1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình chính trị học phát triển

284 35 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 8,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển thường được hiểu là phát triển xã hội theo nghĩa rộng, nghĩa là phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, Phát triển x

Trang 1

IỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

CHÍNH TRỊ HỌC

PHÁT TRIỂN

Trang 2

Giáo trình

CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

Trang 3

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TS Võ Thị Hoa (Chủ biên)

Giáo trình CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 4

TẬP THỂ TÁC GIẢ

1 TS Võ Thị Hoa (Chủ biên)

2 GS, TS Dương X uân Ngọc

3 GS, TS Nguyễn V ăn Huyên

4 PGS, TS Nguyễn V iết Thảo

5 TS Nguyễn Hồng Sơn

6 ThS Tràn Hoa Lê

7 T h s Lê Thị Lệ Huyền

8 ThS Đào Duy K hánh

Trang 5

LÒI GIỚI THIỆU

Chính trị học phát triển là khoa học về sự tương tác giữa chính trị và phát triển xã hội, khoa học về quy luật, tính quy luật

về sự phát triển xã hội dưới sự tác động của chính trị

Trên thế giới, với tư cách là khoa học chuyên biệt của khoa học chính trị, Chính trị học phát triển đã ra đời từ rất sớm, từ cuối thế kỷ XIX, song ở Việt Nam mới ra đời được vài thập niên, còn rất non trẻ Bởi vậy, việc nhận thức về Chính trị học phát triển, với tư cách là m ột khoa Ịiọc vẫn còn khá hạn chế Tuy nhiên, với sự nỗ lực của tập thể các nhà khoa học, cùng với quá trình đào tạo, nghiên cứu, từng bước đã nhận diện đủ sâu về môn khoa học vô cùng phức tạp, nhưng rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn này

Chính tộ vốn dĩ là vấn đề phức tạp, V.I.Lênin cũng thừa nhận là chính trị giống đại số hơn số học, bởi vậy, khoa học về sự tương tác giữa chính trị với phát triển xã hội, chính trị học phát triển cũng vô cùng phức tạp Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập chuyên ngành Chính trị học phát triển, Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí M inh đã biên soạn và cho ra mắt bạn đọc cuốn Giáo trình Chính trị học ph át triển do TS Võ Thị H oa làm chủ biên.

Cuốn sách đã được định hình với cấu trúc 6 chương theo trình tự từ việc làm rõ Chính trị học phát triển với tư cách là khoa học về sự phát triển xã hội trong mối quan hệ tương tác với chính

Trang 6

trị, có đối tượng, phương pháp nghiên cứu độc lập, có hệ thống phạm trù, trong đó phạm trù trung tâm là hệ thổng chính trị với phát triển; đồng thời, làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí M inh về triết lý phát triển xã hội; những lý thuyết về phát triển x ã hội và phát triển xã hội bền vững Đặc biệt, Giáo trình tập trung luận giải về sự tương tác của

hệ thống chính trị, với tư cách là nhân tố cơ bản của chính trị và những nhân tố quốc tế đối với phát triển xã hội Chương kết của Giáo trình tập trung luận giải định hướng chiến lược phát triển bền vững của V iệt Nam trên cơ sở Chương trình nghị sự 21 quốc

tể và định hướng chiến lược, Chương trình nghị sự 21 V iệt Nam,

có cập nhật quan điểm mới nhất của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Trong khuôn khổ của giáo trình ở bậc đại học, chúng tôi chưa có cơ hội trình bày đầy đủ sự tác động của chính trị đối với phát triển xã hội trên tất cả các phương diện: tư tưởng, khoa học chính trị; quan điểm, đường lối chính trị cũng như con người, văn h óa chính trị đối với phát triển xã hội bền vững Hơn nữa, đây là lần xuất bản đầu tiên, cuốn sách khó tránh khỏi khiếm khuyết, chúng tôi rất m ong nhận được những đóng góp quý báu của bạn đọc

X in chân thành cảm ơn!

TẬP THỂ TÁC GIẢ

Trang 7

Chương 1

DÕI TƯỤNG, chức năng và phưung pháp nghiên cứu

CỦA CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

I KHÁI NIỆM CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

1 Khái niệm phát triển và phát triển xã hội

Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là m ột quá trình biện chứng Xung lục nội tại của sự phát triển chính là mâu thuẫn của chính sự vật Tính biện chứng của sự phát triển còn do từ tích lũy về lượng dẫn tới sự nhảy vọt thay đổi về chất, là sự đứt đoạn của tính liên tục Sự phát triển của mọi sự vật không diễn ra theo đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc, là sự thống nhất giữa tiến lên và lặp lại, nên không quay lại điểm xuất phát mà quay trở lại trên m ột cơ sở mới cao hơn

Sự phát triển x ã hội là quá trình biện chứng, hết sức phong phú, phức tạp, trài qua những bước quanh co, cả những bước thụt lùi tương đôi

Phát triển, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, là phạm trù chỉ

ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trên thế giới Mọi sự vật, hiện tượng không tồn tại trong bất biến m à trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Phương thức phát triển lả chuyển hóa những thay đổi về lượng

Trang 8

thành những thay đổi về chất và ngược lại theo kiểu nhảy v ọ tí Trong đời sống xã hội, phát triển là quá trình cho phép con người hoàn thiện nhân cách của mình, tự trị ở chính mình, là quá trình giải phóng các cứ dân thoát khỏi sự lo âu về nhu cầu, về sự bóc lột và đẩy lùi sự áp bức về chính trị, kinh tế, xã hội Sự phát triển

là một cố gắng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Sự phát triển thực sự lấy con người làm trưng tâm

Theo quan niệm của Liên hợp quốc, p h á t triển là một quá

trình hướng tới việc thiểt lập một nền dân chủ ổn định cho phép không ngừng nâng cao điều kiện sống cho quần chúng nhân dân theo m ột cách thức mang tính nhân văn và công bằng Nội cách khác, p h á t triển là một quá trình tiến hóa đồng bộ năm thành tổ căn bản: tăng trưởng kinh tế, ổn định, công bằng, dân chủ và quyền con người.

Phát triển thường được hiểu là phát triển xã hội theo nghĩa rộng, nghĩa là phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, Phát triển xã hội hay nội hàm của khái niệm phát triển phải bao hàm trong đó những mặt, những quá trình, những kết quả về sự tương tác giữa con người và hoàn cảnh, trong đó con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh vừa là tác giả - viết nên lịch sử của chính mình; vừa là mục tiêu, vừa là động lực N ói cách khác, phát triển trong bất cứ hình thái xã hội nào đều phụ thuộc chủ yếu vào con người (con người nhận thức và con người hành động thực hiện nhu cầu), vào việc tổ chức xã hội (điều hành, quản lý, lãnh đạo) trong sản xuất

1 Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb.Từ điển Bách khoa, H.2003, t.3, tr.424.

Trang 9

và tái sàn xuât ra đòi sông xã hội Quá trình vận động và phát triển diễn ra dưới tác động của một hệ thống các quy luật phổ biến; tác động một cách khách quan trong cả tự nhiên, xã hội và

tư duy Nguồn gốc của sự vận động và phát triển của thế giới trước hết là do sự khác biệt tạo nên những m âu thuẫn bên trong

sự vật, hiện tượng; động lực thúc đẩy sự phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, tức là không có sự xuất hiện vả giải quyết mâu thuẫn thì không thể có sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới Từ khi xuất hiện đến nay, lịch sử vận động, hiến đổi của nhân loại chẳng qua chỉ là kết quả của những hành động của con người (cá nhân và cộng đồng) để theo đuổi mục đích (thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần) của mình Vì thế, hoàn toàn đúng khi nói rằng, con người là trung tâm của mọi

sự kiện lịch sử, mọi tiến trình phát triển xã hội

Từ những quan niệm và sự lập luận trên, dưới góc độ Chính

trị học có thể hiểu: Phát triển xã hội là một quá trĩnh trong đó xã

hội - nhà nước - công dân tạo ra các điều kiện kinh tế, chỉnh trị, văn hóa, xã hội để bảo đảm cho con người - trung tâm của sự phát triển, ngày càng tự do hom trong làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân vì những nhu cảu, lợi ich chỉnh đáng của mình.

Trong sự vận động, phát triển của xã hội loài người, khi lực lượng sản xuất phát triển đến m ột trình độ nhất định và cùng với lió diễn ra sự phân công lao động xã hội thì sự phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp, xuất hiện nhà nước là một tất yếu lịch sử Phương pháp tiếp cận Chính trị học cho thấy, con người - với tư cách là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, đã tồn tại như một thực

Trang 10

thể chính trị Và với tư cách đó, con người và xã hội đã, đang và sẽ tìm cách thọát khỏi sự trói buộc của tự nhiên, thoát khỏi tình trạng sản xuất thấp kém, thoát khỏi nghèo nàn, bệnh tật, thoát khỏi tình trạng bị áp bực, nô dịch (giai cấp, dân tộc), vươn tới tự do - làm chủ tự nhicn, Ịàm chủ xã hội, làm chủ bản thân Từ đó, có thể đồng tình với ý kiến cho rằng: con người là “động vật chính trị”, có sứ mệnh giành quỵền làm chủ xã hội; rằng mỗi bước tiến trên con đường văn minh cũng là một bước tiến của tự do.

; Với cách tiếp cận đó, chúng ta có thể chia sẻ với một số quan niệm về phát triển như sau:

- Khi đề cập đến nội dung tổng thể của phát triển, trong tác

phẩm Phản p h á t triển - cái giá p h ả i trả của chủ nghĩa tự do, Richard Bergeron trích Từ điển Larousse' “Phát triển là một quá

trình, là tổng hòa những hiện tượng được quan niệm như một chuỗi nhân quả kế tiếp” Ông không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh, nhưng đã (lẫn quan điểm của Francois Partant về các nhân

tố cấu thành sự phát triển Đó là: kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị và văn hóa, m ột sự Ịiên kết giữa kỹ thuật và kinh tế, tức là cái nền kinh té kỹ thuật trùm lên tất cả những cái còn lại Serge Latouche lại chỉ ra ba nhân tố: công nghiệp hóa, đô thị hóa và

“chủ nghĩa quốc gia dân tộc”, chữ sau đó chính là sự nổi bật lên của trật tự “nhà nước - dân tộc”, coi như là một hình thức đặc hữu của chính trị Còn Walter Rostow cũng chỉ ra bốn nhân tố cấu thành là: kinh tế, không gian xã hội/chính trị không gian nông thôn/đô thị vậ văn hóa/năng suất luận 1

1 Richard Bergeron: Phản phát triển - cải giá phải trà của chủ nghĩa tự do,

Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr.26.

Trang 11

- N ếu định nghĩa trên là hợp lý thì có thể nói: Thước đo sự phát triển là đa diện - hệ thống tiêu chí tổng hợp Trong đó xét về mặt định tính thì:

+ Cơ sở hay nền tảng của sự phát triển là những điều kiện, những khả năng để thỏa mãn nhu cầu vật chất - tức là sức mạnh kinh tế (của mỗi quốc gia, mỗi thời đại)

+ Sự phát triển không những được đo bằng mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất, cho dù đó là nhu cầu thiết yếu đầu tiên, mà còn phải đo lường và phản ánh thông qua sự tự do của con người trong các quan hệ xã hội, từ đó vươn tới thỏa mãn những nhu cầu văn họa - những nhu cầu hoàn toàn có tính người - hưởng thụ và sáng tạo cái mới, cái đẹp

+ Phát triển là cách thức m à con người và các cộng đồng người hành động để thỏa mãn các nhu cầu Chính cách thức ấy sẽ toát lên tính văn hóa hay phản văn hóa, nhân bản hay phi nhân bản trong hoạt động sống của con người Có lẽ vì thế, C.Mác đã cho rằng: “Những thời đại kinh té khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”1

- Từ phương diện các nhân tố hợp thành, sự phát triển của xã hội đương đại có thể được nhận biết qua các thành tó cơ bản sau:+ M ột nền chính trị hợp lý, có hiệu quả, ổn định - nền chính trị dân chủ hiện thực

+ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng, tiến bộ xã hội

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tộ quốc gia, H.2002, t.23,

tr.269.

Trang 12

+ Văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng trên nền tảng chân, thiện, mỹ.

+ Các yếu tố nội lực, nội sinh (của mỗi quốc gia dân tộc) được khẳng định, phát huy, đủ sức hội nhập, giao lưu

+ Con người ngày càng hoàn thiện nhân cách: tự do, hài hòa, sáng tạo - bùng nổ nhân tố người

Từ đó có thể xem: Phát triển x ã hội là sự vận động có định

hướng của m ỗi quốc gia, dân tộc trên con đường đạt tới mục tiêu: ổn định chỉnh trị - xã hội, tăng trưởng kinh tế, công bằng, dân chủ, nhân văn - vì con người, do con người.

Trong quan niệm này, chính trị - nhà nước, sự hoàn thiện của nhân tố chính trị - nhà nước không chỉ là điều kiện, m à cón là hộ phận hợp thành sự phát triển M ặc dù là cái phát sinh từ kinh tế (và tất nhiên cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố vãn hóa, xã hội), nhưng đến lượt nó, chính trị luôn tác động trở lại (thúc đẩy, kìm hãm hoặc thúc đẩy lúc này, lĩnh vực này, kìm hãm lúc khác, lĩnh vực khảc) đối với kinh tế, văn hóa, x ã hội Sự tác động của chính trị - nhà nước đến các quá trình kinh tế, văn hỏa, xã hội có thể trực tiếp, hoặc có thể gián tiếp, v à thườrtg diễn ra thông qua tác nhân cửa thể chế chính trị - nhà nước và cảch thức - cơ chế vận hành, hoạt động của nhà nước, của hệ thống chính trị, trong đó nổi lên vai trò và sự tác động của các yếu tố:

+ Cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, chính sách phát triển

xã hội, phát triển quốc gia của đảng cầm quyền

+ Thẩm quyền, chức năng cũng như khả năng, năng lực thực hành thẩm quyền, chức năng đó của bộ máy nhà nước

Trang 13

+ Vai trò của các tổ chức chính t r ị - x ã hội đối với sự phát triển.

+ Trình độ, năng lực của nguồn nhân lực (trong đó đặc biệt quan trọng là chất lượng của đội ngũ cán hộ, công chức nhà nước hay của hệ thống chính trị)

Phát triển và đổi mới có quan hệ biện chứng với nhau Đe có phát triển, phải đổi mới Trong quá trình đó, những gì cũ kỹ, tiêu cực, cản trở sự phát triển sẽ mất đi; cái mới phù hợp với quy luật của sự phát triển sẽ ra đời và tiếp tục đòi hỏi đẩy mạnh đổi mới ờ cấp độ cao hơn Đổi mới và phát triển là quá trình thống nhất giữa liên tục và gián đoạn, giữa giữ lại và loại bỏ; cái mới phát triển cao hơn không ra đời từ hư vô, mà là kết quả phát triển hợp quy luật từ những gì hợp lý của cái cũ, là kết quả kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ, từ đó phát triển lên; đổi mới và phát triển không diễn ra theo đường thẳng, m à là con đường biện chứng đầy mâu thuẫn, xu hướng tiến lên là cơ bản lại không loại trừ những bước thụt lùi tương đối Đồng thời, phát triển phải dựa trên cơ sở ổn định Không có môi trường chính trị, xã hội ổn định thì không thể có phát triển Ôn định là tiền đề, đổi mới là động lực, phát triển là mục tiêu

2 Phát triển xã hội trong lịch sử

Lịch sử nhân loại là lịch sử của cuộc hành trình lâu dài, gian nan đi tìm kiếm mô hình, cách thức thực hiện khát vọng: phát triển xã hội, hoàn thiện con người Từ thời đại mông muội dã man - xã hội bầy đàn nguyên thủy, dưới tác động khách quan tất yếu của sự thay đổi, phát triển lực lượng sản xuất, cơ cấu xã hội,

Trang 14

cấu trúc xã hội đã diễn ra sự biến đổi mạnh mẽ Sự xuất hiện thiết chế một vợ một chồng, theo Ph.Ăngghen, là dấu hiệu phản ánh nhân loại đã bắt đầu thời đại văn minh N ếu những biến đổi, phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất, của cơ cấu xã hội và những chuyển động, đổi thay trong đời sống hiện thực đã là hé rạng ánh bình minh nhân loại, thì cũng chính trong điều kiện đó, kèm theo

đó là sự xuất hiện của ché độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sạn xuất Và trên nền tảng ché độ sở hữu này đã xuất hiện các giai cấp đối lập, sản sinh ra nhà nước

Sự xuất hiện nhà nước, m ột mặt là dấu hiệu cho thấy sự bắt đầu của thời đại văn minh chính trị nhân loại, tức là giai đoạn xã hội loài người bựớc vào trạng thái hoạt động có tổ chức trên bình diện v ĩ mô - lãnh thổ quốc gia - nhà nước Nhưng dưới chế độ chuyên chế, độc tài của giai cấp chủ nô, chúa phong kiến, thứ

“văn minh chính trị” ấy biểu hiện ra chỉ là sự áp bức, bất công tàn bạo, tư do của đa số bị tước đoạt Nguyên tắc duy nhất của chủ nghĩa chuyên chế, như C.Mác đã nhận xét - là khinh miệt con người, là con người m ất hết nhân tính

Cuộc đấu tranh nhằm lật đổ sự thống trị của chế độ chuyên chế phong kiến để tạo lập một xã hội mới - tiến bộ, hợp lý - ché

độ dân chủ được khởi đầu bằng những cuộc vận động tư tưởng - văn hóa rộng lớn trong thời đại Phục hưng ở châu Âu thế kỷ XV- XVI, m à nội dung cốt lõi của nó là chống lại thần quyền, thể quyền, khẳng định vị trí của con người với tư cách là chủ thể tự

do sáng tạo Chính giai cấp tư sản lúc bấy giờ đã giương ngọn cờ

“Tự do, bình đẳng, bác ái” để tập hợp các tầng lớp tiến bộ quanh mình làm cuộc cách mạng chính trị - lật đổ chế độ chuyên chế

Trang 15

phong kiến, xác lập chế độ dân chủ tư sản Thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản, sự ra đời của chế độ chính trị dân chủ tư sản,

so với chế độ phong kiến, theo V.I.Lệnin, là một bước tiến v ĩ đại của lịch sử nhân loại Những gì mà chủ nghĩa tự do tư sản đã thể nghiệm, đã làm được trong việc giải phóng cá nhân, tạo lập động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, khách quan nhìn nhận, có thể xem là m ột trong những phương thức, con đường nhằm tiến tới một xã hội văn minh hơn, tiến bộ hơn Tuy vậy, thực tiễn cũng cho thấy: nền chính trị dân chủ tư sản tuyệt nhiên không bao giờ có thể thực hiện được khát vọng về một nền văn minh chính trị đích thực - nền dân chủ hiện thực, theo cách nói của C.Mác; hơn nữa, nền chính trị tư sản, nhà nước tư sàn, trong bản chất của nó không có khả năng giải quyết triệt để các mâu thuẫn kinh tế - xã hội nảy sinh trên nền tảng chê độ tư hữu

C.Mác là người đàu tiên nêu lên những quan điểm về một chế độ chính t r ị - x ã hội xứng đáng với con người - ché độ dân chủ Theo ông, con người là điểm xuất phát, cũng là điểm cuối cùng để đánh giá một chế độ dân chủ hay chuyên chế Chỉ có trong ché độ dân chủ con người mới là mục đích, là chủ thể của

xã hội N hà nước, các thiết chế chính trị chỉ là những phương tiện

do con người tạo ra để phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người, của xã hội Nói cách khác, chỉ có trong chế độ dân chủ, con người mới không là m ột thứ đồ chơi trong tay những lực lượng

do chính con người tạo ra Nền dân chủ, cũng theo C.Mác - là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý chí, tài năng và lợi ích của họ C.Mác cũng đã nêu lên

m ột tư tưởng quan trọng để đánh giá tính hiện thực của dân chủ,

Trang 16

nó phải được xem xét theo tính hiện thực của nó, phải ngày càng

hước tới cơ sở hiện thực, tởi con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của nhân dân, là săn phẩm tự

do của con người hiện thực chứ không phải chỉ dừng lại lời tuyên

bố, cho dù là những tuyên bố có tính pháp lý

C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhìn thấy nền

chính trị dân chủ là m ột xu hướng khách quan cửa tiến hỏa nhân loại Ngay từ khi còn là những người theo chủ nghĩa nhân

đạo hiện thực, hai ông đã nhận thấy và tin tưởng sắt đá rằng, trong thời đại hiện nay, việc giải phóng loài người thoát khỏi

m ọi áp bức, nô dịch; việc thúc đẩy nhân loại tiến lên, khách quan có mối liên hệ trực tiếp với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Chủ nghĩa nhân đạo hiện thực - theo hai ông, là cuộc đấu tranh của giaỉ cấp vô sản nhằm giải phóng loài người thoát khỏi những điều kiện sinh sống có tính nô dịch tư bản chủ nghĩa N ói cách khác, chính C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận thức rằng: v ấ n đề nhân đạo - giải phóng con người, vấn đề dân chủ v à xét đến cùng, việc phát triển xã hội loài người nói chung, các quốc gia dân tộc nói riêng chỉ có thể giải quyết triệt để khi gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp những người lao động Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, các ông đã phấn đấu cho sự nghiệp cao cả, vĩ đại đó Và, cũng chính trong quá trình hoạt động cách mạng, hoạt động sáng tạo lý luận về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng con người, các ông đã xây dựng và xác lập m ột hệ thống lý luận về sự phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng và phát triển xã hội nói chung

Trang 17

V.I.Lênin là người đã kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác

và Ph.Ăngghen trong thời đại đế quốc chủ nghĩa Bằng tài năng trí tuệ, bằng nhiệt huyết cách mạng, chính ông đã bổ sung và có những phát triển mới để làm phong phú thêm những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác trên cơ sở hiện thực thời đại mới Và đóng góp v ĩ đại của V.I.Lênin đối với loài người đó là biến lý tưởng của C.Mác, Ph.Ầngghen thành hiện thực ở nước Nga Chính ông là người đã vận dụng sáng tạo và thành công chủ nghĩa M ác trong thực tiễn, mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân loại - thời đại văn minh chính trị xã hội chủ nghĩa Từ khi nền chính trị mới - chính trị xã hội chủ nghĩa được xác lập và chứng tỏ vai trò, tác động của nó trong đời sống hiện thực nhân loại, những ai tôn trọng sự thật, tôn trọng lịch sử đều càm nhận rõ

rằng: chính chủ nghĩa x ã hội hiện thực là nhân tổ chủ yếu làm

thay đổi căn bản đời sổng của nhân loại theo hướng dân chủ hơn, nhân văn và tiến bộ hơn.

Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới như là đòn cảnh tỉnh và trở thành áp lực, đối trọng buộc giai cấp tư sản cầm quyền phải tự điều chỉnh theo hướng thích nghi - “nhân văn, dân chủ” nhiều hơn Sự xuất hiện chủ nghĩa xã hội là tấm gương tinh thần

và chỗ dựa vững chắc thức tỉnh, cổ vũ các lực lượng tiến bộ trong các nước tư bản chủ nghĩa và các dân tộc bị áp bức vùng dậy đấu tranh giành dân sinh, dân chủ, giành độc lập dân tộc để tự quyết định con đường, vận mệnh của dân tộc, của đất nước

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, sự quản lý của nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và

Trang 18

nhân dân lao động, các tâng lớp nhân dân đã ngày càng tham gia rộng rãi vào đời sống chính trị - x ã hội của đất nước Quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ngày càng được thể hiện, thực hiện tốt hơn Chính trị xã hội chủ nghĩa thực sự trở thành công cụ, động lực to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ sau Chiến tranh thế giới làn thứ hai đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XX.

Từ đó có thể nói, nếu văn m inh chính trị của nhân loại trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX gắn liền với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản, thì văn m inh chính trị loài người trong thế

kỷ XX v à cả trong tương lai chắc chắn không thể tách rời sự xác lập, củng cố, phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực Nói cách

khác, nền chính trị xã hội chủ nghĩa - chỉnh trị dân chủ hiện

thực, theo tư tưởng và khát vọng của C.Mảc cũng như của nhân

loại tiến bộ, vừa là m ột bộ phận hợp thành, vừa là điều kiện cần thiết trong một xã hội hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Chủ nghĩa xã hội từ khi là m ột khát vọng trở thành m ột học thuyết và một chế độ hiện thực đã trải qua không ít thăng trầm Điều “trớ trêu của lịch sử” là ở chỗ, sau một thời kỳ phát triển khá ấn tượng, đến những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu “lâm bệnh” Và trong cơn chạy chữa ấy, m ột mảng lớn các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Ầ u và Liên Xô đã đổ vỡ

Mổ xẻ phân tích sự khủng hoảng và đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước, cũng như xem xét cách thức, con đường m à các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tìm cách trụ đứng,

Trang 19

thoát ra khỏi khủng hoảng và từng bước khẳng định mình đã trở thành đòi hỏi bức thiết trên con đường xây dựng, hoàn thiện chính trị xã hội chủ nghĩa và cũng nhằm tìm kiểm, xác lập cách thức, mô hình phát triển cho các quốc gia - dân tộc và nhân loại nói chung trong xã hội tương lai.

Có thể tồn tại nhiều cách lý giải khác nhau về những biến cố,

sự kiện đã diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ cải

tổ, cải cách, đổi mới Bằng trải nghiệm thực tế, bình tĩnh xem xét các vấn đề từ góc độ chính trị phát triển, phải chăng có thể cắt nghĩa vấn đề theo lôgíc sau:

- Trước hết, cần khẳng định rằng, chủ nghĩa M ác từ khi ra đời đến nay đã hơn 170 năm nhưng trên thế giới vẫn chưa có một học thuyết nào đủ sức phủ định hoặc thay thế Nhân loại đã, đang

và sẽ tìm thấy ở đó sức sống mãnh liệt của một học thuyết cách mạng - khoa học khả dĩ dẫn dắt con người tiến tới m ột xã hội hòa bình, ổn định và phát triển - phát triển tất cả những năng lực bản chất người vì chính con người và xã hội Những thành quả của cách mạng Trung Quốc, Việt Nam trong thé kỷ XX là một minh chứng hùng hồn về sức sống mãnh liệt của một học thuyết cách mạng và khoa học mỗi khi nó được thâm nhập và dẫn dắt hành động của hàng triệu, triệu con người Và, trong m ột ý nghĩa nào

đó cũng có thể nói: các sự kiện biến cố diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông  u trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX cũng là một lời cảnh báo có giá trị cho những ai cố tình hiến một học thuyết cách mạng - khoa học thành các tín điều bất biến, hoặc tìm cách phủ nhận những nguyên lý lý luận đã đứợc phủ nhận trong thực tế X a rời hệ tư tưởng mácxít, xa rời các mục tiêu của chủ

Trang 20

nghĩa xã hội khoa học, rời bỏ nguyên tăc mácxít - lêninnít vê đảng cộng sản và vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng chẳng khác nào mở đường “triệu các

âm binh” và đó là thời cơ, điều kiện cho các thế lực thù địch thực hiện mưu đồ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội từ bên trong bằng các cuộc chiến tranh “nhung lụa”, các cuộc “cách mạng màu” v ấ n đề đặt

ra là chủ nghĩa xã hội phải tự đổi mới

- Sự nghiệp cách mạng Trung Quốc và Việt N am từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo diễn ra theo một định hướng xuyên suốt

đó là: giải phóng dân tộc trên cơ sở phát huy động lực kinh tế -

xã hội của các tầng lớp nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa yêu cầu vừa tạo điều kiện cho sự kết hợp hài hòa giữa cái kinh tế

và cái xã hội trong phát triển Công cuộc cải cách, đổi mới đã đem lại sức sống mới cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Cải cách, đổi mới cũng đã thúc đẩy mạnh m ẽ sự phát triển

và hoàn thiện dần nền chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và Việt Nam, góp phàn làm phong phú thêm những nội dung và phương thức để đạt tới m ột trình độ văn minh chính trị mới của nhân loại

II KHOA HỌC CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

1 Khái niệm “Chính trị học phát triển”

Chỉnh trị học phát triển là m ột khoa học của khoa học chỉnh trị, nghiên cứu sự tương tác của chỉnh trị với các yếu tổ khác của đời sống xã hội, hướng xã hội tới sự phát triển bền vững, đưa xã hội vận động và phát triển theo quy luật của nó.

Chính trị học phát triển còn được hiểu là môn học nghiên cứu

Trang 21

sự tác động của chính trị (mà cơ bản là hệ thống chính trị) đến quá trình phát triển xã hội, nhằm tìm ra những quy luật, tính quy luật của sự tác động đó Trong quá trình đó, nhà nước với tư cách

là đại diện cho ý chí của công dân, là trung tâm cùa hệ thống chính trị, bằng các phương thức dân chủ, đưa ra sự lựa chọn mô hình phát triển, hoạch định chính sách phát triển cho quốc gia

2 Đổi tượng nghiên cứu của Chính trị học phát triển

Chỉnh trị học phát triển là một bộ phận của Chính trị học Chính trị học có chức năng cơ bàn là góp phần làm sáng tỏ bàn chất và vai trò của nhân tố chính trị trong đời sống xã hội được tổ chức thành nhà nước Quan hệ chính trị thực chất là quan hệ lợi ích - đấu tranh giành, giữ và thực hiện nhu cầu, lợi ích thông qua nhà nước Vì thế, phát triển xã hội - thỏa mãn nhu cầu lợi ích ngày càng cao, càng phong phú của các chủ thể chính trị, xét đến cùng phải là mục tiêu cơ bản của toàn bộ hoạt động chính trị

Là một bộ phận của Chính trị học, Chính trị học phát triển nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình chính trị, các thể chế chính trị, nghiên cứu quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội, quá trình cầm quyền, quá trình thực thi quyền lực chính trị và thực thi quyền lực nhà nước Nhưng khác với các khoa học chuyên ngành khác của Chính trị học nói chung, Chính trị học phát triển chỉ tập trung nghiên cứu những phạm trù, những khái niệm, những vấn đề của chính trị trực tiếp hay gián tiếp tác động đến quá trình phát triển xã hội

Đổi tượng của Chỉnh trị học phát triển là nghiên cứu sự tác

động của chính trị đến quá trình phát triển xã hội, nhằm tìm ra

Trang 22

những quy luật và tính quy luật, những khuynh hướng, nội dung, bản chất , của phát triển xã hội được biểu hiện thông qua đời sổng xã hội, các mối quan hệ và vai trò của chính trị đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong quá trình phát triển.Các quy luật chính trị tác động thông qua các hiện tượng, các quá trinh, các thể chế, vắn hóa và con người chính trị tức là thông qua đời sống chính trị Hệ thống chính trị lại là trung tâm của đời sống chính trị, vì vậy, về cơ bản, trọng tâm của Chính trị học phát triển lả nghiên cứu sự tác động của hệ thốrig chính trị đến quá trình phát triển xã hội Hệ thống chính trị baó gồm đảng chính trị, nhà nưởc và các tổ chức chính trị - Xã hội cùng các quan hệ, các cơ chế và nguyền tắc vận hành giữa chứng, trong đó nhấ nưởc là trung tâm N hà nước biểu hiện bản chất của hệ thống chính trị, vì vậy, Chính trị học phát triển tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò, những phương thức, khuynh hướng mà nhà nước tác động vào quá trình phát triển.

N hư vậy, phát triển xã hội với tư cách là đối tượng của Chính trị học có nội hàm rẩt rặng, bởi hẩú như bất cứ lĩnh vực nào tròng đời sống xằ h ộ i đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến đời sống chính trị Ngược lại, bất cứ quá trình chính trị nào cũng gián tiếp hay trực tiếp ảnh hưởng đến phát triển xã hội Mặc dầu vậy, để làm rõ trọng tâm v à bản chất của vẩn đề, Chính trị học phát triển trực tiếp nghiên cứu sự tác động của hệ thống chính trị mà trung tâm là nhà nước thông qua quá trình thực thi quyền lực chính trị, giải quyết những công việc của nhà nước và xã hội, tác động đến phát triển xã hội

Căn cứ vào những nội dung cơ bản của phát triển trong giai

Trang 23

đoạn hiện nay, Chính trị học phát triển cần đi sâu nghiên cứu sự tác động của chính trị đến các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội để bảo đảm sự phát triển xã hội bền vững:

Thứ nhất, chỉnh trị tác động đến kinh tể để kinh tế tăng trưởng thường xuyên, liên tục.

Kinh tế quyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh té, tuy nhiên, chính trị tác động trở lại bằng cách lãnh đạo kinh tế, đề ra đường lối, chính sách phát triển kinh tế, lựa chọn mô hình, phương thức, giải pháp phát triển kinh tế, quản lý nền kinh tế, đồng thời điều tiết để kinh tế phát triển theo đúng định hướng chính trị Với sức mạnh của mình, chính trị, mà tập trung nhất là nhà nước, tạo mọi điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động

Thứ hai, chỉnh trị tác động đến hàn thân lĩnh vực chỉnh trị để thúc đẩy quá trình dân chủ hỏa, bảo đảm môi trường chỉnh trị lành mạnh, ổn định.

Một xã hội phát triển bền vững khi nó dựa trên một nền dân chủ thực sự, đông đảo nhân dân tham gia vào đời sống chính trị -

xã hội Hòa bình, ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết cho phát triển Ôn định chính trị thực chất là bảo đảm cuộc sống của toàn xã hội bình yên, nhân dân yên tâm, phấn khởi làm ăn, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tự do sáng tạo cá nhân Chính trị cần tạo điều kiện nhằm đảm bảo cho con người thoát khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột, đảm bảo tự do công dân, thực hiện an sinh xã hội

Thứ ba, chỉnh trị tảc động đến văn hóa đ ể văn hỏa thực sự là nền tảng tỉnh thần của xã hội.

Trang 24

Một xã hội phát triển khi nó có bệ đỡ tinh thần là văn hóa Con người không chỉ dựa vào sức m ạnh vật chất, m à còn cần cả sức mạnh tinh thần Chính trị cần tác động để nâng cao lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau; bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời kế thừa phát huy các giá trị, tinh hoa văn hỏa thế giới V ăn hóa thấm đượm vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: văn hóa trong hoạt động chính trị, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sản xuất kinh doanh

Thứ tư, chỉnh trị tác động đến xã hội để thực hiện công bằng

xã hội, phát huy mọi nguồn lực x ã hội để p h á t triển.

Chính trị tác động để thỏa m ãn m ột cách họp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, v ề nguyên tắc chưa thể có sự công bằng tuyệt đối trong chừng mực m à mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người và khả năng hiện thực của xã hội còn chưa được giải quyết Vì vậy,

hệ thống chính trị, trước hết là nhà nước, cần phải xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, xóa bỏ mọi hình thức đặc quyền đặc lợi, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; ban hành các chính sách nhằm điều tiết các nguồn thu nhập, bảo đảm sự cộng bằng trong phân phối sản phẩm xã hội, lưomg bổng và các phúc lợi xã hội; xây dựng những cơ chế tạo điều kiện cho mỗi thành viên trọng xã hội, mỗi người lao động có quyền giám sát, kiểm tra mọi hoạt động kinh tế - xã hội, phân phối sản phẩm và phúc lợi Đồng thời, hệ thống chính trị tạo cơ chế, chính sách để phát triển lực lượng sản xuất, tạo điều kiện

Trang 25

cho các tầng lớp nhân dân thi đua lao động, sản xuất và sáng tạo, nâng cao đời sống xã hội.

Thứ năm, chỉnh trị tác động để bảo vệ môi trường.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, môi trường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng, nảy sinh vấn đề rác thải, nạn chặt phá rừng, khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi, sự xói mòn của đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống Vì vậy, chính trị cần đề ra chỉnh sách phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế hợp lý, không phá

vỡ cảnh quan môi trường, buộc các cơ sở sản xuất phải xử lý chất thải đúng quy định

3 Chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Chính trị học phát triển

a Cbức năng, nhiệm vụ

Chính trị học phát triển có chức năng cơ bản là nghiên cứu

về sự phát triển xã hội dưới góc độ chính trị, tác động của chính trị đến phát triển xã hội Có thể khái quát chức năng, nhiệm VỊI của Chính trị học phát triển như sau:

M ột là, cung cấp những tri thức khoa học, nhằm luận giải, phân tích vai trò của chỉnh trị trong p h á t triển xã hội.

Trong thực tiễn phát triển của xã hội loài người hiện nay đặt

rạ nhiều vấn đề gay gắt đòi hỏi chính trị cần giải quyết: 1) Tăng trưởng kinh tế không phải bao giờ cũng gắn với phát triển xã hội, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội; 2) Quá trình công nghiệp hóa không gắn với hiện đại hóa dẫn đến tàn phá môi trường, hủy hoại môi sinh; 3) Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền,

Trang 26

giữa các quôc gia,, dân tộc; 4) K hoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo ngày càng m ở rộng và với tốc độ nhanh chóng; 5) Tình trạng áp bức giai cạp và áp bức dân tộc được biểu hiện dưới những hình thức mới, nhưng vẫn còn nặng nề, không tương ứng với những thành quả kinh tế, khoa học - công nghệ mà con người đạt được1

Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu tất yếu, khách quan đối với các khoa học, bong đó có Chính trị học: c ầ n nghiên cứu về

sự phát triển của xã hội loài người để tiếp tục tìm rạ các quy luật vận động của nó, nắm được phương thức của sự phát triển xã hội, phương thức hưởng thụ công băng những thành quả của phát triển Chính trị học phát triển bằng cách tiếp cận chuyên ngành

và liên ngành cung cấp những tri thức, những vấn đề có tính quy luật và quy luật về sự phát triển x ã hội Hệ thống tri thức mà Chính trị học phát triển có được không những giúp nhận thức rõ hơn về vai trò của chính trị, chủ yếu là hệ thống chính trị, đối với quá trình phát triển cửa nhân loại, m à nó còn là m ột nguồn tri thức góp phần làm giấu thêm hệ thống tri thức cửa các khoa học chính trị nóì chung, của Chính trị học nói riêng

H ai là, nâng cao nhận thức của mỗi người về vấn đề phát triển, tập hợp, liên kết cảc giai cẩp, căc nhóm xã hội cùng nhau

1 Nêu như khoảng cách giàu nghèo giữa 1/5 những người giàu nhất và 1/5 những người nghèo nhất là 3 lần vào năm 1820; 7 lần vào năm 1870; 11 lần vặo năm 1913; 30 lẩn vào năm 1960; 60 lần vào năm 1990, thì khoảng cách đó

đẩ lên 74 lần vào năm 1997 và ngày nay, sự Cách biệt đó đang ngày càng lớn lên nhanh chóng Các nước OECD với 19% dân số thế giới, chiếm 71% thương mại toàn cầu, 58% đầu tư nước ngoài, 91% tổng số người sử dụng internet Tài sản của 3 tỷ phú hàng đầu nhiều hơn GNP của tất cả các nước kém phát triển với 600 triệu dân cùa họ.

Trang 27

hoạt động, đẩu tranh nhằm xây đựng m ột xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Bằng những tri thức khoa học được khái quát bởi Chính trị học phát triển, thông qua các phương tiện và thể chế giáo dục khác nhau, Chính trị học phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ giáo dục các thế hệ con người, công dân, các chủ thể chính trị biết thể hiện nhu cầu phát triển của quốc gia, cộng đồng, nhóm biết phối hợp hành động để thực hiện những khát vọng thoát khỏi đói nghèo, áp bức, bất công, biết vươn lên làm chủ vận mệnh của mình, của cộng đồng mình trong tất cả mọi lĩnh vực cùa đời sống

xã hội, phấn đấu để xây dựng đất nước giàu mạnh, mọi người đều được tự do, hạnh phúc, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và thế giới

Ba là, cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà lãnh đạo chỉnh trị trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách nhằm p h á t triển kỉnh tế - x ã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Trên cơ sở tri thức của Chính trị học phát triển, các nhà lãnh đạo chính trị sẽ có một tầm nhìn mới và đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của đời sống xã hội Giúp cho họ trong quá trình lãnh đạo, quản lý nhà nước, hoạch định đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, tránh được những nhận thức và hành vi chủ quan, áp đặt, duy ý chí Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững là nhiệm vụ trọng tâm của mọi nhà nước, nó ảnh hưởng sâu sắc tới tượng lai phát triển của dân tộc, v ì vậy giai cấp cầm quyền tìm mọi cách để huy động tối đa các nhà khoa học, các nhà chính

Trang 28

tri tham gia hoạch định Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng

xã hội và bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp bách của các quốc gia, nhất lả đối với những nước đang phát triển

b Phương p h á p nghiên cứu

Trong nghiên cứu Chính trị học phát triển, trước hét cần vận dụng lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đó là lý luận về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa hạ tầng cơ sở với thượng tầng kiến trúc; lý luận giai cấp vả đấu tranh giai cấp - động lực của phát triển xã hội; lý luận về nhà nước và vai trò cua nhà nước trong đời sống xã hội, về vai trò lãnh đạo của đảng chính trị trong định hướng phát triển; lý luận về quá trình hình thành và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội; lý luận về phát triển và quy luật phát triển; lý luận về xã hội và phát triển xã hội

Nghiên cứu Chính trị học cần phải sử dụng phương pháp lôgíc, lịch sử Phát triển xã hội luôn tuân theo quy luật khách quan, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đồng thời phụ thuộc vào nhiều nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, vì vậy chính trị (nhân tố chủ quan) cần xem xét vấn đề phát triển một cách khách quan, trong mối liên hệ đa chiều

Phương pháp so sánh giúp người nghiên cứu tìm được điểm tương đồng và khác biệt giữa các mô hình phát triển, con đường, phương thức phát triển giữa các vùng miền trong nước và giữa các quốc gia trên thế giới, phục vụ cho hoạch định chiến lược phát triển đất nước

Trang 29

Các phương pháp phân tích - tổng hợp, hệ thống - cấu trúc cũng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu môn học, nhằm làm

rõ cái cụ thể để khái quát thành lý luận, khẳng định vai trò của chính trị trong phát triển xã hội

Ngoài ra, các phương pháp chuyên ngành và liên ngành: xã hội học, kinh tế học chính trị, kinh tế học phát triển, văn hóa học phát triển cũng có vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu Chính trị học phát triển

Trang 30

Chương 2

CHÚ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TITTưÕNG Hổ CHÍ MINH

VÉ TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Phát triển luôn là vấn đề được sự quan tâm rất lớn của nhân loại, ngay từ thời cổ đại các nhà tư tưởng đã đưa ra các quan điểm về phát triển, nhưng chỉ đến khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời thì mới khắc phục được những hạn chế của các quan điểm trước đó Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và tri thức khoa học của loài người, và với thiên tài sáng tạo của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng nên một học thuyết về sự phát triển của thế giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng, mở ra một hướng mới cho cho sự lựa chọn và xây dựng

m ột xã hội mới phù hợp với những mục đích cao đẹp mà loài người hằng mong tới

Là người ké thừa, phát triển v à vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của V iệt Nam, đưa Việt Nam từ

m ột nước thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu thành một nước độc lập,

tự do và bắt đầu bước vào thời k ỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,

Hồ Chí Minh đã chứng minh hên thực tiễn rằng sự lựa chọn con đường phát triển xã hội theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa M ác-Lênin là hoàn toàn đúng đắn

Trang 31

I QUAN ĐIẾM MÁCXÍT VỀ s ự PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

ì Thực chất của sự phát triển

Từ thời cổ đại cho đến khi chủ nghĩa M ác-Lênin ra đời, nhiều nhà triết học đã quan tâm ở những mửc độ khác nhau đến vấn đề thực chất của sự phát triển, song các quan niệm đó thường

có sự hạn chế: Hoặc là duy vật nhưng thô sơ máy móc, siêu hình như Đêmôcrít, Hêracrit, Arixtốt; hoặc biện chứng nhưng lại duy tâm như Hêghen

Cho đến giữa thế kỷ thứ XIX, tổng kết tinh hoa tri thức nhân loại, đặc biệt kế thừa và phát triển tư tường triết học cổ điển Đức, trong đố có hạt nhân hợp lý của phép hiện chứng Hêghen, đồng thời dựa vào nhũng phát kiến vĩ đại của khoa học đương thời, C.Mác, Ph.Ầngghen đã xây dựng m ột thế giới quan khoa học trên cơ sở của phép biện chứng duy vật Thế giới quan khoa học

đó nhìn thế giới trong một thể thống nhất vật chất không ngừng vận động và biến đổi Với triết học duy vật của mình, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vạch rõ nguồn gốc, động lực, quy luật

và cơ chế của sự phát triển

Theo quan điểm của các nhà kinh điển mácxít, mọi sự xuất hiện, biến đổi và phát triển đều gắn vởi sự vặn động Trong sự vận động muôn hình muôn vẻ của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đã tạo ra vô vàn hình thức chuyển hóa, làm cho hình thức sự vật, hiện tượng này chuyển sang hình thức sự vật, hiện tượng khác Điều quan trọng là trong tính đa hình, đa dạng đó, vận động cũng diễn ra theo các khuynh hướng khác nhau (có cả tiến bộ và thụt lùi), trong đó có hướng đi lên Phát triển là kết quả của sự vận động theo hướng đi lên đó

Trang 32

Sự phát triên hàm chứa sự vận động theo hướng đi lên, trong

đó có tính kế thừa, lặp lại cái cũ nhưng ở mức độ cao hơn và có

sự xuất hiện cái mới Sự phát triển như vậy là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, là quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy

Ph.Angghen viết: “toàn bộ giới tự nhiên, từ cái nhỏ nhất cho đến cái lớn nhất, từ hạt cát cho đến các mặt trời, từ những sinh vật nguyên thủy cho đến con người, nằm trong tình trạng không ngừng sinh ra và diệt vong, lưu động không ngừng, vận động và biển hóa bất tậ n 1,1.

Điều đó có nghĩa là toàn bộ giới tự nhiên, trong đó có xã hội loài người đều nằm trong quá trình phát triển - quá trình không ngừng sinh ra và diệt vong, vận động và biến hóa vô tận theo hướng ngày càng cao

2 Nguyên lý của sự phát trỉển xã hội

a Nguyên l ý của sự p h á t triển

Theo các nhà kinh điển Mác-Lênin, quá trình vận động và phát triển diễn ra dưới tác động của m ột hệ thống các quy luật phổ biến; tác động một cách khách quan trong cả tự nhiên, xã hội

và tư duy

Nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển của thế giới trước hết là sự khác biệt tạo nên những mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng; động lực thúc đẩy sự vận động và sự phát triển của chúng là sự đấu tranh giữa các m ặt đối lập

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.20,

tr.47i.

Trang 33

V.I.Lênin cho rằng, phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập Neu không có sự đấu tranh giữa các mặt đối lập đó, tức không có sự xuất hiện và giải quyết mâu thuẫn thì không thể

có sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới.Nếu quy luật mâu thuẫn nói lên nguồn gốc và động lực của

sự phát triển thì quy luật về sự chuyển hóa từ lượng thành chất và ngược lại phản ánh cơ chế của sự phát triển Theo quy luật này,

sự biến đổi lượng tói m ột giới hạn nào đó sẽ tạo ra bước nhảy và dẫn đến sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng Trong chu trình tồn tại, vận động tiếp theo, lượng mới tiếp tục biến đổi, tạo nên mâu thuẫn và phá vỡ trạng thái chất hiện có để chuyển sang hạng thái chất mới Quá trình chuyển hóa thường xuyên như vậy giữa chất và lượng tạo nên chuỗi vận động liên tục và vô tận của

sự vật, hiện tượng

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy luôn vận động, phát triển không ngừng Trong quá trình đó, cái cũ, cái lạc hậu sớm muộn tất yếu sẽ bị thay thế bằng cái mới, cái tiến bộ thông qua con đường phủ định biện chứng

C.Mác quan niệm: Không có lĩnh vực nào, cả tự nhiên, xã hội lẫn tư duy lại có sự phát triển m à không có sự phủ định những hình thức cũ đã tồn tại từ trước Sự phủ định đó theo V.I.Lênin: “không phải sự phủ định sạch trơn mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của sự liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định” 1, sự phát triển thông qua phủ

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1981, t.29, tr.245.

Trang 34

định biện chứng tạo nên khuynh hướng phát triển tấ t yếu từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.

Như vậy, nguồn gốc và động lực của sự phát triển là “thống nhất và đấu tranh giữa các m ặt đối lập”, phương thức và cách thức của sự phát triển là: “chuyển hóa từ lượng thành chất và ngược lại”; khuynh hướng tiến lên của sự phát triển là “quá trình phủ định của phủ định”

b Nguyên l ý của sự p h á t triển xã hội

Ghủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn thế giới trong tính thống nhất của nó, ở đó xã hội loài người là sản phẩm của giới tự nhiên,

là một bộ phận vật chất phát triển cao của giới tự nhiên Do đó,

xã hội loài người với tư cách là một hình thức tổ chức cao trong quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên cũng không ngừng vận động và tiến lên theo quy luật phát triển biện chứng

Tuy nhiên, lịch sử xã hội loài người vận động không theo

m ột con đường thẳng, m à thường trải qua những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, nhưng cuối cung vẫn đi lên theo hướng ngày càng tiến bộ và hoàn thiện

Lịch sử phát triển của xã hội vận động theo quy luật khách quan của nó là quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Con người với tư cách là chủ thể các quan hệ

xã hội, đồng thời lại có m ặt trong quan hệ sản xuất, gắn liền với lực lượng sản xuất, hơn nữa lực lượng sản xuất đặc biệt tạo ra phương thức sản xuất ổn định thuộc về một thời đại lịch sử nhất định Phương thửc sản xuất tồn tại như một hình thái kinh tế - xã hội nhất định khi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp với nhau

Trang 35

Theo nguyên lý vận động của phép biện chứng, ngay khi phương thức sản xuất ổn định th ì về thực chất trong nội bộ của

nó, với tư cách là một sự vật, nó đang vận động biến đổi

Do nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng, phục vụ sản xuất không ngừng biến đổi theo hướng tiến lên Khi lực lượng sản xuất tiến tới trình độ m à quan hệ sàn xuất trong phương thức sản xuất không còn phù hợp và không thể bao chứa được nồ nữà thì dẫn tới phá vỡ quan hệ sản xuất hiện thời

C.Mác viết: không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất xã hội mẫu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng Cuộc cách mạng đó thực chất là cuộc cách mạng chuyển phương thức sản xuất hiện tồn lên một phương thức sản xuất mới cao hơn

3 Tiêu chuẩn của sự phát triển xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự phát triển theo đúng nghĩa của nó phải hàm chứa yếu tố tiến bộ Vì vậy, một trọng những tiêu chuẩn của sự phát triển hàng đầu chung nhất của sự phát triển theo các nhà kinh điển là tính tiến bộ, do đó là tính nhân văn của xã hội

Nhưng để có được một xã hội phát triển với đầy đủ chất nhân văn của nó thì sự phát triển x ã hội lại gắn liền với m ột loạt các tiêu chuẩn có tính chất nền tảng khác:

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất

Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là cơ sở của

Trang 36

sự tồn tại và sự phát triển eủa xã hội loài người, nó quy định sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội loài người Xu hướng của tiến trình lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó con người và công cụ lao động đóng vai trò quyết định Trình độ của lực lượng sản xuất tự /

nó đã thể hiện khả năng và trình độ chinh phục tự nhiên của con ’ người trong mỗi giai đoạn lịch sử Sự phát triển của lực lượng sản xuất một mặt thể hiện trình độ phát triển xã hội thông qua năng lực chiếm lĩnh vả sử dụng các lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của con người; mặt khác quyết định quan hệ giữa con người với con người trong quan hệ sản xuất

Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất chính là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu chung nhất, phổ quạt nhất của

sự phát triển xã hội

- Phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ẩngghen, V.LLênin cũng cho rằng; Sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó có yếu tố con người, là tiêu chuẩn cao của tiến hộ xã hội Sau này, khi trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa ở nước N ga - Xôviết, tức dựa trên cơ sở thực tiễn, dùng thực tiễn để kiểm tra chân lý, V.I.Lênin m ột lần nữa khẳng định: “Nền đại công nghiệp - xét về mặt tình hình lực lượng sản xuất, tức là xét về tiêu chuẩn cơ bản của sự phát triển xã hội -

là cơ sở của tổ chức kinh té xã hội chủ nghĩa”1; dựa vào tiêu chuẩn cơ bản này, chúng ta có cơ sở khách quan và khoa học để đánh giá sự phát triển của từng giai đoạn, từng chế độ xã hội

1 V.I.Lênin: Toàn í$p, Nxb.Tiến bộ, M.1978, t.43, tr.98.

Trang 37

- Tạo ra năng suât lao động ngày càng cao - cái quy định sự phát triển của xã hội Ý nghĩa to lớn của năng suất lao động ở chỗ, năng suất lao động là tiêu chuẩn co bản để đánh giá sự phát triển của sản xuất, và do đó, là tiêu chuẩn đánh gia trình độ sản xuất của mỗi xã hội.

- Trong quan điểm về phát triển xã hội, C.Mác bao giờ cũng gắn rất chặt lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, và với trình

độ phát triển tư tưởng văn hóa củâ một xã hội C.Mác nhận thấy

sự phát triển của chủ nghĩa tư bản chứa đựng một m âu thuẫn sâu sắc: Sức mạnh về kinh tế tăng lên không làm giảm bớt tình trạng nghèo nàn cả về vật chất và tinh thần của đại đa số người lao động trong xã hội Ông viết: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Những m áy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới, từ xưa đến nay chưa ai biết dưởng như do

m ột sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của

sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần Tất cà những phát minh của chúng tạ và tất cả sự tiến bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất cái mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình

độ những lực lượng vật chất đơn thuần”1

Trang 38

- M ột trong những tiêu chuẩn quan trọng nữa là ở chỗ, nó tạo

ra khả năng cho sự phát triển nhân cách, cho sự sáng tạo của con người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trước hết là “Phát triển sự phong phú của bản chất con người, coi như đó là mục đích tư thân” Cả C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đều cho rằng, mục đích, ý nghĩa căn bản của sự phát triển x ã hội thể hiện ở sự giải phóng con người thoát khỏi mọi sự nô dịch, tha hóa; ở trình độ và khả năng nâng cao năng lực, phẩm chất và phát triển toàn diện con

người Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và

Ph.Ăngghen dã tin tưởng và khẳng định ở m ột triết lý phát triển

xã hội có ý nghĩa nhân văn cao cả là: “Một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho cho sự phát triển

tự do của tất cả mọi người”1

Thực tế lịch sử cho thấy, triết lý phát triển xã hội theo các mục tiêu công bằng, nhân đạo trên cơ sở sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho <sự phát triển tự do của tất cả mọi người, đã trở thảnh động lực m ạnh mẽ thúc đẩy quần chúng lao động trên thế giới tiến hành các cuộc cách mạng xã hội trong thê

kỷ XX V à ngày nay, vấn đề phát triển con người đã trở thành cơ

sở và thước đo quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng phát triển của mỗi quốc gia

4 Các nhân tế và điều kiện của sự phát triển xã hội

- Lịch sử loài người là lịch sử con người theo đuổi những

Trang 39

mục đích nhằm thỏa m ãn những nhu cầu của mình Đe thỏa mãn nhu càu, con nguời phải tiến hành sản xuất C.Mác nói rằng:

“Không có sàn xuất thì không có tiêu dùng”, đồng thời “Không

có tiêu dùng thì cũng chẳng có sản xuất”, sản xuất tạo ra đối tượng tiêu dùng, phương thức tiêu dùng và sự kích thích tiêu dùng Cũng như vậy, tiêu dùng đẻ ra khả năng của sản xuất bằng cách kích thích nhu cầu ở trong anh ta, một nhu cầu hướng vào những mục tiêu sản xuất nhất định Quan hệ sản xuất, tiêu dùng

là những quan hệ biện chứng Mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng cũng như sự tác động giữa chúng là yếu tố quan trọng có tính phổ biến trong sự phát triển xã hội

- Tuy nhiên, để tiến hành quá trình sản xuất, con người không chỉ quan hệ với thiên nhiên (lực lượng sản xuất) mà còn quan hệ giữa con người với nhau (quan hệ sản xuất) “Toàn bộ những quan

hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý

và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” 1, sự tác động của những quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sự tương tác biện chứng giữa những yếu tố của phương thức sản xuất tạo nên nội lực bên trong thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và từ đó thúc đẩy xã hội tiến lên, Quan điểm duy vật lịch sử nhấn mạnh vai trò hàng đầu của phương thức sản xuất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của xã hội Xét đến cùng, “Phương thức sản xuất đời sống vật

Trang 40

chât quyêt định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”1 Do đó, lịch sử phát triển của xã hội loài người về đại thể là lịch sự sự phát triển kế tiếp nhau của các phưong thức sản xuất: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

- V.I.Lênin cũng đặc biệt quan tâm tới yếu tố lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội Theo V.I.Lênin, m ỗi chế độ xã hội có m ột phương thức đặc trưng dựa trên m ột cơ sở vật chất, kỹ thuật tương ứng N ền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản Trong chủ nghĩa xã hội, xã hội phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản thì cơ sở vật chất kỹ thuật của nó phải là nền đại công nghiệp cơ khí, có khả năng m ở rộng nền sản xuất m ột cách vô hạn Chính vì vậy, khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga - Xôviết, V.I.Lênin coi việc xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí hóa, điện khí hóa là nhiệm vụ hàng đầu Ông viết: “Cơ sở thực sự và duy nhất để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là nền đại công nghiệp”2 Công thức nổi tiếng của V.I.Lênin: “Chủ nghĩa cộng sản = Chính quyền Xôviết + điện khí hóa toàn quốc” nói lên rằng, chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải dựa trên nền tảng của lực lượng sản xuất phát triển đến trình

độ cao, trên nền tảng đại công nghiệp cơ khí m à đặc trưng lúc bấy giờ của nó là điện khí hóa

- N hấn mạnh vai trò quyết định hàng đầu của yếu tố kinh tế,

kỹ thuật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa M ác-Lênin không tuyệt

1 C.Mác và Ph.Ẳngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1993, t.13,

tr.15.

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1978, t.43, tr.366.

Ngày đăng: 08/11/2022, 19:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w