1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình chính trị học

292 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình chính trị học
Trường học Học viện Chính trị quân đội nhân dân</br> http://hvtcQĐND.vn
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 292
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị nhằm tìm ra những quy luật hoặc tính quy luật của đời sống chính trị. Chính trị học được coi là khoa học về quyền lực và cầm quyền, khoa học về việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nên có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiệm vụ đào tạo cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội. Mục đích nghiên cứu Chính trị học trong Quân đội nhằm: Nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trung, cao cấp về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cơ sở cho việc củng cố niềm tin, kiên định tư tưởng, nâng cao năng lực, tầm nhìn và tư duy chiến lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chỉ đạo của Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Học viện Chính trị triển khai biên soạn Giáo trình Chính trị học dùng cho đào tạo Cao cấp lý luận chính trị trong Quân đội. Giáo trình gồm 07 chương, nội dung tập trung trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, thiết thực về khoa học chính trị như: Khái luận về chính trị học; quyền lực chính trị trong xã hội hiện đại; văn hóa chính trị; các mô hình hệ thống chính trị; nhà chính trị tiêu biểu; kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị; vấn đề an ninh chính trị trong bối cảnh thế giới biến đổi. Giáo trình Chính trị học đã quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; các Chỉ thị, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị; cập nhật những kiến thức mới nhất về khoa học chính trị, hệ thống chính trị, tổ chức nhà nước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến những vấn đề thực tiễn của xã hội và Quân đội.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1.1 Những vấn đề cơ bản về Chính trị học 71.2 Nội dung nghiên cứu của Chính trị học trên thế giới và ở

1.3 Sự phát triển của các tri thức chính trị trong lịch sử 271.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu khái luận về Chính trị học đối

Chương 2 QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 522.1 Khái lược về quyền lực và quyền lực chính trị 522.2 Các yếu tố tác động và những biến đổi của quyền lực chính

2.3 Quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay 792.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền lực chính trị trong xã

hội hiện đại đối với người cán bộ Quân đội 90

3.1 Những vấn đề chung về văn hóa chính trị 92

3.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu văn hóa chính trị đối với

4.1 Lý luận chung về mô hình hệ thống chính trị 1334.2 Các mô hình hệ thống chính trị chủ yếu 1404.3 Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 1644.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các mô hình hệ thống chính

trị đối với người cán bộ Quân đội 183

Chương 5 NHÀ CHÍNH TRỊ TIÊU BIỂU

1865.1 Nhà chính trị tiêu biểu, vai trò, thách thức và yêu cầu đối

5.2 Nhãn quan chính trị, các giá trị cốt lõi và hành động thực tiễn

5.3 Tư duy kiến tạo thể chế và đột phá chiến lược của nhà

5.4 Nhà chính trị tiêu biểu nhìn từ bối cảnh Việt Nam hiện nay 2095.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhà chính trị tiêu biểu đối

217

Trang 2

với người cán bộ Quân đội

Chương

6

KINH NGHIỆM XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CHÍNH TRỊ

2206.1 Những vấn đề chung về tình huống chính trị 2206.2 Kinh nghiệm xử lý các tình huống chính trị ở Việt Nam 2256.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh nghiệm xử lý tình

huống chính trị đối với người cán bộ Quân đội 248

Chương 7 VẤN ĐỀ AN NINH CHÍNH TRỊ TRONG BỐI

7.1 Lý luận chung về an ninh chính trị 2527.2 Các biến đổi chủ yếu về an ninh chính trị trên thế giới

2597.3 Những vấn đề an ninh chính trị chủ yếu đặt ra cho Việt

7.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu những vấn đề an ninh chính

trị trong bối cảnh thế giới biến đổi đối với người cán bộ

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị nhằm tìm ranhững quy luật hoặc tính quy luật của đời sống chính trị Chính trị học được coi

là khoa học về quyền lực và cầm quyền, khoa học về việc giành, giữ, thực thiquyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nên có ý nghĩa rất quan trọng đối vớinhiệm vụ đào tạo cán bộ trung, cao cấp trong Quân đội

Mục đích nghiên cứu Chính trị học trong Quân đội nhằm: Nâng cao kiếnthức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy trung, cao cấp về lý luận chínhtrị, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cơ sở cho việc củng cố niềm tin, kiênđịnh tư tưởng, nâng cao năng lực, tầm nhìn và tư duy chiến lược, năng lực chuyênmôn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyệnnhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Thực hiện chỉ đạo của Cục Nhà trường, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cụcChính trị, Học viện Chính trị triển khai biên soạn Giáo trình Chính trị học dùngcho đào tạo Cao cấp lý luận chính trị trong Quân đội Giáo trình gồm 07chương, nội dung tập trung trang bị cho người học những kiến thức cơ bản,thiết thực về khoa học chính trị như: Khái luận về chính trị học; quyền lựcchính trị trong xã hội hiện đại; văn hóa chính trị; các mô hình hệ thống chínhtrị; nhà chính trị tiêu biểu; kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị; vấn đề anninh chính trị trong bối cảnh thế giới biến đổi

Giáo trình Chính trị học đã quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương

chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; các Chỉ thị, Nghị quyết của Quân ủyTrung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị; cập nhậtnhững kiến thức mới nhất về khoa học chính trị, hệ thống chính trị, tổ chức nhànước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến những vấn đề thựctiễn của xã hội và Quân đội

Quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã kế thừa và phát triển các kết quảnghiên cứu của nhiều giáo trình, các công trình khoa học, các tài liệu đã đượcnghiên cứu, xuất bản trong và ngoài quân đội Trong đó, có kế thừa Giáo trìnhChính trị học của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2018, tái bản cậpnhật, chỉnh sửa năm 2021, đồng thời, có sự cộng tác giúp đỡ của nhiều nhà khoahọc, cơ quan nghiên cứu

Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quýbáu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung

Các tác giả

Trang 5

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ CHÍNH TRỊ HỌC

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH TRỊ HỌC

1.1.1 Khái niệm chính trị và bản chất của chính trị

Các quan điểm ngoài Mác xít về chính trị và bản chất của chính trị

Chính trị là một hiện tượng xã hội ra đời, tồn tại cùng với giai cấp và nhànước Từ khi xuất hiện, chính trị đã có ảnh hưởng to lớn tới quá trình tồn tại vàphát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Trước khiChính trị học ra đời với tư cách là một khoa học chính trị đã có nhiều quanniệm, quan điểm, thậm chí là tư tưởng, học thuyết của các học giả khác nhaubàn về các khía cạnh của chính trị

Ở phương Tây, thời kỳ cổ đại ở Hy Lạp, người ta quan niệm chính trị lànhững vấn đề liên quan đến công việc nhà nước Theo đó, từ "chính trị"(politics) có nguồn gốc từ "polis" trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "nhà nướcthành bang" Hy Lạp cổ đại chia ra làm nhiều thành bang khác nhau và mỗithành bang có một hệ thống chính quyền của riêng mình Chính trị với nghĩa nàyđược hiểu là các vấn đề liên quan đến thành bang, liên quan đến nhà nước Đâycũng là cách hiểu truyền thống của Chính trị học, phản ánh khuynh hướngnghiên cứu chủ yếu tập trung vào các cá nhân và bộ máy nhà nước Nghiêncứu chính trị, về bản chất, là nghiên cứu nhà nước, nghiên cứu việc thực thiquyền lực của nhà nước, tức thẩm quyền phân bổ các giá trị Do vậy, chính trịbao gồm các quá trình khác nhau, thông qua đó, nhà nước đáp ứng các áp lực từ

xã hội bằng việc phân bổ các lợi ích, đưa ra các quyết định thưởng và phạt theothẩm quyền Các giá trị theo thẩm quyền là những giá trị đã được xã hội thừanhận

Chính trị là hoạt động diễn ra trong một chính thể, một hệ thống tổ chức

xã hội mà trung tâm của nó là bộ máy nhà nước Tất cả mọi hoạt động liên quanđến công việc của nhà nước đều được coi là hoạt động chính trị: Từ bầu cử,tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, thực thi các chính sách do nhànước ban hành đến hoạt động của các nhà chính trị, các công chức và nhân dântrong đời sống chính trị, đều được xem là hoạt động chính trị

Trang 6

Hê-rô-đốt được mệnh danh là người “cha của chính trị học” Từ nghiêncứu và phân tích sự khác biệt giữa các hình thức chính thể: Quân chủ, quý tộc vàdân chủ, ông khẳng định: chính trị tốt nhất là thể chế hỗn hợp của các chính thểnày Hê-rô-đốt chưa phân tích được nguồn gốc, bản chất của chính trị, song, tưtưởng tiến bộ của ông là gắn vấn đề chính trị với nhà nước.

Platon quan niệm, chính trị là nghệ thuật cai trị Cai trị bằng sức mạnh làđộc tài, cai trị bằng nghệ thuật mới là đích thực Chính trị là nghệ thuật cungđình liên kết trực tiếp của người anh hùng và sự thông minh Sự liên kết đó đượcthực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tinh thần hữu ái

Aristoteles cho rằng, chính trị là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên, là hìnhthức giao tiếp cao nhất của con người chính trị Con người là động vật chính trị;quyền lực chính trị có thể được phân chia thành lập pháp, hành pháp và tư pháp

Ở phương Đông thời cổ đại, nổi bật nhất là các quan niệm của Khổng Tử,Hàn Phi Tử, Lão Tử, về chính trị Khổng Tử quan niệm, chính trị là công việccủa người quân tử, là làm cho chính đạo, chính danh Hàn Phi Tử quan niệm đểthực hiện hoạt động chính trị cần thiết phải xây dựng và ban hành pháp luật Vớiluận thuyết nổi tiếng về thế, thuật và pháp, Hàn Phi Tử là đại diện tiêu biểu củaphái Pháp gia Lão Tử với quan điểm “vô vi nhi trị” - không làm gì mà mọingười tự thuần phục, tự tìm đến với con đường chính đạo thì đó là cái gốc củanghệ thuật trị nước

Trong thời kỳ các học thuyết và tư tưởng tư sản về chính trị nở rộ, nổi bậtnhất là các thuyết “Tam quyền phân lập”, “Khế ước xã hội” Các nhà tư tưởng tưsản đều quan niệm chính trị là công việc của những “công dân” có tài sản Thựcchất của quan điểm này nhằm biện hộ cho chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân về

tư liệu sản xuất

Một số quan điểm của các nhà tư sản khác cho rằng: Chính trị là hoạtđộng tìm kiếm cánh thức giải quyết mâu thuẫn của con người khi sống chungthành cộng đồng Đây là cách định nghĩa về chính trị dựa trên cách thức đưa racác quyết định tập thể của một cộng đồng Bất kỳ quốc gia nào cũng bao gồmcác công dân, các tổ chức với các lợi ích khác nhau cùng tồn tại Đôi khi, mụctiêu hoạt động của các cá nhân, của các thể chế này trái ngược nhau và tạo ra sự

Trang 7

xung đột Ở mỗi nhà nước, sẽ có các thể chế, tổ chức có chức năng giải quyếtcác xung đột này Chính trị được xem như một phương tiện để giải quyết xungđột Các xung đột có thể được giải quyết thông qua quá trình thỏa hiệp, hòagiải và đàm phán, chứ không nhất thiết phải bằng vũ lực, cưỡng bức Do vậy,người ta gọi chính trị là nghệ thuật của các khả năng Theo nghĩa này, chính trị

là hoạt động tìm kiếm các cách thức dung hòa những lợi ích khác nhau trongcộng đồng bằng cách chia cho các thành viên một phần quyền lực tương ứngvới tầm quan trọng của họ đối với sự tồn vong và lợi ích của cộng đồng Vì mụcđích này, trách nhiệm của nhà nước phải đưa ra các khuôn khổ pháp lý để giảiquyết xung đột giữa các cá nhân, tổ chức và tạo ra một không khí hợp tác giữa

họ Nhà nước đóng vai trò như người trọng tài dàn xếp các xung đột xã hội.Ngay cả khi nhà nước đã thực hiện những nhiệm vụ này mà xung đột vẫn tồntại, thì trách nhiệm của nhà nước là phải tìm ra cách thức hóa giải xung đột vàgiúp các bên đạt được sự đồng thuận Tuy nhiên, trên thực tế, nhà nước là nhànước của một giai cấp nhất định, không có nhà nước chung chung cho mọi giaicấp, nên quan niệm này che đậy tính giai cấp của nhà nước

Chính trị là cách thức các nhóm đưa ra quyết định tập thể Theo quanniệm này, bất kỳ tập thể, nhóm nào trong xã hội cũng cần đưa ra các quyết địnhcủa nhóm mình Vậy các quyết định của nhóm đưa ra dựa trên nguyên tắc nào?

Đó có thể là phương thức dân chủ trực tiếp - tức tất cả các thành viên trongnhóm tham gia vào quyết định, hoặc dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện) - cácthành viên nhóm ủy nhiệm quyền lực của mình cho các đại diện và các đại diện

sẽ thay mặt nhóm đưa ra quyết định Các quyết định tập thể được đưa ra dựatrên nguyên tắc nào cũng là vấn đề quan trọng trong các tổ chức Thường có hainguyên tắc được áp dụng: Nguyên tắc đa số và nguyên tắc đồng thuận Theonguyên tắc đa số, khi đứng trước các lựa chọn, phương án được nhiều thành viêntán thành nhất thì phương án đó sẽ trở thành phương án chính thức của nhóm.Trong khi đó, theo nguyên tắc đồng thuận, một quyết định của nhóm được đưa

ra khi nó phải được tất cả các thành viên của tập thể đồng ý Ưu điểm của quanniệm này thể hiện tính dân chủ, song từ quan niệm về chính trị là cách thức cácnhóm đưa ra quyết định tập thể, các nhà tư tưởng tư sản đề cao cách thức thành

Trang 8

lập nhà nước thông qua quá trình bầu cử nhằm xoa dịu phong trào đấu tranh củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản

Chính trị là quyền lực Đây là cách hiểu chính trị theo nghĩa rộng Quyềnlực luôn là vấn đề trung tâm của bất kỳ nhà nước nào Phần phân tích trên đã chothấy tầm quan trọng của việc đảm bảo sự hợp tác giữa các cá nhân, thể chế Nócũng giải quyết các bất đồng và cố gắng đạt được sự đồng thuận Nhưng cần lưu ýrằng, quyền lực vẫn là trung tâm của tất cả các hoạt động này Cách hiểu chính trị

là quyền lực không gắn chính trị với một chủ thể, một phạm vi cụ thể nào (các cơquan quyền lực nhà nước, lĩnh vực công), mà xem chính trị tồn tại trong tất cảmọi lĩnh vực của đời sống xã hội Như vậy, chính trị diễn ra ở mọi cấp độ xã hội,

nó tồn tại trong từng gia đình, từng nhóm nhỏ Về bản chất, quyền lực là khả nănggiành được những kết quả mong muốn thông qua bất kỳ phương tiện nào Vớicách tiếp cận này, các nguồn lực trong xã hội luôn khan hiếm và hữu hạn, trongkhi đó khát vọng và nhu cầu của con người là vô hạn Chính trị chính là cuộc đấutranh để giành quyền tiếp cận các nguồn lực hữu hạn; và quyền lực là phương tiện

để đạt được mục tiêu này

Tóm lại, các tư tưởng và học thuyết nêu trên ít nhiều đã đề cập được

những vấn đề cơ bản của chính trị như vấn đề tổ chức nhà nước, các hình thứcnhà nước và các chính thể, vấn đề quyền lực nhà nước, thủ lĩnh chính trị Tuynhiên, do những giới hạn về lập trường, quan điểm, điều kiện lịch sử - xã hội màcác học thuyết đó ít nhiều còn bộc lộ những quan điểm thô sơ, chất phác, thậmchí là sai lầm về chính trị

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị và bản chất chính trị

Trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã lập luận đúng đắn, triệt

để quan niệm về chính trị

Một là, chính trị là lợi ích, quan hệ lợi ích, sản phẩm của đấu tranh giai

cấp, trước hết vì lợi ích giai cấp Chính trị xuất hiện cùng với giai cấp và nhànước Sự xuất hiện đó, một mặt là công cụ để giai cấp cầm quyền giữ vị tríthống trị nền sản xuất xã hội; mặt khác, nhằm điều hòa và giải quyết mối quan

Trang 9

hệ lợi ích giữa giai cấp đó với các giai cấp, tầng lớp khác Hoạt động chính trịchính là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, vì lợi ích giai cấp.

Hai là, chính trị là quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực

thi quyền lực nhà nước Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức quyền lựcnhà nước, sự tham gia vào công việc nhà nước, định hướng cho nhà nước từ xácđịnh hình thức chính thể đến nhiệm vụ của nhà nước Về bản chất, chính trị làquan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn người trong việc giành, giữ và thực thiquyền lực nhà nước Do nhà nước được xem là công cụ thống trị của giai cấpnày đối với giai cấp khác, vì vậy để có cuộc sống tốt đẹp hơn phải tiến tới xoá

bỏ giai cấp, xoá bỏ nhà nước Điều này chỉ có thể thực hiện được khi xã hội tiếnđến chủ nghĩa cộng sản Mặt khác, cái căn bản nhất của chính trị là sự tham giavào công việc nhà nước; là việc vạch hướng đi cho nhà nước Quyền lực nhànước là vấn đề trung tâm của chính trị, từ chỗ nắm quyền lực chính trị, giai cấpthống trị tổ chức ra bộ máy thực thi quyền lực đó là nhà nước Nhà nước cần tổchức theo hình thức nào, vận động theo những mục tiêu, nội dung hoạt động củanhà nước; công dân tham gia vào công việc của nhà nước ra sao Tất cả nhữngđiều đó là nội dung cốt lõi của chính trị

Ba là, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, do kinh tế quy định, vì

vậy chính trị là loại quan hệ kinh tế được cô đọng lại Theo đó, giai cấp nàothống trị về mặt kinh tế thì sớm muộn cũng sẽ thống trị về mặt chính trị Đồngthời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế, có sự tácđộng trở lại với kinh tế Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: “Chính trị là biểuhiện tập trung của kinh tế Chính trị không thể chiếm hàng đầu so với kinh tế”1

Bốn là, chính trị là sản phẩm của quá trình phối hợp hành động giữa các

cá nhân trong xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng, nhữngvấn đề mà không một cá nhân nào tự mình có thể giải quyết

Năm là, chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan đến vận

mệnh của các quốc gia, dân tộc và đời sống chính trị - xã hội, do vậy, giải quyếtnhững vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật Theo V.I.Lênin:Chính trị vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, xét đến cùng, chính trị là

V.I.Lênin toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tr 311 - 312.

Trang 10

cuộc sống, lợi ích, là số phận của hàng triệu triệu người Chính trị không chỉdừng lại ở việc làm thế nào để điều tiết một nhà nước hoạt động, quản lý tất cảcác mặt của đời sống xã hội, ban hành pháp luật , tức là hoạt động đối nội, màcòn liên quan đến quan hệ mang tính đa quốc gia, mang tầm vóc quốc tế, có ảnhhưởng lớn đến sự tồn vong của một quốc gia, tức là hoạt động đối ngoại Dovậy, vấn đề chính trị là hết sức phức tạp và nhạy cảm Để giải quyết vấn đềchính trị đòi hỏi có cả kiến thức khoa học cùng sự uyển chuyển, khéo léo củanghệ thuật chính trị

Chính trị là một lĩnh vực mà Hồ Chí Minh có nhiều sáng tạo độc đáo, nhất

là sự sáng tạo ấy có ảnh hưởng tích cực tới cách mạng thế giới, được quốc tếthừa nhận Từ phương diện chính trị học, có thể hiểu tư tưởng chính trị HồChí Minh là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong tràocông nhân và phong trào yêu nước, là lí luận về cách mạng Việt Nam từ cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giảiphóng xã hội và giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hòabình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào cáchmạng thế giới Tư tưởng về chính trị của Hồ Chí Minh được thể hiện trên một

số nội dung cơ bản:

Thứ nhất, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong toàn bộ tiến trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta, tư tưởng chính trịbao trùm là tư tưởng “không có gì quý hơn độc lập tư do” và “độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội” Độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là:Dân tộc đó thoát khỏi nô lệ (dưới mọi hình thức) bằng con đường cách mạng dochính dân tộc đó tiến hành “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Dân tộc đóphải có chủ quyền và vẹn toàn lãnh thổ, phải có quyền tự quyết định sự pháttriển của dân tộc mình Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thực sự chứkhông phải là giả hiệu, phải thực hiện các giá trị tự do, dân chủ, công bằng, bìnhđẳng đối với nhân dân chứ không phải là những lời hoa mĩ Độc lập về chính trịphải gắn liền với sự phồn thịnh về mọi mặt cả kinh tế, văn hóa, xã hội… Phải tựgiành lấy bằng con đường cách mạng, tự lực tự cường và tự trọng Người rút ra

Trang 11

kết luận, độc lập dân tộc phải thực sự gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trong đó độclập là tiền đề, điều kiện để đi đến chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội đảmbảo chắc chắn nhất, thực chất nhất cho độc lập dân tộc.

Thứ hai, tư tưởng về đại đoàn kết Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn trong

tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh, trở thành chiến lược đại đoàn kết của Đảng

ta, là một nhân tố cực kì quan trọng thường xuyên góp phần quyết định thắng lợitrong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta qua mọi thời kì Hồ ChíMinh quan niệm sức mạnh là đại đoàn kết toàn dân, ở sự đồng lòng của toàn xãhội, toàn dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, đồng bào ta từ già đến trẻ đều đoànkết thành một khối cho nên cách mạng đã thành công Đoàn kết phải dựa trên cơ

sở có lí, có tình, có nghĩa Đoàn kết là để phát triển, để làm nhiệm vụ cáchmạng, để làm tốt nhiệm vụ cách mạng, cách mạng muốn thắng lợi thì phải đoànkết, đoàn kết lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng, lấy lợi ích tối caocủa dân tộc làm điểm quy tụ để bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích Tư tưởng đạiđoàn kết của Hồ Chí Minh vừa là sự đúc kết và phát huy truyền thống đại đoànkết của dân tộc ta qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước, vừa thể hiện sự vậndụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin “vô sản các nước và các dântộc bị áp bức toàn thế giới đoàn kết lại” vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Thứ ba, tư tưởng về xây dựng thể chế chính trị Trong xây dựng thể chế

chính trị quan trọng nhất là xây dựng thể chế nhà nước Đây là một nội dung giữvai trò quan trọng trong tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh Điều mà Chủ tịch

Hồ Chí Minh quan tâm là tính chất nhà nước Nhà nước đó có phải là nhà nướccủa dân hay không? chế độ dân chủ có phù hợp với chế độ nhà nước không?.Người đã quyết định lựa chọn kiểu nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin vàcũng không “bê nguyên xi” kiểu nhà nước xô viết vào hoàn cảnh nước ta Ngườichủ trương lập nhà nước cộng hòa dân chủ (tức là nhà nước dân chủ nhân dân).Dân chủ có nghĩa là dân được làm chủ, giá trị thực chất của dân chủ là phải cócơm ăn, áo mặc, học hành và xem dân chủ là chìa khóa của tiến bộ xã hội HồChí Minh cho rằng chế độ dân chủ phù hợp với nhà nước ta, đó là một nhà nướccủa dân, do dân và vì dân Nhà nước của dân có nghĩa là dân có quyền đượckiểm soát nhà nước, có quyền bãi miễn đại biểu quốc hội… Tư tưởng Hồ Chí

Trang 12

Minh về thể chế chính trị, thể chế nhà nước đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt,thuộc về bản chất của Nhà nước ta

Thứ tư, tư tưởng về đảng cầm quyền Hồ Chí Minh luôn coi xây dựng

Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam là một nhiệm vụ cực kì quan trọng, lànhân tố quyết định trước hết đối với mọi thắng lợi của cách mạng Hồ Chí Minhkhẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cáchmệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc

bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công,cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”1 Người căn dặn: “Đảngmuốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũngphải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không cótrí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốnĐảng, để Đảng ta trở thành một Đảng “đạo đức, văn minh”, phải “giữ gìn sựđoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”2 Tư tưởng của

Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền vừa quán triệt đầy đủ học thuyết Mác - Lênin

về Đảng Cộng sản, vừa vận dụng sáng tạo, phù hợp vào thực tiễn cách mạngnước ta, đưa cách mạng nước ta đạt được những thành tựu to lớn

Thứ năm, tư tưởng về phương pháp cách mạng Là lãnh tụ chính trị của

cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đã xác định đường lốiđúng đắn cho cách mạng nước ta mà còn xác định và vận dụng những phươngpháp cách mạng đầy sáng tạo Cũng như các nhà kinh điển, bản thân Hồ ChíMinh chưa đưa ra một định nghĩa về phương pháp cách mạng, song, Người làbậc thầy về phương pháp cách mạng trong mọi thời kì, mọi giai đoạn cáchmạng, trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam

Phương pháp cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phương pháp cáchmạng vô sản được vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào một nước thuộcđịa nửa phong kiến, là cách thức tiến hành cách mạng với tính cách là hệ thốngcác nguyên tắc được thể hiện bằng hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp đểthực hiện thắng lợi đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng thành hiệnthực Phương pháp cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện: Nắm

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 289.

2 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 611.

Trang 13

vững thời cơ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thời, thế, lực, biết thắngtừng bước, biết phát động và biết kết thúc chiến tranh Thực hiện đại đoàn kếtdân tộc, tập hợp, huy động lực lượng toàn dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại, lấy cải tạo biến đổi hiện thực Việt Nam là mục tiêu cho hoạtđộng cách mạng Dĩ bất biến, ứng vạn biến, kết hợp các phương pháp đấu tranhcách mạng một cách sáng tạo …

Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiếntiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trở thành tài sản tinhthần vô giá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng thời, trở thành lực lượngvật chất hùng hậu và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam

-Từ quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính

trị có thể đưa ra khái niệm: Chính trị là những hoạt động của các chủ thể (các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp, nhóm xã hội, các cá nhân …) nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước; là sự tham gia của người dân vào công việc của nhà nước.

1.1.2 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của Chính trị học

Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của Chính trị học

Chính trị là một trong những vấn đề được nghiên cứu từ rất sớm Đánhgiá về tầm quan trọng của khoa học chính trị, Platon cho rằng: Khoa học của nhàchiến lược, của quan toà, của nhà diễn thuyết, của nhà truyền giáo là khoa họccủa kẻ nô bộc Khoa học thật sự và duy nhất của vương quyền là khoa học chínhtrị Do vậy, chính trị học là khoa học về sự cai trị (hay còn gọi là khoa học vềchính phủ) mà nội dung của nó xoay quanh vấn đề tìm kiếm một hình thứcnhà nước, một hình thức cai trị hợp lý nhất

Theo nghĩa chung nhất, Chính trị học (hay khoa học chính trị) là mộtngành khoa học nghiên cứu về chính trị Vì chính trị ra đời , gắn liền với giaicấp và nhà nước - tức gắn với các hoạt động của các đảng phái, hoạt động cầmquyền, cai trị, phân bổ lợi ích, nên chính trị học cũng được coi là môn khoa

Trang 14

học về quyền lực, cầm quyền, cai trị Nói một cách ngắn gọn, đó là khoa học vềviệc giành, giữ, và thực thi quyền lực nhà nước.

Theo đó, Chính trị học là môn khoa học nghiên cứu về lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội, làm sáng tỏ những quy luật và tính quy luật chung nhất trong các mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia cũng như trong mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan tới việc hình thành, phát triển của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước Nói cách khác, Chính trị học là ngành khoa học

nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề về quyền lực chính trị, các thể chế chính trị,các mô hình chính trị, hành vi chính trị, các ứng xử chính trị, các hình thức tổchức thực thi quyền lực chính trị, quy luật giành, giữ và sử dụng quyền lựcchính trị… từ trong lịch sử cho đến thời đại ngày nay Tuy nhiên, Chính trị họckhông nghiên cứu các hiện tượng chính trị một cách rời rạc, ngẫu nhiên, mànghiên cứu chúng trong các mối liên hệ phong phú, phức tạp nhằm tìm ra nhữngquy luật hay tính quy luật của đời sống chính trị; tìm ra những mối quan hệ, các

cơ chế tác động đến đời sống chính trị; từ đó vận dụng những quy luật đó vàoquá trình hoạt động chính trị nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra

Các lĩnh vực của Chính trị học gồm: Lịch sử tư tưởng chính trị, lýthuyết chính trị, triết học chính trị (tìm kiếm các nhân tố cơ bản cho chínhtrị), giáo dục công dân, các hệ thống chính trị của các quốc gia, quyết sáchchính trị, lợi ích chính trị, văn hóa chính trị, quan hệ quốc tế, chính sách

ngoại giao, quân sự và pháp luật…

Ở Việt Nam, nội dung của Chính trị học được thu hẹp phạm vi, vì bêncạnh chính trị học còn có các ngành khoa học chính trị khác như: Triết học,Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng và Chính quyềnnhà nước, Luật học, Hành chính học… cũng nghiên cứu về chính trị trên nhữngbình diện khác nhau

Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu, Chính trị học có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, Chính trị học luận giải và xác định phạm vi khái niệm chính trị,

chỉ ra nguồn gốc và bản chất sâu xa của các vấn đề chính trị liên quan đến lợiích kinh tế của giai cấp thống trị xã hội

Trang 15

Thứ hai, Chính trị học nghiên cứu lịch sử tư tưởng và các học thuyết

chính trị nhằm kế thừa các giá trị chính trị của nhân loại, đồng thời tiếp thu cóchọn lọc và đề xuất áp dụng những tinh hoa chính trị cho thời đại ngày nay

Thứ ba, Chính trị học nghiên cứu quyền lực chính trị, quá trình hình thành

và phát triển của quyền lực chính trị, việc tổ chức và cơ chế thực thi quyền lựcchính trị, việc giành, giữ và sử dụng quyền lực chính trị

Thứ tư, Chính trị học nghiên cứu hệ thống chính trị, kết cấu và chức năng

của hệ thống chính trị

Thứ năm, Chính trị học nghiên cứu văn hóa chính trị với tư cách là một

thiết chế chi phối và tác động tích cực đến hoạt động chính trị

Thứ sáu, Chính trị học nghiên cứu các vấn đề về đảng chính trị và đảng

cầm quyền, công tác tư tưởng, tổ chức và xây dựng một đảng chính trị

Thứ bảy, Chính trị học nghiên cứu vai trò của con người với tư cách là con

người chính trị, cùng các phẩm chất cần thiết của một chính khách, thủ lĩnh chính trị

Thứ tám, Chính trị học nghiên cứu tình huống chính trị, kinh nghiệm xử

lý tình huống chính trị và vấn đề an ninh chính trị trên thế giới và ở Việt Nam

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay, Chính trị học ở ViệtNam tập trung nghiên cứu các vấn đề dân chủ hóa hệ thống chính trị nói riêng,dân chủ hóa đời sống chính trị nói chung trong điều kiện chuyển sang nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu phương diện chính trị củaquá trình đa dạng hóa cơ cấu xã hội - giai cấp, đấu tranh giai cấp và những vấn

đề lý luận chung về đảng cầm quyền, những đặc trưng và yêu cầu quản lý nhànước trong điều kiện dân chủ hóa đời sống xã hội Chính trị học còn nghiên cứucác quan hệ và tác động giữa chủ thể lãnh đạo, chủ thể quản lý với đối tượngquản lý, các phương pháp quản lý và phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

có hiệu quả Đồng thời, nghiên cứu các quá trình hình thành và ảnh hưởng củavăn hóa chính trị đối với hoạt động chính trị, tích cực hóa hoạt động chính trịcủa mọi thành viên trong xã hội, đối với việc hoàn thiện kỹ năng hoạt động củacán bộ lãnh đạo và quản lý các quá trình chính trị xã hội, cũng như những độnglực hoạt động chính trị và sự thể hiện của chúng trong quá trình đổi mới ở ViệtNam hiện nay

Trang 16

Chính trị học ở nước ta hiện nay có vai trò quan trọng phục vụ đắc lựccho công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; góp phần làmsáng tỏ về mặt lý luận, các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước và ứng dụng trong thực tiễn nhằm tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Phạm vi, phương pháp nghiên cứu của Chính trị học

Về phạm vi nghiên cứu: Chính trị học nghiên cứu các vấn đề như:

Lý thuyết chính trị, quan điểm chính trị;

Các thể chế chính trị;

Quan hệ chính trị quốc tế;

Quan hệ giữa nhà nước và công dân;

Quyền lực, sự ảnh hưởng, các hoạt động và quá trình chính trị;

Hệ thống chính trị và môi trường hoạt động của hệ thống

Phương pháp nghiên cứu của Chính trị học

Cũng giống như nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn, Chính trị học có

cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của Chính trị học là phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Phương pháp duy vật biện chứng cho phép xem xét đời sống chính trịtrong sự vận động phát triển Sự vận động phát triển đó, một mặt là sự thayđổi nội tại của các yếu tố cấu thành nền chính trị, như: sự phát triển củaquyền lực chính trị, của các hình thức nhà nước trong lịch sử; mặt khác là sựvận động phát triển mang tính quy luật của đời sống chính trị trên cơ sở lýgiải mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với sựphù hợp của quan hệ sản xuất cùng với kiến trúc thượng tầng trên nền cácquan hệ sản xuất đó

Phương pháp duy vật lịch sử cho phép nghiên cứu các chế độ chính trị đặttrong bối cảnh lịch sử của nó Ở đó có bức tranh sinh động về các cuộc cáchmạng xã hội của một giai cấp giành, giữ chính quyền, ở đó cũng có những chế

độ xã hội cụ thể, các hình thức nhà nước cụ thể để nghiên cứu Chỉ có những

Trang 17

bằng chứng lịch sử mới là những lý lẽ hùng hồn nhất cho những luận thuyếtđúng đắn về chính trị.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể của chính trị học bao gồm:

Phương pháp tiếp cận hệ thống: Phương pháp này cho phép nhìn nhậnchính trị như một chỉnh thể, một hệ thống với các yếu tố, bộ phận cấu thành vàgiữa các bộ phận đó có mối quan hệ với nhau Tiếp cận hệ thống không chỉ chophép có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về kết cấu của một nền chính trị, mà còn làcông cụ để đánh giá sự tác động giữa các yếu tố đó với nhau Từ đó có nhữngnhận định đúng đắn về các sự kiện phức tạp của đời sống chính trị

Phương pháp phân tích, tổng hợp cho phép phân tích các diễn biến của đờisống chính trị, những khía cạnh khác biệt riêng lẻ, khác nhau hoặc lặp đi lặp lạicủa đời sống chính trị và tổng hợp thành các nhận định mang tính quy luật về đờisống chính trị Đồng thời phương pháp này cũng cho phép chỉ ra những nguyênnhân, hệ quả cùng bản chất của các sự kiện, các hiện tượng chính trị

1.1.3 Các cách tiếp cận nghiên cứu Chính trị học

Tiếp cận triết học chính trị: Cách tiếp cận này được coi là lâu đời nhất

trong nghiên cứu khoa học chính trị Nó giải thích các hiện tượng chính trị từgóc độ triết học Nội dung nghiên cứu của cách tiếp cận triết học chính trịthường tập trung vào lý giải các vấn đề liên quan đến nhà nước, chính quyền,luật pháp, sự tự do và công bằng, nghĩa vụ và trách nhiệm chính trị… cũng như

lý giải nguồn gốc, cơ sở tồn tại, mối quan hệ giữa những vấn đề, hiện tượngchính trị và xem xét, đánh giá các vấn đề từ khía cạnh đạo đức Những ngườiủng hộ cách tiếp cận này tin rằng, triết học chính trị gắn liền với ý thức hệ chínhtrị Triết học chính trị có thể sẽ giúp xây dựng được một nền chính trị tốt

Tiếp cận lịch sử: Theo cách tiếp cận này, chính trị đặt trong bối cảnh lịch

sử cụ thể để xem xét quá trình nảy sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong Cáchtiếp cận này nhấn mạnh khía cạnh lịch sử của các hiện tượng chính trị, tìnhhuống chính trị Những người ủng hộ cách tiếp cận này cho rằng, chính trị vàlịch sử liên quan mật thiết với nhau và nghiên cứu về chính trị luôn phải có quanđiểm lịch sử Theo họ, lịch sử không chỉ nghiên cứu về quá khứ, mà phải kết nối

Trang 18

quá khứ với những sự kiện hiện tại Nghiên cứu các dữ liệu lịch sử có thể giúp

dự báo các sự kiện trong hiện tại và tương lai

Tiếp cận thể chế: Cách tiếp cận này, nhấn mạnh vai trò của các thể chế

chính trị tức cấu trúc chính trị Thông thường, những người theo cách tiếp cậnnày chia thể chế chính trị thành bốn loại: Các thể chế ban hành pháp luật; cácthể chế thực thi pháp luật; các thể chế xét xử sai phạm; các thể chế cưỡng chếtrừng phạt Cách tiếp cận này chủ yếu nghiên cứu các cấu trúc chính trị như cácđảng chính trị, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, các nhóm lợi ích, Nghiên cứu chính trị từ cách tiếp cận thể chế chủ yếu được sử dụng để xem xét

sự tương tác giữa hệ thống chính trị quốc gia (căn bản là nhà nước) với cácnhóm lợi ích chính trị, các đảng chính trị, truyền thông đại chúng và các cơquan giám sát khác

Tiếp cận pháp lý: Cách tiếp cận này luận giải các quá trình chính trị dưới lăng

kính pháp luật, liên quan đến các quá trình pháp lý, các cơ quan pháp luật Những giátrị chính trị căn bản như tự do, dân chủ, công bằng, thông qua cách tiếp cận nàyđều được đo lường bằng hiệu quả của việc thiết lập và thực thi luật pháp

Tiếp cận hành vi: Tiếp cận hành vi trong khoa học chính trị đòi hỏi tính

thực chứng, theo đó, các các kết luận phải dựa trên bằng chứng hành vi trongthực tiễn, do vậy, nó khác với các cách tiếp cận truyền thống Mặc dù, nghiêncứu về chính trị và chính thể được bắt đầu từ Platon, Aristoteles và các triết gia

Hy Lạp vào thế kỷ IV trước công nguyên, nhưng khoa học chính trị chỉ xuấthiện như là một ngành khoa học độc lập vào cuối thế kỷ XIX Từ thời điểm đó,khoa học chính trị đã chuyển từ việc tập trung mô tả về lịch sử chính trị, các thểchế chính trị, và các quy phạm pháp luật, sang trọng tâm là nghiên cứu hành vitrong quá trình ra quyết định chính trị, hành vi của các cá nhân con người chínhtrị, các tổ chức chính trị và mối quan hệ giữa chúng

Về mặt phương pháp, cách tiếp cận hành vi đã bổ sung cho các cách tiếp cậntruyền thống, triết học, lịch sử, thể chế, pháp lý bằng các phương pháp thực chứngcủa khoa học xã hội hiện đại, bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống trong việcnghiên cứu chính trị Cách tiếp cận hành vi thường luận giải, phân tích hành vichính trị dựa trên giả định về bản chất con người như tính vị kỷ và tính duy lý

Trang 19

Tiếp cận hệ thống: Một trong những phát triển quan trọng trong tư duy

nhân loại từ cuối thế kỷ XIX là tư duy hệ thống, được sử dụng trước hết trongcác khoa học tự nhiên như sinh học, vật lý học và toán học và sau đó lan sangcác khoa học xã hội khác, như: Xã hội học và chính trị học

Nội dung cơ bản của cách tiếp cận này trong chính trị học có thể diễn giảinhư sau: Hệ thống chính trị hoạt động trong một môi trường xã hội cụ thể Môitrường này chuyển tải các nhu cầu, sức ép khác nhau của xã hội Cả nhu cầu và sựủng hộ là những gì mà David Easton (Easton 1953; 1965) gọi là đầu vào mà hệthống chính trị phải xử lý Sau khi xem xét các yếu tố khác nhau, hệ thống chínhtrị đưa ra các quyết định hành động đối với một số nhu cầu theo các thứ tự ưutiên Thông qua quá trình chuyển đổi, đầu vào được chuyển đổi thành đầu ra bởicác nhà hoạch định dưới dạng các chính sách, các quyết định, quy tắc, quy định

và luật pháp Các đầu ra đến lượt nó lại tạo ra nhu cầu mới thông qua cơ chế phảnhồi, tạo ra đầu vào mới Đó là một quá trình tuần hoàn theo chu kỳ mà hệ thốngchính trị thích nghi và biến đổi cùng với sự biến đổi của môi trường xã hội

1.1.4 Vai trò của nghiên cứu Chính trị học

Thứ nhất, Chính trị học trang bị tri thức về các lĩnh vực của đời sống

chính trị Chính trị là vấn đề liên quan đến lợi ích của mọi người, do vậy sốngtrong một xã hội, mỗi cá nhân không thể không có tri thức về lĩnh vực này để có

ý thức chủ động và trách nhiệm, tự giác khi tham gia vào đời sống chính trị Quátrình nghiên cứu Chính trị học sẽ giúp các cá nhân có ý thức về lợi ích chung, từ

đó hiểu được quyền hạn và nghĩa vụ của bản thân, cũng như các trách nhiệm vàthẩm quyền của nhà nước,

Thứ hai, nghiên cứu Chính trị học sẽ giúp tìm kiếm các mô hình chính trị

tốt nhất, cách thức tổ chức và thực thi quyền lực đúng đắn và hiệu quả nhất.Điều này giúp hình thành và hoàn thiện các thể chế, nhằm quản lí xã hội tốtnhất, đem lại lợi ích cho giai cấp và dân tộc Đồng thời, đó cũng là quá trìnhtổng kết thực tiễn chính trị, khám phá những quy luật của đời sống chính trị, đúcrút những kinh nghiệm chính trị, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho quátrình xác định các mục tiêu chính trị, ra quyết định chính trị, giải quyết các xungđột chính trị, dự báo xu hướng vận động của nền chính trị trong tương lai,

Thứ ba, việc nghiên cứu Chính trị học, đặc biệt là các vấn đề quan hệ chính

trị quốc tế, còn cần thiết để giải quyết những vấn đề quan hệ quốc tế, như quá

Trang 20

trình hợp tác - cạnh tranh - xung đột giữa các quốc gia, dân tộc; hiểu được cơchế vận hành của các tổ chức quốc tế, hiểu được bản chất của các công ty, tậpđoàn xuyên quốc gia, các phong trào mang tính toàn cầu,… để từ đó các chủ thể,nhất là các quốc gia - dân tộc, có những đối sách phù hợp trong bối cảnh toàncầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

1.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA CHÍNH TRỊ HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.2.1 Các nội dung nghiên cứu của chính trị học trên thế giới

Lý thuyết chính trị

Chính trị học nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các tư tưởng chínhtrị, các học thuyết chính trị trong quá khứ và hiện tại; từ đó đưa ra các dự báotrong tương lai; cung cấp những hiểu biết cơ bản, có hệ thống các nguyên lí, cácquy luật của chính trị để từ đó ứng dụng vào hoạt động chính trị trong nhữngđiều kiện cụ thể Lý thuyết chính trị giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn những kháiniệm định hình nền chính trị như: Tự do, bình đẳng, cá nhân, cộng động, dânchủ và công bằng… Quan trọng hơn, lý thuyết chính trị giúp con người tìm kiếmcác mô hình chính trị hợp lý hơn và đưa ra các cách thức để đạt được các môhình đó Do vậy, lý thuyết chính trị thường bao hàm sự phê bình, phản biện đốivới đời sống chính trị hiện thực, hoặc có thể ngầm đưa ra các quan điểm chínhtrị nào đó Từ thế kỷ XVII đến nay, mặc dù các nghiên cứu lý thuyết chính trị đềcập đến nhiều nội dung khác nhau, dưới nhiều lát cắt khác nhau, nhưng đềuxoay quanh hai mối quan hệ cơ bản đó là: Mối quan hệ giữa cá nhân và cộngđồng xã hội; công dân và nhà nước, từ đó hình thành hai trường phái cơ bản: Tưtưởng chính trị cánh hữu và tư tưởng chính trị cánh tả

Tư tưởng chính trị cánh hữu: Hiểu một cách đơn giản, là các tư tưởng, lý

thuyết chính trị nhấn mạnh yếu tố cá nhân, trọng cá nhân, đề cao yếu tố cá nhânhơn xã hội Xuất phát điểm của dòng tư tưởng này cho rằng: Bản chất vị kỷ củacon người là tự nhiên, không thể thay đổi, do vậy cần tổ chức xã hội nhằm kiềmchế các tác hại của bản chất đó Dòng tư tưởng này dựa trên cơ sở của truyềnthống tự do cá nhân với mục tiêu bảo đảm ở mức tối đa các quyền tự do và lợiích cá nhân Các cá nhân mạnh sẽ tạo ra xã hội mạnh Nội dung cốt lõi của nó

Trang 21

là: bộ máy phải thiết kế theo mô hình phân quyền nhằm kiểm soát sự lạm dụngquyền lực của các cá nhân và tổ chức Đại diện tiêu biểu của các nhà tư tưởngcánh hữu có thể kể đến: J.Locke, S.Montesquieu,… Các quốc gia phương Tây

tổ chức bộ máy nhà nước theo mô hình tam quyền phân lập nhằm kiểm soát sựlạm dụng quyền lực của các cá nhân và tổ chức đi theo hướng này

Trang 22

Tư tưởng chính trị cánh tả: Đây là các tư tưởng, lý thuyết chính trị coi

trọng xã hội - đề cao yếu tố cộng đồng, xã hội hơn yếu tố cá nhân Xuất phát điểmcủa dòng tư tưởng này là coi tính vị kỷ của con người, không phải là tự nhiên, mà

do xã hội tạo nên Do đó, mục tiêu của nó là hướng tới tổ chức xã hội để cải tạocon người Để có được một xã hội tốt thì vai trò của nhà nước phải được đề cao.Nhà nước, trên cơ sở nhận thức được cái đúng, cái tất yếu, sẽ tạo ra các thể chế,tạo ra hệ thống pháp luật để cải tạo con người tự nhiên Nhà nước chủ động canthiệp vào đời sống xã hội và dẫn dắt xã hội phát triển theo định hướng của mình.Các nhà tư tưởng tiêu biểu của cánh tả gồm: J.S.Mill, J.J.Rousseau, C.Mác,V.I.Lênin, Các quốc gia xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết trước đây vàcác quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày nay đi theo hướng này

Hiện nay, ngay cả ở các quốc gia phương Tây, mỗi trường đại học, mỗitrung tâm nghiên cứu chính trị học có thể nghiên cứu, giảng dạy các lý thuyếtchính trị khác nhau Ví dụ, Đại học Columbia (Mỹ) chủ yếu giới thiệu các lýthuyết về dân chủ, về tự do, các lý thuyết về chính phủ và chủ nghĩa lập hiến, lýthuyết lựa chọn duy lý, lịch sử của chủ nghĩa thể chế, nghiên cứu chính phủđại diện và hệ thống bầu cử, Đại học Oxford (Anh) lựa chọn giới thiệu các lýthuyết như: Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết chính trị học, các quy tắcquốc tế, các lý thuyết chính trị của G.Hegel và C.Mác; các vấn đề trong tư tưởngchính trị và xã hội của Châu Âu đương đại; lịch sử tư tưởng tự do ở thế kỷ XIX

và XX, Trong khi đó, Đại học Bristish Columbia (Canada) lại tập trung giớithiệu về lịch sử tư tưởng chính trị; các học thuyết chính trị đương đại; các lýthuyết chính trị hiện đại; các học thuyết về nhà nước và xã hội; lý thuyết về dânchủ và tư tưởng chính trị phương Tây hiện đại

Chính trị quốc gia

Trang 23

Phần này tập trung nghiên cứu đặc trưng mô hình chính trị của quốc giacủa chính cơ sở đào tạo, bao gồm: Các triết lý chính trị của quốc gia (nền chínhtrị của quốc gia đó được xây dựng dựa trên cơ sở của tư tưởng chính trị nào, tạisao lại như vậy); văn hóa chính trị của quốc gia (gồm các yếu tố tạo nên văn hóachính trị của quốc gia đó, các đặc trưng văn hóa chính trị của quốc gia, văn hóachính trị của các nhóm khác nhau trong xã hội, lý giải các hiện tượng chính trị từgóc độ văn hóa chính trị ); hệ thống chính trị quốc gia (gồm hệ thống tổ chức

và hoạt động của các đảng phái, tổ chức và hoạt động của chính phủ, các nhómlợi ích, vai trò của các tổ chức truyền thông trong đời sống chính trị và các chủthể quyền lực khác), chính sách quốc gia và vai trò của các chủ thể quyền lựctrong quá trình đó; hệ thống bầu cử, đặc biệt là bầu các chức danh quyền lựcquan trọng như bầu tổng thống, bầu cử quốc hội

Với các nội dung trên, việc lựa chọn giới thiệu các nội dung ở mỗi cơ sởđào tạo cũng có sự khác biệt Chẳng hạn, tại Đại học Columbia (Mỹ), việcnghiên cứu và giảng dạy chính trị học nhằm vào các nội dung chính như: Cấutrúc và hoạt động của chính phủ, hành vi chính trị, thể chế lựa chọn duy lý, lịch

sử chủ nghĩa thể chế, chính trị Mỹ Phi và Mỹ Latinh Trong khi đó, ở Anh, họcphần này sẽ tập trung nghiên cứu và giảng dạy về chính trị học và chính phủAnh, chính trị học châu Âu,

Chính trị so sánh

Trang 24

Chính trị so sánh lấy sự so sánh các hệ thống chính trị làm đối tượngnghiên cứu cơ bản nhằm rút ra các kết luận, các mối liên hệ có tính nhân - quả.Tuy nhiên, việc lựa chọn các trường hợp, các nước để so sánh không thể tùytiện Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, tùy thuộc vào giả thuyết khoa học mà

có sự lựa chọn hợp với mục tiêu Như vậy, chính trị so sánh thường lựa chọnmột số các hệ thống chính trị điển hình để kiểm soát các yếu tố, rút ra các kếtluận về mối quan hệ mang tính nhân - quả thông qua việc so sánh các yếu tố màchúng ta thường gọi là “các giá trị chung, phổ quát” của các hệ thống chính trịtrên thế giới Một ví dụ đơn giản nhất là giữ nguyên tất cả các yếu tố không đổicủa một quốc gia, trong khi chỉ tập trung vào xem xét hai yếu tố biến đổi là:

“dân chủ” (kết quả) và “thu nhập” (nguyên nhân) Khi xem xét một loạt cácnước khác nhau, người ta có thể kết luận rằng: Có sự tương quan giữa hai yếu tốnày1 Lịch sử phát triển của chính trị học so sánh cũng chính là lịch sử của sựphát triển các phương pháp so sánh nhằm nâng cao độ tin cậy của các kết luận

1 Ngô Huy Đức, Trịnh Thị Xuyến (Đồng chủ biên), Chính trị học so sánh - Từ cách tiếp cận hệ thống cấu trúc

chức năng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr 8 - 10

Trang 25

Hiện nay, trào lưu nổi bật của chính trị học so sánh ở phương Tây đượcbiết đến dưới tên gọi là chủ nghĩa thể chế mới Về thực chất, đây là sự phát triểnlên tầm cao hơn của cách tiếp cận thể chế truyền thống bằng cách kết hợp vớiphát triển luận hiện đại Theo đó, bên cạnh việc tập trung vào thành tố quantrọng nhất của hệ thống chính trị là nhà nước và các thành tố cơ bản khác,những nội dung nghiên cứu đã có sự chuyển dịch về trọng tâm và phương phápnhư: Nhấn mạnh vào hành vi chính trị (đặc biệt là bầu cử); nghiên cứu nhữngthay đổi trong tính chất của các đảng chính trị; vai trò của lãnh đạo chính trị vớiquá trình chính trị, chẳng hạn như đối với vấn đề dân chủ hóa; vai trò của nhà nướcđối với nền kinh tế; mối liên hệ giữa thể chế chính trị dân chủ với tăng trưởng, pháttriển; văn hóa chính trị với việc hình thành các nền dân chủ Nói cách khác, cácnghiên cứu như vậy đã làm cho chính trị học so sánh ngày càng ít tập trung vào sosánh pháp lý, mà đi sâu vào các lĩnh vực của mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị,

và các quá trình xã hội thực tế như quá trình hoạch định và triển khai chính sách.Chính trị học so sánh đặt trọng tâm là nghiên cứu các nền chính trị khác nhau (ởcác quốc gia khác nhau, cũng như trong cùng một quốc gia, nhưng ở các thời kỳkhác nhau) và có thể theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như trên đã chỉ ra

Trang 26

Dù được cho là ra đời từ khá sớm, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, chínhtrị quốc tế mới trở thành một ngành khoa học nằm trong chính trị học và ngàynay, nó ngày càng trở thành một ngành học mang tính liên ngành Nội dungnghiên cứu của nó có thể bao gồm các lĩnh vực như khoa học công nghệ, kinh tếhọc, nghiên cứu về truyền thông, luật quốc tế, dân số, triết học, địa lý, văn hóa,ngoại giao… Bên cạnh các vấn đề mang tính truyền thống như: Toàn cầu hóa,quan hệ ngoại giao, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc tế, sự bền vững của môitrường sinh thái, chủ nghĩa dân tộc, vấn đề vũ khí hạt nhân, tài chính và kinh tếtoàn cầu, nghiên cứu chính trị quốc tế ngày nay cũng được mở rộng tới các vấn

đề khác như: Chủ nghĩa khủng bố, tội phạm có tổ chức, an ninh con người, chủnghĩa can thiệp quốc tế, quyền con người,…

1.2.2 Các nội dung nghiên cứu của chính trị học ở Việt Nam

Chính trị học, với tư cách là một bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứuriêng, có phương pháp nghiên cứu riêng và tương đối độc lập với các môn khoahọc xã hội khác, được hình thành ở Việt Nam vào cuối những năm 90 của thế

kỷ XX Trước những thay đổi của tình hình thực tiễn chính trị trong nước và thếgiới, một số câu hỏi được đặt ra như: Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam sẽ diễn ra như thế nào? Việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ởViệt Nam nên diễn ra theo cách thức nào? Trong điều kiện một đảng cầm quyềnthì phương thức lãnh đạo của Đảng nên được đổi mới như thế nào? Nhữngvấn đề lý luận chính trị đó được đặt ra cấp thiết và đòi hỏi phải có lời giải đáp

Từ thực tiễn đó, môn Chính trị học được nghiên cứu và đưa vào giảng dạy ởnhiều chương trình khác nhau Hiện tại, chuyên ngành chính trị học được đàotạo ở hệ cử nhân, hệ cao học và nghiên cứu sinh ở Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh và một số trung tâm đào tạo khác Tại Học viện Chính trị, mônChính trị học được đưa vào giảng dạy trong chương trình Cao cấp lý luận chínhtrị, thạc sĩ một số chuyên ngành Cụ thể:

Chính trị học so sánh nghiên cứu so sánh các hệ thống chính trị khác nhautrên thế giới, trong đó tập trung vào bốn mô hình hệ thống chính trị tiêu biểunhất là: Hệ thống đại nghị, hệ thống tổng thống, hệ thống hỗn hợp và hệ thốngcộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 27

Chính trị học Việt Nam tập trung nghiên cứu các vấn đề của hệ thống chính trịViệt Nam, nghiên cứu cấu trúc và chức năng của từng thành tố trong hệ thống chínhtrị, nghiên cứu sự tương tác giữa các thành tố với tư cách là một hệ thống Nghiên cứuchính trị học ứng dụng ví dụ như: Xung đột và xử lý điểm nóng chính trị - xã hội, kinhnghiệm xử lý tình huống chính trị, tham nhũng và phòng, chống tham nhũng

Từ cấu trúc nội dung trên, trong phạm vi chương trình cao cấp lý luậnchính trị, một số vấn đề cơ bản của Chính trị học được lựa chọn giới thiệu như:

Khái luận về chính trị học: Giới thiệu khái niệm, bản chất của chính trị;

đối tượng, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận nghiên cứu của Chính trị học;

sự hình thành và phát triển của các tri thức chính trị trong lịch sử

Quyền lực chính trị trong xã hội hiện đại: Làm rõ khái niệm, bản chất, đặc

trưng của quyền lực chính trị; các biến đổi của quyền lực chính trị trong xã hộihiện đại cũng như những biến đổi của quyền lực chính trị ở Việt Nam hiện nay

Văn hóa chính trị: Cung cấp các cách tiếp cận nghiên cứu, cấu trúc, chức

năng của văn hóa chính trị; vai trò của các tác nhân trong quá trình xã hội hóachính trị; các giá trị đặc trưng của văn hóa chính trị Việt Nam, các vấn đề và giải phápnâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời gian tới

Các mô hình hệ thống chính trị: Giới thiệu khái niệm, phân loại và chức

năng của hệ thống chính trị; đặc trưng của các mô hình hệ thống chính trị tư bảnchủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, các nguyên tắc, giá trị phổ biến trong thiết kế,vận hành các mô hình hệ thống chính trị và thực tiễn đổi mới hệ thống chính trị

ở Việt Nam hiện nay

Nhà chính trị tiêu biểu: Cung cấp các khái niệm, vai trò của các nhà chính

trị tiêu biểu; những thách thức và yêu cầu đặt ra đối với nhà chính trị tiêu biểu;vấn đề nhà chính trị tiêu biểu nhìn từ bối cảnh Việt Nam hiện nay

Kinh nghiệm xử lý tình huống chính trị: Đưa ra quan niệm, tính chất, các

yêu cầu đặt ra và bài học kinh nghiệm trong xử lý các tình huống chính trị, đặcbiệt là các điểm nóng và điểm nóng chính trị - xã hội

Các vấn đề an ninh chính trị trong bối cảnh thế giới biến đổi: Giới thiệu

khái niệm an ninh chính trị, lập luận về các biến đổi và tính chất mới của bốicảnh thế giới và khu vực; chỉ ra các thách thức về an ninh chính trị chủ yếu trên

Trang 28

thế giới và ở Việt Nam hiện nay cùng các nguyên tắc và phương châm ứng phó.

1.3 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRI THỨC CHÍNH TRỊ TRONG LỊCH SỬ

1.3.1 Sự phát triển nhận thức về nguồn gốc quyền lực nhà nước

Quan điểm ngoài mác xít

Nhà nước là một hiện tượng xã hội phức tạp và đa dạng Nhà nước xuất

hiện từ khi nào và do những nguyên nhân gì là một trong những vấn đề quantrọng của lý luận khoa học về nhà nước Đây cũng là một nội dung của cuộc đấutranh lý luận, tư tưởng từ trước đến nay

Ngay từ thời kỳ cổ, trung đại đã có nhiều nhà tư tưởng tiếp cận từ những góc

độ khác nhau, đưa ra những quan niệm, kiến giải về nguồn gốc quyền lực nhà

nước Các nhà tư tưởng theo Thuyết thần quyền như J.Calvin (1509-1564), Luthơ

(1483-1546), cho rằng: Thượng đế là người sáng tạo ra thế giới, sắp đặt trật tự xãhội và quyền lực nhà nước là một sản phẩm mà thượng đế đã sáng tạo ra để duy trìtrật tự xã hội Do đó, nhà nước là lực lượng siêu nhiên, quyền lực nhà nước làđương nhiên, nhà nước là vĩnh cửu, bất biến và sự phục tùng quyền lực nhà nước làcần thiết và tất yếu Thực chất, thuyết thần quyền đã thần bí hoá quyền lực nhànước, cho rằng quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ đấng siêu nhiên

Những nhà tư tưởng theo Thuyết gia trưởng như Aristoteles (384-322

tr.CN), H.Marơ lại cho rằng: Nhà nước là kết quả sự phát triển của gia đình, làhình thức tổ chức tự nhiên của con người như một gia đình mở rộng, sự cần thiếtcủa nhà nước và quyền lực nhà nước cũng giống như quyền gia trưởng của

người đứng đầu gia đình Thực chất, Thuyết gia trưởng muốn bảo vệ chế độ

quân chủ phong kiến, duy trì quyền lực của thế lực phong kiến

Chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của nhà nước phong kiến, đòi sựbình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc tham gia nắm giữ quyền lực nhà nước,trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới của

các học giả tư sản về nhà nước, nguồn gốc nhà nước Những người theo Thuyết khế ước xã hội như J.Bôđin (1530 - 1596), T.Hốpben (1588 - 1679), J.Lốckơ

(1632 - 1704), S.L.Môngtetxkiơ (1689 - 1775), Đ.Điđơrô (1713 - 1784),J.J.Rútxô (1712 - 1778) dựa trên cơ sở thuyết tự nhiên, cho rằng: Nhà nước là

Trang 29

sản phẩm của một hợp đồng (khế ước) của những con người lúc đầu sống trong

trạng thái tự nhiên không có nhà nước Vì vậy, nhà nước phản ánh lợi ích củacác thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu nhà nướcphục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Trongquá trình phát triển quan điểm của mình, các nhà tư tưởng tư sản lại có cách lýgiải khác nhau về nội dung của khế ước Theo Điđơrô, trong trường hợp nhànước không thực hiện được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thìkhế ước sẽ mất hiệu lực, nhân dân có quyền lật đổ nhà nước, ký kết khế ước mới(thành lập nhà nước mới) Thuyết khế ước xã hội hình thành trong bối cảnh nềnchuyên chế phong kiến đang ở giai đoạn suy tàn đã trở thành cơ sở tư tưởng chotrào lưu dân chủ cách mạng mà giai cấp tư sản làm đại biểu tập hợp lực lượngtiến hành cách mạng tư sản ở nhiều nước châu Âu, lật đổ ách thống trị phongkiến Với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử to lớn Tuy nhiên,học thuyết khế ước xã hội có hạn chế căn bản là giải thích nguồn gốc quyền lựcnhà nước trên cơ sở quan niệm duy tâm chủ quan, coi nhà nước được thiết lập do ýmuốn của các bên tham gia khế ước, không giải thích được cội nguồn vật chất vàbản chất của nhà nước

Các học giả Thuyết tâm lý, đại diện là S.Phơređơ (1856 - 1939),L.Pêtơragiki cho rằng: Nhà nước xuất hiện do con người nguyên thuỷ luôn cónhu cầu phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ, lực lượng siêu nhiên và quyền lực nhànước chính là tổ chức của các siêu nhân có sứ mệnh lãnh đạo xã hội Thậm chí còn

có quan niệm “nhà nước siêu trái đất” giải thích sự xuất hiện xã hội loài người vànhà nước như là sự du nhập và thử nghiệm của một nền văn minh ngoài trái đất…

Những người theo Thuyết bạo lực, đại diện là Humơ (1711 - 1776),

E.Đuyrinh (1833 - 1921), L.Gumplôvich (1838 - 1909), cho rằng: Chân lýthuộc về kẻ mạnh, quyền lực là cơ sở của sự thống trị,… Từ đó khẳng định, nhànước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộckhác, kết quả là thị tộc chiến thắng “nghĩ ra” một hệ thống cơ quan đặc biệt (nhà

nước) để nô dịch kẻ thất bại.

Trước sự thật lịch sử, một số nhà tư tưởng tư sản như A.Smith,Ferguson đã có cách nhìn khách quan hơn, cách tiếp cận khoa học hơn về vấn

Trang 30

đề nguồn gốc nhà nước, thừa nhận khi chưa có chế độ tư hữu thì chưa có nhànước; chính chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp đã làm phátsinh nhà nước; nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, là thiết chếcủa xã hội có giai cấp Tuy nhiên, những nhà tư tưởng này chưa nhận thức đượcđúng đắn vấn đề bản chất của nhà nước Ngày nay, nhiều học giả tư sản vẫn chorằng bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa là “nhà nước phúc lợi chung”, “nhànước xã hội”, “nhà nước tự do” , nhà nước đóng vai trò là cơ quan trọng tàiđứng ra điều hoà mâu thuẫn giai cấp.

Nhìn chung, do nhận thức còn hạn chế hoặc bị chi phối bởi lợi ích giai cấp

mà những quan điểm trên đã vô tình hoặc cố ý giải thích sai lệch về nguồn gốccủa quyền lực nhà nước, che giấu nguồn gốc của sự vận động lịch sử dẫn đếnsản phẩm tất yếu là nhà nước Đa số họ đều xem xét nguồn gốc quyền lực nhànước tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhânkinh tế, từ đó dẫn đến kết luận quyền lực nhà nước là một thiết chế cần phải cócủa mọi xã hội, là một trọng tài công minh đứng trên xã hội để giải quyết cáctranh chấp, duy trì xã hội ổn định, phồn vinh; nhà nước là của mọi giai cấp, tầnglớp, xã hội, của mọi người; nhà nước là cần thiết và tồn tại vĩnh viễn

Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin

Với quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà kinh điểnchủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu và phân tích hiện thực sự phát triển của xãhội loài người Các ông đã chứng minh một cách khoa học rằng: Quyền lực nhànước là sản phẩm của sự phát triển nội tại của xã hội chứ không phải là hiệntượng ngẫu nhiên, không phải là sự sáng tạo của thượng đế Nhà nước là mộthiện tượng lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong; nhà nước chỉxuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định và sẽ tiêuvong khi điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi; nhà nước khôngphải là hiện tượng tất yếu của mọi xã hội, không vĩnh cửu, bất biến Nguồn gốcquyền lực nhà nước ra đời do những tiền đề về kinh tế và xã hội

Tiền đề kinh tế: Sự phát triển kinh tế dẫn đến hình thành chế độ tư hữu, đây

là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự ra đời của nhà nước Cuối thời kỳ cộng sảnnguyên thủy, lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động không

Trang 31

ngừng nâng lên, quá trình phân công lao động diễn ra khiến cho các ngành kinh tếphát triển mạnh, sản phẩm làm ra nhiều, xuất hiện của dư, một bộ phận chiếm đoạtcủa cải dư của xã hội làm tài sản riêng, xuất hiện chế độ tư hữu, đây là nguyênnhân sâu xa dẫn đến sự ra đời của nhà nước và quyền lực nhà nước Từ tiền đề vềkinh kế dẫn đến tiền đề về xã hội, đây là nguyên nhân trực tiếp ra đời của nhà nước.

Tiền đề xã hội: Do xã hội phân chia giai cấp và hình thành giai cấp đối

kháng, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, dẫn đến đấu tranh giai cấp,đấu tranh giai cấp xuất hiện nhà nước, quyền lực nhà nước Cuối thời kỳ cộngsản nguyên thủy, xuất hiện chế độ tư hữu, một bộ phận chiếm hữu nhiều tư liệusản xuất, bóc lột nô lệ và những người lao động khác… trở nên giàu có; ngượclại, một bộ phận dân cư không có tư liệu sản xuất, trở thành nô lệ, bị bóc lột,ngày càng nghèo khó hơn dẫn đến hình thành giai cấp đối lập nhau Mâu thuẫngiai cấp ngày càng gay gắt, giai cấp thống trị về kinh tế tổ chức ra bộ máy bạolực để giải quyết xung đột, bảo vệ địa vị, lợi ích của giai cấp mình, duy trì xã hộitrong vòng trật tự, nhà nước ra đời

Như vậy, tiền đề cho sự ra đời của quyền lực nhà nước là sự xuất hiện chế độ

tư hữu Sự xuất hiện chế độ tư hữu tạo ra sự phân chia xã hội thành các giai cấp,các tầng lớp xã hội, mà giữa các giai cấp, tầng lớp đó có những lợi ích cơ bản đốikháng nhau đến mức không thể điều hoà được Ph.Ăngghen khẳng định: Từ nhu cầuphải kiềm chế sự đối lập giữa các giai cấp, làm cho cuộc đấu tranh giữa những giai cấp

có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau không đi đến tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn

cả xã hội trong cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lựclượng rõ ràng là đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự

xung đột đó nằm trong vòng trật tự, nhà nước đã ra đời V.I.Lênin nhấn mạnh: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được” 1 Những phân tích về sự xuất hiện nhà nước và quyền lực nhà nước đã được

Ph.Ăngghen trình bày tập trung trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình,

V.I.Lênin toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1976, tr 9.

Trang 32

của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Chống Đuyrinh”, sau này được V.I.Lênin tiếptục khẳng định và bổ sung trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.

1.3.2 Sự phát triển nhận thức về các mô hình chính thể

Khi nhà nước ra đời, câu hỏi thường được đặt ra là: Quyền lực nhà nướcnên được tổ chức như thế nào? Mô hình chính thể nào là tốt nhất? Đây là vấn đềcăn bản khi bàn về bản chất của chính quyền Bản chất này thể hiện thực chấtcủa quan hệ giữa người cai trị và người bị cai trị Từ thời cổ đại, các nhà tưtưởng phương Tây đã đưa ra các mô hình chính thể phổ biến trong lịch sử

Theo quan điểm của Platon, chính quyền (nhà nước) phải vì lợi ích cộngđồng Nhà nước phải không vì lợi ích của một người, một nhóm người, một giaicấp riêng biệt, mà nhà nước phải là nhà nước vì mọi người Nhà nước phải nằmdưới sự lãnh đạo chuyên quyền của một (hoặc một số ít) các nhà thông thái vàđiều hành theo pháp luật Theo ông, đám đông dù lớn đến đâu cũng không baogiờ có được tri thức và uy tín chính trị để điều hành nhà nước một cách thôngminh Trong tác phẩm “Luật pháp”, Platon chia nhà nước ra làm hai loại, với bakiểu thể chế cho mỗi loại: nhà nước có pháp luật là nhà nước tốt, nhà nước vôpháp luật là nhà nước xấu Trong nhà nước có pháp luật, ông coi thể chế lýtưởng nhất chính là sự chuyên quyền, độc tài của một ông vua nhân từ và

thông thái, với phẩm chất “vàng” Tiếp đó là nhà nước do một số người cai trị

(vì xã hội) và cuối cùng mới là nhà nước do đa số nhân dân cai trị trực tiếp(thông qua hình thức luân phiên) Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, nếu trong cácnhà nước không có pháp luật thì thể chế ít tồi tệ nhất lại là thể chế thuộc vềdân chúng, do dân chúng cai trị và thể chế tồi tệ nhất là thể chế của một ngườiđộc tài (vì lợi ích bản thân mình) Như vậy, thể chế dân chủ là “tồi tệ nhất trongcác nhà nước có pháp luật và tốt nhất trong các nhà nước không có pháp luật”1.Theo Platon, dân chủ với nghĩa là đa số dân chúng cai trị trực tiếp sẽ chỉ tạo nênmột nhà nước yếu về mọi mặt, nên nó không những “không làm được điều tốtnhất”, mà cũng không đủ khả năng “làm được điều tồi tệ nhất” Về cơ bản, ông

cổ vũ cho một nhà nước “độc tài thông minh và nhân từ”, nơi mà tài sản và cảtrẻ em đều thuộc về nhà nước và do nhà nước đảm nhận chăm sóc

Trang 33

Trong các chính thể nêu trên, Platon cho rằng, dù tốt đẹp đến mấy cácchính thể cũng có nguy cơ bị tha hóa Chính thể quý tộc sẽ tha hóa thành chínhthể quả đầu khi những người lãnh đạo không đủ trí tuệ và tinh khôn, trở nêntham lam, tư lợi Chính thể quả đầu sẽ sụp đổ vì lấy tài sản làm thước đo choquyền lực chính trị; vì sự thèm muốn quá đáng của cải của những người caitrị, khiến họ không nghĩ tới vấn đề khác mà chỉ nghĩ đến vơ vét tài sản choriêng mình Chính thể dân chủ ra đời là kết quả từ sự nổi dậy của đa số dânchúng chống lại giới cầm quyền tham lam trong chính thể quả đầu Tuynhiên, cũng giống như sự suy đồi của chính thể quả đầu do ham mê quá đángtiền bạc, chính thể dân chủ do ham mê quá độ tự do ắt dẫn đến những hậu quảkhông thể kiểm soát nổi Người lãnh đạo chỉ phụ thuộc vào ý kiến của sốđông; điều đó dẫn đến những sai lầm trong lựa chọn người lãnh đạo, bởi cóthể số đông kia không được nuôi dưỡng trong một môi trường lành mạnh,không được giáo dục đầy đủ, không có tâm thức đúng đắn trong sự lựa chọncủa mình Thêm vào đó, dân chúng non nớt, thiếu hiểu biết, nhận xét cảm tínhhoặc luôn có thành kiến; từ đó lựa chọn người vào đại hội đồng không xứngđáng Điều đó dẫn đến kết quả là lợi ít hại nhiều Hậu quả là chính thể độc tài

ra đời và đàn áp dân chúng một cách man rợ1

Aristoteles không đồng ý với quan điểm về nhà nước lý tưởng của Platon

và cho rằng như vậy là không khả thi và cực đoan, đặc biệt là việc nhà nước sởhữu chung cả tài sản và trẻ em Khi nghiên cứu về các mô hình chính thể,Aristoteles đã có sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư tưởng của Platon Nghiêncứu luật cơ bản của 158 thành bang, ông chia thành 2 loại chính thể: Tốt (vì lợiích chung, cộng đồng) và xấu (vì lợi ích riêng, cá nhân) Mỗi loại có 3 biến thểtheo tiêu chí số lượng người cầm quyền là: Một người, một nhóm người, hay đa

số (toàn dân) nhân dân cầm quyền Theo đó, có 3 loại chính thể tốt là: Quân chủ,quý tộc, và dân chủ thành bang; ba loại chính thể xấu tương ứng là độc tài, quảđầu và dân chủ đám đông

Đỗ Thị Kim Hoa, “Tư tưởng của Plato về thể chế dân chủ”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 12, năm 2017, tr 114.

Trang 34

Theo Aristoteles, nhà nước lý tưởng nhất là nhà nước quân chủ do mộtông vua thông minh và nhân từ cai trị, nhưng trên thực tế không có những conngười như vậy, nên đó chỉ là lý tưởng không có tính hiện thực Ngay cả chínhthể quý tộc trị, tức là chính thể được cai trị bởi một nhóm người tốt, ông chorằng cũng là quá cao so với hiện thực Ông lo ngại, trên thực tế dễ xảy ra tìnhhuống số đông, vốn luôn nghèo, cai trị và đa số người nghèo sẽ tước đoạt tài sảncủa thiểu số vì lợi ích riêng của đa số Vậy đâu là hình thức chính thể tốt nhấttrong hiện thực? Aristotle cuối cùng đã đi đến ủng hộ ý tưởng về dân chủ thànhbang, nơi mà số đông cai trị, nhưng vì mục đích chung (tức là một nền dân chủtốt thực sự) Trong bối cảnh xã hội lúc đó, hình thức này có thể coi là nằm giữachính thể Quý tộc/quả đầu với dân chủ mị dân, tức là chính phủ của tầng lớptrung lưu Trong đó giới quý tộc và giới bình dân đều không nắm trọn quyền mà

có sự cạnh tranh và thay thế nhau Điều căn bản là chính phủ phải vì lợi íchchung chứ không phải vì lợi ích của người đang nắm quyền1

Bảng: Các loại chính thể tốt đẹp và sự tha hóa của chúng:

Mục đích cai trị

Số người cai trị

Chính thể tốt đẹp

(Vì lợi ích chung,cộng đồng)

Chính thể bị tha hóa

(Vì lợi ích riêng,

cá nhân)

Cai trị bởi một người Quân chủ Độc tài

Cai trị bởi một nhóm người Quý tộc Quả đầu

Cai trị bởi số đông Dân chủ (thành bang) Dân chủ (đám đông, mị

dân)Giống với Platon, Aristoteles cũng rất quan tâm đến sự tha hóa của các môhình chính thể Khi bàn về sự sụp đổ của các mô hình chính thể, Aristoteles chorằng, chính thể dân chủ sẽ chuyển hóa thành chế độ mị dân và độc tài nếu:

Ý chí được điều tiết bằng pháp luật bị thay thế bởi ý chí cá nhân tùy tiệncủa nhà cầm quyền

Lợi ích của đa số bị thay thế bằng lợi ích chung phi nhân tính của giớicầm quyền

1 Lưu Văn Sang (Chủ biên), Các loại hình thể chế chính trị đương đại và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr 13 - 20.

Trang 35

Chế độ bị trao cho những tên nịnh bợ, gian xảo, ham muốn quyền lực vàlợi ích riêng.

Những kẻ mị dân trong nền dân chủ dễ có uy tín vô giới hạn, kẻ này trênđộc tài, người kia trên nhân dân cũng tha hóa như tên độc tài

Theo ông, tất cả những kẻ mị dân khi lên nắm quyền đều trở thành độctài, bạo ngược Chính thể quả đầu bị sụp đổ vì giai cấp thiểu số thống trị đàn áp

và đối xử bất công với đa số bị trị Chế độ quý tộc bị sụp đổ vì tầng lớp cai trị đã

đi chệch khỏi nguyên tắc công bình của chế độ, nhất là khi chức vụ được sửdụng như phương tiện để mưu lợi cho cá nhân

Để bảo vệ một chính thể, Aristoteles đề nghị phải giáo dục quần chúngsao cho người dân sống và hành động theo đúng tinh thần của hiến pháp tạodựng ra chế độ Tuy nhiên, Aristoteles khuyến cáo là việc giáo dục công dânkhông chỉ nhằm giáo dục họ để thi hành những cái hay, cái đẹp của chế độ, màcòn giáo dục để họ biết và tránh làm những điều khiến chế độ suy vong

Các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng và Cận đại, bao gồm cả C.Mác đềuủng hộ mô hình chính thể dân chủ và cho rằng đó là mô hình tốt nhất phù hợpvới bản chất con người Nếu như ở phương Tây, việc tìm kiếm các mô hìnhchỉnh thể tốt nhất phù hợp với bản chất con người luôn được đặt ra trong suốtchiều dài lịch sử, thì ở phương Đông, các nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại lạimặc nhiên thừa nhận bản thân chính thể quân chủ chuyên chế đã là tốt và tìmcách để bảo vệ nó Công việc chính mà các nhà tư tưởng quan tâm là làm thếnào để có được một ông vua tốt

1.3.3 Sự phát triển nhận thức về kiểm soát quyền lực

Quyền lực nhà nước là cái cần thiết cho xã hội, được hình thành với mụcđích ban đầu là làm cho con người sống hạnh phúc, bảo vệ các quyền tự do củacon người, đảm bảo cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự, ổn định và phát triển.Thế nhưng, các bằng chứng lịch sử cho thấy, từ khi hình thành nhà nước đếnnay, thay vì bảo vệ quyền tự do của con người, thì chính quyền, nhà nước lại làchủ thể xâm phạm các quyền tự do của con người nhiều nhất Từ đó dẫn đến sựtha hóa thẩm quyền chính thức, làm cho quyền lực mất đi mục đích tốt đẹp banđầu của nó Nguyên nhân của sự tha hóa quyền lực này xuất phát từ đặc tính vị

Trang 36

kỷ và khát vọng quyền lực của con người Để hạn chế sự tha hóa quyền lực, cácnhà tư tưởng chính trị đã bàn đến cách thức kiểm soát quyền lực khác nhau như:Kiểm soát quyền lực bằng đạo đức, kiểm soát quyền lực bằng luật pháp, kiểmsoát quyền lực bằng các thể chế bên trong và các thể chế bên ngoài nhà nước.

Các nhà tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại do quan niệm rằng, quyềnlực nhà nước, quyền lực của vua xuất phát từ đấng siêu nhiên, nên nó gần nhưkhông bị chủ thể quyền lực nào kiểm soát; có chăng chỉ là sự kiểm soát mộtcách vô hình từ Thượng đế và sự tự kiểm soát của bản thân người cai trị Sự tựkiểm soát này dựa vào các chuẩn mực đạo đức và nỗ lực kiềm chế tham vọngcủa người cai trị như trong tư tưởng Nho gia, hoặc bằng công cụ pháp luật nhưtrong tư tưởng của Pháp gia Sự kiểm soát này có hiệu quả hay không lại phụthuộc rất lớn vào nhận thức và bản chất của những người cai trị Tuy nhiên, donhà vua không thể tự mình cai trị xã hội, mà phải thông qua hệ thống quan lạidưới quyền, nên nguy cơ quyền lực của vua bị các quan chức lạm dụng, vẫn cóthể xảy ra Bằng cách này hay cách khác, các nhà tư tưởng cũng đề xuất nhữngbiện pháp giúp vua kiểm soát quyền lực của bề tôi thông qua hệ thống kiểm tra,giám sát giữa các cơ quan do vua lập ra, hoặc bởi các cá nhân do vua chỉ định;hoặc thông qua hệ thống: Pháp - Thế - Thuật như Hàn Phi Tử đề xuất

Còn ở phương Tây, kiểm soát quyền lực là một trong những vấn đề cơbản trong các nghiên cứu về chính trị học và là nội dung trọng tâm của lý thuyếtphân quyền Tuy có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, tư tưởng phân quyền chỉ trởthành một lý thuyết hoàn chỉnh trong thời kỳ Khai sáng Những người pháttriển lý thuyết này là triết gia người Anh, John Locke (1632 - 1704) và người

có công phát triển nó một cách hoàn chỉnh là nhà luật học người Pháp,S.Montesquieu (1689 - 1755) Nội dung cốt lõi của lý thuyết này là: Quyềnlực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình.Bất cứ ở đâu có quyền lực là ở đó có thể xuất hiện khả năng lạm quyền, cho

dù quyền lực ấy thuộc về ai Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản củacông dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của chính phủ, thì phải thiết lậppháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước Cách tốt nhất để chống lạmquyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện

Trang 37

không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra Thể chế chính trị tự

do là thể chế chính trị trong đó quyền lực tối cao được chia làm ba quyền:Lập pháp, hành pháp và tư pháp Các quyền này phải được trao cho các bộphận độc lập với nhau nắm giữ Sự phân chia quyền lực ở đây phải được thểhiện trên cơ sở của pháp luật, nghĩa là các nhánh lập pháp, hành pháp và tư phápchỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật quy định

Trong tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, Montesquieu nhấn mạnh:

“Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người, haymột viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chínhông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài Cũngkhông có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp vàquyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽđộc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là ngườiđặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan toà

sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người, hay một tổ chức của quanchức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nóitrên thì tất cả sẽ mất hết”1 Luật pháp ở đây phải mang tính khách quan, phảithừa nhận các quyền tự do cá nhân, và bản chất của nó phải là sự thể hiện ý chíchung của nhân dân Tuy nhiên, nội dung của lý thuyết phân quyền không chỉdừng lại ở việc phân định chức năng cho các nhánh quyền lực, mà còn tiến đếnmột mục đích cao hơn, đó là cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyềnlực, hay còn gọi là cơ chế kiềm chế và đối trọng Kiềm chế và đối trọng là tậphợp các quyền và trách nhiệm do pháp luật quy định làm cơ sở để các nhánhquyền lực thực hiện kiểm soát lẫn nhau Nó tạo lập mối quan hệ chính trị - pháp

lý giữa các nhánh quyền lực, sao cho các nhánh đó có thể độc lập thực thi nhiệm

vụ bằng những thẩm quyền pháp lý của mình, đồng thời có thể ngăn chặn được

sự lạm quyền của một nhánh nào đó Theo lý thuyết này, cơ chế phân quyền vàđối trọng quyền lực được thể hiện ra là:

Thứ nhất, lập pháp ban hành luật, giám sát việc thực hiện các đạo luật do nó

ban hành và truy tố những quan chức bộ máy hành pháp khi họ vi phạm trách nhiệm;

Montesquieu, Bàn về tinh thần pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr 106.

Trang 38

Thứ hai, hành pháp có nhiệm vụ thực thi pháp luật, ngăn chặn những dự

định tuỳ tiện của cơ quan lập pháp;

Thứ ba, sự độc lập của cơ quan tư pháp và các quan toà nhằm bảo vệ công

dân khỏi sự xâm hại bởi những đạo luật của cơ quan lập pháp cũng như hành vituỳ tiện của cơ quan hành pháp Thông qua các cuộc bầu cử tự do, nhân dân sẽ

là người thực hiện sự phân quyền và các thiết chế quyền lực này phải tôn trọngpháp luật và chịu trách nhiệm trước nhân dân

Có thể thấy, lý thuyết phân quyền là một đóng góp lớn cho lý luận vềnhà nước pháp quyền hiện đại Tư tưởng của Montesquieu về phân chiaquyền lực được phát triển thành lý luận hoàn chỉnh với mục đích kiểm soátquyền lực nhà nước, đảm bảo quyền tự do chính trị của công dân Ngày nay,kiểm soát quyền lực được xác định như là một đòi hỏi tất yếu khách quancủa một nhà nước dân chủ và trở thành một nội dung chính của Hiến pháp.Nhiều học giả tư sản cho rằng, bất cứ một chế độ nào mà không thực hiện sựphân quyền, không đề cao pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực thì đókhông phải là nhà nước pháp quyền

Bên cạnh những kênh kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước,các tư tưởng chính trị cũng bàn đến các hình thức kiểm soát quyền lực từ phíangười dân và xã hội Khi bàn về xu hướng lạm quyền, thoái hóa của quyền lựchành pháp và biện pháp khắc phục, J.J.Rousseau cho rằng: Các chính phủ trênđời một khi nắm được quyền lực công cộng đều tìm cách lạm dụng, chiếm đoạtquyền lực tối cao của toàn dân Để ngăn chặn nguy cơ chính phủ lạm quyền,theo J.J.Rousseau phải áp dụng một biện pháp triệu tập hội nghị định kỳ toàn

dân với mục đích làm rõ hai câu hỏi: “Một là, toàn dân có muốn giữ nguyên hình thức chính phủ hiện hữu hay không?; hai là, nhân dân có vừa lòng với sự

cai trị của những người hiện đang được ủy thác hay không”1 Với biện phápnhư vậy, chính phủ sẽ luôn bị đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, vànhân dân có quyền chấp nhận hay chối bỏ chính phủ bất cứ lúc nào

1.3.4 Sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền

Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kỳ cổ đại

Trang 39

Ở phương Tây: Các nhà tư tưởng đại diện: Đêmôcrít, Xôcrát, Platon,

Aristoteles, Xixêrôn, Xôlông Những tư tưởng chính về nhà nước pháp quyền thời

kỳ này mới bắt đầu hình thành, tuy nhiên đã thể hiện rõ những tư tưởng cơ bản vềvai trò của pháp luật và mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước và nhân dân Cácnhà tư tưởng thời kỳ này đều thấy được vai trò quan trọng của pháp luật trong việcduy trì trật tự của các thành bang, pháp luật là chỗ dựa cho việc cai trị xã hội Đưa

ra cách lý giải về sự công bằng, công lý, dân chủ và thừa nhận pháp luật xuất phát

từ nhà nước, nhưng pháp luật phải tuân thủ quyền tự nhiên của con người

Xôlông (638 - 559 Tr.CN) là người đầu tiên nêu ý tưởng về nhà nước phápquyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước bằng việc đề cao vai trò của phápluật Theo ông chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thốngnhất; nhà nước và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân chủ, tự do và côngbằng và vì vậy, hãy kết hợp sức mạnh (quyền lực nhà nước) với pháp luật

Xôcrát (469 - 399 Tr.CN) quan niệm về công lý trong sự tuân thủ pháp luật.Theo ông, xã hội không thể vững mạnh và phồn vinh nếu các pháp luật hiệnhành không được tuân thủ, giá trị của công lý (pháp luật) chỉ có được trong sựtôn trọng pháp luật Ông cho rằng công lý được thể hiện trong các văn bản donhà nước ban hành; sự công minh và sự hợp pháp là một; nếu không có sự tuânthủ pháp luật thì không có nhà nước và không có trật tự xã hội

Đêmôcrít (460 - 370 Tr.CN) cho rằng, đạo đức cao nhất trong xã hội làcông lý sống theo pháp luật; đạo đức là pháp luật cao nhất, còn pháp luật làđạo đức thấp nhất

Platon (427 - 374 Tr.CN) phát triển ý tưởng về sự tôn trọng pháp luật ở mộtgóc độ khác - từ phía nhà nước Theo ông, tinh thần thượng tôn pháp luật phải lànguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng phápluật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộcvào chính quyền; ngược lại, nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật

và những nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật Theo Platonnhà nước lý tưởng là nhà nước được cầm quyền bằng sự thông thái và tòa ánđóng vai trò hết sức quan trọng, ở đâu pháp luật không còn sức mạnh, hoặc bị

Trang 40

đặt dưới quyền của một ai đó, ở đó nhà nước sẽ bị diệt vong Nhà nước sẽ khôngtồn tại nếu như trong nhà nước tòa án không được tổ chức một cách thỏa đáng.Aristoteles (384 - 322 Tr.CN) bổ sung khía cạnh mới về mối quan hệ giữachính trị và pháp luật (chính trị được hiểu theo nghĩa là nhà nước) Theo ông,cần thiết phải có sự phù hợp giữa chính trị và pháp luật, vì vậy, việc đề cao phápluật phải gắn với cơ chế, hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước TuyAristôt chưa đưa ra được lý thuyết về phân quyền nhưng ông đã nêu ý tưởng về

sự cần thiết phải tổ chức nhà nước một cách quy củ để bảo đảm sự công bằngcủa pháp luật: Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm ra luật, cơ quan thực thipháp luật và toà án

Xixêrôn (106 - 43 Tr.CN) tiếp tục phát triển ý tưởng của Aristoteles đếntrình độ cao hơn, ông đưa ra quan niệm mới về nhà nước, coi nhà nước làmột cộng đồng pháp lý, một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhấttrí về pháp luật và quyền lợi chung và đề xuất nguyên tắc: Sự phục tùngpháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người Theo ông, pháp luật là công

cụ của nhà nước, là vũ khí của nhân dân, pháp luật bảo vệ nhân dân, nhândân có trách nhiệm bảo vệ pháp luật

Ở phương đông: Tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện đầu tiên ở

Trung Quốc cổ đại, vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc với ngườikhởi xướng là Quản Trọng, sau đó được Tử Sản, Thương Uởng, Thận Đáo,Thân Bất Hại, Hàn Phi Tử bổ sung và phát triển Người đời sau gọi đó là tưtưởng pháp trị và trường phái tư tưởng này được gọi là “Pháp gia” Tuy chủtrương chung là dùng pháp luật để trị nước, song các nhà tư tưởng thuộc phápgia có những ý kiến không thống nhất

Thân Bất Hại (401 - 337 Tr.CN) khẳng định, thuật (phương pháp, sáchlược) là nhân tố có tầm quan trọng trong đường lối trị nước đó là thuật bổ nhiệmquan lại dựa trên chính danh, trên nhu cầu thực tế, thuật giám sát và thưởng phạtdựa trên nguyên tắc theo danh mà trách thực, theo việc mà trách công; quan lạiphải chịu trách nhiệm và bổn phận về việc mình làm, không đổ lỗi cho ngườikhác, cho hoàn cảnh, không trốn tránh trách nhiệm Thương Ưởng (390 - 338Tr.CN) đứng đầu nhóm duy pháp, cho rằng, pháp luật là yếu tố quan trọng nhất,

Ngày đăng: 20/06/2023, 15:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w