Với tư cách là một chỉnh thể, chính trị học làm sáng tỏ những quy luật, những tính quy luật chung nhất của sự vận động chính trị cơ chế tác động, cơ chế sử dụng cùng những phương thức, n
Trang 1
GIÁO TRÌNH CHÍNH TRỊ HỌC
Trang 2HOC VIEN HÀNH CHÍNH
GIAO TRINH
CHINH TRI HOC
(Dao tao Dai hoc Hanh chinh)
TH VIỆM
tŨ SỞ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ
HÀ NỘI TẠI TP.HEM
Số 1 PUBS
NHA XUAT BAN KHOA HOC VA KY THUAT
Ha Noi - 2012
Trang 3
Chủ biên:
GS.TS Nguyên Hữu Khiển
GS.TS Dinh Van Mau
Trang 4có những quan niệm khác nhau về phạm trù "chính trị"
Trong giới học giả tư sản, đã có thời kỳ lan truyền quan điểm xem chính trị là một "nhà hát" Trong đó có vở diễn, nghệ
si, người xem, sư bải trí sân khấu và nhà phê bình Trong "nha hát" đó, mỗi người dù vô tình hay cố ý đều đóng một vai trò nhất định Nhưng sự tồn tại của "nhà hát" lại không phụ thuộc vào các cá nhân ấy Mỗi công dân đều có quan tâm thiết thân với xu hướng vận động và phát triển của xã hội Trong "nhà hát chính trị” đó, mặc đù vẫn có những đạo diễn, song lại có nhiều
ngẫu hứng trong quá trình "biểu diễn" làm cho chính trị có đời
sống riêng, rất phong phú, đa dạng và phức tạp
Mac Vaybe lai xem “chính trị” là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân quyền lực, định rõ vị thế của từng cá nhân trong một trật tự nhất định -
V to ae Te el ce ee oe ee ee mee va“ m—=———- -
Trang 5
Dựa trên quan niệm mang tính chức năng của chính trị, một
số ý kiến đã xem chích trị là khả năng con người đóng những
vai trò khác nhau, hoàn thành những chức năng khác nhau trong
khuôn khổ của một thể chế chính trị Theo quan điểm đó, bản
chất chính trị là sự phân chia trách nhiệm và các thẩm quyền
cũng như bảo đảm hiệu quả chính trị và sự bền vững của chính
thể Ở đây, chính trị được họ hiểu như là sự khôn khéo, khả
năng đạt được sự phân chia chức năng, mà vẫn đảm bảo duy trì
tác động qua lại của chúng Điều đó đã được Platon đề cập trong
tác phẩm “Chính trị" Ông xem chính trị là "nghệ thuật cung
đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự
thông minh; sự liên kết cuộc sống của họ được thực hiện bằng
sự thống nhất tư tưởng và tĩnh thần hữu ái"
Trong những quan niệm nêu trên, tuy có chứa đựng một số
nhân tố hợp lý nhất định, nhưng chúng vân chưa nêu ra được nội
dung cơ bản nhất của phạm trù chính trị - đó là mối quan hệ
giữa những con người có địa vị khác nhau, lấy quyền lực làm
đích
Kế thừa những tỉnh hoa nhân loại, đồng thời là một lãnh tụ -
của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản,
V.I.Lênin rất chú trọng đến vấn để chính trị Theo ông, cái căn
bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước Chính
trị là sự tham gia vào các công việc nhà nước, định hướng nhà
nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà
nước Bất kỳ hoạt động xã hội nào cũng có tính chất chính tr,
nếu như việc giải quyết nó trực tiếp hay gián tiếp gắn với lợi ích
giai cấp, gắn với vấn đề chính quyền
Tiếp cận vấn đề từ chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể xem chính
trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia
trong vấn đề giành, giữ, sử dụng quyền lực chính trị mà trung
tâm là quyền lực nhà nước
Xã hội có chính trị là xã hội còn giai cấp nhà nước Vấn đề
PS TT ee ees
Trang 6chính trị luôn tồn tại, chỉ khác nhau về tính chất, quy mô, mục
tiêu, phương pháp mà thôi
2 Chính trị học
Chính trị học là một bộ môn khoa học xã hội nghiên cứu
lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội Với tư cách là một chỉnh
thể, chính trị học làm sáng tỏ những quy luật, những tính quy
luật chung nhất của sự vận động chính trị (cơ chế tác động, cơ
chế sử dụng cùng những phương thức, những thủ thuật chính trỊ)
trong xã hội được tổ chức thành nhà nước (sự hình thành các lực
lượng, các đảng phái; sự hình thành và phát triển của các thể chế
nhà nước, các thể chế liên quốc gia, khu vuc ) |
Khoa học nghiên cứu chính trị ra đời từ rất sớm, chính trị
học cũng trải qua một quá trình phát triển lâu dài Ngay từ thời
kỳ cổ địa, những vấn đề của đời sống chính trị đã thu hút nhiều
nhà tư tưởng lớn của nhân loại nhu Khéng Tir, Platon, Arixtét
Trước hết, các ông hướng chú ý của mình vào việc phân tích
những kinh nghiệm chính trị đã được tích luỹ Tuy nhiên, do
những hạn chế về mặt lịch sử, sự phân chia trong khoa học các
lĩnh vực khác nhau còn rất hạn chế, chính trị học ở thời kỳ này
còn quan hệ gắn với triết học, với đạo đức - những bộ môn khoa
học có ảnh hưởng rất to lớn trong thời kỳ cổ đại
Cùng với sự phát triển của thực tiễn, những kinh nghiệm
chính trị được tích luỹ ngày càng sâu rộng Từ nhu cầu nâng cao
hiệu quả hoạt động chính trị, đã xuất hiện nhu cầu tổng kết,
khái quát hoá để nâng thành lý luận chính trị Động lực đó đã
thúc đẩy tư tưởng chính trị phát triển lên một nấc thang mới về
chất trong thời kỳ Phục hưng, thời kỳ Khai sáng trong các tác
phẩm của các nhà lý luận xã hội chủ nghĩa không tưởng, các
nhà dân chủ cách mạng thế ký XIX Họ không chỉ tích luỹ
được những kinh nghiệm phong phú, mà còn nêu ra những luận
điểm có liên quan tới các hiện tượng chính trị, phát hiện ra tính
Trang 7quy luật của sự vận động của đời sống chính trị dưới các hình
thái: phong trào đấu tranh chính trị, thể chế chính trị khuynh hướng vốn có của quá trình chính trị nói chung
Với sự xuất hiện của chế độ tư bản chủ nghĩa, với nhân cách chính trị thiên tài, C.Mác, Ph.Àngghen, V.ILênin đã có những cống hiến vô giá vào việc nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội nói chung, cửa xã hội tư bản, của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, của bản thân chủ nghĩa xã hội nói
riêng Từ đó bổ sung những tư duy mới trong chính trị học
3 Đối tượng nghiên cứu của chính trị
Moi khoa học, như Ph.Angghen đã khẳng định, đều có đối
tượng nghiên cứu của mình, đó là những tính quy luật, quy luật thuộc khách thể nghiên cứu của nó Điều đó cũng hoàn toàn đúng khi nói về đối tượng nghiên cứu của chỉnh trị học
Chính trị học nghiên cứu những quy luật, quy luật điễn ra
trong lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội; nghiên cứu cơ chế tác động, nghiên cứu vị thế, vai trò của những cá nhân, những thể chế trong quan hệ với quyền lực Đời sống chính trị hết sức
đa dạng, tuy nhiên những vấn đề sau đây đã trở thành đối tượng quan trọng trong nghiên cứu chính trị học:
- Hệ thống học thuyết về quyền lực;
- Các thể chế, chế độ xã hội;
- Các quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia;
- Những yếu tố ảnh hưởng đến chính trị (dân tộc, tín
ngưỡng, văn hoá );
- Vấn đề chiến tranh và hoà bình;
- Vai trò, vị thế của các cá nhân tham gia vào đời sống
- Những phương diện nghệ thuật chính trị:
Trang 8- Quan hệ giữa các quốc gia trở thành tiêu điểm trong chính :: tri học, với những tri thức được nghiên cứu, gọi là chính trị quốc
4 Chinh trị học với các khoa học xã hội khác
Con người là trung tâm của mọi quan hệ xã hội, trong đó có chính trị Vì vậy, trong nhận thức của xã hội hình thành nên: khoa học chính trị còn rất nhiều lĩnh vực khác tác động, đan xen lẫn nhau C' đây, trước hết cần làm sáng tổ mối quan hệ giữa
chính trị học với một số bộ môn khoa học xã hội
4.3 Chính trị học với triết học
Triết học là khoa học vạch ra những quy luật phế biến, chúng có vai trò như phương pháp luận trong nghiên cứu chính trị học Trái lại, chính trị học có vai trò bổ sung những "vật liệu" góp phần khái quát các hiện tượng xã hội của triết học
4.2 Chính trị học với luật học
- Chính trị học và luật học là hai ngành khoa học có quan hệ đặc biệt gắn bó Nếu nhà nước là đối tượng nghiên cứu của chính trị học từ giác độ nó là chủ thể quan trọng của chính trị, thì luật học nghiên cứu những quy phạm phấp luật (xây dung, quy định áp dụng, chế tài ) cho sự hoạt động của nhà nước 4.3 Chính trị học với hành chính học
Hành chính học là khoa học về những quy luật tổ chức và vận hành của bộ máy hành chính nhà nước, về hoạt động quản
lý của nhà nước
Trong các thể chế chính trị, hành chính lệ thuộc vào chính
trị và phục vụ các nhiệm vụ chính trị, quyền lực chính trị của giai cấp thếng trị; nó có ánh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của
hoạt động chính t1rỊ
Trang 9Hành chính học vận dụng những lý luận cơ bản của chính trị học trong những nghiên cứu về tô chức hành chính và quản lý -hành chính Ngược lại, chính trị học nghiên cứu về tổ chức và -đời sống chính trị xã hội, là khoa học nghiên cứu về quyền lực chính trị, trong đó có quyền lực hành chính (quyển lực nhà nước) là trung tâm của quyền lực chính trị
Do vậy, giữa hai bộ môn khoa học này có đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu vừ: tương đối độc lập vừa có sự thẩm thấu lẫn nhau Nếu như hàn† „chính học là khoa học mang nặng đặc điểm vận dung, thi chink, trị học mang nang đặc điểm
lý luận Nói cách khác, hành chính: học là khoa học nghiên cứu chính trị trong hành động
4.4 Chính trị học với chủ nghĩa xã hội khoa học
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những vấn đề chính
trị - xã hội của quá trình nảy sinh, phát triển chủ nghĩa xã hội
Do vậy, so với chủ nghĩa xã hội khca học, chính trị học có phần rộng hơn, đồng thời cũng có phần hẹp hơn Rộng hờn vì chính trị học không chỉ nghiên cứu vấn đề chính trị - xã hội của xã hội
xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ:nzhĩa xã hội, mà còn nghiên cứu các cơ cấu, cơ chế vận động củc quyền lực ở các xã hội có giai cấp Chính trị học hẹp hơn vì, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu toàn bộ các lĩnh vực, các cơ cấu xã hội trong đó có chính trị
4.5 Chính trị học và xây dựng Đảng
Đảng chính trị là một bộ phận trong đời sống chính trị, nên
nó cũng nằm trong khách thể nghiên cứu của chính trị học Chính trị học nghiên cứu những nguyên tắc chung nhất của một đảng chính trị, trong đó chú trọng nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền Xây dựng Đảng là khoa học về tổ chức, hoạt động,
về xây dựng Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nhằm củng cố vị thế của Đảng trong đời sống chính trị của xã hội
Trang 104.6 Chính trị học và xã hội học
Trong xã hội có giai cấp, mặt chính trị nằm ngay trong đời sống xã hội Do vậy, nghiên cứu chính trị cũng phải xem xết xã
hội trong tổng thể các nhân tố cấu thành Các giai cấp, các cộng
đồng là những nhân tố của thực thể chính trị Xã hội học là khoa
học nghiên cứu con người từ giác độ cộng đồng, cơ cấu tập hợp,
vị thế hình thành từ những cá nhân
5 Nhiệm vụ của chính trị học ở nước ta hiện nay
Chính trị học, có các nhiệm vụ:
-.Phân ánh đúng đắn những quy luật và tính quy luật cơ bản
nhất của đời sống chính trị ở quy mô quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng như quy mô thế giới để hình thành mô hình lý
thuyết, cơ chế vận dụng các quy luật chính trị, để xuất những
phương pháp và phương pháp luận chính trị được luận chứng một cách khoa học
- Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho việc hoạch định
mục tiêu chính sách đối nội và đối ngoại của đảng cầm quyền,
nhà nước và các chủ thể chính trị trong xã hội
- Gáp phần thẩm định các quyết định chính trị, rút ra những bài học thực tế
- Góp phần bổ sung kiến thức và kỹ năng lãnh đạo chính trị,
xây dựng và triển khai các quyết sách chính trị của Đảng
- Với vị trí là một bộ phận trong khoa học xã hội và nhân văn, chính trị học có nhiệm vụ “giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiên, dự báo các xu thế phát triển" ở trong nước và ở bên ngoàit,
Chính trị học ở nước ta ra đời nhằm nghiên cứu cơ bản và
‘? Dang Cong san Viet Nam - Van kién Dai héi IX - Xem Tạp chí Cong sản 9/2001, trang 22
Trang 11II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHÍNH TRỊ HỌC
Bất kỳ kết quả nghiên cứu nào cũng chỉ được xem là đúng đắn khi nó mang tính khoa học, khi nó phản ánh đúng dan qua trình hiện thực Điều đó phụ thuộc một cách quyết định vào tính đúng đắn của phương pháp
Phương pháp nghiên cứu của chính trị học trước hết là sự vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội Trong đó, cần làm nổi bật
sự thông nhất giữa logic va lich str, phuong pháp hệ thống, phương pháp so sánh và thực nghiệm
Ngoài ra, đựa trên yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, dựa trên sự vận động, sự tác động lẫn nhau của các chủ thể, tính đa dạng về không gian, thời gian, các yếu tố về tình cảm, tâm lý còn đòi hỏi phải vận dụng hàng loạt các phương pháp nghiên cứu từ những khoa học khác Ví dụ như:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp;
- Phương pháp chọn mẫu, điền tra;
- Phương pháp trưng cầu, lấy ý kiến;
- Phương pháp thống kê sự kiện
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I
1 Chính trị là gi? Phân tích và làm rõ tương quan giữa
Trang 122 Chính trị học có những nhiệm vụ gì? Trong những nhiệm
vụ đó, theo anh (chị) ở nước ta hiện nay nhiệm vụ nào là quan trọng nhất? Tại sao?
3 Hãy nêu các phương pháp nghiên cứu chính trị học?
Những phương pháp đó có ưu và nhược điểm gì?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ph.Ängghen Chống Đuyrinh NXB Sự thật Hà Nội,
Trang 13Chương fi
LƯỢC SỬ CÁC TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
i; SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHƯƠNG
TÂY
Tư tưởng chính trị của nhân loại xuất biện và phát triển
cùng với lịch sử đấu tranh giai cấp, sự hình thành các chế độ xã
hội, các kiểu nhà nước, các quốc gia Từ quan điểm lịch sử, có
thể nêu những nét lớn của quá trình đó
1 Tư tưởng chính trị Hi Lạp và La Mã cổ đại
Các nhà tư tưởng cổ đại Hi Lạp có thể được coi là những
nhà mở đầu cho việc để xuất và thúc đẩy học thuyết về nhà nước
và pháp quyền của phương Tây Những tư tưởng của họ đã có vị
trí vững chắc Irong kho tang chung của nền van hod - chính trị
nhân loại
l.] Tư tưởng chỉnh trị thời kỳ hìmh thành nhà nước
chim hữu nô lệ chuyên chế
Trong chế độ thị tộc - bộ lạc của thời kỳ cộng sản nguyên
thuỷ, với những quan hệ bình đẳng kiểu cộng đồng, các thành
viên dựa vào nhau như một tất yếu của sự tồn tai Nhung rồi
những quan hệ tốt đẹp nguyên thuỷ của con người dần dần biến
dạng và tan rã, mầm mống quyền lực chính tri chin mudi, bon
quý tộc do chiếm được của cải đã biến một bộ phận dân cư
thành nô lệ Bọn quý tộc được tôn kính như thần thánh, chúng
xét xử và trừng phạt dân lành, nhân danh công lý để giải quyết
Trang 14của quyển lực Theo ông, những khái niệm công bằng và bất
công được hình thành bởi chính con người, còn trời (thiên nhiên,
vũ trụ) vốn tồn tại khách quan, vẫn hoàn mĩ và công bằng Cùng với Xôlông, Piago và Hêraclit về sau đã xa rời một số quan
điểm chính trị của giới quý tộc bảo thủ, ngả về bảo vệ các
truyền thống và đặc quyền cổ truyền
1.2 Tư tưởng chính trị trong thời kỳ phát triển và suy vong của chế dé ddan chủ chủ nô
Tư tưởng chính trị thời kỳ này đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc giải thích nhà nước và pháp quyền Những vấn đề mang tính chính trị đã được giải thích một cách có tính chất xã hội, ngày một mất dần tính huyền bí và thoát dân khỏi vòng tù túng của tín ngưỡng, tôn giáo
Đêmôcrit (khoảng 460 - 370 TCN) là một trí tuệ thiên tài, đại điện cho các tầng lớp dân chủ chủ nô Theo ông, nhà nước
và phấp luật đã xuất hiện không hề phụ thuộc vào một thế lực
thần bí nào Nó là kết quả của nhu cầu tồn tại của cộng đồng khi
mà trình độ phát triển của kinh tế và xã hội không còn tương
dung được với các quan hệ thị tộc, bộ lạc Nhà nước là sự thể
hiện các quyền lợi chung của các công đân
Nhà không tưởng Gipôdam đã mơ ước về một quốc gia chỉ ven ven 10.000 người, chia thành ba giai cấp khác biệt nhau là chiến bình vũ trang bao vệ đất nước, nông đân và thợ thủ công; chỉ có các chiến binh mới được bầu vào các chức vụ nhà nước Chế độ "dân chủ” của Gipôdam mang tính giai cấp, do “dân”
bầu ra, mà "dân" là căn cứ vào sự phân chia thành phần giai cấp
nói trên
Nhà hiển triết Xôcrát (469 - 399 TCN) nổi tiếng vào lúc tình trạng mâu thuẫn xã hội giữa tầng lớp thị dân cấp tiến và tập
đoàn địa chủ bảo thủ ở Aten ngày một gay gat Ông căm ghét
nên dân chủ "cực đoan", không hài lòng với việc số đông
14
Trang 15mọi sự tranh chấp (mặc dù bản thân chúng ngập ngụa trong sự đối trá và an hối lộ) Đó là bối cảnh xã hội đã dẫn tới sự xuất hiện nhà nước Nó cũng gắn với tên tuổi một nhà hoạt động chính trị lôi lạc, một nhà thơ danh tiếng; đó là Xôlông (khoảng
*ôlông đã bãi bỏ chế độ nô lệ nợ nần, bãi bỏ: quy định mức
sở hữu đất đai cao nhất, đặt ra quyền chíah trị và trách nhiệm công đân thích ứng với sở hữu điển địa Các cơ quan mới được thiết lập, quy định chế độ điều hành và tiêu chuẩn được bầu vào các chức vụ hành chính Các cuộc cai cách của Xôlông được coi như là "những cuộc cách mạng chính trị", bởi vì ông ta đã "xâm phạm vào tài sản" (nhận định cia Ph.Angghen) va do đấy, thực chất là ông đã chuẩn bị cho các quan hệ chiếm hữu nô lệ, cho sự
ra đời của một kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nhà nước dân chủ chủ nô Mục đích chính trị của Xôlông là xây dựng một nền dân chủ tuyến cử ôn hoà, một chế độ mà lãnh đạo xã hội là những người quyền quý, cao sang và giàu có, còn nhân dân thì chỉ có quyền lựa chọn và giám sát các quan chức Theo ông, tình trạng vô chính phủ sẽ là tai hoa dẫn tới sự diệt vong Chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất Đối lập với tư tưởng của Xôlông là tư tưởng chính tri bao thủ của Piago (khoảng 580 - 500 TCN) bảo vệ lợi ích của tầng
lớp quý tộc Ông kịch liệt chống những người bình dân và chế
độ nhà nước dân chủ, kêu gọi cần thiết lập một xã hội trong sự
Đồng quan điểm và rõ ràng hơn trong việc bảo vệ quyền lợi
của giới quý tộc là Hêraclit (khoảng 530 - 470 'TCN) Ông coi
nhân dân là những người ngu đốt, còn nhà triết học thì "một người hơn cả van người”, và sự phục tùng trong xã hội là tất yếu Theo Hêraclir thì quyển lực là con đẻ của chiến tranh và của sự tất yếu, dường như là sự phản ánh của luật thiên định Tuy nhiên, ông cũng có những tư tưởng lãng mạn về đặc tính
Trang 16thường dân, những người tầm thường, vụng về và đốt nát tham
gia vào công việc điều hành nhà nước Ông cho rằng, nhà nước
là một điều ác không thể tránh được, mà ai cũng phải phục tùng,
ai cũng phải tận tâm thực hiện mọi đòi hỏi của chính quyền và
tuyệt đối phục tùng nó Xã hội không thể tổn tại nếu như các
đạo luật bất lực Giá trị cao nhất của công tức là sống tuân thủ
pháp luật nhà nước Ông cũng cho rằng, lao động chân tay là
trách nhiệm của mọi công đân tự đo chứ không thể chỉ riêng của
người nô lệ Điều này đã gây ra sự tức giận trong giới chủ nô
Platon (427 - 347 TCN) là người đã công khai biện hộ cho
các hình thức nhà nước phản động, phi dân chủ Ông tiếp tục
bảo vệ nguyên tắc bất công trong xã hội và tính chế định phạm
vi các quyền chính trị của công dân tuỳ thuộc vào vị thế xã hội
của người đó Việc điều hành nhà nước thuộc về người thượng
lưu, những nhà triết học am hiểu chân lý, những người cao tuổi
và hiểu biết nhất Ông tha thiết mong muốn khôi phục lại những
thiết chế xã hội và pháp quyền nhà nước bảo thủ lỗi thời
Đến giữa thế kỷ IV (TCN) các thành bang của Hi Lap (nhất
là ở Aten) đã gần như sụp đổ hoàn toàn Chế độ chiếm hữu nô lệ
lung lay đến tận gốc rễ Tiếp tục tư tưởng bảo vệ chính quyền đó
là Arixtốt (384 - 322 TƠN) Theo C Mác, Arixtốt là "nhà tư
tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại" Trong hai tác phẩm "Chính
trị" và "Chính thể Aten”, ông đã tổng kết và phát triển một cách
tài tình các kế: luận của các bậc tiền bối về nguồn gốc, bản chất,
hình thức và vai trò của nhà nước pháp quyền Những vấn để
thuộc về pháp luật cũng đã được ông để cập đến trong các tác
phẩm "Đạo đức học" và "Thuật hùng biện" Arixtốt cuồng nhiệt
bảo vệ chế độ sở hữu cá nhân, vì theo ông, nó sẽ hoà giải và
đoàn kết được các thành viên trong xã hội Trong chế độ xã hội,
Arixtốt không quan tâm đến việc nhân dân tham gia quản lý nha
- nước, mà chú trọng đến hệ thống các biện pháp nhằm loại trừ
việc tiếm quyền Đối với tập đoàn thống trị, thì khi những người
giàu có, khá giả lãnh đạo, xã hội đê có khả năng 6n định trật tự
15
Trang 17
hơn Arixtốt hoàn toàn không chấp nhận nền dân chủ, cho rằng
người nghèo nắm chính quyền thì dễ đẫn tới suy đồi Ông phân
loại hình thức nhà nước theo các tiêu chí: 7# nhất, số lượng
người cầm quyền trong nhà nước; ih hai, mục đích thực hiện
của nhà nước Theo đó, các hình thức nhà nước cơ bản đúng là
chế độ quân chủ, chế độ quý tộc còn những hình thức nhà nước sai là nền bạo chính, tập đoàn thông trị và chế độ dân chủ
1.3 Tư tưởng chính trị thời kỳ văn minh cé Hi Lap
Những mâu thuẫn nội bộ trong các thành bang của Hi Lạp ngày một gia tăng đã làm cho phạm vị nhỏ hẹp của hệ thống
quốc gia thành bang không đáp ứng được những đòi hỏi của
phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ Vì thế, vào những năm
330 (TCN) Hi Lạp rơi vào sự thống trị của Maxêđoan Chính
cuộc chiến tranh của hoàng đế Alêchxandrơ Maxêđoan ở Ba Tư
(356 - 323 TCN) đã mỡ ra thời đại văn minh cổ Hi Lạp
Nhìn một cách tổng quát, tư tưởng chính trị cổ Hi Lạp đã
đóng góp cho kho tàng lý luận về nhà nước - pháp quyền những viên gach đầu tiên để từ đó xây dựng nền móng và phát triển toà
lâu đài nhà nước - pháp quyền và pháp luật - chính trị trong suốt
quá trình phát triển của lịch sử nhân loại
1.4 Tư tưởng chính trị của nô lệ khởi nghĩa
Vào thế kỉ thứ II (TCN), tư tưởng của những người nô lệ
khởi nghĩa ở Xixin đã thể hiện rõ mong muốn thiết lập một nhà
nước của họ, trong đó lẫn lộn giữa những nét của nền quân chủ
và đân chủ Họ mong muốn có một ông vua "tốt" biết bảo vệ quyền lợi nhân dân, đứng đầu nhà nước, có quyền hành nhưng
không độc đoán, bên cạnh có một hội đồng nhân dân giữ quyên
lập pháp, hành pháp và lựa chọn hoàng đế, tế chức quân đội để
chống lại nhà nước La Mã
Tư tưởng chinh trị của nên dân chủ chủ nô:
-_ Trong giới cầm quyền của xã hội chiếm hữu nô lê ở La Mã
Trang 18đê xuất hiện câc nhă chính trị có tư tưởng tiến bộ như anh em
Grakha va Tibĩro Ho phí phân kịch liệt chế độ quý tộc La Mê
vă hướng tới một xê hội dđn chủ Họ đòi hỏi hạn chế đại điển chủ, tịch thu phần đất thừa của đai điển chủ để giao cho nông
dđn ít ruộng đất hoặc không có ruộng đất; đòi trao chơ nhđn dđn
quyển tự phđn chia đất đai quốc gia theo câch phđn bổ từng
phần Đâng lưu ý lă Tibírơ đê nỗ lực thực hiện được tư tưởng về quyền tối cao của nhđn dđn La Mê - Hội đồng Nhđn dđn, bín cạnh câc cơ quan nhă nước khâc Đó lă cơ quan cố quyền lực cao hơn Viện Nguyín lêo - chỗ dựa của giới quý tộc La Mê Đương nhiín, những tự tưởng trín đê bị đăn ấp, giới quý tộc cho vay nặng lêi căng hưng thịnh thì cuộc đễ tranh giai cấp bùng nổ căng mạnh mẽ Nhă tư tưởng của nền dđn chủ chủ nô, triết gia vĩ đại Tit Lúcrexơ (khoảng 99 - 55 TCN) da níu ra tư tưởng về nhă nước phâp quyển Ống cho rằng xê hội chuyển động tiến bộ lín phía trước lă kết quả của sự phât triển công cụ sản xuất; do đó, con người bi phđn hoâ thăr,h câc giai tđng xê hội Từ trạng thâi phât triển tự nhiín của chế độ sở hữu tư nhđn,
đê nảy sinh câc bất công xê hội, câc biến động xê hội vă bạo loạn Muốn thủ tiíu câc tình trạng ấy, con người dần dần đê học được câch bầu ra chính quyền vă đề ra câc đạo luật
- Nhă nước cộng hoă dân chủ chủ nô ở La Mê đê bộc lộ những mâu thuần, không thể bảo đảm cho quyín lợi của giai cấp thống trị:
Xirírông (thế kỉ I TCN) kíu gợi "thống nhất đẳng cấp" những người thượng lưu khâ giả trong giới thi dđn, giới điển chủ | quý tộc vă ông đê bính vực những cuộc chiến tranh vì sự thống iri va vĩnh quang của giới quý tộc, thực chất lă biện minh cho tham vọng bâ chủ của giới quý tộc
Câc nhă luật học La Mê đê xđy dựng Độ luật 1.Uxtinian
lệ đê tăng thím sự bất công trong Hộ: TIM ME eet phập
Trang 19
thành tư pháp và công pháp Việc chia tư pháp thành: quyên tự
nhiên (lus gentium), quyền công dân (Jus civile) cũng có ý
nghĩa chính trị là khẳng định chế độ nô lệ và sự bất bình đẳng giữa các công dân La Mã với các dân tộc bị chính phục Tính :chất thối nát ấy thể hiện ở sự biện hộ cho chế độ bóc lột vô nhân
đạo đối với quần chúng bị áp bức, muốn kéo đài sự tồn tại của
chế độ chiếm hữu nô lệ,
2 Tư tưởng chính trị thời kỳ phong kiến
2.1 Giai doan hình thành
Tư tưởng chính trị Thiên Chúa giáo sơ khai đã thể hiện sự
căm hờn lũ "hoàng đế - thú vật”, bọn quan chức, bọn nhà giàu, thương nhân Ph.Ángchen đã nhận xét: "Thiên Chúa giáo xuất hiện như một phong trào của quần chúng bị áp bức, ban đầu nó
như là tôn giáo của người nô lệ và nô lệ được trả tự do, của
người nghèo khổ và các dân tộc không có quyền, bị chính phục
hoặc ở rải rác khắp La Mất”
Nhưng do sự phát triển của kinh tế - xã hội, các nhà thờ
Thiên Chúa giáo đã mất dần tính chất tiến bộ buổi đầu, nó đã trở
thành vũ khí tư tưởng của các chúa phong kiến Giới cẩm quyền
giáo hội đã tuyên bố sự bất công xã hội, chế độ nô lệ và pháp quyền của đế chế La Mã là do "ý Chúa” "Mọi linh hồn đều phải
tuân thủ chính quyền tối cao, bởi vì không có chính quyền nào -
là không do Chúa sinh ra'
Tuy có sự đấu tranh giữa các Chúa phong kiến với nhà thờ
Thiên Chúa giáo trong việc nam giữ chính quyên, song chúng
đều có một điểm chung là chống lại phong trào của quần chúng
bị áp bức, chống nông nô và “tà đạo”
fÐ'C Mác Ph Anggtten Toàn a Tap 22 NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 20* Tự tưởng chính trị của Tômát Đacanh (1225 - 1274)
Tômát Đacanh là nhà tư tưởng lớn của Thiên Chúa giáo,
người đã ra sức thần thánh hoá thể chế đẳng cấp phong kiến
Tômát Đacanh chia ra bai loại luật:
Thần luật, chỉ những con đường “dat tới su hoan lạc ở chốn
Nhân luật, quy định trật tự đời sống xã hội
Nhà thờ là thống soái và các Chúa phong kiến phải phục
tùng nhà thờ Tính hợp pháp về nguồn gốc và việc sử dụng quyền lực của một quân vương đều thuộc về nhà thờ Ông cũng coi chế độ quân chủ là hình thức cao nhất, còn dân chủ chỉ là sự biến dạng của chế độ độc tài, chuyên chế
2.2 Tư tưởng chính trị thời kỳ chế độ phong kiến tan rã
Sự tan rã của chế độ phon ø kiến, đồng thời là quá trình hình thành quaa hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Các phong trào cải cách tôn giáo, chống phong Kiến và chống Thiên Chúa giáo đã lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia Từ đó đã nảy sinh các tư tưởng chính trị khác nhau Điển
hình nhất là tư tưởng chinh tri cla Mactin Lute (1483 - 1546) va
cha Giang Canvanh (1509 - 1564) Phong trào cái cách tôn giáo
cho thấy thắng lợi vẻ vang của hệ tư tưởng từ sản mới, trong đó
những nhu cầu chính trị - xã hội của giai cấp tư sản đã nảy sinh
và phát triển
« Tự tưởng chính trị của Giảng Bôden (1530 - 1596)
Bôđen là người sáng lập tư tưởng chủ quyền nhà nước
Theo ông, đó là một chính quyển nha nước không bi chia cat,
thống nhất, bất biến và được xây dựng trên cơ sở pháp luật Chủ
quyền là đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước, với nó, quyền lực
bất biến, không bị ràng buộc bởi bất cứ hạn chế hay đạo luật nào Đặc trưng của nhà nước là quyển định thể chế và định luật
19
Trang 21pháp, không cần có sự đồng ý nào cả, quyền chiến tranh và hoà
bình, quyền xét xử ở cấp cao nhất Chủ quyền của nhà nước
không còn hoàn toàn chỉ là quyền lực của cá nhân người cầm
quyền, bởi vì cả nền quân chủ và nên cộng hoà đều có chủ
quyền Xác định nguyên tắc pháp quyền của nhà nước là tư
tưởng tiến bộ nhằm đảm bảo phấp quyền và tự do cho sự phát
triển của chủ nghĩa rư bản, nó chống lại việc thiết lập trật tự
pháp luật cát cứ
-_ Tư tưởng chủ quyền của Bôđen phân biệt rỡ chủ quyền với
quyển điều hành (quyền lực Chính phủ) Ông chỉ ra rằng, việc
điều hành là do giới quý tộc, cũng có thể do tầng lớp khác, nó
có cả ở trong chế độ phong kiến quý tộc và chế độ dân chủ
Theo ông, sở hữu tư nhân và gia đình là thiêng liêng, là điều
cấm ky vi phạm, với ná, chủ quyền "không hạn chế" của nhà
nước cũng không có hiệu lực Nhà nước là nơi các than dân có |
tự do cá nhân và sở hữu tư nhân, thần dân tuân thủ phấp luật của : nhà nước, còn nhà nước phải tuân thủ các thần luật và dân luật | Mặc dầu có những tư tưởng chính trị tiến bộ, song do ủng hộ
chế độ chuyên chế, ông không chỉ nhằm chống lại hệ tư tưởng |
chính trị phong kiến, mà còn chống lại nền dan cht
° 7w tưởng chính trị của rào ÌưH chủ nghĩa xã hội không
Đồng thời với những tư tưởng chính trị biện hộ cho chủ
nghĩa tư bản mới ra đời, đã xuất hiện những học thuyết chỉnh trị
bác bỏ chế độ đó Những nhà tiến bộ thời kỳ đó như Tômái
Morơ, Tômado Campanela đã sớm nhận thấy những bất công và
su tan bao ngay từ thời tích luỹ tư bản nguyên thuỷ Họ đứng về
phía quần chúng lao động và hướng tư tưởng vào việc cải tổ cơ
bản xã hội đó và vẽ ra viễn cảnh một xã hội lý tưởng, không còn
tư hữu, áp bức bóc lột Morơ và Carmmpanela đã hướng tới việc tổ
chức một nhà nước dân chủ, nơi có sự tham gia đông đảo của
quần chúng lao động vào việc quản lý các công việc nhà nước
Trang 22Những vấn đề về quyền dân chủ thực sự, quyền tự do cá nhân, việc giải phóng khỏi sự bóc lột là nét đặc trưng của các cương lĩnh chính trị của các hà lý luận lớn đầu tiên của chủ nghĩa xã hội không tưởng
Tômát Morơợ và Tômado Campanela đã vượt cao hơn chủ nghĩa nhân văn đương thời, bắt đầu xem xét nhà nước bằng đôi mắt người trần và rút ra những quy luật tự nhiên của nhà nước từ
lý trí và kinh nghiệm chứ không phải từ khoa thần học”),
3 Tư tưởng chính trị thời kỳ cách mạng tư sản
Ở nước Pháp vào đầu thế kỉ XVII, phương thức sẵn xuất tư
bản chủ nghĩa đã phát triển nhanh chóng, mâu thuẫn sâu sắc với
xiéng xích phong kiến trói buộc sự tiến triển của nó, đặc biệt là mâu thuẫn giữa liên minh các tầng lớp khác nhau trong đẳng cấp thứ ba (đại, trung và tiểu trong giai cấp tư sản, nông dân,
công nhân, đân nghèo thành thị), đã tạo ra bầu không khí cách mạng sôi động nhất thế kỉ
Khai sáng là một trong những trào lưu chính trị của hệ tư tưởng chính trị Pháp thế kỉ XVII, nó thể hiện quyền lợi khác
nhau trong đẳng cấp thứ ba Tuy có những sự khác biệt, song tư
tưởng chỉnh trị của họ đều có chung một chí hướng là đấu tranh chống chế độ phong kiến, chống hệ tư tưởng phong kiến và đồng thời bảo vệ sở hữu tư sản Về thực chất, nó là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản Tự do, bình đẳng sở hữu tư nhân đối với họ
là nền tảng của cuộc sống hạnh phúc
*® Nhà tư tưởng chính fTỊ Vĩ đại Phrdngxoa Mari Arué V onte (1694 - 7778) là người tiên phong trong những nhà khai sáng Ông là tác giả của những tư tưởng chính trị tiến bộ, chống lại chế độ chuyên chế, đặc quyền, đẳng cấp, ngu muội, tối tăm của nhà thờ phong kiến; đấu tranh cho nền pháp luật tự sản, cho sự
t1? C Mác và Ph.Ängghen: Tuyển ráp Tập 4 NXB Sự thật, Hà Nội, 1978 tr 153
21
Trang 23
bình đẳng của mọi người trước pháp luật, cho các quyển và phẩm giá con người của tất cả các thành viên trong xã hội Ông đấu tranh chống các cuộc chiến tranh phi nghĩa, cướp bóc, coi
nó "kinh khủng hơn bệnh dịch hạch hay bệnh điên dai" Cac nhà
- cách mạng Pháp coi ông là người chuẩn bị cho nhân dân đi tới
tự đo, là người xây dựng nền tảng của học thuyết chính trị mới
* Nhà tư tưởng chính trị xuất sắc Saclơ Môngtexkiơ (1689 - 1775) đã cùng với Vonte mở đầu phong trào giải phóng tư tưởng
vị đại, là một trong những nhà khai sáng đặt nền móng cho tư tưởng chính trị về một nhà nước pháp quyền, làm cơ sở cho bản
“Tuyen ngôn nhân quyển và dân quyên” 1789 và đã được sử dựng trong việc soạn thảo Hiến pháp 1791 Ông cho rằng, có ba
hình thức nhà nước: cộng hoà, dân chủ và chuyên chế, Ông
phản đối chế độ chuyên chế, vì đó là hình thức cảm quyền độc đoán Ông tán thành chế độ quân chủ lập hiến và có thiện cảm với chế độ cộng hoà Ông là người đầu tiên nêu ra tư tưởng: tự
do chính trị không phải là để làm điều mong muốn mà là làm
điều pháp luật cho phép “Tự đo là quyền được làm tất cả những
gì pháp luật cho phép ép” Tư tưởng tự do chính trịc ủa Môngtexkiơ gan liền với tư tưởng tự do công dân, tuân thủ nghiêm minh
pháp luật Con đường : để đạt tới tự đo chính trị là việc phân chia
quyền lực nhà nước ra thành lập pháp, hãnh pháp và tư pháp, chúng hạn chế lẫn nhau, cân bằng cho nhau và tập trung thành
các cơ quan khác nhau
“ Các nhà triết học duy vat Phap: Deni Didoro (1713 - 1784), Pén Hdngri Gonbdch (1723 - 1789), Clot Andrian
Genvetxi (1715 -1771) 44 cé những cống hiến xuất sắc vào sự
phát triển tư tưởng chính trị thời kỳ cách mạng tư sản Họ kịch liệt phê phán chế độ phong kiến chuyên quyền, chế độ ngu dân của nhà thờ; phê phán sự bất công tàn bạo trong chế độ xã hội
đo quan hệ sản xuất đựa trên chế độ tư hữu phong kiến sinh ra;
có người còn nói đến những tư tưởng cộng sản với day thiện cảm
22
Trang 24Hệ tư tưởng chính trị của các nhà duy vật Pháp đã trang bị:
tư tưởng cho Cách mạng Tư sản Pháp (1789 - 1794) Tư tưởng
của họ là cơ sở lý luận cho các biện pháp cách mạng nhằm thiết lập chế độ tự đo dân chủ tư sản, khẳng định chế độ chính trị và pháp quyền tư sản Các văn bản cách mạng và trong "Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyển" đã tái hiện nhiều tư tưởng của
quyền nhân dân, là quan tâm đến người dân bình thường bị chế
độ chuyên chế đè nén, áp bức nhiều nhất Tác phẩm "Khế ước
xã hội, hay những nguyên tắc của quyền chính trị" của ông thể
hiện rõ sự căm thù chế độ chuyên chế và bè lũ áp bức bóc lột nhân dân,
Về quyền lực nhà nước, Rútxô đã có sự phân biệt rạch ròi giữa ba quyển:
Quyền lập pháp, là ý chí của tổ chức chính trị - của nhân
dan
Quyển hành pháp là sức mạnh của nó
Do đó, nhân dân nắm quyền lập pháp, có quyền quyết định
hình thức của Chính phủ Hình thức đó còn phụ thuộc vào quy
Trang 25lý trong "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" năm 1789
Nó còn là ngọn cờ cho những lực lượng đưa cách mạng Pháp tới đỉnh cao là nên chuyên chính Giacôbanh Chính vì thế, trên thực
tế, “tộc cách mạng tư sản Pháp đính cao ở thế kỉ XVTHII vẫn chưa vượt qua được tư tưởng của ông Rút xô đã trở thành người tiên đoán những tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù ông không phải là nhà xã hội chủ nghĩa
4 Tư tưởng chính (trị của ba nhà xã hội chủ nghĩa không trưởng vĩ đại ở nửa đầu thế kỷ XIX
* Xanh Ximông (1760 - 1823) đã nhìn nhận sự phát triển của lịch sử như là các quy luật khách quan, tuần tự và mang ý nghĩa tiến bộ từ thấp đến cao Ông cho rằng sự thay đổi cơ sở xã hội, tức là trong các quan hệ sở hữu, là nguyên nhân thực sự của cuộc Cách mạng Tư sản Pháp Ông đã chia xã hội thành ba tầng lớp: các nhà khoa học, chủ sở hữu và người vô sở hữu Ông khám phá ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp có của và giai cấp không có của Theo Ph Angghen, khám phá đó vào năm
1802 là "mội khám phá thiên tài” Ông loại bộ đấu tranh cách
mạng và cho rằng quyền lực chính trị tương lai phụ thuộc các nhiệm vụ zản xuất vì quyền lợi người lao động Chính trị được ông xác định là "khoa học về sản xuất, tức là khoa học nhằm mục tiêu thiết lập một trật tự vật dụng sao cho mọi loại hình sản
xuất đều diễn ra thuận lợi” Càng về sau, ông càng quan tâm đến
Trang 28Xã hội phong kiến, vào thời kỳ mới ra đời đã xuất hiện tư
tưởng chính trị Thiên Chúa giáo sơ khai, thể hiện sự căm thù 1a
"hoàng đế - thú vật" Tuy có sự đấu tranh giữa nhà thờ và chúa phong kiến, song về cơ bản, nhất là trong thời kỳ sau này, cả hai
đều có sự giống nhau là chống lại quần chúng bị áp bức, chống
nông nô Thời kỳ chế độ phong kiến tan rã, nhà nước phong kiến ngày càng bộc lộ sự tàn bạo của nó, nhưng cũng vì thế mà
quần chúng càng nổi dậy mạnh mẽ chống lại chế độ phong kiến
chuyên chế Tuy nhiên, nông nô vẫn không đề ra được những tư
tưởng chính trị độc lập Thể hiện ước mơ về một xã hội tốt đẹp
hơn của quần chúng cần lao là tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như Tômát Morơ và Tômado Campanela Cuộc cách mạng tư sản đã đưa tới những thành tựu vĩ đại „ chưa từng có trong lịch sử Đánh đổ nhà nước phong kiến chuyên chế, các nhà tư tưởng vi đại như Vonte, Môngtexkiơ, Rútxô đã xây dựng học thuyết chính trị về một nhà nước dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền, xác định quyền lực nhà nước,
phân lập giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhưng chủ nghĩa tư bản ra đời, cùng với những thành tựu v1 đại về khoa học và công nghệ, về quản lý là những bất công
xã hội, là sự ấp bức một cách tinh vi và bóc lột dã man những
người vô sản Chủ nghĩa tư bản đã ra đời với máu và nước mắt của những người cần lao Trong bối cảnh ấy, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đã ra đời với những tên tuổi vĩ đại như: Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen Tư tưởng chính trị của họ đã lên ấn xã hội tư bản bất công, tàn bạo, đồng thời để xuất một xã hội tương lai tốt đẹp, công bằng và nhân đạo Song, tư tưởng của
họ là không tướng bởi nó không chỉ ra được con đường, phương hướng, lực lượng và những phương pháp đấu tranh để lật đồ xã hội tư bản
Tư tưởng chính trị Phương Tây trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển, sau này đã trở thành một trong những nguồn hình thành nên tư tưởng chính trị của C.Mác và Ph.Ángghen
Trang 29_ If SƠ LUGC LICH SU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
Tư tưởng chính trị ở Phương Đông cổ đại là hệ tư tưởng đầu tiên của xã hội cố giai cấp; nó xuất hiện-ở khu vực có sự phân chia giai cấp sớm nhất trong lịch sử nhân loại Nhưng, do đặc
điểm của các nhà nước Phương Đông cổ đại được xây dựng trên
cơ sở kinh tế đặc thù, các công xã nông thôn tồn tại lâu dài và
sở hữu tư bản ra đời quá muộn nên càng về sau, những tư tưởng
chính trị loé sáng buổi bình minh của xã hội giai cấp không
được bừng sáng lan toả ra thế giới
Sự trì trệ của kinh tế - xã hội quyết định sự tồn tại sớm và lâu đài của các chế độ chuyên chế Phương Đông, Đúng như
Ph.Angghen đã nhận xét: Các công xã cổ, ở nơi nào chúng vẫn
tiếp tục tồn tại, thì từ hàng ngàn năm nay đều cấu thành cái cơ
sở của hình thức nhà nước thô sơ nhất, tức là chế độ chuyên chế
Phương Đông Có thể kể ra các nhà nước Phương Đông cổ đại
đã hình thành sớm và đã có những tư tưởng chính trị đáng chú ý như Ai Cập, Babilon, Ấn Độ và Trung Quốc
Dưới đây chỉ trình bày khái quái lịch sử một số tư tưởng chính trị ở Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng lớn đến nhiều quốc
gia
1 Tư tưởng chính trị của Không Tử (Đức trị)
Nhà tư tưởng chính trị vĩ đại của nước Trung Hoa cổ đại là Khổng Tử Khổng Tử sinh vào cuối đời Xuân Thu (551 - 479
TCN) Ông là người kế thừa, biên soạn lại một số sách trước đó,
_ chủ yếu là văn hoá thời Chu Ông là người xuất thân từ giới quý tộc, một quan chức nhỏ, gần gũi quần chúng Thời đại ông, nước Trung Hoa còn ở trình độ phát triển kinh tế thấp (vào cuối
thời đại của ông mới bắt đầu có sắt, bước vào thời đại đồ sắt)
Tình trạng phân tán cát cứ là phổ biến, chưa có điều kiện để
thống nhất đất nước như thời Tần (thế ký thứ II TCN, gần 3 thế
Trang 30kỉ sau.khi Khổng Tử qua đời) Vì vậy, Khổng Tir phai.tén quan,
chấp nhận sự truyền tử, ông chỉ cố gắng tìm cách cải thiện nó,
.không thể làm khác
» Tư tưởng chính trị của Khổng Tử là lấy đạo nhân làm gốc Ông cho rằng, xã hội phải lấy hiếu đễ, lễ nhạc làm cơ bản cho
sự giáo hoá; lấy chính trị làm cái công dụng đạo nhân được thi
thố ở đời Nhiều lần ông khẳng định: việc chính trị cốt ở đạo
nhân “Cái nhanh thành hiệu của đạo người là việc chính trị, cái
nhanh thành của đạo đất là sự mọc cây cối, ấy việc chính trị
cũng như cây lau, cây sậy vậy Cho nên, iàm chính trị cốt ở dùng người hiển; sửa mình mà dùng người hiển; lấy đạo mà sửa
mình, lấy nhân mà sửa đạo” Đạo nhân, theo Khổng Tử là cái
gốc của việc chính trị Có sửa được mình cho ngay chính, thì
những kẻ hiền tài mới theo mà giúp mình, có người hiền tài giúp
mình thì việc chính trị rất chóng có công hiệu, khác nào đất tốt thì cây cối mọc lên nhanh chóng vậy
Người làm chính trị, cai quản quốc gia, các bậc thánh hiền cần sửa mình cho xứng bậc nhân để đem cái đạo của mình mà
thi hành ra khắp thiên hạ Chính trị của Khổng Tử là hành động, chứ không phải là ngồi yên để ngắm cảnh đời Việc chính trị là quan trọng nhất và bởi vì nó quan hệ đến sự hay dỡ của nhân
quần, sự yên loạn của thiên hạ Ông coi "với đạo người thì chính trị là lớn”; đo vây, người có tài có đức phải đem cái hay, cái giỏi của mình ra trị nước yên dân Việc yên loạn trong xã hội, theo ông là bởi người làm chính trị - "người hành chính” - chứ không
phải ở chính thể, vì rằng chính thể dù có hay đến đâu mà "người
hành chính" không ra gì thì cũng hoá dở Việc chính trị hay dỡ
là do "người hành chính", nên người cầm quyền hành chính cũng phải kính cần, lo sửa mình cho ngay chính để dùng người
hiển tài mà làm việc nước, việc dân Tư tưởng chính trị nói trên
của Không Tử thể hiện ở câu “Chính danh trị, định đình phận,
tôn quân quyền" Ông truyền cho học trò, các môn sinh của ông
29
Trang 31cho toàn thể cộng đồng Cái quyền ấy, ông gọi là quân quyền,
tức là chủ quyền của một nước Toàn bộ học thuyết của Nho giáo (đạo Khổng) đều khẳng định: quân quyền phải để một người giữ cho rõ cái mối thống nhất Người giữ quân quyền gọi
là đế hay vương (ta thường gọi là vua) Vua phải lo việc trị nước, tức là lo sự sinh hoạt, sự đạy dỗ và mở mang cho dân Cố vua thì phải có quan Quan là những người có tài, có đức ở trong dân được lựa chọn để giúp vua làm mọi việc ích lợi chung cho
cả nước Một nước thịnh trị, thái bình hay rối loạn và ở vua giỏi hay dở Chính trị của Khổng Tử (Nho giáo nói chung) lấy cái nghĩa quân thần làm trọng Ở trong nhà thì con cái phải có hiếu với cha mẹ, ở trong nước thì thần dân phải trung quân Trung quân, theo Khổng Tử là trung với các quân quyền trong nước, miễn là quân quyền không trái với lòng dân Quân quyền là do mệnh trời, nhưng không phải là "trời thương đân, dân muốn điều gì trời cũng theo"
* Người quân tử (cầm quyền chính trị) phải biết làm điều nhân nghĩa, đạo đức thì tự nhiên thiên hạ theo về mình mà bất chước Trong thiên hạ, chỉ có số ít là xứng quân tử; còn phần đông là tiểu nhân, trí tuệ kém cỏi, đạo đức bạc nhược, tự mình không thể hiểu biết được cái lẽ cao xa Vậy nên phải có người quân tử nắm quyền hành chính (số ít), còn số đông phải phục tùng Người quân tử muốn thi hành chính sự thì phải có nhân
nghĩa đạo đức, hễ làm nhân đức thì cũng giống như sao Bắc
Thần đứng một chỗ mà các sao chầu về cả
Chính trị vững bến là nơi người cảm quyên có thịnh đức
Khổng Tử cho rằng, làm chính trị có ba điều hê trọng là:
- Làm cho dân hiểu;
Trang 32- Lam cho dan giàu;
- Dạy cho dân biết lễ nghĩa
Tri dan ma khong day dân thì dân biết thế nào là cương
thường, đạo lý để giữ trật tự trong xã hội Nhưng trước khi đạy
dân, phải làm cho dân đủ ăn, đủ mặc, giàu có thì mới học được
lễ nghĩa "Túc thực, túc bình, dan tin chi hy” (đủ ăn, đủ bình,
dân tin đó là niểm vui) Ống còn nói, trong những điều ấy thì
việc dân tin là quan trọng hơn cả, dân đã tin thì thế lực mạnh,
làm việc gì cũng được Người cầm quyền chính trị phải lấy nhân
nghĩa mà trị dân thi dân mới tin phục
Xem vậy đã thấy tư tưởng chính trị của Khổng Tử là lấy
đạo đức làm trọng, là cơ bản và quyết định Vì vậy, người ta cho
rằng học thuyết của ông là chính đanh hay đức trị
2 Tư tưởng chính trị của Hàn Phi và phái Pháp gia
(Pháp trị)
Nhà tư tưởng chính trị nổi tiếng của phái Pháp gia thời kỳ
này là Hàn Phi Ông cho rằng Khổng Tử và Mặc Tử (người kế
tục học thuyết của Khổng Tử) Ca ngợi vua Nghiêu, vua Thuan,
rồi phát triển thành tư tưởng chính trị của mình Nhưng nay xét
đao của Nghiêu, Thuấn đã có từ 3000 năm trước thì có ai đầm
chắc được không? Lấy gì để chứng nghiệm rõ hư thực?
Ông ở vào cái thời nước Trung Hoa cực loạn, các thế lực
phong kiến cát cứ tranh giành nhau đất đai, quyền lợi Người
đời chỉ biết xu danh, trục lợi, miệng nói những điều nhân nghĩa,
mà việc làm thì rất tàn bạo
* Tư tưởng chính trị của ông có phần đáng lưu ý là thể cách
của pháp luật Ông viết: "Pháp là phép tác hiệu lệnh rõ ra ở chỗ
công, hình phạt là dể cho lòng đân quyết chắc mà theo Ai giữ
phép cẩn thận thì thưởng, trái lệnh thì phạt" Pháp là biên rõ ra
Ở trong sách vở, bày ra ở chỗ công, và tuyên bố ra ở chỗ trăm
Trang 33
Hàn Phi theo chủ nghĩa cực đoan về đường hình pháp Cho
nên, những điều gì không can hệ đến hình pháp, hay là những điều cao xa không có ích lợi ích ngay là ông muốn bỏ hết Ông chủ trương bãi bỏ cái dân kính trên mà chỉ cần sợ phép, chăm
nuôi bọn du hiệp và kiếm sĩ, ai chém kẻ cừu địch thì được
thưởng, ai lấy được thành thì ban cho rước lộc; làm cho bên áo
giáp, mài sắc lưỡi gươm để phòng bị lúc nguy nan; dùng nghề làm ruộng để làm giàu cho đất nước, cậy ở sĩ tốt để chống quân
giặc Ông tỏ ra kbinh dân, chỉ dùng dân như công cụ, không cần
phải nói cho dân những điều cao xa, lễ nghĩa, chỉ cần cho họ đủ
sống và tuân thủ phép nước
* Tư tưởng chính trị của Hàn Phi và phái Pháp gia (Pháp trị)
nhằm bảo vệ chế độ chuyên chế tàn bạo, lấy pháp luật dé cai tri, coi pháp luật là cứu cánh, là phương tiện duy nhất để bảo vệ
quyền và lợi của nhà vua, thực thi là một chính sách hà khốc, phi nhân nghĩa, phi đạo lý, coi quần chúng - những kẻ bị trị - là những người không có quyền hành gì, chỉ có nghĩa vụ tuyệt đối phục tùng kẻ thống trị Ý chí đó hoàn toàn đối lập với ý chí của nhân dan lao động Sự kết thúc đầy bi thâm và rất ngắn ngủi của triểu đại nhà Tần là minh chứng hùng hồn về sự sai lầm của tư tưởng pháp trị
Tóm lại, tư tưởng chính trị Phương Đông cổ đại, tiêu biểu là
tư tưởng của Khổng giáo và của phái Pháp gia Không giáo đã
tự kết luận rằng, việc chính trị cốt ở nhân ái và kính cần Phải
lấy lồng nhân ái mà đối với dân, phải lấy kính cẩn mà giữ mình Nhưng không một nhà cẩm quyền nào cùng thời với Không Tử
thực hiện học thuyết của ông, bởi vì học thuyết đó không được xây dựng trên một cơ sở kinh tế - xã hội hiện thực Do vay, Chu
tịch Hồ Chí Minh đã khen học thuyết của Không Tử dạy người
ta đạo đức, song thứ đạo đức của ông là thứ đạo đức "lộn “đầu xuống đất"
Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia là nhằm bảo vệ chế độ
Trang 34chuyên chế tàn bạo, lấy pháp luật hà khắc để cai trị, co: khinh nhân dân, coi nhân dân chỉ là những kẻ biết phục tùng, vâng lệnh Đó là một thứ pháp luật phi nhân và tàn bao
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Phương Đông không thể bỏ qua lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam Rất tiếc là việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam còn đang hoà lẫn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Cần tách ra nghiên cứu sâu hơn"
dé góp phần xây dựng ngành chính trị học ở Việt Nam
Ở đây chỉ nêu một số nội dụng cần chú ý khi nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam
- Tư tưởng đoàn kết dân tộc - tạo dựng sức mạnh dân tộc;
- Tư tưởng yêu nước, ý chí xây dựng nền độc lập dân tộc đã trở thành lối sống Việt Nam;
- Tư tưởng tự tin, ý chí bất khuất, chiến đấu bền bỉ, ngoan
cường, với trí tuệ và năng lực tổ chức cao;
- Tư tưởng thân dân, khoan dân, yên dân, dựa vào dân, v.v
II TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN VÀ HỒ CHÍ MINH
Dưới đây chỉ trình bày một số luận điểm cơ bản trong hệ thống những tư tưởng chính trị đã xuất hiện trong lịch sử
1 Tư tưởng chính trị Mác - Lênin
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác đánh dấu một bước chuyền biến cách mạng trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại Cuộc cách mạng trong lĩnh vực chính trị học và kính tế
chính trị học do C.Mác và Ph.Ängghen thực hiện gắn liền hết
sức chặt chế với học thuyết mới về chính trị xã hội Nó cấu thành một hệ thống lý luận về cách mạng xã hội và xây dựng một xã hội mới cao hơn xã hội tư bản - xã hội cộng sản chủ
33
Trang 35
nghĩa Ph.Ängghen đã nói rõ tư tưởng chính trị của học thuyết
của các ông như sau:
"Chủ nghĩa cộng sản, vì nó là một học thuyết nên nó là sự
biểu hiện về mặt lý luận lập trường của giai cấp vô sản trong
cuộc đấu tranh đó và là sự khái quát về mặt lý luận những điều
- kiện giải phóng giai cấp vô sản”
Tư tưởng chính trị của giai cấp vô sản là mội hệ thống lý
luận và những nguyên tắc cơ bản của chiến lược và sách lược
của giai cấp vô sản và của đảng của nó nhằm lật đồ xã hội tư
bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ
nghĩa trên phạm vi toàn thế giới
2 Nội dung cơ bản của chính trị học Mác - Lênin
*.Tu tưởng chính trị của C.Mác và Ph.Ängghen được xây
dựng trên nên tắng một thế giới quan duy vật biện chứng về lịch
sử xã hội
- Sư ra đời của lịch sử tư tưởng mácxít là một bước tiến vượt
bậc, một thành quả vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại
Lân đầu tiên các ông đã chỉ ra quy luật chung, phổ biến của vận
động lịch sử ở tất cả mọi thời đại là sự phù hợp giữa quan hệ sả-›
xuất với tính chất và trình độ:phát triển của sức sản xuất xã hội,
là sự quyết định của lực lượng sản xuất Từ đó, lần đầu tiên
trong lịch sử, loài người đạt tới một trình độ nhận thức rằng: xét
_ đến cùng, kinh tế là nhân tố quan trọng nhất, có vai irò quyết
định sự vận động và tiến bộ lịch sử Đó là căn nguyên cắt nghĩa
một cách khách quan,:chân thực bản chất lịch sử các chế độ xã
hội, các kiểu nhà :nước Ở đây cần chú ý là C.Mác và
Ph.Ăngghen coi kinh tế, xết cho cùng, là nhân tố quyết định,
chứ không tuyệt đối hoá nhân tố kinh tế, không coi nhân tố kinh
-#ể là cái duy:nhất:đồng vai trò quyết định Từ cách nhìn duy vật
và biện chứng về lịch sử xã hội, các ông đã chỉ ra cái lôgIc của
„8 phát triển là một quá trình khách quan, đó là một quá trình
eye TT TT xYMP=——- MỤ TY HH nh Tem ee
Trang 36lịch sử - tự nhiên Đây là một phương pháp để xem xét bản chất
của quyền lực nhà nước, của các chế độ xã hội một cách trung thực, khách quan Từ đó, học thuyết về hình thái kinh tế - xã
hội, thực chất là học thuyết vẻ sự phát triển có tính biện chứng của lịch sử, trong đó tư tưởng chỉnh trị là một bộ phận quan
trọng nhất của kiến trúc thượng tầng được xác lập trên một cơ
SỞ hạ tầng tương ứng
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cho phép nhìn nhận xã hội đương thời - xã hội tư bản thay thế xã hội phong kiến - là tất
yếu, là hợp quy luật Cũng dựa trên học thuyết hình thái kinh tế
- xã hội cho phép ởi sâu tìm hiểu, phân tích, mổ xẻ, chỉ ra những
mâu thuẫn nội tại của chính phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa là không thể điều hoà Tư tưởng chính trị được rút ra ở đây là sự sụp đổ của xã hội tư bản là tất yếu khách quan, không
thể cưỡng được Sự thay thế nó bằng xã hội cộng sản chủ nghĩa, một cuộc cách mạng xã hội ngoài ý muốn của các giai cấp, nó
có nguồn gốc từ kinh tế - xä hội, chứ không phải do những ý muốn thành tâm, tốt đẹp của các nhà tư tưởng Do đó, kết luận chính trị được rút ra là: Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự
thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản, cả bai đều là tất yếu như nhau
» Tư tưởng chính trị của C.Mác và Ph.Ängghen về cách
mang xã hội chủ nghĩa và xây dựng CNXH trên nền tảng một học thuyết kinh tế cách mạng triệt để và khơa học sâu sắc, với việc hình thành học thuyết về giá trị thặng đư, tìm ra mâu thuẫn
cơ bản không thể điển hoà giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản C.Mác và Ph.Ángghen đã đồng thời phát hiện ra vai trò lịch
sử toàn thế giới của g:ai cấp vô sản, người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản Đó là một phát kiến khoa học vĩ đại, làm cho các
tư tưởng chính trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng được đặt trên miếng đất hiện thực, nó trở thành một khoa học cách mạng, khoa học về sự giải phóng một cách triệt để bằng cách xoá bỏ từ nguồn gốc của chế độ người bóc lột và xoá bỏ những can
35
Trang 37nguyên, những điều kiện làm tát sinh mọt hình thức và chế độ
* Tư tưởng chính trị cốt lõi của toàn bộ học thuyết Mác là
đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn tới đập tan nhà nước tư sản bằng
một cuộc cách mạng xã hội thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa
C.Mác và Ph.Ãngghen đã chỉ ra tính tất yếu khách quan của việc thay thế xã hội tư bản bằng một hình thái kinh tế - xã
hội cao hơn, đó là xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa Nhưng sự thay thế đó không thể diễn ra một cách thụ
động, một sự đương nhiên mà phải thông qua hoạt động tự giác, sáng tạo của con người, tức là bằng một cuộc cách mạng triệt để
và sâu sắc nhất chưa hề có tiền lệ trong lịch sử
“Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng san”, C.Mac và Ph.Ángghen đã viết: "Mục đích trước mát của những người
cộng sản cũng là mục đích trước mắt của các đảng vô sản khác:
tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đồ sự thống tri của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyên"©),
Các ông che rằng: "Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai đoạn vô sản tự xây đựng thành giai cấp thống trị, là giai đoạn giành lấy đân chủ"?), |
Sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản (tức chuyên chính v6 san) theo các ông là nhằm:
- Dùng sự thống trị của mình mà từng bước đoạt lấy toàn bộ
tư bản vào tay mình
- Quốc hữu hoá (tập trung tất cả công cụ sản xuất vào trøng
tay nhà nước, tức là trong giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trỊ)
0® C.Mác và Ph.Ängghen: Tuyến rập, Tập 1 NXB Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 558
@ Sad, tr 567 - 569,
Trang 38- Phát triển nên kinh tế (“tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên")
- Xóa bỏ nạn người bóc lột người, xoá bỏ nạn áp bức dân
tộc
- Xây dựng quan hệ xã hội mới tốt đẹp, tự do và phát triển
(“xuất hiện một liên hợp, trong đó có sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người")
Ngay từ khi chủ nghĩa Mác mới xuất hiện, các nhà sáng lập
ra nó đã tuyên bố: "Chính nhiệm vụ của chúng ta là ở chỗ vạch
trần thế giới cũ và thực hiện một công tác tích cực để xây dựng thế giới mới" Nhiều năm tháng trôi qua, tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác đã tỏ rõ sức sống mãnh liệt của nó Toàn thế giới
bị áp bức bóc lột đã được thức tỉnh bởi những tư tưởng chính trị của những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học Chính vì thế, chủ nghĩa Mác đã bị các thế lực phản động, các học giả tư bản căm ghét, lên án Mặc dầu vậy, cho tới nay, về cơ bản, nó
vẫn là vũ khí tư tưởng và kim chỉ nam chỉ đường cho giai cấp
công nhân và nhân loại cần lao đấu tranh cho độc lập, tự do và tiến bộ xã hội
3 V.I,Lênin, người kế tục, bảo vệ và phát triển các tư
tướng chính trị của chủ nghĩa Mác :
Sau khi C.Mac va Ph.Angghen qua đời, chủ nghĩa Mác bị
xuyến tạc, đả kích, xét lại từ nhiều phía Chủ nghĩa tư bản đã
phát triếr thành chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn giữa chủ
nghĩa tư bản ¿Z quốc với giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên thế giới ngày càng sâu sắc Phát triển tư tưởng "vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” của C.Mác, V.I.Lênin đã nêu ra khẩu
hiệu “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại"
“) C Mic va Ph.Angghen: Sdd, trang 567-560
37
Trang 39
Quốc tế Thứ II do V.ILêmn sáng lập đã có tác dụng hướng
dẫn, tổ chức Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế đấu tranh cho
độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã chặt được
một mắt xích quan trọng trong cái dây chuyển của chủ nghĩa đế
quốc Thực tiên cho thấy, V.L Lênin dựa trên phép biện chứng
duy vật của C.Mác, đã phân tích tình hình cụ thể của nước Nga
và thế giới lúc đó, đưa tới một luận điểm khác với kết luận của
C.Mác: Cách mạng xã hội chủ nghĩa không nhất thiết phải nổ ra
ở một nước hay một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển, mà có
thể nế ra ở một nước tư bản chủ nghĩa kém phát triển, nơi tập
trung các mâu thuẫn chủ yếu của thời đại và có một Đảng Cộng
sản chân chính cách mạng đủ sức lãnh đạo phong trào Cuộc
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã chứng mình hàng
loạt vấn đề trong học thuyết chính trị của chủ nghĩa Mác, đồng
thời bổ sung, phát triển nó, làm cho chủ nghĩa Mác từ một học
thuyết khoa học trở thành hiện thực
Nghệ thuật đấu tranh giai cấp, chiên lược và sách lược, tình
thế cách mạng, lực lượng và động lực cách mạng, thời cơ khởi
nghĩa giành chính quyền, đập tan nhà nước chuyên chế tư sản,
xây dựng chính quyền Xôviết- hình thức chuyên chính vô sản
đặc biệt mà cuộc Cách mạng Tháng Mười đã sáng tạo ra cho
thấy những cống hiến xuất sắc của V.LLênin xào việc phát
triển, sáng tạo chủ nghĩa Mắc trên tất cả mọi phương diện, đã
đưa những tư tưởng chỉnh trị lên một đỉnh cao mới |
Đương thời, V.[Lênin đã để xuất hàng loạt tư tưởng chính
trị cách mang và khoa học mà cho tới nay, cả việc thành công
và thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và nhiều nước trên thế giới đều là những minh chứng về sự đúng
đắn của những tư tưởng đó Chẳng hạn:
- Tư tưởng về xây đựng chính quyền Xôviết ~ hình thức dặc
Trang 40biệt của chuyên chính vô sản Đó là một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, nhà nước vì lợi ích của nhân dân lao:
động và Tổ quốc Liên Xô, dựa trên nền tảng vững chắc là công -
nông liên minh
- Tư tưởng về công nghiệp hoá, điện khí hoá Khẩu hiệu nổi tiếng: "Chủ nghĩa xã hội là chính quyền Xôviết cộng với điện khí hoá toàn quốc” đã làm biến đổi nước Nga, mà sau một thời gian đã dẫn tới sự ra đời của một siêu cường quốc - Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xôviết, có vai trò to lớn trên thế SIỚI
- Tư tưởng về cuộc cách mạng văn hoá, xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến của giai cấp công nhân và giữ vững bản sắc
đân lộc
- Tư tưởng xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công
nhân Đó là một Đảng có mục tiêu chính trị rõ ràng, nhất quán;
có lý luận cách mạng tiên tién dẫn đường; thống nhất về tư tưởng; trong sạch, chặt chẽ về tổ chức Đó là một đội tiên phong chính trị của giai cấp và dân tộc
- Tư tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội với "chính sách kinh
tế mới", sử dựng hình thức tư bản nhà nước để xây dựng chủ
- Tư tưởng làm trong sạch bộ máy Đẳng và chính quyền Xôviết, làm lành mạnh các quan hệ xã hội V.LLênin đặc biệt nêu ra tư tưởng chính trị về những kẻ thù mới của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là tệ quan liêu, tham nhũng và hốt lộ; nạn mù chữ và bệnh kiêu ngạo cộng sản Người đề xuất chủ trương thanh Đảng, tỉnh gọn bộ máy nhà nước, quy định chế độ học tập bắt buộc và tiêu chuẩn hoá cán bộ
- Tư tưởng về đoàn kết đân tộc và chính sách chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau
39