất chỗ chiếc khăn ấy khoảng chừng 10 – 15 phút là đã có được một bữa cơm được nấu bằng chiếc khăn rằn
Chiếc khăn rằn và áo bà ba đã đi vào những lời ca tiếng hát nhằm xua đi những mệt nhọc trong quá trình lao động của người nông dân Nam Bộ Chẳng hạn như trong câu hò đối đáp của nam nữ cũng có sự xuất hiện của hai hình ảnh này, ngoài việc làm tăng thêm vẻ đẹp, sự giàu có, phong phú về sản vật của quê hương
xứ sở, còn mang đậm chất Nam Bộ:
Hò… ơ…
Trai nào bảnh bằng trai Nhơn Ái, Đầu thời hớt chải, tóc tém bảy ba
Trang 35Mặc pi-da-ma, khăn rằn choàng cổ,
Thấy cô em Ba Xuyên ngồ ngộ, Anh đây muốn thố lộ đôi lời
Cấy cày cực lắm em ơi, Theo anh về vườn ngồi không hái trái, suốt đời ấm no
Hò… ơ…
Gái Ba Xuyên tuy quê mùa san dã,
Tóc dài bỏ xõa, áo vải bà ba,
Nắng táp mưa sa, mịn da dài tóc
Quê rân quê rích, em chẳng thích trai vườn
Trai mà dở dở ương ương, Theo anh về vườn ngồi không hái trái, hết đường tương lai
Trang phục, hay ở phạm vi hẹp hơn đó là quần áo Mặc quần áo ngoài việc che thân, bảo vệ cơ thể, hay mặc để làm đẹp Thì quần áo còn nói lên giá trị vật chất, mang tính thực dụng, đôi khi nó cũng nói lên sự giàu – nghèo Bởi thế, dân
gian có câu tục ngữ rằng: “Quen sợ dạ, lạ sợ áo” Thật vậy, đối với một số người lạ
mặt, mới gặp lần đầu thì những người xung quanh thường chỉ nhìn vào cách ăn mặc của người đó như thế nào mà đánh giá họ Sự sang giàu hay nghèo hèn, một phần cũng được thể hiện ở tấm áo, manh quần:
Hơn nhau tấm áo manh quần, Thả ra mình trần ai cũng như ai
Ngoài ra, quần áo còn là hình ảnh tượng trưng cho đời sống vật chất mà chủ yếu là cái nghèo, cái khổ của người nông dân Nam Bộ lúc bấy giờ:
Anh ơi, quần áo rách tả tơi mỗi nơi mỗi miếng, Đứt chín đoạn lòng nghe một tiếng anh than
Anh đừng chê em áo rách quần phèn,
Anh không coi bụi hẹ nó rã bèn còn thơm
Trang 36Mưa lâm thâm ướt dầm lá cải,
Em cảm thương người áo vải mong manh
Áo anh rách lỗ bằng sàng,
Mẹ anh già cả, cậy nàng vá may
Chiều chiều vịt lội bàu sen,
Thương người áo trắng vá quàng nửa vai
Thương em hồi áo mới may,
Bây giờ áo rách thay tay vá quàng,
Trăm năm duyên nghĩa vẹn toàn,
Dầu thương áo rách vá quàng cũng thương
Thông qua các hình ảnh vật chất: “quần áo rách tả tơi”, “áo rách quần phèn”, “áo vải mong manh”,… ta có thể thấy được sự khó khăn trong cuộc sống
của người nông dân Nam Bộ, sự lao động lam lũ cực khổ, vất vả nhưng cuộc sống vẫn cứ nghèo khổ, vẫn quần áo không lành, người dân phải tảo tần để mưu sinh Dù cực khổ, dù khó khăn nhưng phẩm giá của người nông dân vẫn được giữ vững, vẫn được đề cao Sự thuỷ chung, son sắt của con người vẫn sáng đẹp trong cái nghèo, cái khó Người lưu dân không vì nghèo khó mà phụ bạc, vong thề, dầu nghèo cũng vẫn một lòng một dạ
Chắc hẳn mọi người sẽ thắc mắc vì sao Nam Bộ là vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi nhiều cá tôm, đất đai cò bay thẳng cánh mà người nông dân lại sống cuộc đời cơ cực, nghèo khổ? Thật vậy, đất đai thì nhiều, nhưng phần lớn đều nằm trong tay địa chủ, điền chủ Bên cạnh đó, các điền chủ người Pháp cũng tăng nhanh theo công cuộc xâm chiếm Nam Bộ hoàn tất Theo số lượng thống kê của
nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Thảo thì: “Lê Văn Hiệu ở thôn Bình Xuân (tổng Hòa Lạc, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định) làm chủ 2358 mẫu; Nguyễn Hữu Cầu ở thôn Nhị Bình (tổng Hưng Nhơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Bình Tường) có 860 mẫu” [22; tr.17] Còn về điền chủ là người Pháp thì: “Ở Long An, vào hai thập niên đầu
Trang 37của thế kỷ XX, trong số 180 điền chủ nắm trong tay từ 50 hécta đến 6000 hécta, có
88 điền chủ là người Pháp, mà diện tích chiếm cứ lên đến 90.947 hécta Ở Bến Tre
có thể lập một danh sách những điền chủ Pháp có trong tay hàng chục, hàng trăm hécta, nhờ chiếm đất: năm 1880, Pi-lê chiếm 200 hécta ở Bảo Thạnh; năm 1901, Giô-van-xi-li chiếm 300 hécta ở Giao Thạnh; năm 1905, Prê-đi-a-ni chiếm 718 hécta ở An Nhơn” [22; tr.19]
Như vậy, đa số đất đai nằm trong tay điền chủ thì người dân sẽ nằm trong tình trạng ít hoặc không đất để sản xuất, phải trở thành tá điền và số lượng tá điền ngày một đông đảo hơn
“Từ năm 1945 trở về trước, hơn 90% dân Nam Bộ là tá điền, cố nông và dân nghèo thành thị Đối với họ, ngày ngày lo miếng ăn là chính, việc mặc là phụ Với lại, sắm bao nhiêu quần áo cho đủ ở cái đất đầy sình, phèn này? Khí hậu nơi đây
ấm áp dễ chịu, chứ không có cái rét cắt da như ở miền Bắc hoặc một số nơi miền Trung Thành thử, mỗi người lớn, chỉ có chừng vài bộ đồ bà ba mà thôi Không ít người chỉ có độc một bộ Những năm khủng hoảng kinh tế (1929-1931) và những năm mất mùa đói kém, nhiều người đến một bộ quần áo cũng không có phải chằm bao bố, bao bàng mà mặc Do đó trong suốt mấy trăm năm trước Cách mạng tháng Tám, dân nghèo ở trần bận quần xà lỏn đi làm là chuyện thường Khi nào có công chuyện cần giữ gìn phép tắc, lễ nghi thì mới mặc bộ bà ba và quấn cái khăn rằn Thế nhưng, những người giàu có thì ăn vận khác hẳn Đó là các quan lại, điền chủ, thương gia và công chức, trong số họ không ít người thường xuyên giao thiệp với Tây, có cả những người vào “làng Tây”, lấy vợ đầm hoặc cho con cái sang Tây du học” [20; tr.176-177]
Cũng tùy vào vùng miền mà có cách ăn mặc khác nhau Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Thảo thì người dân miệt đồng, giồng, biển ăn mặc đơn giản,
còn người miệt vườn thì lại chú ý tới màu sắc hơn “Thông thường, người miệt vườn có hai loại quần áo cho hai thời điểm: đi làm và ở nhà Quần áo mặc khi đi móc mương bồi vườn khác với mặc trong nhà Ảnh hưởng của thị tứ, thị trấn và thành phố về cách ăn mặc tác động tới miệt vườn mạnh mẽ hơn người miệt đồng, miệt biển” [22; tr.58]
Mỗi dân tộc đều có trang phục riêng của từng dân tộc Trang phục của người Việt như đã trình bày ở trên, còn người Khmer trang phục cổ truyền của họ có hai
Trang 38bộ phận: phần vải quấn từ thắt lưng trở xuống gọi là xà – rông, phần áo phía trên gọi là Sam – pót Xà – rông đó là tấm vải lớn, nhiều màu sắc được quấn từ thắt lưng xuống đến mắt cá chân, giắt mối sau lưng, Sam – pót là một kiểu áo không bâu, cổ viền nẹp, tay ngắn và rộng Người Khmer thích mặc đồ màu nóng, đỏ đậm, đen đậm, xanh đậm pha trộn
Bên cạnh đó, người Hoa “mặc quần ngã tư hoặc lá nem hoặc váy dài nhưng riêng áo thì có khác biệt: phụ nữ mặc áo vạt hò, cổ kín, đàn ông mặc áo xá – xẩu cửa giữa, đều đơm nút thắt bằng vải Quần đùi đàn ông thường dài ngang đầu gối
Đi đám tiệc, lễ hội ngày xưa, đàn ông mặc áo dài nút rài bên hông Phụ nữ mặc áo ngắn hoặc sườn xám (hay còn gọi là áo dài Thượng Hải) xẻ dài bên hông”
[15; tr.96]
Không thể quên được hình ảnh chiếc nón trong trang phục của người Nam
Bộ Chiếc nón gắn bó với họ trong suốt các buổi làm đồng, lội bưng lội sình Là vật che nắng che mưa
Năm ngoái anh còn kha khá,
Năm nay anh nghèo quá nên đội nón lá bung vành,
Hỏi có công cấy bìa xanh,
Có tiền dư cho anh mượn mua chiếc nón lành làm duyên,
Nón anh quai xanh, quai đỏ, đồ bô mái hè, Phận anh đi cấy mướn đôi hoa hòe làm chi
Em cấy mãn mùa, khăn em cũ, nón rũ rã vành, Anh có tiền dư cho mượn, mua khăn nón lành đội chơi
Hai bài ca dao Nam Bộ trên là lời than thở về cảnh nghèo của người nông dân Nam Bộ, không nói riêng một cá nhân nào, bằng lời nói như cợt đùa, như cười
chua chát với số phận “Nón lá bung vành”, “nón rũ rã vành” chỉ tình trạng tồi tàn
của chiếc nón, chiếc nón ấy đã sử dụng lâu ngày, đã bị hư hại nặng nhưng vì cảnh nghèo nên chưa thể mua chiếc nón mới để thay được Đây là thực trạng chung của mọi người nông dân Hai bài ca dao là lời tâm tình của cô gái và chàng trai với người mình yêu Chàng trai và cô gái trong bài ca dao muốn cậy nhờ người tình của
Trang 39Thứ nhất, có thể người tình ấy giàu thật, dư giả nên cho mượn vì chiếc nón chẳng đắc giá là bao, nhưng với những người nông dân nghèo khổ ở Nam Bộ lúc bấy giờ thì khó có thể mua được Thứ hai, người tình ấy cũng không khác gì với chàng trai
và cô gái ở hai bài ca dao trên, cũng nghèo khó, cũng cày cấy quanh năm thì làm gì
có “tiền dư” mà cho mượn để mua nón Bài ca dao như chế giễu cho sự bất công
của xã hội và số phận người nông dân Nam Bộ lúc bấy giờ Người phải làm việc đầu tắt mặt tối vẫn nghèo khổ, còn người chẳng hề làm lụng, chỉ bóc lột sức lao động của tá điền – những tên địa chủ, điền chủ ấy – thì vẫn sống một cuộc sống giàu sang, sung sướng
Bên cạnh đó, ca dao còn dùng hình ảnh chiếc nón để thể hiện sự tình tứ trong tình yêu:
Anh thương em đưa nón em đội đầu,
Về nhà ba má hỏi đi qua cầu gió bay
Như vậy, chiếc nón cũng là một hình ảnh quen thuộc trong ca dao Nam Bộ, ngoài công dụng là vật để che chắn khi nắng khi mưa trong lao động, chiếc nón còn
là một hình ảnh nên thơ, được tái hiện trong ca dao một cách sinh động và tình tứ để thể hiện tình yêu lứa đôi
Ngày nay, người Việt, người Khmer, kể cả người Hoa đều ăn mặc theo trang phục hiện đại, nhưng vẫn tôn lên nét đẹp riêng, nét văn hóa ăn mặc riêng của dân tộc Việt Nam, hay nói hẹp hơn, đó là nét riêng biệt của cư dân vùng đất Nam Bộ Bên cạnh đó, văn hóa phương Tây cũng du nhập vào Nam Bộ từ rất sớm nên trang phục cũng được đổi mới và cách tân ngày càng hiện đại nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng, nữ tính, phong cách của người con đất Việt
2.3 PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG
2.3.1 Giao thông đường bộ
Khảo sát 2638 câu trong Ca dao dân ca Nam Bộ thì hình ảnh “con đường”
xuất hiện 67 lần Con đường là công trình giao thông chính trên đường bộ
Như chúng ta đã biết, Nam Bộ là vùng đất trẻ, được khai phá từ thế kỷ XVII, thế nên mọi thứ đều gặp nhiều khó khăn, không riêng gì giao thông đường bộ Đất hoang, nhiều sình lầy, thú dữ, nhiều kênh rạch, lại ít người sinh sống nên con đường
bộ chưa được chú trọng xây dựng
Trang 40Đường đi đất sụp bờ sình, Giao ngôn lỡ hẹn chung tình phải đi
Việc đi lại bằng đường bộ là điều khó khăn đối với cư dân lúc bấy giờ, đường đi hiểm trở đất sụp, bờ sình nên con người cũng cảm thấy ái ngại, lo lắng
Đường đi Rạch Giá thị quá sơn trường, Hai bên đế gợp mà điệu cang thường phải đi
Đường xa, khó đi cùng với nguy hiểm là đặc trưng của giao thông đường bộ lúc đó Hơn nữa, do dân cư thưa thớt nên đường bộ cũng không được thông thương, không được nối liền:
Đường đi lên quanh quanh quéo quéo, Đường đi xuống quẹo quẹo cong cong
Hai đứa mình sắp thành vợ thành chồng,
Ai bày mưu sắp kế cho dây tơ hồng đứt ngang
Các từ láy: “Quanh quanh, quéo quéo, quẹo quẹo, cong cong” đã lột tả được
hết sự hiểm trở của con đường bộ, nó tạo được sự nặng nề, khó nhọc của cư dân vùng đất Nam Bộ Cuộc sống còn khó khăn, thiếu thốn nên con đường cũng chưa được đầu tư kỹ càng Hơn thế, con đường đi lên đã khó nhọc, cách trở như thế, vậy
mà con đường đi xuống còn gập ghềnh, nguy hiểm hơn nữa nên người dân e ngại
cũng là chuyện bình thường
Càng về sau thì dân “tứ chiếng” vào Nam Bộ để lập nghiệp, định cư ngày
một nhiều hơn, thế nên con đường mới được chú trọng xây dựng, để thuận tiện cho việc đi lại cũng như trao đổi mua bán của người dân:
Sông Bến Tre nhiều hang cá ngác, Đường Kho Bạc lắm cát dễ đi, Gái Ba Tri nhiều đứa nhu mì, Lòng thương em bậu sá gì đường xa
Đường đi cát nhỏ cỏ mòn,
Em thác đi mới mất, sống còn thương anh