1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn đề tài CHẤT LƯỢNG GIÁO dục CHÍNH TRỊ tư TƯỞNG TRONG QUÂN đội TRƯỚC yêu cầu của CUỘC đấu TRANH tư TƯỞNG ở nước TA HIỆN NAY

100 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Trong Quân Đội Trước Yêu Cầu Của Cuộc Đấu Tranh Tư Tưởng Ở Nước Ta Hiện Nay
Trường học trường đại học
Chuyên ngành giáo dục chính trị
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN ĐỀ TÀI CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU CỦA CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1 1 Chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội 1 1 1 Bản chất, chức năng và các loại hình cơ bản của GDCTTT Bản chất của GDCTTT Thuật ngữ Giáo dục chính trị tư tưởng được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong các sách báo, tạp chí ở nước ta và nước ngoài Đó là một khái niệm được nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu.

Trang 1

LUẬN VĂN ĐỀ TÀI- CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHÍNH

TRỊ-TƯ TRỊ-TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI TRƯỚC YÊU CẦU CỦA CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội

1.1.1 Bản chất, chức năng và các loại hình cơ bản của GDCTTT Bản chất của GDCTTT

Thuật ngữ "Giáo dục chính trị - tư tưởng" được sử dụng khá phổbiến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhưtrong các sách báo, tạp chí ở nước ta và nước ngoài Đó là một kháiniệm được nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu như: CTĐ, CTCT,giáo dục học, tâm lý học

Tùy theo đặc điểm bộ môn, mục đích nghiên cứu và phương pháptiếp cận các học giả đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về kháiniệm này

Dưới góc độ triết học, luận án tiếp cận khái niệm GDCTTT trongmối quan hệ với đấu tranh tư tưởng, với tính cách là một dạng thứccủa đấu tranh tư tưởng - đấu tranh tư tưởng, một loại hình cơ bảncủa đấu tranh giai cấp trong xã hội có sự phân chia thành giai cấp.Với cách tiếp cận đó, GDCTTT ra đời khi xã hội loài người phânchia thành giai cấp và xuất hiện các hệ tư tưởng Hệ tư tưởng củamột giai cấp phản ánh lợi ích giai cấp dưới hình thức lý luận, nómang bản chất giai cấp sâu sắc Trong lịch sử nhân loại, các giai cấp

Trang 2

thống trị, thông qua đội ngũ những nhà tư tưởng và các thiết chế tưtưởng luôn tìm mọi cách tác động, truyền bá hệ tư tưởng của mìnhsao cho trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội, hướng hoạt động củamọi thành viên trong xã hội vào bảo vệ và xây dựng chế độ hiệntồn Bởi thế, các giai cấp thống trị luôn luôn coi GDCTTT là một vũkhí sắc bén trong đấu tranh tư tưởng để duy trì sự thống trị của họđối với xã hội.

Như vậy, GDCTTT ra đời do nhu cầu khách quan của đấu tranhgiai cấp nhu cầu phát triển và truyền bá hệ tư tưởng của một giaicấp nhất định GDCTTT là sản phẩm của xã hội phân chia thànhgiai cấp Nó không phải là một cái gì vĩnh hằng mà sẽ mất đi khi lựclượng sản xuất phát triển cao khiến cho sự phân chia giai cấp trởthành thừa GDCTTT là một phạm trù lịch sử

Đảng Cộng sản - bộ tham mưu của giai cấp công nhân, đảmđương sứ mệnh lịch sử lãnh đạo giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp và xã hội cũng coi GDCTTT là phương tiện hết sức quan trọng

để vận động quần chúng nhân dân làm cách mạng Lênin đã chỉ rõ:

"Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng tráchđối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sựđúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình" [34, 208]

Ở nước ta, trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp côngnhân, GDCTTT xuất hiện ngay trong quá trình chuẩn bị cho sự rađời của Đảng Cộng sản Việt Nam Đồng chí Lê Duẩn viết: "Trong

Trang 3

Đảng ta, không có ngành nào già bằng ngành tuyên huấn, từ khi cóĐảng đã có nó rồi" [15,112].

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tưtưởng là việc quan trọng nhất của Đảng" [52, 3] Công tác GDCTTT

là một mũi nhọn xung kích trong việc giác ngộ cách mạng cho quầnchúng, cổ vũ, động viên quần chúng tham gia tự giác, tích cực vào

sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: cùng với các hoạtđộng khác của công tác tư tưởng, hoạt động GDCTTT đã góp phầntích cực vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng; góp phần giácngộ, động viên, tập hợp, đoàn kết cả dân tộc hoàn thành thắng lợicuộc cách mạng dân tộc dân chủ và ngày nay đang vững bước trêncon đường đi lên CNXH, viết nên những trang sử vàng chói lọitrong 7 thập kỷ qua

QĐNDVN do Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấpcông nhân Việt Nam tổ chức, giáo dục và rèn luyện Để bảo đảmcho quân đội thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, tuyệt đốitrung thành với Đảng, luôn luôn giữ vững bản chất giai cấp côngnhân, Đảng ta thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặtđối với quân đội Trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo đó của Đảng đốivới quân đội, công tác tư tưởng nói chung, công tác GDCTTT nóiriêng giữ vị trí đặc biệt quan trọng

Trang 4

Lịch sử hơn 50 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiếnthắng vẻ vang của quân đội ta đã khẳng định: "Bất cứ công việc gìmuốn làm tốt trước hết phải thông suốt về tư tưởng Muốn làm tốtcông tác tư tưởng đối với toàn quân trước hết phải làm tốt công tác

tư tưởng trong nội bộ Đảng, làm từ trong Đảng ra ngoài quầnchúng Trước những thử thách trong những bước ngoặt của cáchmạng và chiến tranh cả về chính trị và quân sự, cả lúc thắng lợi vàthất bại, cả trong thời bình và thời chiến, quân đội có vững vàngvượt qua và vươn lên đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạnghay không đều tùy thuộc trước hết vào chất lượng chính trị - tưtưởng của CB, CS và chất lượng công tác tư tưởng Vì vậy, tăngcường công tác tư tưởng của Đảng trên mọi lĩnh vực là vấn đề thuộcnguyên tắc của công tác xây dựng Đảng, đồng thời là nguyên tắccủa CTĐ, CTCT" [92, 187-188] Bởi thế: "Trong việc xây dựng sứcmạnh chiến đấu của quân đội, đặt vị trí công tác tư tưởng lên hàngđầu là hoàn toàn đúng đắn" [71 29]

Như vậy rõ ràng GDCTTT là một dạng thức cơ bản của đấu tranh

tư tưởng Đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Công tác tuyên truyền, giáodục là một cuộc cách mạng về tư tưởng, một cuộc đấu tranh tưtưởng" [55, 187] Cần lưu ý rằng GDCTTT không phải là hoạt độngsáng tạo khoa học, nó không có chức năng khám phá khoa học, pháthiện những quy luật vận động và phát triển của xã hội tạo cơ sở lýluận xác định đúng đắn đường lối chiến lược sách lược cách mạngđưa đất nước đi lên Chức năng đó do các khoa học xã hội và nhân

Trang 5

văn, khoa học chiến lược và sách lược cách mạng đảm nhiệm Thếnhưng, GDCTTT có vai trò to lớn đối với hoạt động cách mạng cảitạo xã hội Thông qua hoạt động GDCTTT, các quy luật vận động

và phát triển tất yếu khách quan của đất nước do các khoa học phát

hiện ra và quán triệt trong các quan điểm đường lối, chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà nước, được truyền bá thâm nhập vàoquần chúng, chuyển thành ý thức tự giác của quần chúng, địnhhướng suy nghĩ và hành động của quần chúng, thúc đẩy quần chúngtham gia tích cực và có hiệu quả vào sự nghiệp cách mạng củaĐảng Nói cách khác, GDCTTT là hoạt động có tác dụng mạnh mẽtrong việc làm chuyển biến nhận thức tư tưởng, hành động của quầnchúng theo định hướng chính trị của Đảng

Vậy GDCTTT là gì?

Từ điển bách khoa quân sự Xô-Viết định nghĩa: "Giáo dục chính

trị - tư tưởng trong các lực lượng vũ trang là hệ thống các biện phápnhằm hình thành cho sĩ quan và chiến sĩ có đủ trình độ tư tưởng vàsẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu để giành được chiếnthắng trong chiến tranh" [94, 388]

Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự, do Cục Khoa học quân sự.

Bộ Tổng tham mưu, QĐNDVN, xuất bản năm 1985 giải thích:

"Giáo dục chính trị - tư tưởng, quá trình tác động liên tục, có cơ sởkhoa học, có định hướng vào đối tượng được giáo dục nhằm bồidưỡng cho họ khả năng nhận thức chính trị đúng đắn, thái độ chínhtrị phù hợp với quan điểm cách mạng, tinh thần kiên định đấu tranh

Trang 6

vì chủ nghĩa xã hội Giáo dục chính trị - tư tưởng là một nội dung cơbản trong việc đào tạo và rèn luyện quân nhân cách mạng, được tiếnhành một cách thường xuyên và có hệ thống đối với mỗi quân nhântrong suốt quá trình tại ngũ, bằng huấn luyện chính trị theo cácchương trình phù hợp với từng cấp quân nhân, bằng công tác tuyêntruyền và vận động chính trị và bằng sinh hoạt tập thể trong quânđội"[95, 259]

Chúng tôi cho rằng những định nghĩa trên về thuật ngữ GDCTTT,

về cơ bản là đúng đắn, khoa học, có những hạt nhân hợp lý, nhưngcần bổ sung, phát triển sâu sắc hơn, tăng thêm một số dấu hiệu trongnói hàm của khái niệm

Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa GDCTTT trong quân đội ta

là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có hệ thống của Đảng vào ý thức của CB, CS để truyền bá những tư tưởng chính trị

cơ bản, cốt lõi là CNM-LN, TTHCM, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước làm cho chúng thấm sâu, chiếm vị trí thống trị tuyệt đối trong đời sống tinh thần, định hướng suy nghĩ

và hành động của CB CS; xây dựng cho họ thế giới quan và phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa; bồi dưỡng cho họ năng lực thực hiện những tư tưởng chính trị của Đảng trong chiến đấu và mọi hoạt động chính trị xã hội khác; tập hợp, đoàn kết, động viên, cổ vũ họ hành động tích cực, sáng tạo vì lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc

Trang 7

và CNXH góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.

Do đó có thể khẳng định: Bản chất của GDCTTT trong quân đội

ta là đấu tranh tư tưởng để xác lập vị trí thống trị tuyệt đối của

CNM-LN, TTHCM trong đời sống tinh thần của CB, CS, củng cốvững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; bồi dưỡng,rèn luyện những quân nhân có thế giới quan khoa học, cách mạng,bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống của giai cấp côngnhân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ

Trong GDCTTT, giáo dục chính trị và giáo dục tư tưởng gắn kếtchặt chẽ với nhau thành một quá trình thống nhất biện chứng Giáodục chính trị, trung tâm là giáo dục CNMLN, TTHCM, đường lốichính sách của Đảng phải gắn với khắc phục tư tưởng sai, xây dựng

tư tưởng đúng, trực tiếp chỉ đạo hành động tích cực sáng tạo củamỗi người trong đấu tranh cách mạng Ngược lại, xây dựng tưtưởng từ tư tưởng chính trị đến phẩm chất đạo đức cách mạng, phảitrên cơ sở bồi dưỡng các kiến thức khoa học xã hội và nhân văn,trung tâm là CNMLN, TTHCM, đường lối chính sách của Đảng

Chức năng cơ bản của GDCTTT.

Chức năng của GDCTTT được hiểu là những nhiệm vụ chung,bao quát mang tính ổn định mà nhờ việc thực hiện chúng, chủ thểGDCTTT tác động một cách có mục đích đến ý thức và hành vi củađối tượng Chức năng của GDCTTT mang tính khách quan đượcquy định bởi bản chất của nó và do nhu cầu khách quan của sự

Trang 8

nghiệp cách mạng của Đảng, nhu cầu khách quan của đấu tranh giaicấp và dân tộc nói chung đấu tranh tư tưởng nói riêng mà hìnhthành.

GDCTTT có các chức năng cơ bản sau:

Thứ nhất, chức năng nhận thức

Đây là chức năng quan trọng đầu tiên của GDCTTT Thông quaviệc truyền bá, giải thích rộng rãi lý luận cách mạng của giai cấpcông nhân, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước, truyền thụ những tri thức về lĩnh vực chính trị - xã hội, baogồm cả học thuyết chiến tranh quân đội của chủ nghĩa Mác - Lê nin,

tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối quân sự củaĐảng GDCTTT góp phần quan trọng làm cho quần chúng nhậnthức đúng đắn về sự vận động và phát triển của xã hội, có phươngpháp đúng đắn để xem xét và giải quyết các sự kiện, hiện tượngtrong đời sống xã hội, kể cả các vấn đề quốc phòng, chiến tranh,quân sự, quân đội

Chức năng nhận thức của GDCTTT, thực chất là quá trình hìnhthành ở đối tượng giáo dục những khái niệm chính trị, đạo đức,pháp luật, văn hóa, thẩm mỹ giúp họ nhận ra giá trị tốt đẹp, chân

lý, lẽ phải, hiểu được tính nhân bản, nhân văn, nhân đạo của cuộcsống và sống theo định hướng của các giá trị xã hội tốt đẹp Nhậnthức đúng là cơ sở cho sự hình thành tình cảm, thái độ và hành viphù hợp với những chuẩn mực xã hội.Ngược lại nhận thức sai lầm

Trang 9

là nguyên nhân dẫn đến những thái độ và hành vi cản trở sự pháttriển xã hội.

Thứ hai, chức năng định hướng

Định hướng suy nghĩ và hành động của con người là một chứcnăng quan trọng của GDCTTT GDCTTT xây dựng cho quần chúngthế giới quan và phương pháp luận khoa học, niềm tin cộng sản chủnghĩa, từ đó giúp con người xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, cóđịnh hướng chính trị đúng đắn, chỉ đạo con người lựa chọn conđường, biện pháp để thực hiện mục tiêu đó Không xác định rõ hoặcmất phương hướng chính trị, con người không có khả năng phânbiệt đúng sai, dễ dao động ngả nghiêng trước những biến cố chínhtrị xã hội Thông qua những hình thức và phương pháp tác động tưtưởng phong phú, sinh động, hấp dẫn có sức thuyết phục cao,GDCTTT vừa thực hiện chức năng định hướng rộng (mục tiêu lýtưởng, lẽ sống, lối sống, định hướng giá trị nhân cách…); vừa thựchiện chức năng định hướng hẹp (định hướng thái độ hành vi của conngười trước nột sự kiện cụ thể, một hoạt động cụ thể, trong nhữngmối quan hệ xã hội nhất định….)

Định hướng chính trị, tư tưởng là một việc làm thường xuyên củaGDCTTT Đặc biệt trước những bước ngoặt của cách mạng, trướcnhững biến cố phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế và trongnước, trước mỗi chủ trương mới của Đảng và Nhà nước lại càngphải coi trọng việc định hướng chính trị, tư tưởng đúng đắn choquần chúng Nếu không kịp thời định hướng thì tư tưởng sẽ hỗn

Trang 10

loạn hành động tuỳ tiện, dễ phạm sai lầm dẫn đến sự lạc hướngchính trị trong nhân dân gây tác hại cực kỳ nghiêm trọng, Đó là điều

đã diễn ra ở Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu mà chúng ta phảibiết rút ra bài học

Thứ ba, chức năng chiến đấu phê phán

Trong hoạt động tư tưởng thường xuyên diễn ra đấu tranh giữađúng và sai, tích cực cách mạng và phản động Vì vậy, chiến đấuphê phán là một chức năng quan trọng của GDCTTT Chức năngchiến đấu phê phán của GDCTTT biểu hiện trên cả hai mặt: cổ vũ,động viên mọi suy nghĩ và hành động đúng, mọi nhân tố mới, tíchcực; đấu tranh, phê phán mọi quan điểm tư tưởng sai trái, mọi biểuhiện tiêu cực trong đời sống nói chung, trong lĩnh vực tinh thần, tưtưởng nói riêng

Để thực hiện chức năng chiến đấu phê phán một cách triệt để phảigắn việc đấu tranh phê phán cái cũ, lạc hậu với xây dựng và cổ vũcái mới, cái tiến bộ; gắn việc đấu tranh phê phán các trào lưu tưtưởng thù địch với việc bản vệ, phát triển CNM-LN, TTHCM; gắnxây với chống

Trong tình hình hiện nay phải kiên quyết đấu tranh không khoannhượng với hệ tư tưởng tư sản với các học thuyết tư sản, ca ngợimột chiều CNTB, bác bỏ CNM-LN, TTHCM, phủ nhận CNXH hiệnthực, phủ nhận định hướng XHCN, phủ nhận sự lãnh đạo toàn diệncủa Đảng Cộng sản đối với xã hội Đó là vấn đề hàng đầu củanhiệm vụ đấu tranh phê phán, nhằm đập tan phương hướng hoạt

Trang 11

động chính trị tư tưởng chủ yếu của các thế lực thù địch mưu đồ pháhoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, quân đội ta.

Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống tư tưởng tư sản,chúng ta không coi nhẹ việc đấu tranh phê phán các biểu hiện của tưtưởng tiểu tư sản, tàn dư của tư tưởng phong kiến gia trưởng vẫn tồntại dai dẳng trong Đảng ta, quân đội ta Ngày nay cần nhấn mạnh:tuyệt đối không buông lỏng việc đấu tranh chống các biểu hiện tưtưởng cơ hội hữu khuynh, xét lại; cần đề phòng sự phát triển củachủ nghĩa giáo điều mới khi chúng ta mở rộng những quan hệ kinh

tế và giao lưu văn hóa, tăng cường việc học hỏi những kinh nghiệmcủa các nước khác Nếu như chủ nghĩa giáo điều cũ là sự áp dụngmột cách sách vở các nguyên lý Mác - Lênin, sao chép một cáchmáy móc kinh nghiệm các nước XHCN khác, thì chủ nghĩa giáođiều mới rút cục là sự đầu hàng hệ tư tưởng tư sản, là thói bắt chướcmột cách mù quáng các nước tư sản phương Tây

Thứ tư, chức năng tổ chức.

GDCTTT không chỉ là vũ khí sắc bén trong hoạt động tư tưởngđấu tranh tư tưởng của Đảng, mà còn là một phương thức vận động

quần chúng nhân dân làm cách mạng Vì vậy, tổ chức là một chức

năng quan trọng của GDCTTT Chức năng tổ chức của GDCTTTthể hiện ở sức mạnh lôi cuốn, tập hợp quần chúng tham gia vào cácphong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo

Chức năng tổ chức của GDCTTT được thể hiện thông qua việchướng dẫn, đoàn kết, tập hợp quần chúng tham gia vào các quá trình

Trang 12

tư tưởng, tham gia vào việc đấu tranh ủng hộ cái mới, tiến bộ, phêphán cái tiêu cực, lạc hậu trong đời sống xã hội, tham gia vào việcgiải quyết một nhiệm vụ nào đó do xã hội đặt ra Hình thức biểuhiện của chức năng tổ chức là một phong trào thi đua, một cuộc vậnđộng cách mạng rộng lớn hoặc một hình thức tập hợp quần chúngnào đó nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị đặt ra trước Đảng

và nhân dân ta

Các chức năng trên của GDCTTT có mối quan hệ biện chứng, tácđộng lẫn nhau và đem lại cho GDCTTT tính đặc thù, độc đáo, đặcsắc Các chức năng được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp

các hình thức, phương pháp GDCTTT phong phú, sinh động, hấp

dẫn, bảo đảm cho GDCTTT phát huy tốt vai trò của mình là một

"binh chủng" nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng của Đảng.Các loại hình cơ bản của GDCTTT

GDCTTT gồm các hoạt động cơ bản sau đây:

Một là, huấn luyện chính trị.

Bản chất của huấn luyện chính trị là quá trình tác động có mụcđích, có tổ chức, có hệ thống của chủ thể đến ý thức của đối tượnghuấn luyện theo những chương trình, nội dung cụ thể để truyền bánhững quan điểm tư tưởng, đường lối của Đảng, cốt lõi là những tưtưởng chính trị, làm cho những quan điểm tư tưởng của Đảng biếnthành những yếu tố của ý thức chính trị, lập trường chính trị của đối

Trang 13

tượng huấn luyện, bồi dưỡng cho họ năng lực thực hiện những tưtưởng chính trị của Đảng trong đời sống xã hội.

Trong thế giới ngày nay, mọi vấn đề phát triển kinh tế - xã hội,văn hóa: chiến tranh và hòa bình, mọi vấn đề của quá khứ và tươnglai đều phải trải qua sự đánh giá về mặt chính trị và đều nằm trongphạm vi các lợi ích của các giai cấp khác nhau Vì vậy, trong giáodục cùng với học văn hóa, kỹ thuật còn phải học chính trị nữa, bởivì: "nếu chỉ học văn hóa, kỹ thuật mà không có chính trị thì nhưngười nhắm mắt mà đui [49, 221] Đặc biệt, trong quân đội lại càngphải học chính trị, vì rằng: "Quân sự mà không có chính trị như câykhông có gốc, vô dụng lại có hại" [44 318] V.I Lênin khẳng định:

"chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấpnày hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, nhữnglời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôngiáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là

kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chínhtrị" [26, 57] Do đó cho nên, sự kiên trì trang bị những tri thức chínhtrị, những tri thức về CNM-LN, TTHCM để nâng cao giác ngộchính trị cho mọi người, trước hết là cán bộ đảng viên là một nhiệm

vụ quan trọng nhất của công tác GDCTTT

Nội dung huấn luyện chính trị gồm có: CNM-LN, TTHCM, nghịquyết văn kiện của Đảng về các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa,chính trị, quân sự; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; lịch sửtruyền thống của dân tộc của Đảng, của quân đội,

Trang 14

Có nhiều hình thức và phương pháp huấn luyện chính trị, kể cảhuấn luyện tại trường và huấn luyện tại đơn vị lên lớp, trao đổi, tựnghiên cứu có tổ chức

Một vấn đề có tính nguyên tắc xuyên suốt mà huấn luyện chính trịcần phải quán triệt sâu sắc là huấn luyện chính trị phải kết hợp xâydựng quan điểm tư tưởng đúng đắn, loại bỏ những quan điểm tưtưởng sai lầm

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Huấn luyện phải chú trọng việc cảitạo tư tưởng Huấn luyện thì phải hiểu rõ người học để nâng cao khảnăng và tẩy rửa khuyết điểm cho họ Phải huấn và luyện Huấn làdạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc"[48, 48-49]

Hai là, công tác tuyên truyền.

Tuyên truyền (tiếng La-tinh: Prapaganda) là một hoạt động xã hội

đặc biệt, nhằm truyền bá một quan điểm nào đó vào nhận thức, thái

độ, hành động của cá nhân, tập thể, tầng lớp, giai cấp nào đó trongtoàn xã hội

Thuật ngữ tuyên truyền xuất hiện cách đây khoảng 400 năm,dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo nhằm thuyết phục,lôi kéo những người khác theo đạo Ki-tô Sau này, thuật ngữ tuyêntruyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đếnsuy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họtheo một khuynh hướng nhất định

Trang 15

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Người tuyên truyền vàcách tuyên truyền" cho rằng: tuyên truyền là đem một việc gì nóicho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm" [47, 162].

Tuyên truyền có nhiều cách phân chia Nếu phân theo tính chất,kiểu loại hệ tư tưởng mà nó truyền bá, thì có tuyên truyền tư sản,tuyên truyền vô sản Nếu phân theo nội dung tuyên truyền, thì cótuyên truyền kinh tế, tuyên truyền chính trị, tuyên truyền văn hóa Nếu phân theo phạm vi tác động đến đối tượng, thì có tuyên truyền

cá biệt, tuyên truyền nhóm, tuyên truyền đại chúng Nếu phân theophương thức tác động, thì có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trựcquan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, haytuyên truyền trực tiếp, tuyên truyền gián tiếp

Mục đích của tuyên truyền thường được xét trên hai bình diện.Trên bình diện xã hội, tuyên truyền nhằm hình thành một kiểu ýthức xã hội mà cốt lõi của nó là thế giới quan, có tác đụng động viên

cổ vũ con người hành động tích cực vì lý tưởng mà chủ thể tuyêntruyền đặt ra Trên bình diện cá nhân tuyên truyền nhằm xây dựngnhận thức, củng cố niềm tin, phát huy tính tích cực xã hội của conngười Hiệu quả của tuyên truyền cao hay thấp tùy thuộc một phầnquan trọng vào việc chủ thể tuyên truyền có xác định được rõ rệtmục đích hay không Xác định đúng mục đích tuyên truyền, quántriệt nó trong toàn bộ hoạt động tuyên truyền, làm cho mục đích trởthành mục tiêu phấn đấu là một đòi hỏi vừa cơ bản, vừa cấp thiếtcủa thực tiễn tuyên truyền giáo dục hiện nay

Trang 16

Chủ thể tuyên truyền là những cá nhân, tổ chức đại diện cho đảngphái chính trị, nhà nước, giai cấp, đoàn thể, các nhóm xã hội mà lợiích của họ gắn liền với mục đích của tuyên truyền Dưới CNXH,chủ thể tuyên truyền là toàn Đảng, toàn thể cán bộ, đảng viên, tổchức nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội khác trong hệ thốngchính trị Cơ quan tuyên truyền các cấp, các ngành, cơ quan chínhtrị trong lực lượng vũ trang là lực lượng tham mưu giúp cấp ủy đảngchỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đồng thời trực tiếp thực hiện công táctuyên truyền trong Đảng và trong toàn xã hội.

Đối tượng tuyên truyền là những cá nhân, tập thể, tầng lớp, giaicấp, nhóm xã hội, những cộng đồng người ở trong và ngoài nước.Đối tượng tuyên truyền trong quân đội là tất cả cán bộ, chiến sĩ.Nội dung tuyên truyền là nội dung các loại hoạt động mà chủ thểtuyên truyền đã xác định để chuyển tải đến đối tượng nhằm thựchiện mục đích đề ra Nội dung tuyên truyền được quy định bởi mụcđích, đối tượng, điều kiện tiến hành tuyên truyền cụ thể của mỗi giaiđoạn cách mạng Nội dung tuyên truyền phải toàn diện, có cơ cấuhợp lý, cân đối, tập trung ở những trọng tâm, trọng điểm nhằm đạtđược mục đích xác định Nội dung tuyên truyền có mối quan hệbiện chứng với hình thức phương pháp tuyên truyền Nội dungquyết định hình thức, hình thức phương pháp bảo đảm chuyển tảinội dung tuyên truyền đã xác định đến đối tượng

Phương pháp tuyên truyền có thể khái quát thành ba nhóm chính:

Trang 17

- Nhóm các phương pháp tuyên truyền miệng, nghĩa là dùng lờinói tác động đến đối tượng như bài giảng, báo cáo, thuyết trình kểchuyện, nói chuyện thời sự - chính sách, trao đổi, tọa đàm, tranhluận, hỏi - đáp.

- Nhóm các phương pháp trực quan bao gồm sử dụng cácphương tiện tượng trưng như: sơ đồ, bản đồ, biểu bảng và cácphương tiện tạo hình như tranh, ảnh, pa nô, áp phích, biểu ngữ, mòhình, ti vi, phim

- Nhóm các phương pháp thực tế như luyện tập, tham quan, tổngkết điển hình

Công tác tuyên truyền có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng cũng như trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Nótruyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội mà trướchết là trong các lực lượng tiên tiến, khơi dậy tính sáng tạo của quầnchúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cáchmạng, góp phần tổ chức các phong trào cách mạng, chuẩn bị về mặt

tư tưởng và con người cho các cuộc cách mạng Công tác tuyêntruyền là công tác cách mạng đầu tiên của bất kỳ giai cấp cáchmạng, tổ chức cách mạng nào Tư tưởng cách mạng chỉ trở thànhsức mạnh cải tạo xã hội khi quần chúng lĩnh hội được nó, chuyểnhóa thành những yếu tố của ý thức quần chúng, quyết định lậptrường sống và thế giới quan của họ Hoạt động cách mạng khôngthể thiếu công tác tuyên truyền - một khâu nối liền giữa lý luận và

Trang 18

thực tiễn Các nguyên tắc của công tác tuyên truyền là tính đảng,tính nhân văn, tính khoa học và nghệ thuật.

“Tài nghệ của mỗi một người tuyên truyền và mỗi một người cổđộng là ở chỗ ảnh hưởng một cách tốt nhất đến một thính giả nhấtđịnh, làm cho một chân lý nào đó đối với họ trở nên có sức thuyếtphục mạnh nhất, dễ hiểu nhất, để lại những ấn tượng rõ ràng nhất,sâu sắc nhất" [38, 28]

Ba là, công tác cổ động.

Cổ động (tiếng La-tinh : Aghitaxia), là những thông tin, giải thích

về những sự kiện đang diễn ra trong đời sống xã hội để cổ vũ, độngviên con người đi tới hành động

Cổ động xuất xứ là một từ Hán - Việt, "cổ" là cái trống, "động" làhoạt động Người xưa thường dùng tiếng trống để làm tín hiệu thúcgiục mọi người xung trận chiến đấu, hoặc kêu gọi mọi người hiệplực chống thiên tai, hỏa hoạn Ngày nay cổ động đóng vai trò quantrọng không chỉ trong giai đoạn cách mạng giành chính quyền màcòn trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cổ động thườngtiến hành trước số đông người, vì thế nó mang tính quần chúng rộngrãi Cổ động thường lấy một sự việc nổi bật mà mọi người đã biết

để chứng minh cho tư tưởng, ý đồ định sẵn nhằm kêu gọi quầnchúng hành động Cổ động phải đẩy tới hành động, biểu hiện ngaybằng hành động, tác động trực tiếp tới số đông quần chúng "Cổ"

mà người ta không "động" là không đạt hiệu quả

Trang 19

Cổ động chính trị là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt độngcách mạng của Đảng, là công cụ lãnh đạo chính trị đối với quầnchúng, nâng cao ý thức giác ngộ chính trị của quần chúng, tạo ra sựnhất trí đối với những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sáchcủa Nhà nước, thúc đẩy quyết tâm hành động Cổ động phải hướngvào những sự việc, sự kiện đã chín muồi trong cuộc sống, nhữngnhiệm vụ cần kíp trước mắt đã được xác định rõ trong đường lốichính sách của Đảng và Nhà nước, liên quan chặt chẽ đến lợi íchthiết thân của quần chúng Cổ động là phương tiện vừa để cổ vũquần chúng hành động theo đường lối của Đảng, vừa để thăm dòthái độ, tâm trạng, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhândân.

Hình thức cổ động thường đa dạng phong phú, tùy thuộc vàotừng đối tượng, trình độ, điều kiện, phương tiện ở từng lúc, từngnơi Các hình thức cổ động chủ yếu là qua các phương tiện nghenhìn như: cổ động miệng (diễn thuyết, tọa đàm, trao đổi, hộithảo ); các hình thức truyền đơn, tờ rơi, mít tinh, diễu hành, rướcđuốc; hoặc các khẩu hiệu, tranh vẽ, triển lãm, phim, ảnh Các hoạtđộng văn nghệ như tấu, hát, hoạt cảnh, các tiết mục sân khấu ngắnnhư kịch, chèo, cải lương cũng được sử dụng rộng rãi

Công tác cổ động là khâu trọng yếu trong công tác tư tưởng nóichung, GDCTTT nói riêng, vì cổ động là khâu cuối cùng quyết địnhviệc chuyển hóa lý luận đã được quần chúng tin tưởng tiếp nhận

Trang 20

thành hành động cách mạng của đông đảo quần chúng Công tác cổđộng có các chức năng:

- Phổ biến thông tin, góp phần làm giàu thế giới tinh thần củacon người bằng những tin tức về các sự thật, sự kiện, hiện tượng củađời sống xã hội, góp phần nâng cao hiểu biết của nhân dân về đườnglối đối nội, đối ngoại của Đảng, những nhiệm vụ trước mắt và lâudài của ngành, của địa phương, của cơ sở

- Bình luận, giải thích ý nghĩa xã hội, chỉ ra nội dung chính trị củacác nguồn thông tin, góp phần định hướng dư luận và hoạt động xãhội

- Hiệu triệu, động viên, cổ vũ quần chúng hăng say lao động, sảnxuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, thực hiện các nhiệm

vụ chính trị của đất nước, của địa phương và của các tập thể laođộng

Trong thực tiễn, công tác tuyên truyền và công tác cổ độngthường gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất thành công tác tuyêntruyền - cổ động

Bốn là, công tác văn hóa - văn nghệ.

Văn hóa - văn nghệ là một lĩnh vực có độ nhạy cảm đặc biệt, làphương tiện sắc bén, tinh tế, hữu hiệu trong GDCTTT, tạo ra nhữngnhận thức đa dạng, nhiều mặt về hiện thực đời sống, về những cáihay, cái dở trong xã hội và trong bản thân con người để đấu tranhxây dựng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp Chỗ mạnh nhất của

Trang 21

văn hóa - văn nghệ chân chính là tìm hiểu, đi sâu phát hiện thế giớitâm hồn, những tư tưởng tình cảm con người trước những biến thiên

xã hội, hướng con người đến những vẻ đẹp nhân văn, tác độngmạnh mẽ đến sự tự hoàn thiện nhân cách

Với đặc trưng phản ánh bằng hình tượng nghệ thuật, văn hóa văn nghệ rất dễ đi vào lòng người, lay động trái tim, khối óc conngười, khắc sâu vào tâm khảm họ, thôi thúc họ đi tới hành động.Đây vừa là đặc thù, vừa là lợi thế của văn hóa - văn nghệ so với cácloại hình GDCTTT khác

-Văn hóa - văn nghệ lành mạnh có vai trò cực kỳ quan trọng trongxây dựng đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng, giữ gìn bản sắcvăn hóa dân tộc, bồi đắp phát huy nội lực bảo vệ, xây dựng pháttriển đất nước Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói: "Không có vũ khínào tốt hơn những sản phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, nhữngcông trình văn hóa mang nội dung sâu sắc chủ nghĩa yêu nước ViệtNam, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ tự lực, tự cường, xây dựngbản lĩnh chính trị trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế

Không có phương thức nào tốt hơn là sử dụng văn hóa - văn nghệ

để nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, kiên địnhđường lối của Đảng, lập trường của giai cấp công nhân và nguyêntắc tổ chức của Đảng [68]

Hiện nay, nước ta có một hệ thống thiết chế văn hóa khá hoànchỉnh, với một đội ngũ đông đảo các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, vănnghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu lý luận, phê bình và những người

Trang 22

sáng tạo nghiệp dư, bán chuyên; hàng trăm đoàn nghệ thuật chuyênnghiệp, ca múa nhạc, sân khấu; các hãng phim, hệ thống viện bảotàng, nhà bảo tàng, hệ thống thư viện, nhà văn hóa nhà truyềnthống, nhà triển lãm, nhà hát, rạp chiếu bóng; hệ thống xuất bản,báo chí với hàng chục nhà xuất bản, hàng trăm tờ báo, hệ thống phátthanh, truyền hình; các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; các khu

vui chơi giải trí, v.v Nếu tất cả đội ngũ, thiết chế và sản phẩm văn

hóa đó được huy động đầy đủ, tổ chức tốt, sẽ tạo nên sức mạnhchính trị tinh thần, văn hóa to lớn, nâng cao hiệu quả hoạt độngGDCTTT, góp phần làm cho đời sống tinh thần, văn hóa của xã hộiphát triển phong phú, lành mạnh, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng conngười mới XHCN

Đương nhiên, sự phân biệt các loại hình GDCTTT chỉ có ý nghĩatương đối, bởi vì công tác GDCTTT là một quá trình, gắn kết chặtchẽ giữa nhiều mặt hoạt động tương hỗ lẫn nhau và thâm nhập vàonhau tạo thành sức mạnh tổng hợp tác động vào đối tượng

1.1 2 Khái niệm chất lượng GDCTTT trong quân đội

Mọi hoạt động xã hội của con người dù được bất kỳ hình thức nàođều có thể đánh giá được về mặt chất lượng so với nhu cầu thực tiễn

cụ thể GDCTTT trong quân đội là một dạng hoạt động xã hội, do

đó cũng như mọi lĩnh vực hoạt động có mục đích khác, GDCTTTcần phải được đánh giá về mặt chất lượng

Vậy chất lượng GDCTTT trong quân đội là gì? Việc đánh giáchất lượng GDCTTT dựa trên những cơ sở phương pháp luận nào?

Trang 23

Cho đến nay, có thể còn có những khái quát khác nhau về kháiniệm chất lượng GDCTTT trong quân đội Song, có thể quan niệm

về thực chất: Chất lượng GDCTTT trong quân đội là tổng hợp các yếu tố , các mặt của GDCTTT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong từng thời kỳ nhất định, trong một bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cụ thể, được biểu hiện ra qua nhận thức, tư tưởng chính trị và kết quả hoạt động thực tiễn của CB, CS, góp phần tích cực, quyết định vào việc thực hiện nhiệm vụ, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội.

Từ quan niệm trên, có thể nêu ra một số vấn đề có tính nguyên tắckhi đánh giá chất lượng GDCTTT trong quân đội

Thứ nhất, mục đích là một trong những căn cứ để xác định chất

lượng Mục đích đặt ra những vấn đề gì thì chính những vấn đề đó

là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng

Mục đích của một hoạt động nói chung là kết quả dự kiến mà mỗichủ thể cần phải phấn đấu để đạt được Mục đích không phải là một

sản phẩm thuần túy chủ quan, mục đích nảy sinh từ nhu cầu thực

tiễn V.I Lênin chỉ rõ: "Trong hoạt động thực tiễn của mình, conngười đứng trước thế giới khách quan, phụ thuộc vào thế giới kháchquan ấy, để cho thế giới khách quan ấy quy định hoạt động củamình Thật ra, mục đích của con người là do thế giới khách quansản sinh ra, và lấy thế giới khách quan làm tiền đề - coi thế giớikhách quan là cái hiện có, là cái có thật” [28, 199; 201] Mục đích

có tác dụng định hướng, chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động Chất

Trang 24

lượng, hiệu quả của một hoạt động phụ thuộc vào việc xác địnhđúng đắn mục đích ban đầu dựa trên cơ sở cân nhắc toàn diện nhucầu khách quan, khả năng khách quan và nhân tố chủ quan TheoA.M.Gen đin: "Mục đích không những được thể hiện trong nhậnthức những nhu cầu và những khả năng khách quan đáp ứng nhữngnhu cầu đó, mà còn được thể hiện trong sự phản ánh bởi chủ thểnhững năng lực sẵn có của mình trong việc tích cực vận dụng nhữngkhả năng đó đề đạt được kết quả mong muốn [18, 63].

GDCTTT tuy là một hoạt động trong lĩnh vực tinh thần nhưngkhông có nghĩa là chỉ tác động đến lĩnh vực tinh thần, ý thức củacon người GDCTTT của giai cấp vô sản đặt ra mục đích thay đổi cả

ý thức và hành vi của đối tượng Mục đích đó được quy định bởibản chất và chức năng của hệ tư tưởng mác-xít - nội dung cốt lõi

của GDCTTT Chính bản chất cách mạng và khoa học, chức năng

không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới của hệ tư tưởngMác - Lê nin quy định một cách khách quan mục đích của GDCTTT

vô sản Vì vậy, khi đánh giá chất lượng GDCTTT có thể và cần phảichia thành hai nhóm tiêu chuẩn: nhóm tiêu chuẩn về biến đổi nhậnthức, tư tưởng và nhóm tiêu chuẩn về kết quả hoạt động thực tiễn

Thứ hai, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng GDCTTT trong quân đội

được thể hiện qua những thay đổi trong ý thức và hành vi của quânnhân, nhưng quá trình thay đổi ý thức và hành vi diễn ra không chỉđơn thuần do tác động riêng của GDCTTT, mà còn của nhiều nhân

tố khác: của toàn bộ hệ thống CTĐ, CTCT trong đó GDCTTT là

Trang 25

một kiểu hệ thống; của toàn bộ môi trường xã hội khách quan trong

đó có môi trường quân sự Do đó, việc đánh giá chất lượngGDCTTT trong quân đội phải đặt nó trong toàn bộ hoàn cảnh kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội và toàn bộ hoạt động lãnh đạo và chỉhuy trong quân đội, trực tiếp là hoạt động của hệ thống CTĐ,CTCT

Thứ ba, chất lượng GDCTTT được đánh giá không chỉ ở những

chỉ số định lượng (như số buổi lên lớp chính trị, số sách chính trị

-xã hội đã đọc số lần nghe đài, xem vô tuyến truyền hình, nghe thôngbáo chính trị, thời sự chính sách ) mà chủ yếu là những chỉ số địnhtính (sự chuyển biến thực sự về mặt kiến thức khoa học, sự chuyểnhóa tri thức tiếp thu được thành niềm tin, lập trường tư tưởng, bảnlĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, hành động cách mạng ) Vì vậy,khi đánh giá chất lượng GDCTTT không thể chỉ căn cứ vào chỉ số

số lượng, mà chủ yếu phải căn cứ vào những dấu hiệu thể hiện sựchuyển biến về chất

Thứ tư, khác với lĩnh vực sản xuất vật chất là nơi chất lượng

thường thể hiện một cách tức thời, rõ ràng, cụ thể, trong GDCTTTchất lượng chỉ thể hiện dần dần, trải qua thời gian tương đối dài.Điều đó do tính đặc thù của lĩnh vực tinh thần quy định Cho nên,khi đánh giá chất lượng GDCTTT phải rất thận trọng, tỉ mỉ, tránhvội vàng, giản đơn, phiến diện; phải xem xét trong một thời giantương đối dài để sự vật bộc lộ đầy đủ những thuộc tính của nó; đồngthời phải có quan điểm khách quan toàn diện, lịch sử cụ thể, phát

Trang 26

triển Vì rằng, chất lượng GDCTTT được phản ánh bởi những thayđổi nhất định trong ý thức của cá nhân và được bộc lộ qua thái độ,hành vi trong hoạt động thực tiễn nên để đánh giá trình độ giác ngộ

chính trị, tính kiên định về lập trường, bản lĩnh chính trị cần có

thời gian

1.1.3 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng GDCTTT trong quân đội

Muốn đánh giá đúng chất lượng GDCTTT trong quân đội đòi hỏi

phải xác định chính xác những tiêu chuẩn của nó Việc xác địnhnhững tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng GDCTTT phải bảo đảm sựthống nhất giữa số lượng và chất lượng, tư tưởng với hành động,nhận thức với hành vi, lời nói với việc làm Tuy nhiên, khi xác định

những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng GDCTTT đã xuất hiện

những quan niệm khác nhau Một số học giả cho rằng tiêu chuẩnchủ yếu để đánh giá chất lượng GDCTTT là tri thức bao gồm nhữnghiểu biết về CNM-LN, TTHCM, đường lối chính sách của Đảng,pháp luật Nhà nước Một số học giả khác lại quan niệm cái quantrọng là thế giới quan khoa học, niềm tin vào CNXH, là tính tíchcực xã hội của con người Những quan niệm trên về cơ bản làđúng, song cần đưa ra những tiêu chuẩn bao quát toàn diện, đượcluận chung một cách khoa học, đặc trưng cho chất lượng củaGDCTTT trong quân đội

Như trên đã nêu, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng GDCTTT trongquân đội có thể chia thành hai nhóm: nhóm tiêu chuẩn về nhận thức,

tư tưởng chính trị; nhóm tiêu chuẩn về kết quả hoạt động thực tiễn

Trang 27

Vấn đề đặt ra là cần phải làm rõ những thuộc tính cụ thể về mặtnhận thức, tư tưởng chínhtrị, về kết quả hoạt động thực tiễn của đốitượng mà GDCTTT cần đạt tới; tính bền vững, ổn định của nhữngthuộc tính đó Tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng GDCTTT trongquân đội có sự thống nhất hữu cơ với nhau, thể hiện trình độ từ thấpđến cao, phản ánh kết quả tổng hợp của hoạt động GDCTTT.

Tuy nhiên, có thể phân chia chúng một cách tương đối để phântích xem xét giúp cho việc đánh giá chất lượng GDCTTT đượckhách quan, toàn diện sâu sắc

Tiêu chuẩn về nhận thức, tư tưởng chính trị.

Tiêu chuẩn này được cấu thành bởi các yếu tố sau:

Một là, độ sâu của sự lĩnh hội tri thức chính trị - xã hội, đặc biệt

là tri thức về khoa học CNM-LN, TTHCM Đây là một tiêu chí quan

trọng đầu tiên trong đánh giá chất lượng GDCTTT Tiêu chí này cóphạm vi bao quát khá rộng Về một nội dung, chúng bao gồm nhữnghiểu biết về các khái niệm, phạm trù, quy luật chính trị - xã hội, CNM-LN, TTHCM, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhànước, những giá trị và chuẩn mực chính trị như tự do, dân chủ,quyền con người , chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế củagiai cấp công nhân, những tri thức về văn hóa chính trí, những hiểubiết về các sự kiện chính trị - xã hội Về mức độ, đó là tính hệ thốngcủa các kiến thức thu nhận được, trình độ vận dụng kiến thức như làphương pháp để đánh giá các vấn đề của đời sống chính trị

Trang 28

Mức độ nắm vững bản chất các sự kiện chính trị đang diễn ratrong đời sống xã hội là một trong những yếu tố quan trọng của tiêuchí chất lượng GDCTTT về mặt truyền thụ và lĩnh hội tri thức Conngười không thể có tri thức sâu sắc, có trình độ tư duy khoa học,càng không thể có niềm tin khoa học nếu không nắm được các sựkiện, bản chất các sự kiện Không có hiểu biết về các sự kiện thìnhững tri thức về lý luận chỉ là những tri thức chung chung, trừutượng GDCTTT mang đến cho đối tượng tri thức về các sự kiện tạo

cơ sở xây dựng niềm tin vào sự đúng đắn của những quan điểmđang được tuyên truyền, phổ biến

Việc hiểu biết các sự kiện là một yếu tố quan trọng, nhưng khôngphải là yếu tố duy nhất của tiêu chí về sự lĩnh hội tri thức Hiểu biết

về những trừu tượng khoa học, những khái niệm, phạm trù, quy luậtcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, của đời sống chính trị - xã hội cũng làmột yếu tố quan trọng của tiêu chí này Cho nên, sẽ không đánh giáđầy đủ chất lượng GDCTTT nếu không làm sáng tỏ được hệ thốngkiến thức dưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật

Sự kiện và phạm trù, quy luật có mối quan hệ biện chứng với

nhau Hiểu sự kiện mà không nắm được quy luật và ngược lại hiểu

quy luật nhưng không nắm được những sự kiện tương ứng thì khôngmang lại tri thức với ý nghĩa đầy đủ của từ này Tri thức toàn diệnchỉ có thể nảy sinh từ sự kết hợp sự hiểu biết về sự kiện và phạmtrù, quy luật Con người chỉ có thể hiểu biết sâu sắc các sự kiện kinh

tế, chính trị, xã hội khi gắn nó với lý luận Mác - Lênin, tức là có khả

Trang 29

năng giải thích các sự kiện theo lập trường của chủ nghĩa Mác Lênin.

-Vì vậy, GDCTTT phải biết kết hợp thông tin đa dạng, có địnhhướng các sự kiện một cách có chọn lọc liên quan đến các quanđiểm chính trị đang được phổ biến với giáo dục có hệ thống lý luậnMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm tư tưởngtrong đường lối, cương lĩnh của Đảng, pháp luật Nhà nước Đồngthời phải hướng dẫn đối tượng biết đánh giá các sự kiện theo quanđiểm của Đảng, biết dự đoán xu hướng tiến triển của các sự kiệnphức tạp đang diễn ra Mặt khác, toàn bộ những tri thức màGDCTTT truyền thụ tới đối tượng phải là tri thức được hệ thốnghóa bởi vì xã hội là một thể thống nhất biện chứng nhiều mối quan

hệ đa dạng, phức tạp

Biểu hiện cao nhất của tiêu chí về sự lĩnh hội tri thức là việc nắmvững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để đánh giá,phân tích các sự vật, hiện tượng và quá (luật kinh tế, chính trị, xãhội diễn ra trong đời sống xã hội

Hai là, độ vững chắc của niềm tin cộng sản Đó là một tiêu chí

giữ vai trò chủ đạo của chất lượng GDCTTT Sự hình thành niềmtin cộng sản luôn luôn là nhiệm vụ trung tâm của GDCTTT

Niềm tin là một phẩm chất quan trọng, chứa đựng cả yếu tố chínhtrị và yếu tố đạo đức của con người Niềm tin gắn với lý tưởng, vớithế giới quan, nhân sinh quan của cá nhân Nó là một hiện tượngtinh thần có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiều hiện tượng tâm lý như

Trang 30

sự ham mê, mong muốn, ý chí, khát vọng Niềm tin quy định thái

độ của con người đối với thế giới khách quan, đối với người khác vàđối với bản thân Niềm tin là sự thống nhất hữu cơ của kết quả nhậnthức hiện thực khách quan và thái độ đối với hiện thực, là sự côđọng những hiểu biết của con người về các hiện tượng, sự đánh giáchủ quan đối với những hiện tượng Đó, sự tin tưởng của cá nhânvào sự đúng đắn của thế giới quan, nhân sinh quan, hệ tư tưởngchính trị của Đảng Tính lạc quan, tính nhất quán, tính hoàn chỉnh,tính mục đích của các quan điểm, tinh thần sẵn sàng bảo vệ nhữngquan điểm ấy là những nét đặc trưng nhất của niềm tin Người cóniềm tin sẽ có khả năng tự định hướng trong cuộc sống, không daođộng trước những bước ngoặt của lịch sử, có ý chí vươn lên phíatrước, có quyết tâm thực hiện mục đích đã xác định, có quan điểmsống tích cực, ý thức cao về trách nhiệm xã hội, biết sống và làmviệc để đem lại lợi ích nhiều nhất cho bản thân, tập thể và xã hội.Trong đời sống và hoạt động của CB, CS ta, niềm tin có vai trò rấtlớn CB, CS có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng củaĐảng thì mới xây dựng được cho mình lòng trung thành tuyệt đốivới Đảng, mới huy động được tối đa trí tuệ, sức lực của bản thân đểvượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, sẵn sàng chiến đấu hy sinh

vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, hoàn thành thắng lợi bất cứnhiệm vụ nào, góp phần thực hiện thành công mọi đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước Khẳng định vai trò tolớn của niềm tin đối với những người cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổquốc, V.I Lênin viết: "Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa,

Trang 31

sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc củanhững người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làmcho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy" [31, 147].Việc đánh giá niềm tin cộng sản của CB, CS ta cần căn cứ vàonhững dấu hiệu sau:

- Mức độ tin tưởng vào tính đúng đắn, tính cách mạng và khoahọc của CNM-LN, TTHCM, vào khả năng thắng lợi của con đường

đi lên CNXH

- Sự đánh giá của cá nhân về tính đúng đắn của kiến thức thuđược; khả năng nhận thức và định hướng đúng trước những diễn

biến phức tạp của tình hình chính trị quốc tế và trong nước

- Sự mong muốn tham gia vào hoạt động chính trị - thực tiễn; khảnăng huy động toàn bộ sức lực, trí tuệ, tinh thần của mình vào thựchiện nghĩa vụ quan nhân và những nhiệm vụ, chức trách cụ thể

- Sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc làm,giữa quan điểm chính trị với hành vi chính trị - thực tiễn

- Ý chí vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại ảnh hưởng của

hệ tư tưởng tư sản và các quan điểm phản động, phản khoa học;quyết tâm làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn "DBHB" của cácthế lực thù địch đối với cách mạng nước ta

- “Tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách chínhxác và mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp" [27, 66] đúng với

Trang 32

đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước.

Ba là, độ vững vàng của bản lĩnh chính trị Đây là một tiêu chí

quan trọng có ý nghĩa quyết định trong đánh giá chất lượngGDCTTT Bản lĩnh chính trị là biểu hiện của phẩm chất chính trịtinh thần, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội

Bản lĩnh chính trị là tổng hợp những phẩm chất chính trị của mỗingười hay một cộng đồng người đã phát triển đến mức chủ thể cóthể tự quyết định một cách độc lập, sáng tạo đúng đắn, hành vichính trị của mình trước những chuyển biến, những tình huống phứctạp về chính trị và không dao động, thay đổi trước bất kỳ tác độngbất lợi nào từ bên ngoài

Bản lĩnh chính trị của CB, CS quân đội là yếu tố chủ đạo trongmỗi quân nhân, trong mỗi tập thể quân nhân phản ánh trình độ giácngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc của họ Đó là tổng hợp những nhậnthức chính trị, tình cảm chính trị và hành vi chính trị của CB, CS đãphát triển đã tới trình độ tự giác cao, khả năng làm chủ về chính trịcủa họ, thể hiện tập trung ở lập trường quan điểm kiên định vữngvàng, nhạy cảm trước những biến động chính trị - xã hội, ở tínhnhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết chính xác và mau lẹ nhữngvấn đề chính trị thực tiễn, đúng với quy luật khách quan, địnhhướng chính trị của Đảng và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.Bản lĩnh chính trị của CB, CS được biểu hiện ra ở nhận thứcchính trị, tình cảm chính trị và hành vi chính trị

Trang 33

- Nhận thức chính trị của con người luôn có sự tách biệt tương đối

ở hai cấp độ, cấp độ nhận thức chính trị - thực tiễn thông thường vànhận thức ở cấp độ lý luận chính trị nên việc nghiên cứu nó phảibao gồm cả những nội dung phản ánh trực tiếp những vấn đề chínhtrị - xã hội diễn ra hàng ngày, trong huấn luyện, công tác, sẵn sàngchiến đấu, trong giao tiếp với việc tìm hiểu trình độ nhận thức lýluận chính trị, nắm kiến thức khoa học CNM-LN, TTHCM, đườnglối chính sách của Đảng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

- Tình cảm chính trị của CB, CS là hệ thống những rung động nảysinh trên cơ sở thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu chính trịcủa họ; đó là những rung cảm chính trị, cảm xúc chính trị, tập trung

ở những thái độ đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, đối vớinhiệm vụ chính trị quân sự và các nhiệm vụ khác Những tình cảmchính trị mạnh mẽ thúc đẩy phát triển nhận thức chính trị và hành vichính trị

- Hành vi chính trị của CB, CS là tất cả những cử chỉ, lời nói, thái

độ hành động của họ trong giải quyết các mối quan hệ chính trị - xãhội thường xuyên và nhất là trước các sự kiện đột biến, những bướcngoặt, những thời cơ và nguy cơ trong đời sống chính trị - xã hộicủa đất nước, của quân đội và đơn vị

Nhận thức chính trị, tình cảm chính trị và hành vi chính trị cóquan hệ biện chứng quy định lẫn nhau Nội dung, tính chất, trình độcủa hành vi chính trị bao giờ cũng thống nhất biện chứng với nội

Trang 34

dung, tính chất, trình độ của nhận thức chính trị, tình cảm chính trị

và ngược lại

Tiêu chuẩn về kết quả hoạt động thực tiễn.

Khi đánh giá chất lượng GDCTTT trong quân đội không chỉ xemxét về nhận thức, tư tưởng chính trị mà quan trọng hơn là xem xét

sự biểu hiện qua kết quả hoạt động thực tiễn của CB, CS Bởi vì, chỉthông qua hoạt động, cọ xát với những khó khăn, trong quá trìnhthực hiện những công việc xã hội thì niềm tin, thế giới quan, bảnlĩnh chính trị của con người mới được đánh giá một cách đầy đủ,chính xác Trong tác phẩm "Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dântúy", V.I Lê nin đã chỉ ra cơ sở phương pháp luận để đánh giá chấtlượng công tác tư tưởng nói chung và chất lượng của GDCTTT nóiriêng bằng luận điểm nổi tiếng sau: "Chúng ta căn cứ vào cái gì đểxét đoán những "tư tưởng và tình cảm" thực của các cá nhân cóthực? Tất nhiên, căn cứ đó chỉ có thể là những hoạt động của các cánhân ấy và một khi vấn đề chỉ là "tư tưởng và tình cảm" xã hội thìcần phải nói thêm: những hoạt động xã hội của cá nhân, tức lànhững sự kiện xã hội [35, 531]

Cho nên, chất lượng GDCTTT trong quân đội bề mặt kết quả hoạt

động thực tiễn của CB, CS - đối tượng giáo dục, được xác định bởinhững tiêu chí cơ bản sau:

- Trạng thái sẵn sàng chiến đấu của từng quân nhân và tập thểquân nhân Đó là một tiêu điểm quy tụ tổng hợp những yếu tố tinhthần, đạo đức, sự tôi luyện về mặt tư tưởng, trình độ vững vàng về

Trang 35

mặt lập trường giai cấp, tính tự giác, trình độ huấn luyện về kỷ luật,trình độ thành thạo kỹ, chiến thuật, nghệ thuật của đội ngũ cán bộchỉ huy và nhiều yếu tố khác GDCTTT như là chất kết dính, tạonên sức mạnh tổng hợp của các yếu tố, bảo đảm cho CB, CS luônluôn ở trạng thái sẵn sàng cao nhất, có lệnh là lên đường được ngay

và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống Vì vậy,thông qua trạng thái sẵn sàng chiến đấu để đánh giá chất lượngGDCTTT trong quân đội được xác định là một tiêu chí cơ bản phảnánh tính chất đặc thù của hoạt động quân sự

- Tính tích cực chính trị - xã hội của bộ đội Đó là những biểuhiện của sự hoạt động của cá nhân với niềm tin khát vọng muốnphục vụ lợi ích của xã hội, của Tổ quốc và nhân dân Tính tích cựcchính trị - xã hội bao gồm những thành phần: các nhu cầu, lợi ích,những định hướng giá trị, tình cảm, tư tưởng, niềm tin của conngười Hoạt động của cá nhân được coi là tích cực, nếu nó là nhucầu bên trong của cá nhân, hướng tới bộc lộ những khả năng sángtạo của mình với tính tự giác cao và với động cơ trong sáng

Tính tích cực chính trị - xã hội của CB, CS ta được biểu hiện raqua mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của từng người; mức

độ tham gia vào các hoạ động chính trị - xã hội như: tham gia xâydựng Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng trong hệ thốngchính trị, tham gia xây dựng và nỗ lực thực hiện hiến pháp, phápluật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia xâydựng các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy và các tổ chức quần chúng

Trang 36

trong quân đội, tham gia thực hiện các cuộc vận động chính trị của

Đảng trong quân đội, v.v

Thế nhưng tính tích cực chính trị - xã hội của bộ đội không phải

là hành động nhất thời "lửa rơm" mà phải có tính bền vững Vì vậy,quá trình GDCTTT phải hướng tới việc hình thành cho mỗi CB, CSthói quen thường xuyên tham gia tích cực vào đời sống chính trị -

xã hội của đất nước, của quân đội Lênin khẳng định rằng: để có cái

gì đã ăn sâu vào đời sống văn hóa, vào phong tục, tập quán, mới cóthể coi là đã được thực hiện" [37, 443]

- Thái độ và hành vi đạo đức của CB, CS Xét đến cùng thì thànhquả của GDCTTT biểu hiện ở chỗ các tiêu chuẩn đạo đức cáchmạng được thâm nhập vào ý thức, tâm lý của cá nhân sâu sắc và bềnvững đến mức trở thành một đặc điểm không thể tách rời của đờisống tinh thần và quyết định mọi hành vi của cá nhân Chủ tịch HồChí Minh nhấn mạnh: "Người cách mạng phải có đạo đức cáchmạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻvang Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thấtbại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Vì lợi ích chung của Đảng,của cách mạng, của giai cấp của dân tộc và của loài người mà khôngngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình Khi cần, thìsẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc Có đạođức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữvững tinh thần gian khổ chất phác, khiêm tốn, lo trước thiên hạ, vuisau thiên hạ"; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về

Trang 37

mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo,không hủ hóa" [46, 283-284].

Do đó, có thể nói đặc trưng cơ bản nhất quyết định đời sống đạođức của mỗi quân nhân là chủ nghĩa tập thể và tính không điều hòavới chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ và tất cả những tàn dư của quákhứ tồn tại trong ý thức của mỗi người Vì vậy, những yêu cầu vềđạo đức cách mạng, những đòi hỏi trong lời thề danh dự của quânnhân, trong điều lệnh, điều lệ của quân đội là thước đo rất chính xácthái độ và hành vi của mỗi quân nhân phản ánh chất lượngGDCTTT

Tóm lại, những tiêu chuẩn trên là một thể thống nhất biện chứng,

quan hệ chặt chẽ với nhau làm rõ chất lượng GDCTTT Chất lượngGDCTTT không bao giờ ngưng đọng bất biến, tuyệt đích cuối cùng

vì thực tiễn đấu tranh cách mạng nói chung, đấu tranh tư tưởng nóiriêng không ngừng biến động, phát triển Trong quá trình hoạt độngchính trị - xã hội, ở mỗi quân nhân thường xuyên xuất hiện nhu cầunhận thức mới, kiến thức mới, hành động sáng tạo không ngừng.Chính vì vậy, thực tiễn luôn luôn đòi hỏi GDCTTT phải đạt tới chấtlượng mới, cao hơn

1.1.4 Những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến chất lượng GDCTTT trong quân đội

Chất lượng GDCTTT trong quân đội chịu tác động bởi một hệthống tổng hợp các nhân tố Nhưng có thể khái quát thành các nhân

tố khách quan và các nhân tố chủ quan

Trang 38

* Các nhân tố khách quan tác động đến chất lượng GDCTTT trong quân đội

Có thể khái quát những nhân tố khách quan cơ bản sau đây tácđộng trực tiếp tới chất lượng GDCTTT trong quân đội:

+ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, tạo ra những biến đổi bất ngờ, có sức đột phá mãnh liệt, tác động trên mọi lĩnh vực đời sống của thế giới ngày nay.

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại từ những năm 50của thế kỷ XX đến nay vẫn đang tiếp diễn theo các phương hướng

chủ yếu gia tăng mạnh mẽ các lĩnh vực điện tử và tin học, tự động

hóa, chế tạo vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ nănglượng

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay có những điểmmới Nét bao trùm là nó tạo ra một nền văn minh mới - văn minh trítuệ Ngày nay khi đánh giá sự giàu có của một quốc gia về tàinguyên, ngoài tài nguyên thiên nhiên, người ta phải tính đến tàinguyên trí tuệ con người Người ta có thể chế tạo ra những vật liệumới vốn không có trong thiên nhiên, có thể sử dụng loại tài nguyêntái tạo được nên không bị cạn kiệt tài nguyên, không tốn nănglượng, không gây ô nhiễm, tiết kiệm được nguyên liệu Loài ngườingày nay có khả năng hoạt động sâu vào lòng đất và đi sâu vào vũtrụ Tốc độ phát triển khoa học công nghệ rất nhanh: về vật lý cứ baphút phát hiện một cơ cấu vật chất; về hóa học cứ một phút tìm

Trang 39

được một công thức phản ứng; về y học cách một phút có một pháthiện mới

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tác động đến

tình hình thế giới trên nhiều mặt, làm tăng nhanh lực lượng sản

xuất, thúc đẩy qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế

hóa nền kinh tế và đời sống xã hội, đưa đến những biến đổi sâu rộng

trên quy mô toàn thế giới, kể cả trong lĩnh vực đời sống tinh thầncủa xã hội

Chí ít có thể đề cập tới các khía cạnh như những nhận thức mới

về thế giới quan; những biến đổi về văn hóa, lối sống; những biếnđổi trong tương quan lực lượng giữa các quốc gia, các khu vực;những thay đổi trong phương thức đấu tranh chính trị - tư tưởng Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại có tác động to lớnđến chất lượng GDCTTT theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.Vấn đề đặt ra là chủ thể GDCTTT phải biết triệt để tận dụng mặttích cực, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực củacách mạng khoa học công nghệ hiện dại đối với chất lượng

GDCTTT

+ Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô

đã tạo ra sự biến đổi lớn, căn bản trong cục diện thế giới, trong so sánh lực lượng tạm thời có lợi cho CNĐQ, bất lợi cho các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới.

Trang 40

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đãtác động lớn tới phong trào XHCN, phong trào công nhân ở cácnước tư bản phát triển, phong trào giải phóng dân tộc.

Đối với phong trào XHCN, sự sụp đổ của chế độ XHCN ở cácnước Đông Âu và Liên Xô dã tác động tiêu cực về tư tưởng, lý luậnchính trị, kinh tế, làm suy yếu một bước CNXH thế giới Do tácđộng của sự sụp đổ đó một bộ phận những người cộng sản và nhândân ở các nước XHCN đã giảm sút niềm tin cộng sản; bọn cơ hội rasức xuyên tạc và chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối củaĐảng Cộng sản, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa ly khai trỗi dậy ở một

số nước Các lực lượng chống cộng, chống CNXH, các thế lực đếquốc đã tìm mọi cách để xóa bỏ các nước XHCN còn lại: chủ yếubằng chiến lược "DBHB"

Đối với phong trào công nhân ở các nước tư bản phát triển, sự sụp

đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm giảmsút niềm tin cộng sản trong một bộ phận những người cộng sản vànhân dân Các thế lực chống cộng, chống CNXH lợi dụng sự sụp đổ

đó để xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa cộngsản; giai cấp tư sản tìm mọi cách lái chệch hướng cuộc đấu tranhcủa phong trào công nhân ở các nước tư bản

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đãlàm suy yếu nghiêm trọng phong trào giải phóng dân tộc về mọimặt, các thế lực đế quốc nhân cơ hội này đã ra sức chống phá phongtrào giải phóng dân tộc về kinh tế, chính trị, tư tưởng tìm cách

Ngày đăng: 04/05/2022, 14:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w