Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Văn hóa tinh thần trong ca dao Nam bộ tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ...
Trang 1KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
Trang 2KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
H
H I
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC
VĂN HÓA TINH THẦN
TRONG CA DAO NAM BỘ
Giảng viên hướng dẫn:
TS TRẦN VĂN NAM
Sinh viên thực hiện:
THÁI THỊ HỒNG NHUNG MSSV: 1056010074
Lớp: Đại học Ngữ Văn Khóa: 3
Hậu Giang – 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
HÖI Bốn năm học tập dưới giảng đường đại học là khoảng thời gian giúp người viết tích lũy được nhiều kiến thức quý báu về chuyên ngành, cũng như kinh nghiệm sống đó
sẽ là một hành trang vững chắc cho người viết khi bước vào đời Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp, người viết đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ gia đình, thầy cô và bạn bè
Nhân dịp này người viết xin trân trọng gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến:
* Thầy Trần Văn Nam, người đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tư liệu, giúp đỡ và động viên người viết trong suốt quá trình làm luận văn
* Quý thầy cô Khoa Khoa Học Cơ Bản Trường Đại học Võ Trường Toản đã tạo mọi điều kiện để giúp người viết hoàn thành luận văn
* Thư viện Trường Đại học Võ Trường Toản, Thư viện thành phố Cần Thơ đã cung cấp cho người viết nhiều tài liệu quý giá và cần thiết cho luận văn
* Cùng gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và động viên tinh thần để người viết có thể hoàn thành khóa học và luận văn tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện
Thái Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
HÖI Tôi xin cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Sinh viên thực hiện
Thái Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích yêu cầu 6
4. Giới hạn vấn đề 6
5. Phương pháp và phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 CA DAO VÀ CA DAO NAM BỘ 8
1.1.1 Khái quát ca dao 8
1.1.2 Phân loại ca dao 10
1.1.2.1 Ca dao về tình yêu quê hương đất nước 10
1.1.2.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa 11
1.1.2.3 Ca dao về tình cảm gia đình 12
1.1.2.4 Ca dao về các mối quan hệ xã hội khác 13
1.1.3 Khái quát ca dao Nam Bộ 14
1.2 VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ 18
1.2.1 Khái quát văn hóa 18
1.2.2 Khái quát văn hóa Nam Bộ 23
CHƯƠNG 2 PHONG TỤC, TẬP QUÁN TRONG CA DAO NAM BỘ 29
2.1 LỄ HỘI VÀ LỄ TẾT 29
2.1.1 Lễ hội 29
2.1.2 Lễ tết 32
2.2 PHONG TỤC HÔN NHÂN VÀ TANG MA 36
2.2.1 Phong tục hôn nhân 36
2.2.2 Phong tục tang ma 42
2.3 MỘT SỐ TẬP QUÁN KHÁC 44
CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG CA DAO NAM BỘ 51
3.1 TÍN NGƯỠNG 51
3.1.1 Thờ Trời 51
Trang 63.1.2 Thờ tổ tiên 55
3.1.3 Thờ thần Thành Hoàng và các nhân vật lịch sử 58
3.2 TÔN GIÁO 61
3.2.1 Phật giáo 61
3.2.2 Nho giáo 64
3.2.3 Thiên Chúa giáo 68
Kết luận 70
Trang 7Nam Bộ là một mảnh đất mới và phì nhiêu, được người Việt bắt đầu khai hoang vào đầu thế kỷ XVII cách đây khoảng hơn 300 năm tuổi Đó là một vùng đất trải dài từ Đồng Nai cho đến tận mũi Cà Mau, thuộc lưu vực hai con sông Đồng Nai
và Cửu Long Nam Bộ đã phải chịu khá nhiều biến cố của lịch sử dân tộc và đây cũng là nơi cộng cư sinh sống của nhiều tộc người như: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm, Stiêng…
Văn học dân gian là một bộ phận của nền văn học Việt Nam Đặc biệt, trong
đó ca dao là phần phong phú và gắn liền được chính quần chúng nhân dân sáng tác, nuôi dưỡng Ca dao không chỉ là tấm gương phản chiếu tất cả các phương diện của đời sống xã hội mà nó còn là tiếng nói tâm tình trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, qua đó nhằm gửi gắm những kinh nghiệm của nhân dân về đối nhân xử thế Tìm đến với ca dao là tìm đến với cội nguồn dân tộc, là tìm đến với tinh hoa văn hóa của người đời trước truyền lại cho con cháu đời sau, qua đó ta sẽ thấy cách thể hiện độc đáo và sâu sắc về tâm hồn người Việt Nam qua bao thế hệ Khi đến với ca dao Nam Bộ ta sẽ khám phá thêm nhiều nét văn hóa mới, đặc biệt là văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ được thể hiện qua ca dao
Lí do khiến người viết chọn vấn đề “Văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ” để nghiên cứu, là vì bản thân người viết muốn tìm hiểu sâu hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn hóa vùng miền cụ thể là văn hóa vùng đất Nam Bộ ở khía cạnh tinh thần với thể loại ca dao Thứ hai là người viết muốn biết rõ thêm về nét văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ được thể hiện trong ca dao đặc sắc và
Trang 8hay như thế nào, để từ đó có một cái nhìn mới về văn hóa tinh thần trong ca dao nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng Thứ ba là người viết muốn thông qua việc nghiên cứu vấn đề này, sẽ mở rộng thêm vốn kiến thức của mình về vùng đất nơi
mà mình được sinh ra và lớn lên Hơn thế nữa, việc nghiên cứu trên còn giúp cho người viết đúc kết thêm nhiều kiến thức khoa học cũng như góp phần hỗ trợ cho công tác học tập và làm việc về sau
2 Lịch sử vấn đề
Trước nay, văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển của nền văn học dân tộc, nghĩa là sáng tác dân gian luôn là cơ sở nền tảng vững chắc và là cốt lõi của văn học thành văn, văn học viết,… Việc nghiên cứu văn học dân gian trong nhiều thập kỷ qua vẫn không ngừng được tiến hành và phát triển Đặc biệt là việc nghiên cứu ca dao Nam Bộ, một trong những đề tài hết sức quen thuộc và gần gũi Nhắc đến Nam Bộ là nhắc đến một mảnh đất thân thương giàu nghĩa tình, tràn đầy những tấm lòng thân ái và chính nơi đây đã ươm mầm cho hạt giống ca dao phát triển rất mạnh mẽ
Lịch sử nghiên cứu ca dao Nam Bộ có thể chia thành ba giai đoạn: từ đầu đến năm 1954, từ năm 1954 đến năm 1975 và từ năm 1975 cho đến nay
Giai đoạn đầu: Đây được xem là giai đoạn khởi đầu cho việc sưu tầm những
giá trị văn hóa nói chung và ca dao ở Nam Bộ nói riêng Nó chưa thật sự đi sâu vào việc khai thác nhiều khía cạnh, góc độ của vấn đề cũng như chưa bao quát được nội dung của ca dao giai đoạn này Lí do đặt ra ở đây chính là việc sưu tầm chỉ là một
sự tự phát, theo ý thích và mang tính chất địa phương Không những thế, do điều kiện đi lại và sự giao lưu văn hóa giữa các vùng còn gặp nhiều khó khăn và chưa được chú trọng nên những công trình nghiên cứu giai đoạn này chỉ mang tính chất
là tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này, chứ chưa có những bức phá gì đậm nét
Giai đoạn thứ hai: Ta đã thấy những khởi sắc mới của các công trình nghiên
cứu về văn hóa dân gian Nam Bộ, do sự thay đổi về chất lẫn lượng Đáng quan tâm
đó là sự rộng hơn, đa dạng hơn và khái quát hơn về phạm vi nghiên cứu Một công
trình đáng chú ý là Ba trăm năm Văn học dân gian lục tỉnh, 2 tập của Nguyễn Văn
Hầu (năm 2004 nhà xuất bản Trẻ tái bản lại với tên mới là Diện mạo Văn học dân
Trang 9gian Nam Bộ) Đây là công trình đầy tâm huyết và mang đậm dấu ấn cá nhân của ông Sách được ông sưu tầm và biên soạn tuy không thật đầy đủ nhưng thông qua công trình phần nào đã giúp cho độc giả hiểu hơn về ca dao Nam Bộ, cũng như về đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa xã hội của Nam Bộ trong vòng ba trăm năm qua Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác của Ngô Văn Phát, Nguyễn Kiến Thiết,… cũng đã góp phần vào sự thay đổi của thời kỳ này
Nhìn chung, giai đoạn này việc nghiên cứu văn hóa dân gian và ca dao Nam
Bộ đã góp phần vào sự thành công của nền văn học dân gian Nam Bộ, do có những chuyển biến mạnh mẽ hơn so với thời kỳ trước nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu văn hóa dân gian nào thật sự có giá trị chuyên sâu
Giai đoạn thứ ba: Nghiên cứu văn hóa dân gian có những bước tiến mới do
có nhiều công trình được công bố rộng rãi
Đặc biệt là những công trình nghiên cứu ca dao có giá trị chuyên sâu Tiêu biểu là các công trình:
* Quyển Ca dao – dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo Định Giang,
Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn, nhà xuất bản thành phố
Hồ Chí Minh 1984 Trong công trình này các tác giả nêu lên khái quát lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên của vùng đất Nam Bộ Đồng thời, qua phần sưu tập ca dao – dân ca Nam Bộ, các tác giả đã chia ca dao dân ca thành bốn chủ đề: Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình và các mối quan hệ xã hội khác Công trình trên sẽ là một ngữ liệu đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu khi cần tìm hiểu về Nam Bộ nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng do đã công bố một
số lượng lớn các bài ca dao được sưu tầm ở Nam Bộ
* Quyển Ca dao – dân ca Nam Kỳ lục tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn,
nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai xuất bản lần 1 năm 1998 Công trình này, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đã tập hợp sáu công trình của sáu nhà nghiên cứu được công bố
từ cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX ở Nam Bộ Bao gồm:
- Câu hát góp do Huỳnh Tịnh Của sưu tập và công bố lần đầu vào năm 1897,
tái bản năm 1901
Trang 10- Hát và hò góp do Nguyễn Công Chánh biên soạn, nhà xuất bản Thuận Hòa
xuất bản năm 1967 tại Chợ Lớn
- Hò xay lúa do Hoàng Minh Tự sưu tập, nhà xuất bản Phạm Văn Cường
xuất bản tại Chợ Lớn
- Câu hát đối đáp do Nguyễn Bá Thời sưu tập, nhà xuất bản Phạm Văn
Cường xuất bản năm 1959 tại Chợ Lớn
- Câu hát huê tình do Đinh Thái Sơn sưu tầm, nhà xuất bản Thuận Hòa xuất
bản năm 1966 tại Chợ Lớn
- Hò miền Nam do Lê Thị Minh sưu tầm, nhà xuất bản Phạm Văn Tươi xuất
bản năm 1956 tại Sài Gòn
Trong số sáu công trình trên chỉ có phần Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của là
thuộc về ca dao, các phần còn lại đều là ngôn từ của các bài dân ca Nam Bộ Qua
đó, khi khảo sát công trình này giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc sống tình cảm, những quan niệm về thẩm mỹ, đạo lý,… của các thế hệ người Nam Bộ đi khai hoang vùng đất mới
* Quyển Ca dao Đồng Tháp Mười do Đỗ Văn Tân chủ biên (nhà xuất bản
Văn hóa – Thông tin Đồng Tháp in năm 1984) Qua công trình này, tác giả Đỗ Văn Tân chủ yếu nghiên cứu các thể loại ca dao Dù không trực tiếp nói đến văn hóa dân gian nhưng ca dao thật sự là một tấm gương phản chiếu môi trường thiên nhiên, đời sống tình cảm và tâm hồn đó chính là cách ghi nhận những yếu tố văn hóa vào nội dung bài ca dao
Đáng chú ý là công trình này có sự phân vùng để sưu tầm văn học dân gian,
từ đó lấy cơ sở phân vùng văn học dân gian được thực hiện ở miền Bắc từ thập niên
70 của thế kỉ XX, nhưng đối với Nam Bộ thì việc này không thấy nhắc đến trong các công trình sưu tầm văn học dân gian Nam Bộ
* Quyển Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của nhóm tác giả Thạch
Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh (nhà xuất bản Khoa học xã hội in năm 1992)
Quyển này gồm 11 chương: một chương tổng quan, một chương tổng luận và chín chương trình bày các nội dung liên quan đến văn hóa người Việt Nam Bộ ở nhiều khía cạnh như: Công cuộc khai phá đất đai và quá trình quần cư, hình thành
Trang 11làng xã, thị tứ; dấu ấn thiên nhiên trong sinh hoạt văn hóa dân gian; đặc điểm và vị trí của sinh hoạt lễ hội truyền thống trong đời sống tinh thần; phong tục tập quán; các loại hình truyện kể trong nghệ thuật ngữ văn; các loại hình sinh hoạt diễn xướng trong nghệ thuật ngữ văn dân gian; các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian; thú tiêu khiển, giải trí, trò chơi dân gian và phương ngữ Nam Bộ Đây chính là công trình nghiên cứu văn hóa dân gian Nam Bộ từ góc
độ văn hóa học thông qua sự kết hợp với văn học dân gian Mỗi chương đề cập đến một nét văn hóa khi là vật chất, khi là tinh thần Đây là một trong những tài liệu cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ
* Quyển Cảm nhận ca dao Nam Bộ của Trần Văn Nam (nhà xuất bản Văn
nghệ in năm 2007) Sách tập hợp 15 bài viết của nhà nghiên cứu Trần Văn Nam về
ca dao Nam Bộ và văn hóa Nam Bộ Trong đó chú ý những bài như “Từ ba yếu tố nền tảng của văn hóa Nam Bộ đến ca dao”, “Ca dao Nam Bộ - ca dao của vùng đất mới”, “Một nét văn hóa Nam Bộ qua hình ảnh cá, câu – cá trong ca dao”, “Biểu trưng văn hóa trong ca dao Nam Bộ”
Đặc biệt trong bài “Từ ba yếu tố nền tảng của văn hóa Nam Bộ đến ca dao” tác giả đã xác định Nam Bộ là vùng “văn minh của cây lúa”, “văn minh miệt vườn”
và “văn minh kênh rạch”
Chính những đặc điểm văn hóa nêu trên đã có ảnh hưởng đến văn hóa dân gian nói chung, văn học dân gian Nam Bộ nói riêng để từ đó có thêm cách nhìn mới
về vùng văn minh đặc trưng sông nước khi hệ thống kênh rạch tự nhiên dày đặc đã chi phối văn hóa Nam Bộ
* Quyển Văn hóa sông nước Cần Thơ do Trần Văn Nam chủ biên (nhà xuất
bản Văn nghệ in năm 2009) Công trình này tập hợp những bài viết đã được đăng trên các báo địa phương của một số tác giả ở Cần Thơ Công trình được chia làm bốn phần: mở đầu, văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất và ẩm thực Qua đó giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về vùng đất cũng như con người Nam Bộ trên một phạm vi hẹp đó là văn hóa Cần Thơ
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, người viết tiếp tục phát triển theo hướng tiếp cận, tìm hiểu văn hóa người Việt qua ca dao sưu tầm ở Nam Bộ đặc biệt là khía cạnh văn hóa tinh thần Qua
Trang 12những công trình trên đã giúp cho người viết rất nhiều trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về phương diện văn hóa tinh thần từ thể loại ca dao của một vùng đất trẻ
3 Mục đích yêu cầu
Nghiên cứu đề tài này, trước hết người viết mong muốn giúp cho bạn đọc nói chung và người viết nói riêng có thể hiểu sâu sắc hơn về kho tàng ca dao Nam Bộ, trong đó đặc biệt là văn hóa tinh thần được thể hiện thông qua các bài ca dao Từ đó chúng ta sẽ có được một cái nhìn khái quát và hệ thống lại về nguồn ca dao của Nam Bộ nhằm giữ gìn cũng như phát huy những bản sắc văn hóa dân tộc
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, đây chính là cơ hội để người viết tìm hiểu thêm về mối tương quan giữa văn hóa học và văn học dân gian Đồng thời, người viết sẽ tích lũy thêm cho mình những kiến thức bổ ích cũng như tăng thêm kinh nghiệm nhận thức khoa học về một vấn đề sau khi hoàn thành việc nghiên cứu
Để làm rõ được nội dung của đề tài nghiên cứu trên, người viết đã đọc và tham khảo cũng như tìm hiểu những nguồn tư liệu có liên quan trên sách, báo,…đặc biệt là các công trình nghiên cứu của những người đi trước để nhằm giới hạn vấn đề
và tránh đi quá xa với đề tài nghiên cứu
4 Giới hạn vấn đề
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ ca dao được sưu tầm ở Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này người viết chỉ nghiên cứu ca dao
có trong quyển Ca dao – dân ca Nam Bộ của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhi biên soạn và được nhà xuất bản thành phố
Hồ Chí Minh in năm 1984 Tuy nhiên, khi cần thiết người viết sẽ sử dụng thêm ca dao có trong các tài liệu khác Do thời gian và khả năng của bản thân nên trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu người viết chỉ đề cập đến một số nét về văn hoá tinh thần của người Việt ở Nam Bộ được phản ánh trong ca dao Đồng thời, người viết chỉ sơ lược và nhận xét khái quát về những nét văn hóa in đậm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người Việt Nam Bộ mà ca dao ít hoặc thậm chí không đề cập đến
Khi tìm hiểu về nội dung của đề tài nghiên cứu, người viết chỉ dừng lại bằng việc giới thiệu các bài ca dao trong đó có mặt của các yếu tố liên quan đến văn hóa
Trang 13tinh thần của người Việt ở Nam Bộ, chớ không đi sâu vào việc phân tích nội dung, nghệ thuật cũng như thi pháp của từng bài ca dao
5 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu
Phương hướng: Đề tài nghiên cứu của người viết được tiến hành, dựa trên cơ
sở kế thừa những thành tựu cũng như kết quả của các công trình nghiên cứu của người đi trước, từ đó tiếp tục phát triển sâu, rộng hơn theo đề tài của bản thân Người viết đi theo hướng tiếp cận nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, đặc biệt là văn hoá vùng miền Nam Bộ
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này người viết đã sử dụng các phương pháp chính sau:
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này giúp cho người viết liệt kê được
những đơn vị ca dao mà trong đó có chứa các yếu tố liên quan đến văn hóa tinh thần cũng như biết được tình hình nghiên cứu và nguồn tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích: Giúp cho người viết tăng thêm khả năng trong
việc phân tích đánh giá được những bài ca dao mà người viết khảo sát
- Phương pháp tổng hợp – so sánh: Phương pháp này giúp người viết dễ
dàng tổng hợp tài liệu trong quá trình làm luận văn Không những thế, khi văn hóa Nam Bộ là một vấn đề rất rộng, nó chính là văn hóa Việt Nam trên một vùng đất cho nên khi cần thiết người viết sẽ dùng phương pháp tổng hợp – so sánh văn hóa Nam Bộ với các vùng văn hóa khác, hay văn hóa giữa tộc người Việt với các văn hóa tộc người khác ở Nam Bộ (Khmer, Chăm, Hoa, Stiêng,…)
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Trong quá trình làm luận văn, người viết
cũng phải sử dụng những kiến thức về lịch sử, địa lý… để góp phần giải thích và làm cho luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 CA DAO VÀ CA DAO NAM BỘ
1.1.1 Khái quát ca dao
Văn học dân gian là một biểu hiện đẹp của nền văn học nước nhà Từ ngàn xưa, những người dân lao động đã có nhu cầu trong việc biểu lộ khả năng sáng tạo cũng như đón nhận và tiêu thụ tất cả mọi của cải tinh thần mà cuộc sống đã để lại cho họ Trong sinh hoạt văn học dân gian có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát, tiêu biểu nhất chính là việc diễn xướng ca dao Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian được sáng tác bằng văn vần Cũng như một số thể loại thuộc văn học truyền miệng khác, cho đến ngày nay, vấn đề về nguồn gốc của ca dao vẫn là dấu chấm hỏi của nhiều nhà nghiên cứu
Bên cạnh đó, hiện tại vấn đề về khái niệm ca dao giữa các nhà nghiên cứu của ta vẫn chưa có tiếng nói chung nào Dưới đây là một vài khái niệm ca dao mà người viết đã sưu tầm được
Theo Đinh Gia Khánh: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách
hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca.” [10; tr 436]
Với Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), “Ca dao (tiếng Pháp: chanson populaire) còn gọi là phong dao
Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thi ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.” [8; tr 31]
Còn Nguyễn Xuân Kính trong quyển Thi pháp ca dao, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao,
người ta thường nghĩ đến lời ca” Ông định nghĩa ca dao: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thứ thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát
Trang 15mà còn ngâm, đọc và xem bằng mắt thường (khi ca dao đã được ghi chép, biên soạn
từ cuối thế kỉ XVII” [12; tr 81]
Trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Bích Hà thì: “Ca
dao, dân ca (thuật ngữ quốc tế Folk Song) là khái niệm mang tính lịch sử Về khái niệm ca dao: Ca là những câu hát có khúc điệu, có làn điệu Dao là những câu hát
tự do, gần với lời ngân nga hơn Ca dao được hiểu như những câu thơ dân gian hoặc phần lời của những câu hát dân gian (không có từ đệm) Tóm lại, ca dao dân
ca là những câu thơ, câu hát trữ tình dân gian.” [7; tr 227]
Theo Triều Nguyên: “Ca dao là một loại hình văn học dân gian được phổ
biến rộng khắp và có tác dụng sâu sắc đối với đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng dân tộc hơn cả Nó đồng thời cũng được xem là nơi có sự biểu hiện sinh động của lời ăn tiếng nói, của quan niệm thẩm mĩ, nên đã huy động ở mức cao nhất các cách tu từ, cách chơi chữ, so với các thể loại văn học dân gian khác.” [17; tr 19]
Ngoài ra còn có một số cách hiểu khác nhau như: Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người hay ca dao là những câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ biến trong dân gian…
Bên cạnh đó, dân ca là một thuật ngữ thường xuất hiện cùng với ca dao, nó là
“một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động
tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng.” [8; tr 105] Ai cũng biết rằng ca
dao – dân ca là tấm gương phản ánh từ địa lý thiên nhiên, lịch sử xã hội, sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần cho đến tâm hồn, tư tưởng và khát vọng của một dân tộc
Còn trong Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình của tác giả Phạm Việt Long:
“Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là
thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế
hệ dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm Nhiều câu ca dao vốn
là lời của những bài dân ca, vào giai đoạn muộn về sau, ca dao cũng được sáng tác độc lập.” [13; tr 37] Như vậy, về khái niệm ca dao hiện nay vẫn chưa có sự thống
nhất trong các nhà nghiên cứu, nhưng đều có chung một điểm: Ca dao là tiếng nói
của tâm tư, tình cảm về cuộc sống của nhân dân lao động Ca dao là những sáng
Trang 16tác nghệ thuật ngôn từ được lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.2 Phân loại ca dao
Ca dao chính là sản phẩm của người bình dân, là tiếng nói tâm hồn của người lao động Cuộc sống của những người dân nghèo đặc biệt là người nông dân trong
xã hội xưa vô cùng vất vả và khốn khổ Chính vì thế, họ đã nhờ ca dao nhằm truyền tải tâm sự của mình, đó là lời than thân trách phận, là tiếng nói đồng điệu giữa đôi
bờ tình cảm, là tiếng lòng xao động trước cảnh sắc nên thơ, hữu tình…
Tính đến thời điểm hiện tại, việc nghiên cứu ca dao của các học giả đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Nhưng do số lượng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú cho nên việc tập hợp thành một hệ thống là công việc không hề đơn giản, dẫn đến việc phân loại ca dao cũng gặp nhiều khó khăn
Trong bài viết này, người viết phân loại ca dao theo hệ đề tài
1.1.2.1. Ca dao về tình yêu quê hương đất nước
Chủ đề quê hương đất nước được tác giả dân gian thể hiện nhiều trong ca dao từ lúc khó khăn nhất của những buổi đầu khai hoang lập nghiệp, xây dựng đất nước cho đến ngày nay
U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua
[6; tr 153]
Đau khổ lại đến, bến bờ hạnh phúc ấm no với những người dân lúc này là một điều gì đó quá xa xỉ khi lại tiếp tục gánh cảnh giặc ngoại xâm lấn áp Hòa bình lập lại, ta sẽ bắt gặp được những hình ảnh về quê hương đất nước rất nồng nàn, bình
dị và hiền hòa khi nhân dân đã gạt bỏ đi bao nhiêu đau thương, mất mát, chung tay cùng nhau xây dựng lại quê hương
Ai đi Châu Đốc, Nam Vang, Ghé qua Đồng Tháp bạt ngàn bông sen
[6; tr 126]
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ, Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu
Trang 17[6; tr 129]
Qua đó ta thấy được tấm lòng sâu nặng của nhân dân ta đối với quê hương đất nước, khi giặc ngoài xâm lấn bờ cõi tổ tiên thì tinh thần kháng chiến đã được bùng phát mạnh mẽ Nó kết tinh thành lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để có được một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn
1.1.2.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa
Tình yêu là đề tài muôn thuở mà các loại hình khác của văn học xem đó là mảnh đất màu mỡ để khai thác Ca dao cũng thế, nó xem tình yêu là một đề tài không thể thiếu trong sáng tác và luôn luôn chiếm số lượng rất lớn so với các chủ đề khác của ca dao vì đây là một vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc
Để bắt đầu cho cuộc tình chính là khúc dạo đầu, chàng trai phải chủ động ngỏ lời cùng cô gái
Cô kia xay gạo một mình, Cho anh xay với chung tình cùng nhau
Bao giờ cho sóng bỏ gành,
Cù lao bỏ bể thì anh bỏ nàng
[6; tr 180]
Nhưng nếu một ngày tình yêu tan vỡ, lời thề xưa giờ tan vào mây gió thì còn đau khổ nào hơn Trong tình yêu, không phải cuộc tình nào cũng đi đến hạnh phúc như mình mơ ước Những người yêu nhau lại không đến được với nhau vì rất nhiều
lí do, nhưng lí do sống giữa một xã hội còn mang nặng lễ giáo phong kiến thì môn
Trang 18đăng hộ đối là vấn đề đau đớn nhất Sự phân biệt sang hèn càng lớn thì chứng tích
về sự bất công càng đậm, còn một khoảng cách quá lớn giữa tầng lớp giàu có và những người nghèo khổ, nên có bà mẹ đã khuyên con mình hãy biết thân biết phận
Con ơi thân phận mình nghèo, Ham chi vợ đẹp vợ giàu nó khinh
[6; tr 461]
Tình yêu thật sự thì không dựa trên tiền bạc và phân biệt giai cấp, cái họ cần
ở người họ yêu là sự thông cảm, chia sẻ và luôn luôn bên cạnh họ để vượt qua mọi khó khăn, thử thách dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, có như vậy thì mới có hạnh phúc vì đó là một tình yêu chân chính.Ca dao về tình yêu đôi lứa thật sự đã phản ánh được những tâm tư tình cảm cũng như nốt nhạc lòng xôn xao của nam nữ thanh niên Nó thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn của người dân qua những cung bậc yêu thương trầm bổng để tạo nên một bài ca tình yêu thật lãng mạn và hạnh phúc Qua
đó, góp phần điểm tô cũng như tạo nên một vẻ đẹp tinh khiết và trong sáng giữa những chàng trai cô gái thôn quê mộc mạc và bình dị
1.1.2.3 Ca dao về tình cảm gia đình
Ca dao chính là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng đằm thắm, trữ tình chứa chan những tình cảm thiết tha của con người Bên cạnh ca dao về tình yêu quê hương đất nước cũng như ca dao về tình yêu đôi lứa, thì ca dao về tình cảm gia đình cũng là một bộ phận phong phú trong kho tàng ca dao Việt Nam Nó đã kết hợp được một cách chặt chẽ và nhuần nhuyễn giữa chữ tình và chữ hiếu, gợi cho ta bao kỷ niệm êm đềm về cha, về mẹ, về người chồng, người vợ, Hình ảnh người phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước chống giặc ngoại xâm, vì chồng đã đi chinh chiến nên mọi công việc cực nhọc và vất vả đều đè nặng trên đôi vai bé nhỏ của họ, nhưng họ không hề than trách mà xem đó là bổn phận và trách nhiệm của mình, cố gắn làm thật tốt để chồng có thể an tâm Tất cả đều là sự hi sinh, hi sinh vì gia đình
và đất nước – một hình ảnh hết sức tiêu biểu
Còn rất nhiều bài ca dao cho mảng đề tài này mà ta thấy xúc động khi mỗi lần đọc nó:
Có chồng phải lụy cùng chồng, Nắng mưa phải chịu, mặn nồng phải theo
Trang 19ca dao về tình cảm gia đình chính là tiếng lòng mang chở cả tư tưởng và triết lý đạo đức của con người Những giá trị của gia đình sẽ không bao giờ bị mất đi vì nó luôn luôn được lưu giữ trong trái tim của mỗi người con đất Việt, đó là một trong những tài sản quý giá cũng như một nét văn hóa đẹp của dân tộc Việt Nam Qua những bài
ca dao về tình cảm gia đình ta càng thấy yêu hơn những tình cảm thiêng liêng ấy vì nếu để mất đi thì khó lòng mà tìm lại được
1.1.2.4 Ca dao về các mối quan hệ xã hội khác
Ca dao về các mối quan hệ xã hội khác chính là muốn đề cập đến tiếng nói của những người dân lao động nghèo khổ, về thân phận bọt bèo trong xã hội còn đầy những ê chề và tủi nhục
Đại bộ phận chủ thể của đề tài này là những người làm thuê, người vợ lính,
Họ phải gánh chịu một căn bệnh nan y không tài nào chữa khỏi đó là căn bệnh
“nghèo khổ” Đó cũng là mong muốn của tầng lớp địa chủ, đó là bản chất của xã hội, nếu xã hội không có những người làm thuê ở mướn thì tầng lớp địa chủ ăn bám làm sau sống được Sau đây là một vài dẫn chứng tiêu biểu:
Nghèo đến nỗi có giường không chiếu,
Lo nồi mơi sớm lại thiếu nồi chiều
[6; tr 496]
Cao su đi dễ khó về, Khi đi trai tráng, khi về bủng beo
[6; tr 477] Tuy còn gặp chút ít khó khăn trong việc phân loại ca dao, nhưng tấm lòng yêu quý nguồn ca dao phong phú của dân tộc đã làm động lực thúc đẩy các giới
Trang 20nghiên cứu trong việc sưu tập và phân loại ca dao một cách chính xác nhất Điều này đã góp phần không nhỏ vào việc dễ dàng tiếp cận ca dao của những người yêu thích, qua đó nhằm giữ gìn cũng như làm phong phú hơn kho tàng ca dao quý báu của dân tộc
1.1.3 Khái quát ca dao Nam Bộ
Từ sau khi đế quốc Phù Nam tan rã vào thế kỷ thứ VI, có một vùng đất giàu đẹp đáng tự hào ngày nay lại bị bỏ hoang hàng ngàn năm Bao thế kỷ trôi qua, cho đến đầu thế kỷ XVII người Việt mới khai hoang vùng đất mới này – vùng đất thuộc phủ Gia Định tức Nam Bộ ngày nay
Vùng đất Nam Bộ trước khi có sự khai phá của những lưu dân đến từ miền Trung và một ít cư dân miền Bắc thì ở đây chỉ là một vùng rừng rậm hoang vu, thú
dữ tràn đầy, tứ bề hiu quạnh Cảnh tượng ban đầu ấy đã trực tiếp tác động vào tâm
tư, tình cảm của họ, họ cảm thấy sợ và quá xa lạ với những gì họ biết
Sự hình thành và phát triển của ca dao Nam Bộ gắn liền với lịch sử khai khẩn vùng đất này của người Việt trong vòng ba trăm năm trở lại đây Đó không phải là một khoảng thời gian quá dài cho sự phát triển của một bộ phận trong việc cấu thành văn học dân gian Nhưng thật sự Nam Bộ đã là mảnh đất màu mỡ ươm mầm cho những hạt giống ca dao phát triển mạnh mẽ, từ đó mang tính chất lịch sử của ca dao dân tộc
Ca dao Nam Bộ là một thể thức của văn hóa tinh thần, là tư tưởng, tình cảm của người bình dân Nam Bộ Nó là nơi phản ánh sinh hoạt hàng ngày và đời sống tinh thần của con người, ẩn chứa đầy đủ những khát vọng của người đi mở đất Ca dao Nam Bộ còn được hình thành chủ yếu trên ba cơ sở
Thứ nhất là cơ sở kế thừa những lời ca truyền thống từ miền Bắc, miền Trung theo bước chân của những đoàn người Việt vào phương Nam mở đất, những lời ca như một phần tâm hồn của những người con đi xa xứ nhớ về quê cha đất tổ Đây chính là cội nguồn và những vốn liếng ban đầu của ca dao Nam Bộ
Thứ hai trên cơ sở kế thừa nhưng có sự cải biên (địa phương hóa) nhằm thích nghi với hoàn cảnh mới, tâm trạng mới Đây là một trong những phương thức sáng
Trang 21tác mới dựa trên ca dao truyền thống, qua đó làm phong phú thêm vốn ca dao Nam
Bộ nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung
Cơ sở thứ ba góp phần hình thành nên ca dao Nam Bộ chính là những lời ca được sáng tác và lưu truyền ngay trên vùng đất mới này, in đậm dấu ấn của đất và người Nam Bộ Chính những điều kiện lịch sử, địa lí, văn hóa nơi đây đã chung tay góp sức cùng những người đi khai hoang mở cõi làm nên những câu ca dao đầu tiên thuần gốc Nam Bộ, góp phần làm cho ca dao Nam Bộ mang những đặc trưng riêng
so với ca dao các vùng miền khác
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về ca dao Nam Bộ, ta không chỉ biết về những cơ
sở hình thành nên nó mà còn phải tiếp nhận thêm những yếu tố nền tảng làm nên văn hóa đi đến ca dao Văn học và văn hóa có một quan hệ mật thiết và không thể tách rời trong cái mạch nguyên vẹn ấy
Trong bài nghiên cứu Từ ba yếu tố nền tảng của văn hóa Nam Bộ đi đến ca
dao, tác giả đã khẳng định Nam Bộ là một vùng văn hóa được hình thành trên ba
yếu tố nền tảng sau:
Đầu tiên Nam Bộ là một vùng “văn minh của cây lúa” “Nhiều tài liệu về lịch
sử, văn hóa Nam Bộ đều cho rằng từ cuối thế kỷ XVIII, xứ Đàng Trong đã là một vựa lúa lớn và bắt đầu xuất khẩu gạo sang một số nước trong khu vực Khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, người Pháp đã biết phát huy lợi thế nầy, và họ đã thành công trong việc biến đổi nơi đây thành một vùng nông nghiệp thương phẩm Biên bản về cuộc họp ở Sài Gòn năm 1874 giữa thương nhân người Âu và người Hoa nhằm chỉnh đốn thị trường lúa gạo đã chứng minh điều này Biên bản còn đề cập đến các loại gạo xuất khẩu thời kỳ đó là gạo Gò Công (gạo tròn), gạo Vĩnh Long (gạo dài) và gạo Pye – chow (theo Hoàng Trang – Hoàng Anh, Xưa & Nay 3/97)”
[15; tr 5 – 6] Không những thế, người dân Nam Bộ rất quý những sản vật mà tạo hóa ban cho đó là “hạt ngọc trời”, chính cây lúa đã gắn liền với người dân Nam Bộ trong từng giọt mồ hôi vất vả, những vụ gặt, vụ cày Họ yêu lắm mà lại trân trọng lắm nên ngay cả trong cách đặt tên cho những giống lúa cũng mang đậm nét riêng Nam Bộ Giống lúa thời điểm ấy rất phong phú mà đa số tên lúa thường bắt đầu bằng chữ “nàng” như: nàng Hương, nàng Thơm, nàng Quốc, nàng Rừng, nàng Co, nghe nhẹ nhàng và thân thương làm sao Đặc biệt, trong đó có nàng Thơm
Trang 22chợ Đào của Long An ngày nay là nổi tiếng ngon cơm nhất Từ những điều đó, trong ca dao Nam Bộ đã ghi nhận lại tên một số giống lúa trong nhóm này
Cám ơn hạt lúa nàng co,
Nợ nần trả hết lại no tấm lòng
[4; tr 133]
Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi, Gạo thơm nàng quốc em nuôi mẹ già
[4; tr 152]
Thứ hai, Nam Bộ chính là mảnh đất phát sinh nền “văn minh miệt vườn”
“Vườn ở Nam Bộ xuất hiện sớm và phát triển nhanh, qui mô rộng lớn và thường
trồng cây chuyên canh: bưởi Biên Hòa (miền Đông Nam bộ), xoài Cao Lãnh (miền Tây Nam bộ)…” [15; tr 8] Làm vườn là công việc không hối thúc thời vụ như việc
trồng lúa nhưng nó đòi hỏi người làm vườn phải làm quanh năm và có một kinh nghiệm về kỹ thuật canh tác ổn định Trong khi đó, Nam Bộ là một vùng đất mới lại chưa có một khảo sát khoa học, cũng như kỹ thuật tiên tiến nào giúp người làm vườn Nam Bộ xác định trên mảnh đất này phù hợp với loại cây trồng nào, kỹ thuật canh tác nào là hợp lí và đạt hiệu quả tốt nhất Đó chính là khó khăn và thách thức lớn nhất mà buộc người dân phải vượt qua để tồn tại
Bên cạnh đó “văn minh miệt vườn” là một trong những tiền đề quan trọng
giúp cho nền kinh tế hàng hóa sớm được hình thành và phát triển ở Nam Bộ Từ đó phần nào giúp nâng cao và cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Nam Bộ khi đã thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp Ca dao lần nữa lại ghi
nhận hình ảnh “văn minh miệt vườn” qua những câu ca dao đằm thắm mà chất phác
như con người vùng đất mới
Biên Hòa bưởi chẳng đắng the,
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh
[6; tr 132]
Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh,
Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ
[6; tr 153]
Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, Xoài ngon, mít ngọt, chuối thơm nghìn trùng
Trang 23[6; tr 148]
Thứ ba, Nam Bộ là vùng “văn minh kênh rạch” Văn hóa Nam Bộ chịu sự tác động trực tiếp của môi trường sông nước “Trên các vùng lãnh thổ Việt Nam, Nam
Bộ mà đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long nhiều sông rạch hơn cả.” [15; tr
8] Ca dao Nam Bộ là ca dao xuất phát từ môi trường sông nước, nên dường như những hình ảnh mang yếu tố sông nước đã quá quen thuộc và xuất hiện thường xuyên trong ca dao nhằm diễn đạt những ý nghĩ và tình cảm của con người nơi đây Chính điều này đã chi phối mạnh mẽ đến phong tục, tập quán cũng như về sinh hoạt gia đình và lao động của cư dân miền sông nước
Do nét nổi bật của địa lí Nam Bộ là mạng lưới sông ngòi và kênh rạch chằng chịt nên đường thủy là hệ thống giao thông cực kỳ quan trọng đối với Nam Bộ trong mấy thế kỷ qua Tất cả mọi hoạt động của người dân đều gắn với sông nước Chẳng hạn đám cưới ở đồng bằng sông Cửu Long thường đưa dâu bằng ghe
Đưa dâu thì đưa bằng ghe, Chớ đưa bằng bè ướt áo dâu đi
[6; tr 269]
Và còn nhiều câu ca dao nữa gắn với vùng “văn minh kênh rạch” đó là
những hình ảnh của ghe, thuyền, sông, nước, đò, cá,…chiếm tỉ lệ rất lớn trong ca dao dân ca Nam Bộ
Sông dài cá lội biệt tăm, Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ
[6; tr 366]
Sông sâu biết bắc mấy cầu, Khi thương thì anh thương vội, Khi sầu anh để lại cho em
[6; tr 367]
Những yếu tố của cuộc sống trên sông nước đã đi vào ca dao Nam Bộ, nó là đối tượng để ca dao phản ánh, vừa là nghệ thuật để ca dao thể hiện nội dung Điều này cho ta thấy ca dao Nam Bộ gắn chặt với vùng sông nước đã sản sinh ra nó
Qua sự phân tích trên, ta có thể thấy rằng các yếu tố nền tảng cấu thành văn hóa Nam Bộ có một vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển bộ phận văn học dân gian nơi đây nói chung và ca dao vùng đất này nói riêng Nó chính là tấm
Trang 24gương phản chiếu một cách trung thực về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của người dân Đó là cuộc sống cần cù, giản dị, chất phác và đậm đà phong vị dân tộc Thông qua ca dao của chính miền sông nước phương Nam, ta không chỉ hiểu thêm những tâm tư tình cảm của người dân vùng đất trẻ mà còn biết được những giá trị văn hóa độc đáo của nơi này
1.2 VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.2.1 Khái quát văn hóa
Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau đều có một nét văn hóa đặc trưng riêng Nói đến văn hóa thì đây quả là một lĩnh vực rất phức tạp và vô cùng rộng lớn, phong phú và đa dạng Vì thế, để hiểu khái quát về văn hóa một cách trọn vẹn là việc làm không hề đơn giản từ đó dẫn đến việc có rất nhiều cách hiểu cũng như nhiều cách nhìn nhận văn hóa ở những góc độ khác nhau Để tìm hiểu về văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Nam Bộ ở khía cạnh tinh thần nói riêng ta nên biết thêm những vấn đề liên quan đến thuật ngữ này
Qua từng giai đoạn việc nhận định và quan niệm về văn hóa cũng có phần
khác nhau Từ thế kỷ XVII – XVIII văn hóa được hiểu với nghĩa “canh tác tinh
thần” bên cạnh nghĩa gốc của nó là canh tác nông nghiệp và quản lí Ta có thể thấy
dù văn hóa đã được chú ý đến nhưng vẫn còn quá sơ sài, chưa có một công trình nào đi sâu vào khai thác tìm hiểu
Đến thế kỷ XIX, thuật ngữ văn hóa đã được mở rộng hơn khi “được những
nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylo (E.B Taylor) là đại diện của họ Theo ông, văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng
và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.”
[22; tr 18]
Sang thế kỷ XX đã có nhiều sự thay đổi và cái mới trong cách quan niệm về
văn hóa: “Khái niệm “văn hóa” thay đổi theo F Boa (F Boas), ý nghĩa văn hóa
Trang 25được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa” Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.” [22; tr 18]
Quan niệm về văn hóa đã được hiểu sâu và rộng hơn theo thời gian Tùy vào mục đích nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đã khai thác vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau, đem đến cho người đọc nhiều cách hiểu mới về văn hóa Văn hóa hiện nay là một đề tài gây ra nhiều cuộc tranh luận do có quá nhiều ý kiến định nghĩa về văn hóa khác nhau, không một định nghĩa đơn thuần nào có thể khái quát
về văn hóa
Chỉ tính đến năm 1972, đã có đến 200 định nghĩa về văn hóa Cho đến nay chỉ riêng ở phương Tây đã lên đến trên 400 định nghĩa về văn hóa do các nhà nghiên cứu văn hóa uy tín và chuyên nghiệp về khoa học đưa ra, chắc chắn số lượng định nghĩa sẽ tiếp tục tăng lên và đương nhiên không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng thống nhất hoặc hòa hợp, bổ sung cho nhau Có thể dẫn chứng một số định nghĩa cơ bản về văn hóa
Định nghĩa của E Hê-ri-ốt cho rằng: “Văn hóa là cái còn lại khi ta đã quên
đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả.” [19; tr 13]
Theo định nghĩa của A.J Phơ-li-ơ: “Văn hóa được người ta tiếp thu một
cách tự phát trong quá trình được nuôi dạy từ nhỏ qua giao tiếp với họ hàng, môi trường xã hội, đồng nghiệp,… rồi được điều chỉnh trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân tùy theo mức độ tham gia của anh ta vào tiếp xúc, va chạm xã hội.” [19; tr 14]
Định nghĩa của R.Linton và H.Poi-ri-ơ: “Văn hóa là một chỉnh thể những
nhân tố của mọi định chế: khái niệm, chuẩn mực, giá trị biểu tượng tạo nên bản thể hay bản tính của một cộng đồng cư dân.” [19; tr 15]
Hiện nay UNESCO là một tổ chức công nhận những văn hóa của toàn thế
giới cũng đã có một số ý kiến về văn hóa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể
những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật
và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con
Trang 26người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.” (Tuyên bố về những chính sách văn hóa – Hội
nghị Quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 6-8-1982 tại Mêhicô) [22; tr 23 – 24]
Như vậy ta có thể hiểu rằng văn hóa không phải đơn thuần là một lĩnh vực riêng biệt mà văn hóa chính là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra Văn hóa là chiếc chìa khóa của sự phát triển
Nói đến khái niệm văn hóa, thì Huỳnh Công Bá trên cơ sở những phân tích
đã đi đến một định nghĩa chung như sau: “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất,
tinh thần và ứng xử mang tính biểu trưng, do một cộng đồng người sáng tạo ra và tích lũy được qua quá trình sinh tồn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và lịch sử - xã hội của mình, cũng như sự hoàn thiện đối với bản thân mình.” [1; tr 20]
Định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn.” [19; tr 15]
Định nghĩa của Đào Duy Anh: “Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung
tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt.” [19; tr 15]
Còn theo Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng thì: “Nói tới văn hóa là nói tới một
lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là
Trang 27thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh.” [22; tr 21 –
22]
Còn theo Phan Ngọc cũng đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa mang tính
chất thao tác luận, khác hẳn với những định nghĩa trước đó: “Không có cái vật gì
gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan
hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác.” [22; tr 22]
Bên cạnh đó thì văn hóa được Trần Ngọc Thêm định nghĩa như sau: “Văn
hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [22; tr 22]
Theo quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc Vượng chủ biên thì
nhóm tác giả cho rằng trong vô vàn cách định nghĩa và cách hiểu về văn hóa, thì có
thể tam quy về hai loại: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ,
lối ứng xử… Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn…và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau Ví dụ xét từ khía cạnh tự nhiên thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”.” [22; tr 23]
Ngoài ra, Nguyễn Từ Chi cũng đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa
theo hai góc độ: “Văn hóa hiểu theo góc rộng (góc nhìn “dân tộc học”) chính là
“toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất xã hội và tinh thần của từng cộng đồng” [20; tr 23]; theo góc hẹp thì “đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức
Trang 28mà theo tác giả là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.” [22;
văn hóa Có định nghĩa cho rằng: “Văn hóa là cái Tự nhiên được biến đổi bởi Con
người.” [1; tr 17] Bởi vì, để có thể tồn tại trong cuộc sống con người không thể
không tác động vào môi trường tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống đó là: nhu cầu vật chất, nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần Văn hóa chính là những sản phẩm do con người tạo ra
Qua những quan niệm cũng như những định nghĩa về văn hóa của những nhà nghiên cứu nổi tiếng, ta có thể thấy một điều rằng việc xác định khái niệm văn hóa một cách cụ thể và thống nhất là không hề đơn giản Sở dĩ có tình trạng khác nhau
về định nghĩa văn hóa giữa các tác giả bởi vì “văn hóa là một hiện tượng bao trùm
lên trên tất thảy các mặt của đời sống con người, khiến cho bất kỳ một định nghĩa nào cũng đều khó có thể bao quát hết được các nội dung của nó.” [1; tr 16] Mỗi
định nghĩa của một nhà nghiên cứu chỉ có thể thâu tóm được một phương diện nào
đó của khái niệm văn hóa mà thôi, cũng như không có một ngôn ngữ nào có thể phản ánh được hết toàn bộ giá trị của nó
Nhưng dù là vấn đề gì thì vẫn có cái riêng của nó, văn hóa cũng không ngoại
lệ nó mang những đặc trưng hết sức riêng biệt: “một, văn hóa là cái phân biệt giữa
con người với động vật, là cái đặc trưng riêng của xã hội loài người; hai, văn hóa không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền), mà thông qua việc học tập, giao tiếp để hình thành; ba, văn hóa là các ứng xử đã được mẫu thức hóa.” [1; tr 17]
Văn hóa được xem là một trong những đặc trưng của mỗi cộng đồng người
và là một hoạt động thuộc thế giới loài người Nó là chất keo liên kết các thành viên của cộng đồng để tạo nên bản sắc dân tộc Nó là điều kiện sinh tồn của mỗi con người, là thành tựu của từng dân tộc đặc biệt nó vừa là vũ khí trí tuệ, động lực và mục tiêu phát triển của một quốc gia nên việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc là điều rất cần thiết của mỗi cá nhân
Trang 29Văn hóa được hình thành nên trong dân tộc, đất nước và trong chính những con người bình dị chứ nó không cần làm nên từ những nguyên liệu đắt tiền hay những người thợ giỏi Trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều nền văn hóa cùng tồn tại, đó là một trong những yếu tố góp phần làm nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa toàn dân tộc Việc phát huy, giữ gìn và phát triển những giá trị văn hóa sẽ
là thước đo chính xác cho sự phát triển của một cộng đồng, xã hội cho nên ý thức giữ gìn nền văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay là việc hết sức khó khăn Nếu ta không có một định hướng đầy đủ thì nguy cơ hòa nhập dễ bị hòa tan mất hẳn bản sắc văn hóa dân tộc là điều không thể tránh khỏi Những người con đất Việt hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để hòa nhập nhưng không hòa tan
Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần Người viết rất đồng tình với ý kiến trên và đi theo hướng định nghĩa trên
để nghiên cứu ca dao Nam Bộ Đặc biệt là khi người viết nghiên cứu về đề tài văn hóa tinh thần trong ca dao Nam Bộ
1.2.2 Khái quát văn hóa Nam Bộ
Đầu tiên người viết xin khái niệm sơ lược về văn hóa tinh thần: Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một hệ thống Hệ thống đó bị chi phối bởi trình
độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá trị bản chất Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năng tiến hóa nội tại của nó
Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á nổi tiếng với nhiều nền văn hóa lớn đã được hình thành Do đó nó cũng phần nào có ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự ra đời và phát triển của nền văn hóa Việt Nam Trong các vùng văn hóa
ở Việt Nam, thì Nam Bộ là vùng có những nét riêng và mang sắc thái đặc thù khó nhầm lẫn với các vùng văn hóa khác nhưng vẫn giữ được tính thống nhất của nền văn hóa dân tộc
Có thể nhìn nhận khởi điểm lịch sử văn hóa Nam Bộ bắt đầu từ năm 1623, lúc bấy giờ Nam Bộ chỉ là vùng đất hoang dại với hệ thống đất đai trũng, sình lầy
và sông rạch chằng chịt Gần một thế kỷ sau, Nam Bộ mới được định hình là một
Trang 30vùng văn hóa Thời gian ấy không phải là dài cho một nền văn hóa vùng miền được hình thành vững chắc, khi người Việt đến với vùng đất mới và mang theo những hành trang cùng vốn văn hóa đúc kết hàng ngàn năm của dân tộc Việt, đã góp phần tạo nên nền tảng của hệ giá trị văn hóa Nam Bộ Những giá trị trải qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, dần tạo nên những giá trị của nền văn hóa Nam Bộ như hiện nay
Nam Bộ hôm nay là địa bàn thuộc 19 tỉnh (thành phố) bao gồm: thành phố
Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ; và các tỉnh miền Tây Nam Bộ: thành phố Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Cà Mau
Nam Bộ là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng với hệ thống kênh rạch chằng chịt và được mệnh danh là xứ sở của những dòng sông Không những thế, Nam Bộ còn là vùng đất nằm ở cuối cùng của quốc gia về phương Nam, nằm trọn vẹn trong lưu vực của hai con sông Đồng Nai và Cửu Long lại là phần hạ lưu hai con sông này Đây là vùng đất cửa sông giáp biển nên từ đó tạo cho Nam Bộ những đặc điểm riêng về văn hóa
Nói tới Nam Bộ ta sẽ nghĩ ngay đến một cánh đồng tít tắp tận chân trời, một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt Theo một số tài liệu về văn hóa, lịch sử Nam
Bộ là nơi có nhiều nền văn hóa cổ cũng như lớp cư dân đầu tiên đến khai phá và lớp người đầu tiên đó là những người Việt từ miền Thuận – Quảng vào Họ đa phần là dân nghèo, trải qua quá trình đấu tranh với rừng thiên nước độc đã tạo nên một tính cách đặc thù của người dân nơi đây Quá trình giao lưu văn hóa đã diễn ra với một tốc độ mau lẹ, vì trong một khoảng thời gian rất ngắn chừng hơn 300 năm nhưng Nam Bộ đã định hình được rõ những đặc trưng văn hóa của mình Đặc biệt đó chính
là sự tiếp biến văn hóa khi giữa các tộc người cùng sinh sống trên một địa bàn Hiện
nay, “Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người thiểu số là cư dân bản
địa: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ…” [9; tr 4]
Tuy nhiên, tộc người chủ thể có vai trò quyết định đến sự phát triển của vùng
đất là người Việt, “tộc người đa số mà dân số ở riêng Nam Bộ lên đến hơn 26 triệu
Trang 31người, chiếm 90,9% dân số của vùng Riêng ở tiểu vùng Tây Nam Bộ, chủ thể văn hóa chính bên cạnh người Việt còn có người Khmer và người Hoa Người Khmer là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 5 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển Người Hoa cũng là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển” [9; tr 5] Như vậy, khi ta nói đến nền văn hóa Nam Bộ là nói đến văn hóa của
các tộc người trên vùng đất này Gần như là một quy luật, văn hóa ở đây chính là
văn hóa của một vùng đất mới dù là của tộc người nào, “đều là sự kết hợp giữa
truyền thống văn hóa trong tiềm thức, trong dòng máu, và điều kiện tự nhiên, lịch
sử của vùng đất mới, nó phát triển trong điều kiện cách xa vùng đất cội nguồn cả về không gian và thời gian Nói khác đi là, những loài cây quen thuộc của vùng đất cũ, được đem cấy trồng nơi đất mới Cho nên nền văn hóa này, vừa có nét giống, lại vừa có nét khác với nền văn hóa ở vùng đất cội nguồn, của cùng một tộc người.”
[22; tr 271]
Trong quá trình mở cõi vào phương Nam, các lưu dân đã chọn địa bàn ven sông rạch làm nơi cư trú bởi vì họ nhận thấy được tầm quan trọng của sông rạch trong việc ổn định cuộc sống lâu dài Có lẽ bởi địa hình Nam Bộ có mạng lưới kênh rạch chằng chịt rất thuận tiện cho việc di chuyển bằng đường thủy, cùng với đó là lượng phù sa bồi đắp quanh năm khiến đất đai màu mỡ, nước tưới tiêu ruộng đồng luôn sẵn có và rất nhiều tiện ích khác của cuộc sống sinh hoạt gắn với dòng sông
Nhà ở của người dân Nam Bộ luôn xuất hiện mô hình trước sông, sau ruộng Các cư dân sống tập trung theo dòng chảy của các con sông và những chỗ giáp nước, nghỉ ngơi thường hình thành nên hệ thống chợ Bên cạnh đó, tập quán dùng ghe làm nhà ở lại rất phổ biến khi mọi sinh hoạt của gia đình đều diễn ra trên ghe Ngoài ra, người Nam Bộ còn làm loại nhà sàn và nhà bè (nhà trên mặt nước), đó là nơi cư trú cũng như mưu sinh Họ có thể buôn bán những thứ cần thiết cho những người qua lại trên sông để tăng thêm thu nhập
Trong cấu trúc ăn uống, người Nam Bộ cũng có những nét khác hơn so với đồng bằng Bắc Bộ Nếu như ở Bắc Bộ thì cơ cấu bữa ăn là cơm – rau – cá thì ở
Nam Bộ “cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm dương và theo quy luật ngũ
hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung Tuy nhiên, do điều kiện địa
Trang 32lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hóa, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh thành cơm – canh – rau – tôm cá” [9; tr 15]
Đặc biệt do nguồn tài nguyên thủy sản dồi dào (như tôm, cua, rùa, cá, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn,…) đạt tới sự sung túc, phong phú hơn tất cả mọi miền trên đất nước nên việc sử dụng nguồn đạm thủy sản trong bữa ăn người Việt được chú trọng hơn Nam Bộ là vùng đất có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều cùng hệ thống sông ngòi dày đặc là điều kiện thích hợp cho việc trồng cây ăn trái và rau củ Từ nguồn thủy sản kết hợp với các loại hoa màu phong phú đã tạo ra rất nhiều món ăn khác nhau, nhưng điểm chung đều rất đảm bảo về chất lượng và với những hương vị độc đáo riêng mang đậm chất Nam Bộ
Thiên hướng trong bữa ăn của người Nam Bộ là chọn lựa các thức ăn có tác dụng giải nhiệt nên dừa và các món ăn được chế biến từ dừa đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong các món ăn ở Nam Bộ
Do sống trong môi trường sông nước, nên cả nam và nữ ở Nam Bộ đều chọn chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn làm trang phục chủ yếu Áo bà ba thuộc loại vải dày rất thích hợp với mọi hoạt động của vùng sông nước như: chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, giăng lưới,… Chiếc áo bà ba rất bền và gọn nhẹ lại có túi dùng
để đựng những vật cần thiết khi lao động Còn khăn rằn có thể lau mồ hôi, che nắng, quấn cổ và thậm chí có thể quấn ngang người thay cho chiếc quần khi lội qua sông
Khi một mảnh đất gắn liền với sông nước thì có lẽ ghe, xuồng, vỏ lãi, là những phương tiện quá đỗi quen thuộc và cần thiết đối với những cư dân nơi đây Đặc biệt hình ảnh của chiếc cầu khỉ bắt qua những con kênh rạch là điều không thể thiếu Một vùng đất mới với những con người mới cùng với nó là một miền kinh tế mới đầy năng động, một miền văn hóa mới đầy cởi mở Sự hỗn dung tiếp biến văn hóa một cách rộng rãi cùng vốn văn hóa ẩn sâu trong tiềm thức của họ, cũng như sự hội ngộ của những con người “tứ xứ” đã làm cho Nam Bộ trở thành một vùng văn hóa với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng cùng đan xen tồn tại với nhau Nói khác đi là
diện mạo tôn giáo tín ngưỡng Nam Bộ khá đa dạng và phức tạp Do “tiếp nối truyền
thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, người Việt Nam Bộ
Trang 33cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, kết hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên” [9; tr 9 – 10]
Bên cạnh Phật giáo tiểu thừa lại có Phật giáo đại thừa Ngoài ra còn có các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo,… với các tín ngưỡng dân gian, chính các điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới đã khiến cho nó có những nét khác biệt tuy chúng đã đi từ một cội nguồn là đồng bằng Bắc Bộ Khi công cuộc khai phá và làm hồi sinh Nam Bộ chưa được bao lâu Nam Bộ đã phải chấp nhận cuộc giao thoa văn hóa lâu dài với phương Tây tư bản chủ nghĩa, khiến cho Nam Bộ
có sự đan xen giữa những đô thị hiện đại và hoang sơ của rừng ven biển Qua đó, ta
có thể thấy Nam Bộ chính là cái nôi sinh thành những tín ngưỡng tôn giáo mới, là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam
Về lễ hội ở Nam Bộ cũng rất phong phú và đa dạng tương đối với cách thức
hoạt động sản xuất và tín ngưỡng bao gồm: “lễ hội nông nghiệp – ngư nghiệp; lễ
hội tưởng niệm danh nhân – anh hùng dân tộc; lễ hội tín ngưỡng – tôn giáo và hỗn hợp.” [9; tr 10] Cụ thể là có các lễ hội Kỳ yên để tạ ơn Thành hoàng Bổn cảnh…
hoặc ở vùng ven biển có lễ hội Nghinh Ông; lễ hội Vía Bà Chúa Xứ ở núi Sam Dù các phong tục có nguồn gốc từ Trung và Nam Trung Bộ nhưng người Việt Nam Bộ
đã biết tiếp biến thêm nhiều yếu tố trong những phong tục của người Hoa, người
Khmer Chẳng hạn như “người Việt Nam Bộ vẫn giữ tập quán giẫy mã vào ngày 25
tháng Chạp trước khi làm lễ đón ông bà vào ngày 30 tháng Chạp âm lịch, nhưng một bộ phận người Việt Nam Bộ cũng theo tập quán tảo mộ vào tiết Thanh minh tháng Ba âm lịch giống như người Hoa.” [9; tr 10]
Đến Nam Bộ để khai hoang lập ấp, người Việt cũng theo truyền thống để tổ
chức quần cư thành làng ấp Tuy nhiên, “về nội dung và hình thức, làng ấp của
người Việt Nam Bộ có những điểm khác biệt với làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ Về nội dung, làng ấp của người Việt ở Nam Bộ là một tập hợp cư dân đến từ nhiều vùng, nhiều họ tộc khác nhau, gắn bó với nhau không phải do quan hệ dòng họ mà chủ yếu là do quan hệ láng giềng Tập hợp cư dân của mỗi làng ấp cũng thường xuyên biến động hơn, kẻ đến người đi đổi chỗ cho nhau, nên không có
sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư và dân ngụ cư Về hình thức, để tiện cho việc đi lại, làng ấp ở Nam Bộ thường hình thành dọc theo kinh rạch hoặc trục lộ,
Trang 34không có lũy tre làng đóng kín Do đó tính cố kết cộng đồng của làng ấp Nam Bộ lỏng lẻo hơn làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.” [9; tr 8]
Ngoài ra Nam Bộ còn là nơi phát triển dòng văn hóa bác học rất mạnh mẽ
Có nhiều trường học nổi tiếng được thành lập và khóa thi tuyển chọn người tài phụng sự đất nước liên tiếp mở ra, giúp Nam Bộ đã có thêm một đội ngũ trí thức Nho học mới xuất hiện góp phần vào việc nâng cao dân trí cũng như giúp văn hóa Nam Bộ phát triển mạnh mẽ
Văn hóa Nam Bộ còn được gọi là văn hóa đất phương Nam, là một nền văn hóa có những đặc thù riêng so với các vùng văn hóa khác Vùng đất vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của văn hóa Nam Bộ, lại vừa là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người Văn hóa Nam Bộ đã trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến và giao thoa văn hóa, nó khiến cho văn hóa Nam Bộ tuy có nét tương đồng nhưng lại
có sự khác biệt Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là văn hóa Nam Bộ chỉ là con số cộng của các luồng văn hóa đã hội tụ ở đây Vì vậy, văn hóa Nam Bộ không tự đánh mất mình mà chỉ tái tạo các giá trị văn hóa khi vùng đất thu nạp được nhằm phục vụ cho nhu cầu của người Việt trên vùng đất mới Tất cả đã tạo cho Nam Bộ một phong cách văn hóa độc đáo riêng mà không nơi nào có được
Trang 35Chương 2 PHONG TỤC, TẬP QUÁN TRONG CA DAO NAM BỘ
Từ ngàn xưa, ông cha ta đã biết kết tinh và lưu giữ nhiều nét văn hóa độc đáo cùng với những phong tục tập quán đặc sắc cho đến ngày hôm nay Những phong tục ấy, luôn tồn tại song song cùng với đời sống sinh hoạt của người dân một cách mật thiết không thể tách rời, và đang không ngừng phát triển ngày càng vững chắc
Dù cho có một số phong tục tập quán đã được thời đại hóa ảnh hưởng và tác động, nhưng hiển nhiên nó vẫn sống mãi trong tiềm thức của mỗi người con đất Việt đặc biệt là người dân Nam Bộ
Theo dân gian phong tục tập quán chính là những thói quen, nếp sống do con người đặt ra, được lặp đi lặp lại trong một cộng đồng nhất định hay nó còn là những thói quen trong nếp sống sinh hoạt đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được đa số người chấp nhận và làm theo rồi dần trở thành thuần phong mĩ tục
Phong tục, tập quán có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con người, đây
có thể xem là những giá trị văn hóa tinh thần quý báu của dân tộc Một trong những vùng đất ghi nhận lại những giá trị văn hóa tinh thần sâu đậm nhất chính là vùng đất Nam Bộ Nam Bộ đã sử dụng ca dao làm phương tiện phản ánh rất hay và đặc biệt
về văn hóa Ca dao Nam Bộ mang nhiều âm hưởng và nhiều màu sắc khác nhau, nhưng nó không hề lạc lõng mà nó lại quyện vào nhau để trở thành một bản hòa tấu tuyệt vời, chỉ khi ta đọc và cảm nhận sâu sắc về nó mới thấy được cái hay và cái tài của các tác giả dân gian
Trong ca dao Nam Bộ đã có một mảng riêng phản ánh về khía cạnh phong tục, tập quán trong đời sống người dân rất đa dạng và phong phú, tiêu biểu cho một nét văn hóa quan trọng của người Việt Nam như: phong tục lễ hội, phong tục lễ tết, phong tục hôn nhân, phong tục tang ma…và một số tập quán trong giao tiếp cũng như ẩm thực mà trong luận văn này sẽ được người viết đề cập đến
Trang 36những cảm nhận của con người về thiên nhiên, đất nước, cộng đồng và ngay chính
cả bản thân mình Lễ hội còn là môi trường tỏa sáng màu sắc văn hóa dân tộc, là một cuộc trình diễn văn hóa của cả cộng đồng nhằm thỏa mãn khát vọng của cộng đồng Vì thế, mỗi đất nước, mỗi vùng miền, mỗi tộc người đều có một lễ hội riêng
mang những nét riêng biệt mà các tộc người hay quốc gia khác đều không có được
Đặc biệt vùng đất Nam Bộ với nhiều lễ hội đặc sắc đã được các tác giả dân gian ghi nhận lại bằng hình thức ca dao, nhưng không có hình ảnh lễ nào được thể hiện một cách cụ thể, chủ yếu lễ hội ở Nam Bộ được thể hiện thông qua những nghi thức tế lễ ở làng xã có thờ các nhân vật anh hùng lịch sử Qua ca dao ta có thể hình dung được rất nhiều phong tục về lễ hội, có lẽ vì ca dao là hình thức diễn đạt rất dễ
đi sâu vào tâm hồn của mỗi con người
Lễ hội được xem là một hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính chất tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng, dân tộc Mỗi lễ hội thường bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội
Lễ là những nghi thức thể hiện lòng tin, sự tôn kính của nhân dân đối với lực lượng siêu nhiên tồn tại trong tâm linh con người Nhân dân đều có một niềm tin và
hi vọng rằng hành vi tế lễ của mình sẽ mang đến những điều tốt lành như bản thân mong muốn Cũng có một số trường hợp, đối tượng thờ cúng là những nhân vật lịch
sử, văn hóa thì tế lễ mang ý nghĩa biết ơn và cầu mong bình an cho mọi người đối với các bậc tiền nhân
Hội là các hình thức vui chơi giải trí, các trò chơi dân gian hoặc hoạt động văn hóa giúp cho người dân khi tham gia lễ hội có một sân chơi vui vẻ sau khi kết thúc phần lễ Trong thực tế, hằng năm có hàng trăm ngàn lượt người rời địa phương
để đi tham dự các lễ hội như: lễ hội Bà Chúa Xứ, lễ hội Núi Bà Đen, lễ hội Nghinh Ông…nhưng gần như các lễ hội này không để lại dấu ấn cũng như không được ca dao lưu lại Ca dao Nam Bộ chỉ ghi nhận một số câu ca dao có nội dung về những anh hùng lịch sử địa phương thời cận đại, những người có công khai hoang mở đất, bảo vệ quê hương tiêu biểu là
Ai về Đồng Tháp mà coi,
Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng,
Bà con đùm đậu quanh vùng,
Trang 37Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên
[6; tr 127]
So với số lượng những lễ hội dày đặc và có gốc rễ lâu đời ở Bắc Bộ thì số lượng lễ hội ở Nam Bộ lại càng khiêm tốn hơn nhiều, bởi lễ hội ở Nam Bộ ra đời tương ứng với lịch sử khẩn hoang của vùng đất Chính lẽ đó mà lễ hội ở Nam Bộ đang có những bước phát triển mới, vừa kế thừa những di sản tinh thần và văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp cận những nhân tố mới được hình thành từ chính nơi này Không những thế, lễ hội ở Nam Bộ sẽ là một chặng đường mới để tiếp nối vào dòng chảy lễ hội truyền thống từ Bắc vào Nam nhằm nâng cao nét văn hóa độc đáo và riêng biệt của dân tộc ta
Bên cạnh đó, lễ hội ở Nam Bộ chịu sự chi phối rất lớn của các yếu tố lịch sử, tín ngưỡng và cả tôn giáo, cho nên nó đã tác động mạnh mẽ vào đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ, tạo nên một màu sắc khá đặc trưng so với các vùng miền khác Vì thế, dẫn đến địa điểm tổ chức của lễ hội thường là ở Đình (Đình làng), Miễu, Miếu đây là nơi trang trọng và mọi người đều có thể tham gia Đặc biệt trong đó việc tham dự lễ hội ở đình làng đã ăn sâu vào trong con người của những lưu dân Ông đi đình làng lại dắt theo con cháu, khi ông mất thì con cháu đi dự lễ
Họ xem dự lễ hội là một hình thức báo hiếu Vả lại, đây chính là tập quán rất riêng của mỗi cộng đồng Yêu đình làng là yêu ông bà, cha mẹ, yêu bà con họ hàng chòm xóm, quê hương, dần dần việc tham dự lễ hội ở đình làng đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân Việt Đặc trưng của lễ hội ở đình làng, nó mang tính chất của thế tục là chủ yếu vì trong lễ đều cúng các món mặn như heo, vịt, chứ không cúng chay, ngoài ra còn cúng kèm theo rượu nếu không có rượu thì không ra
lễ hội Những người tham dự lễ hội được khuyến khích ăn mặt sang trọng và lòe loẹt Trong lời khấn, họ có thể cầu xin phát đạt, bình an và làm giàu nhanh chóng
Ai về Đồng Tháp mà coi Miễu quan lớn Thượng trăng soi lạnh lùng
Bà con đùm đậu quanh vùng Tháng ba ngày giỗ xin đừng ai quên
[6; tr 141]
Dù ai xa xứ sinh nhai Nhớ ngày 17 tháng 2 thì về
Trang 38Dù ai công việc bộn bề Tháng 2 17 nhớ ngày kỳ yên
[2; tr 813]
Lễ hội ở Nam Bộ gắn với hình thức sinh hoạt tinh thần của người dân nơi đây Tuy là một vùng đất mới được hình thành và phát triển nhưng những yếu tố truyền thống trong lễ hội luôn được người dân Nam Bộ lưu giữ và phát huy Bằng chứng là việc những lễ hội không kém phần phong phú, qua đó giúp cho con người
có thể tái hòa nhập cộng đồng với những mối quan hệ giao tiếp và tình cảm cao hơn, mới hơn, ý nghĩa hơn Cùng đó là những cảm nhận sâu sắc về sự tái sinh, đổi mới của con người, của tình làng nghĩa xóm và tình yêu quê hương đất nước Tuy nhiên ta có thể thấy, không phải tất cả các sinh hoạt lễ hội trong đời sống của cư dân Nam Bộ đều được phản ánh vào ca dao, ca dao Nam Bộ chỉ có thể ghi nhận lại một
số nét mang tính chất khái quát Cho nên ta càng phải giữ gìn những nét riêng vào trong từng giai đoạn, và trở thành những tác giả dân gian góp thêm những câu ca dao mới vào kho tàng ca dao Nam Bộ nói chung và đặc biệt ca dao về lễ hội ở Nam
Bộ nói riêng
2.1.2 Lễ tết
Chữ “Tết” là do biến âm của chữ “tiết” mà ra “Tiết” gốc Hán có nghĩa là khoảng thời gian được chia ra theo sự vận động có chu kì của khí trời đất trong một năm Có thể nói Tết là một trong những kiểu loại cuộc lễ với đối tượng chính yếu là thời tiết để cầu thịnh vượng, an khang và tăng cường ý chí của người sản xuất nông nghiệp Nhưng số lượng những hình ảnh có liên quan đến Tết như: mai, bánh tét, nêu, xuất hiện rất ít trong ca dao Nam Bộ và gần như là không có Dân tộc ta có rất nhiều ngày Tết trong năm như tết: Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Nguyên Tiêu, nhưng đặc biệt ngày tết cổ truyền ở Việt Nam là ngày Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán được xem là lễ hội lớn nhất trong các phong tục truyền thống của Việt Nam Một năm gồm bốn mùa, tám tiết, ngày đầu năm âm lịch thuộc
về Tết Nguyên Đán, đó chính là thời khắc đánh dấu sự chuyển dời từ năm cũ sang năm mới, là một chu kì tuần hoàn mà tạo hóa đã ban cho con người, cỏ cây và vạn vật Tết Nguyên Đán có ở Việt Nam từ rất lâu đời, Tết là một ngày rất thiêng liêng với tất cả mọi người Việt Nam từ hàng ngàn năm nay cả khi thăng cũng như những
Trang 39lúc trầm Tết là dịp đoàn tụ, sum họp gia đình, là dịp biểu lộ tình cảm giữa các thành viên cũng như hỏi han về sức khỏe, công việc làm ăn và các vấn đề khác trong cuộc sống Tết còn là dịp để con cháu từ bốn phương trời tề tựu về quê hương đất tổ, thắp lên những nén hương tưởng nhớ tri ân với tổ tiên, nguồn cội và những người đã khuất với ước mong đất nước xã hội tốt đẹp hơn, mong ai cũng được đầy
đủ, ấm no Tất cả mọi người đều rất háo hức trong dịp đầu xuân, cho dù có bận rộn hơn hẳn những ngày thường mọi người vẫn phấn khởi chuẩn bị ăn Tết chơi Tết cho thật đàng hoàng vui vẻ Từ đó Tết đã hiện hữu như một giá trị nhân văn, văn hóa đặc sắc bền vững theo thời gian không gì có thể thay thế được
Tết Nguyên Đán là một trong những dịp thể hiện rõ và nhiều nhất những phong tục mà ông cha ta đã truyền lại từ nhiều đời, tạo nên một nét văn hóa đẹp trong kho tàng ca dao Việt Nam nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng
Tết Nguyên Đán bắt đầu khi ta tảo mộ ông bà, người thân đã khuất và sau đó vào ngày 23 thì đưa ông Táo về trời, ngày 30 (hoặc 29, tháng thiếu) thì diễn ra một buổi lễ khá cảm động, cúng đơn sơ, thỉnh nguyện ông bà khuất mặt về với con cháu Đến giao thừa thì xem như là hết năm cũ bước sang một năm mới với những điều tốt lành sắp đến
Ai cũng biết ngày tết là ngày sum họp của mọi thành viên trong gia đình sau một năm dài làm ăn vất vả Dù giàu nghèo ra sao, dù lang bạt khắp bốn phương trời,
dù sống trong áo quần sang trọng, miệng ăn cao lương mỹ vị thì hỏi ai không khỏi chạnh lòng mà nhớ quê hương Nên ông bà ta thường nhắc nhở con cháu dù có bộn
bề công việc đến đâu đi chăng nữa, thì cũng phải giữ gìn truyền thống và quây quần đoàn tụ với gia đình trong những ngày xuân
Ngày xuân được xem là ngày vui vẻ nhất, là sự mở đầu, niềm khởi hành, sự xuất phát cho một năm sẽ ăn nên làm ra hay thất bại, niềm vui hay nỗi buồn, may mắn hay xui xẻo, vì thế mà không ai dám coi thường việc ăn Tết, dù gia đình có nghèo khó đến đâu cũng phải cố gắn chu toàn tươm tất trong ba ngày tết, để cầu mong năm sau được sung túc, đầy đủ hơn
Không những thế, vào những ngày này gia đình nào cũng sửa sang cho nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ, lau chùi bàn thờ tổ tiên và chuẩn bị hoa thơm, trà mứt, dưa hấu, để đón tiếp khách Đặc biệt, trong việc bày biện mâm ngũ quả ở Nam Bộ