1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn giao thông tuyến đường đt747 trên địa phận thị xã tân uyên, tỉnh bình dương luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng đường ô tô và đường thành phố

108 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn giao thông tuyến đường đt747 trên địa phận thị xã tân uyên, tỉnh bình dương
Tác giả Phạm Đỗ Huệ Tâm
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Văn Bách
Trường học Trường Đại học Giao thông Vận tải - Cơ sở II
Chuyên ngành Xây dựng đường ô tô và đường thành phố
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (13)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài (13)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài (13)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 6. Ý nghĩa khoa học (14)
  • 7. Ý nghĩa thực tiễn (14)
  • 8. Kết cấu của luận văn (14)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG (16)
    • 1.1 Vấn đề an toàn giao thông ở Việt Nam (16)
      • 1.1.1 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến an toàn giao thông (18)
      • 1.1.2 Những quan điểm mới trong thiết kế đường và tổ chức giao thông ảnh hưởng đến an toàn giao thông (23)
    • 1.2 Ảnh hưởng của yếu tố đường đến an toàn giao thông (28)
      • 1.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố trên bình đồ (28)
      • 1.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố trên trắc dọc (32)
      • 1.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố trên trắc ngang (34)
    • 1.3 Điểm đen, điểm tiềm ẩn an toàn giao thông (0)
      • 1.3.1 Khái niệm “điểm đen” tai nạn giao thông (0)
      • 1.3.2 Tiêu chí xác định và các biện pháp xử lý điểm đen tai nạn giao thông.53 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG TUYẾN ĐƯỜNG ĐT747 TRÊN ĐỊA PHẬN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG (0)
    • 2.1 Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong thời gian qua (46)
      • 2.1.1 Tình hình TNGT ở một số nước trên thế giới và khu vực (46)
      • 2.1.2. Tình hình TNGT trên địa bàn tỉnh Bình Dương (51)
      • 2.1.3. Tình hình TNGT trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (54)
    • 2.2. Đánh giá hậu quả do tai nạn giao thông (55)
      • 2.2.1. Thiệt hại về nhân mạng (55)
      • 2.2.2 Thiệt hại về kinh tế (57)
      • 2.2.3 TNGT là nỗi kinh hoàng của mọi người, gây chấn động tâm lý và tinh thần, ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người và toàn xã hội (61)
    • 2.3 Phân tích nguyên nhân gây tai nạn giao thông của các điểm đen, điểm tiềm ẩn (0)
      • 2.3.1 Phân tích tai nạn giao thông tại một số điểm tiêu biểu (0)
      • 2.3.2 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tai nạn giao thông và các biện pháp hạn chế, làm giảm TNGT (73)
  • CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TNGT VÀ NÂNG CAO (78)
    • 3.1 Giải pháp hạn chế TNGT của một số nước trong khu vực và một số quốc (78)
      • 3.1.1 Giải pháp hạn chế TNGT ở một số quốc gia phát triển (78)
      • 3.1.2 Những bài học kinh nghiệm từ các nước trong khu vực (87)
    • 3.2 Các giải pháp khắc phục TNGT và nâng cao ATGT trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới (88)
      • 3.2.1 Giải pháp liên quan đến tổ chức giao thông và quản lý phương tiện (88)
      • 3.2.2 Giải pháp liên quan đến thiết kế đường (91)
      • 3.2.3 Giải pháp liên quan đến ý thức của người tham gia giao thông (93)
      • 3.2.4 Đánh giá các giải pháp (99)
    • A. KẾT LUẬN (101)
      • 1. Nguyên nhân chính của các tồn tại làm ảnh hưởng đến TTATGT (101)
      • 2. Đề xuất một số giải pháp cần phải thực hiện trong thời gian tới để giảm (102)
    • B. KIẾN NGHỊ (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (107)

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Sau khi thống kê số liệu về TNGT để thấy rõ thực trạng về ATGT nói chung và TNGT nói riêng trên địa bàn toàn tỉnh, chỉ ra chính xác vị trí của các đoạn đường thường gâ

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu tai nạn giao thông đang thu hút sự quan tâm của xã hội, với mục tiêu tìm hiểu tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại tỉnh Bình Dương, đặc biệt là thị xã Tân Uyên Tác giả mong muốn đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết vấn đề tai nạn giao thông trong khu vực này.

Thống kê số liệu về tai nạn giao thông (TNGT) tại các điểm có nguy cơ cao giúp làm rõ thực trạng an toàn giao thông (ATGT) trên toàn tỉnh, đặc biệt là tại thị xã Tân Uyên.

- Xác định hiện trạng, lưu lượng giao thông, thành phần giao thông tại vị trí có nguy cơ tìm ẩn TNGT

- Từ đó phân tích các nguyên nhân gây tai nạn, đưa ra các biện pháp khắc phục và giảm thiểu TNGT.

Phương pháp nghiên cứu

Phân tích lý thuyết kết hợp với việc thu thập số liệu thống kê về tai nạn giao thông đường bộ tại các vị trí có nguy cơ cao trên tuyến đường ĐT747 Nghiên cứu lý thuyết sẽ cung cấp cơ sở để hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hậu quả của tai nạn giao thông.

- Các tài liệu lý thuyết nói về an toàn giao thông và tai nạn giao thông

- Các đề tài liên quan đến TNGT đã được nghiên cứu trước đây

- Các văn bản pháp luật, quy định của Nhà Nước về vấn đề ATGT và TNGT trên đường bộ đang khai thác b) Thu thập số liệu

Thống kê và phân tích tình hình tai nạn giao thông (TNGT) tại một số vị trí có nguy cơ cao trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Bài viết cũng sẽ đề cập đến nguyên nhân gây ra TNGT và đưa ra các giải pháp khắc phục hiệu quả nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao an toàn giao thông.

- Phân tích các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp giải quyết làm giảm tai nạn giao thông đường bộ.

Ý nghĩa khoa học

Luận văn đã hệ thống hóa các luận cứ và luận điểm liên quan đến thiết kế đường, hạ tầng giao thông, tổ chức giao thông và ý thức con người, nhằm làm rõ những nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông (TNGT).

Ý nghĩa thực tiễn

Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng giao thông đường bộ tại tỉnh Bình Dương, đặc biệt là thị xã Tân Uyên và tuyến đường ĐT747 Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp an toàn giao thông (ATGT) nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chuyên ngành trong lĩnh vực giao thông đường bộ, góp phần hạn chế tai nạn giao thông (TNGT) và đảm bảo ATGT trên địa bàn thị xã Tân Uyên.

Kết cấu của luận văn

Luận văn chính gồm 3 chương và 2 phần, ngoài ra luận văn còn bao gồm phần danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể như sau:

Phần mở đầu: Đặt vấn đề nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan về an toàn giao thông

Chương 2: Thực trạng và các nguyên nhân gây tai nạn giao thông tại một số vị trí có nguy cơ tìm ẩn tai nạn giao thôngTNGT

Chương 3: Một số giải pháp khắc phục TNGT và nâng cao ATGT

Phần kết luận và kiến nghị.

TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG

Vấn đề an toàn giao thông ở Việt Nam

Trong hai thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế, dẫn đến sự gia tăng thu nhập và mức độ sở hữu phương tiện giao thông, đặc biệt là xe máy và ô tô Nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa tăng nhanh chóng, đồng thời hệ thống đường sá và cầu cống cũng được xây dựng và nâng cấp đáng kể Kinh tế phát triển đã nâng cao mức sống của người dân.

Trong thập kỷ qua, thu nhập tăng và cơ sở hạ tầng giao thông phát triển đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của xe cơ giới, đặc biệt là xe mô tô Sự gia tăng này đã gây ra nhiều vấn đề như ùn tắc giao thông tại các thành phố lớn, mất trật tự an toàn giao thông và tai nạn giao thông Mặc dù vậy, mức độ hiểu biết và chấp hành các quy định về an toàn giao thông của công chúng vẫn còn thấp Các nhà chức trách cũng chưa nhận thức đầy đủ vai trò của mình trong việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Tai nạn giao thông đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng, với an toàn giao thông được xem là một trong những chính sách cấp thiết nhất của chính phủ Việt Nam hiện nay Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để kiềm chế tai nạn giao thông, nhưng kết quả vẫn chưa vững chắc, khi số vụ tai nạn và số người chết vẫn còn ở mức cao.

Bảng 01: Số liệu tai nạn giao thông 6 tháng đầu năm 2016 (số liệu báo cáo của Ban ATGT các tỉnh thành phố trực thuộc TW từ ngày 16/12/2016 đến ngày

Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương

1.1.1 Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến an toàn giao thông

1.1.1.1 Tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT

Trong những năm qua, Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các bộ ngành và địa phương đã ban hành nhiều chỉ thị, cơ chế và chính sách nhằm đảm bảo an toàn giao thông (TTATGT).

- Quốc hội đã ban hành Luật giao thông đường bộ (sửa đổi năm 2008)

- Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông

- Nghị quyết 16/2008/NQ-CP về từng bước khắc phục ùn tắc giao thông tại TP

Hà Nội và TP HCM

Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, trong khi Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010.

- Nghị định số 27/2010/NĐ-CP về huy động thêm lực lượng tuần tra, kiểm soát đảm bảo TTATGT nhằm tăng cường lực lượng cưỡng chế thi hành luật

- Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-BCA-BGTVT giữa Bộ Công An và Bộ GTVT, ban hành ngày 03/03/2010, quy định về việc phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký và đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông (TNGT), cũng như quy trình cấp, đổi, thu hồi và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe (GPLX).

- Thông tư số 38/2010/TT-BCA quy định việc thông báo người có hành vi vi phạm pháp luật về TTATGT

Trong thời gian qua, công tác xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về an toàn giao thông (TTATGT) đã có nhiều nỗ lực Mặc dù đã đạt được một số kết quả tích cực, vẫn tồn tại một số hạn chế cần được khắc phục.

Cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay không đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, với tốc độ tăng trưởng phương tiện giao thông từ 10 đến 30% mỗi năm Hệ thống giao thông đường bộ chưa đủ khả năng lưu thông, do cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chất lượng công trình chưa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật Sự không đồng bộ trong xây dựng là một trong những nguyên nhân chính gây mất an toàn giao thông, đặc biệt là trên các tuyến đường bộ Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ số an toàn.

Trong đó: Vcp là tốc độ tối thiểu của xe chạy trên đoạn đường đang xem xét

Vtr là tốc độ tối đa của xe chạy trên đoạn đường liền kề trước đó

Trị số Kat nhỏ cho thấy nguy cơ tai nạn cao trên đoạn đường, đặc biệt là những đoạn đường mà phương tiện phải giảm tốc độ nhanh chóng Mức độ an toàn khi chạy xe được đánh giá dựa trên hệ số an toàn, như thể hiện trong bảng dưới đây.

Bảng 02: Đánh giá mức độ an toàn của đường theo trị số an toàn

Giá trị hệ số an toàn 0.8

Tình trạng của đường Rất nguy hiểm Nguy hiểm Ít nguy hiểm

Thực tế không nguy hiểm

Hệ thống hạ tầng giao thông hiện nay đang bị quy hoạch một cách tràn lan và thiếu khoa học, dẫn đến sự phát triển mất cân đối ở nhiều đô thị Điều này gây ra bế tắc trong hạ tầng công cộng và hệ thống giao thông Hệ thống giao thông đường bộ trở nên chồng chéo và phức tạp với nhiều loại hình phương tiện, trong khi đó, các đường ngang dân sinh, đường gom và cầu vượt vẫn còn thiếu Kết quả là tình trạng ùn tắc giao thông và mất an toàn giao thông ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn.

Nhận thức và hành động của các cấp, các ngành trong công tác bảo đảm an toàn giao thông còn thiếu quyết liệt và chưa tập trung vào các giải pháp thuộc trách nhiệm Công tác chỉ đạo và điều hành thực hiện các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục và mạnh mẽ Việc triển khai quy hoạch không đúng tiến độ và nội dung quy hoạch, cùng với sự hạn chế của các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều văn bản vẫn chưa phù hợp với thực tế xã hội.

Số lượng phương tiện giao thông tăng nhanh trong khi mạng lưới đường giao thông phát triển chậm, dẫn đến tình trạng ùn tắc Công tác kiểm định phương tiện chưa hiệu quả, nhiều xe cũ không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật vẫn tham gia giao thông Việc sử dụng xe đạp điện ngày càng phổ biến nhưng thiếu kiểm soát, góp phần lớn vào tình trạng mất an toàn giao thông, đặc biệt tại các khu đô thị.

Nhiều địa phương vẫn chưa chú trọng đến việc quản lý hành lang an toàn (HLAT) đường bộ, dẫn đến tình trạng người dân lấn chiếm, xây dựng công trình trái phép và sử dụng HLAT, vỉa hè, lòng lề đường cho các hoạt động như phơi nông sản, tập kết vật liệu và kinh doanh, gây mất trật tự an toàn giao thông Việc giải tỏa HLAT đường bộ gặp khó khăn do các quy định không đồng bộ và thiếu kinh phí đền bù Mặc dù một số khu vực đã được giải tỏa, nhưng việc quản lý kém đã dẫn đến tình trạng tái lấn chiếm.

Công tác xử lý các điểm tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông hiện chưa có nguồn kinh phí cụ thể, dẫn đến việc thực hiện theo quy trình xây dựng cơ bản, gây tốn thời gian và thiếu tính chủ động.

- Tình trạng phương tiện giao thông chở quá tải trọng cho phép, chở quá số người quy định đang diễn ra khá phổ biến tại địa phương

Công tác đào tạo và sát hạch lái xe tại một số địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng lái xe chưa thành thạo trong việc điều khiển phương tiện, gây mất an toàn giao thông Đặc biệt, việc giảng dạy về đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông còn hạn chế, khiến một số lái xe thiếu ý thức và đạo đức nghề nghiệp.

Ảnh hưởng của yếu tố đường đến an toàn giao thông

1.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố trên bình đồ

Bình đồ tuyến là hình chiếu bằng của tuyến đường và địa hình dọc theo tuyến Nó bao gồm ba yếu tố chính: đoạn thẳng, đoạn đường cong tròn, và đoạn đường cong có bán kính thay đổi (đường cong chuyển tiếp) Để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố này đến an toàn xe chạy, cần xem xét một số vấn đề quan trọng.

Đối với các đoạn tuyến thẳng, cần xem xét ảnh hưởng của chiều dài và vị trí thiết kế trên bình đồ Quan hệ giữa đoạn thẳng và đường cong, cùng với khoảng cách tầm nhìn, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn giao thông.

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc lựa chọn bán kính đường cong nằm cùng với các thông số như chiều dài, góc ngoặt, vị trí và tần suất bố trí các đường cong nằm trên bình đồ là rất quan trọng.

1.2.1.1 Ảnh hưởng của các đoạn tuyến thẳng đến an toàn xe chạy

Trong thiết kế bình đồ, khi gặp địa hình bằng phẳng, người thiết kế thường có xu hướng tạo ra đường thẳng dài để tối ưu chiều dài Tuy nhiên, việc lái xe trên đoạn đường thẳng quá dài có thể gây bất lợi cho an toàn giao thông, dẫn đến nhiều tai nạn Các đoạn đường thẳng thường tiềm ẩn nguy cơ cao do một số nguyên nhân nhất định.

Khi lái xe trên các đoạn đường thẳng dài, người lái thường chủ quan và ít chú ý đến việc kiểm tra tốc độ, dẫn đến việc cho xe chạy với tốc độ cao Điều này có thể gây ra tai nạn nghiêm trọng khi gặp sự cố bất ngờ như đoạn đường trơn trượt hoặc có người, súc vật băng qua đường.

Đoạn đường dài với cảnh quan đơn điệu có thể khiến lái xe phản ứng chậm chạp và dễ rơi vào trạng thái buồn ngủ, dẫn đến nguy cơ tai nạn cao Sự thiếu kích thích trong môi trường lái xe gây ra mệt mỏi và ức chế thần kinh, làm tăng khả năng ngủ gật khi điều khiển phương tiện Do đó, để đảm bảo an toàn giao thông, cần thiết phải giới hạn chiều dài thiết kế của các đoạn đường thẳng, ngay cả khi địa hình bằng phẳng cho phép.

Quy trình thiết kế đường ở Việt Nam khuyến nghị không nên thiết kế đoạn tuyến thẳng dài quá 4 km Đối với đường cao tốc, cần thay thế bằng các đường cong có góc chuyển hướng nhỏ và bán kính lớn, dao động từ 5,000 đến 15,000 mét.

Việc hạn chế các đoạn thẳng dài không đồng nghĩa với việc phải bẻ gãy đường thẳng để tạo ra đường cong Thay vào đó, chúng ta có thể áp dụng phương pháp "thiết kế tuyến mềm" bằng cách giảm thiểu sử dụng đường thẳng và thay thế bằng thiết kế tuyến clothoid.

Khi thiết kế đoạn thẳng dài, cần áp dụng các giải pháp cải thiện cảnh quan dọc tuyến để giảm thiểu sự đơn điệu Các biện pháp này bao gồm trồng cây xanh, xây dựng trạm dừng chân và trạm sửa chữa kỹ thuật với kiến trúc nổi bật, nhằm thu hút sự chú ý của lái xe và tạo ra các điểm chuẩn định hướng cho tuyến đường.

Tuyến thẳng quá ngắn không đảm bảo điều kiện chạy xe ổn định và gây ra sự thay đổi lớn trong điều kiện di chuyển Điều này cũng dẫn đến việc không đủ không gian để bố trí cấu tạo đoạn chêm nối tiếp giữa các đường cong.

1.2.1.2 Ảnh hưởng của trị số bán kính đường cong nằm đến an toàn xe chạy

Theo thống kê, tai nạn giao thông trên các đường cong chiếm từ 10 đến 12% tổng số vụ tai nạn do điều kiện đường Nhiều nghiên cứu trên các tuyến đường hiện tại đã chỉ ra rằng, đường được thiết kế với bán kính cong nhỏ sẽ dẫn đến tỷ lệ tai nạn giao thông cao hơn.

Các đường cong nằm có bán kính R < 200m thì số tai nạn cao gấp 2 lần so với đường cong có bán kính R > 400m

Các quan trắc cho thấy xe chạy trên đường cong có bán kính R = 2,000m không khác biệt so với điều kiện xe chạy trên đường thẳng Để đánh giá ảnh hưởng tương đối của bán kính đường cong, người ta quy định hệ số ảnh hưởng với R = 2,000 là 1 Từ đó, hệ số ảnh hưởng tương đối của các bán kính đường cong khác nhau được xác định.

Bảng 03: Hệ số ảnh hưởng của đường cong

Để nâng cao an toàn giao thông, việc thiết kế bình đồ tuyến đường ô tô cần chú ý đến bán kính đường cong nằm Bán kính cong nhỏ làm giảm mức độ an toàn, đặc biệt khi xe chạy nhanh trên mặt đường ẩm ướt và bụi bẩn Do đó, cần tối đa hóa bán kính đường cong trong khả năng của địa hình và tuân thủ các bán kính tối thiểu cho phép theo quy trình ứng với từng cấp đường, đặc biệt là khi thiết kế đường ô tô và đường đô thị cấp cao.

1.2.1.3 Ảnh hưởng của việc lựa chọn bán kính đường cong nằm liền kề đến an toàn xe chạy Để đảm bảo cho xe chạy an toàn thì khi vạch tuyến trên bình đồ không nên tuỳ tiện lựa chọn các bán kính của đường cong nằm liền kề, mặc dù trong thực tế sẽ gặp khó khăn về địa hình Các trường hợp thiết kế đường cong nằm liền kề sẽ gây nguy hiểm cho xe chạy đó là:

+ Đường cong có bán kính lớn nằm cạnh đường cong có bán kính nhỏ;

Các đường cong có bán kính lớn và nhỏ được bố trí cạnh nhau, với đường cong lớn kẹp giữa hai đường cong nhỏ và ngược lại, gây khó khăn cho lái xe trong việc điều chỉnh tốc độ khi di chuyển qua các đoạn đường này Sự chênh lệch tốc độ quá lớn giữa các đường cong liền kề làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông do lái xe không kịp xử lý tình huống Giáo sư V.F.Babcov đã đề xuất các tiêu chuẩn an toàn trong thiết kế các đường cong để giảm thiểu rủi ro này.

+ Các đường cong an toàn khi chênh lệch tốc độ xe chạy trên chúng ΔV < 20%

+ Các đường cong tương đối an toàn khi chênh lệch tốc độ xe chạy giữa chúng ΔV = 20% ÷ 40%

+ Các đường cong nguy hiểm khi chênh lệch tốc độ xe ΔV = 40% ÷ 60% + Các đường cong cực kỳ nguy hiểm khi chênh lệch tốc độ xe chạy giữa chúng ΔV > 60 %

Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong thời gian qua

2.1.1 Tình hình TNGT ở một số nước trên thế giới và khu vực trong những năm gần đây

Trên toàn cầu, trung bình mỗi ngày có hơn 3000 người chết do tai nạn giao thông, trong đó có hơn 500 trẻ em, và 96% số trẻ em tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình Điều này tương đương với việc cứ 30 giây lại có một người chết và 3 phút lại có một trẻ em thiệt mạng Đáng chú ý, 59% số người thiệt mạng trong tai nạn đường bộ nằm trong độ tuổi từ 15 đến 44, với 77% là nam giới Ngoài ra, 27% số người tử vong do tai nạn giao thông là người đi bộ và đi xe đạp, con số này ở một số quốc gia còn vượt quá 75% Thực trạng kéo dài này cho thấy các chính sách giao thông hiện tại đã ưu tiên cho xe cơ giới và bỏ qua nhu cầu của người đi bộ.

Từ năm 2011 đến 2015, hơn 80 quốc gia, chủ yếu là các nước châu Âu (chiếm 7% dân số thế giới), đã giảm số người chết do tai nạn giao thông nhờ vào việc áp dụng pháp luật toàn diện liên quan đến 5 yếu tố nguy cơ chính: lái xe khi say rượu, tốc độ cao, không sử dụng mũ bảo hiểm xe máy, không thắt dây an toàn và thiếu thiết bị an toàn cho trẻ em Tuy nhiên, tại 87 quốc gia khác, số người chết do tai nạn giao thông vẫn tiếp tục gia tăng.

Báo cáo chỉ ra rằng nguy cơ tử vong do tai nạn xe hơi ở châu Phi là cao nhất, với 24.1 ca tử vong trên 100,000 người, trong đó Nam Phi dẫn đầu thế giới về số vụ tai nạn giao thông đường bộ, đặc biệt là xe hơi rơi xuống sông Mỗi năm, Nam Phi ghi nhận khoảng 500,000 vụ tai nạn, khiến hơn 10,000 người thiệt mạng Tỷ lệ tử vong do tai nạn xe hơi cũng cao ở một số quốc gia có thu nhập trung bình như Mexico, Campuchia, Lào, Bờ Biển Ngà, Tanzania và Ecuador.

Tỷ lệ tử vong trung bình ở các quốc gia phía Đông Địa Trung Hải là 26.3 người chết trên 100,000 dân, trong khi Châu Âu có tỷ lệ thấp nhất với chỉ 10.3 người chết trên 100,000 dân.

Hình 13: Tỷ lệ số người chết/100.000 dân ở các nước phát triển trên thế giới

Theo WHO, hàng năm tại Nga có hơn 2.000 người thiệt mạng và hơn 18.000 người bị thương do tai nạn giao thông liên quan đến lái xe say rượu.

Mỹ có 134,000 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông (TNGT), chiếm hơn 10% tổng số ca tử vong toàn cầu, trong đó Mỹ đứng đầu với 44,000 người Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và Hội Lưỡi liềm đỏ cảnh báo rằng TNGT đang trở thành một hiểm họa nghiêm trọng, với số vụ tăng 10% mỗi năm, đặc biệt ở các nước đang phát triển Nguyên nhân chính của TNGT là sự tham gia hỗn tạp của nhiều loại phương tiện giao thông Tại châu Phi, châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, phần lớn nạn nhân là người đi bộ, trong khi ở một số nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam, nạn nhân chủ yếu là người đi xe hai bánh Trung Quốc chỉ chiếm 1.9% số phương tiện giao thông toàn cầu nhưng lại có khoảng 15% số vụ TNGT, dẫn đến hơn 100,000 người thiệt mạng Ở Ấn Độ, cứ 6 phút lại có 1 người tử vong do TNGT, và dự đoán đến năm 2020, con số này sẽ tăng lên 3/1, tức là cứ 3 phút lại có 1 người chết.

Hình 14: Số người chết vì TNGT trên thế giới [Nguồn: Sưu tầm trên internet]

Hình 15: Thiệt hại do TNGT trên thế giới [Nguồn: Sưu tầm trên internet]

2.1.2 Tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam

Vào ngày 22/10/2013, Hội thảo “Kinh nghiệm bảo đảm ATGT khu vực châu Á – Thái Bình Dương” đã được tổ chức tại Hà Nội, do Đại học Giao thông Vận tải chủ trì, với sự tham gia của đại diện Bộ GTVT, Cục ATGT Hàn Quốc và Quỹ phòng chống thương vong châu Á Tỷ lệ người chết vì TNGT ở Việt Nam là 12.5%, thấp hơn so với Thái Lan (19.5%) và Malaysia (16.5%), nhưng cao hơn Hàn Quốc và Nhật Bản (8.5-9%) Việt Nam có 39 triệu xe máy, với tỷ lệ 2 người một xe, tạo ra đặc thù giao thông hỗn hợp Mặc dù tỷ lệ tử vong không cao, hình ảnh giao thông Việt Nam vẫn mang tính hỗn loạn Hiện nay, tình hình đảm bảo TTATGT đường bộ và ATGT đô thị đang đối mặt với hai vấn đề nghiêm trọng: gia tăng TNGT trên các tuyến QL và tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng trầm trọng, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Cần Thơ, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh.

Việt Nam đã ban hành đầy đủ các quy định nhằm đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, nhưng việc thực hiện các quy định này vẫn chưa được nghiêm túc.

Hình 16: Biểu đồ tỷ lệ tử vong/100,000 dân ở Việt Nam và một số nước trên

Ở Việt Nam, mặc dù hạ tầng giao thông ngày càng được cải thiện và phương tiện ngày càng hiện đại, nhưng tai nạn giao thông (TNGT) vẫn gia tăng Nguyên nhân chính là do tốc độ Khi đường tốt hơn và xe hiện đại hơn, người lái có xu hướng tăng tốc, dẫn đến việc không kiểm soát được tốc độ Điều này trở nên nguy hiểm hơn khi trên đường vẫn tồn tại tình trạng xe hỗn hợp di chuyển cùng nhau.

Số vụ tai nạn giao thông trên khu vực Đông Nam Bộ:

Trong giai đoạn 2011 - 2015, khu vực Đông Nam Bộ ghi nhận 44.536 vụ tai nạn giao thông (TNGT), dẫn đến 10.060 người tử vong và 47.379 người bị thương Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có số vụ TNGT cao nhất, với 27.155 vụ, làm 3.693 người chết và 19.311 người bị thương.

Nguồn : Ban ATGT quốc gia

Bảng 17: Số liệu tai nạn giao thông 2012 – 2015

Nguồn : Ban ATGT quốc gia

Hình 18: Biểu đồ TNGT trong 10 tháng đầu năm 2013

[Nguồn : trang thông tin tổng cục cảnh sát.]

- Tai nạn giao thông 6 tháng đầu năm trên cả nước:

+ Tổng số vụ tai nạn: 8,743 vụ

+ Tổng số người chết: 4,311 người

+ Tổng số người bị thương: 7,223 người

Bảng 09: Số liệu tai nạn giao thông 6 tháng đầu năm 2016 (số liệu báo cáo của Ban ATGT các tỉnh thành phố trực thuộc TW từ ngày 16/12/2016 đến ngày

Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị thương

2.1.2 Tình hình TNGT trên địa bàn tỉnh Bình Dương

*** Hiện trạng hệ thống giao thông đường bộ

Tại tỉnh Bình Dương, đường bộ vẫn là phương thức giao thông chủ yếu, với Quốc lộ 13 và các tuyến đường tỉnh tạo thành các trục dọc phân bố đồng đều Hệ thống đường huyện và đường đô thị đã hình thành một mạng lưới giao thông liên hoàn, thuận lợi cho việc di chuyển giữa các vùng trong tỉnh và với các tỉnh lân cận Tổng chiều dài của hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh đạt 7.243,7 km.

- 3 tuyến Quốc lộ với tổng chiều dài qua địa bàn tỉnh là 77,1 km, tỷ lệ nhựa hoá đạt 100%;

- 14 tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài là 499,3 km, tỷ lệ nhựa hoá đạt 98,1%;

- 82 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 570,9 km, tỷ lệ nhựa hoá đạt 80,8%;

- Hệ thống đường đô thị với tổng chiều dài 785,1 km, tỷ lệ nhựa hoá đạt 94,7%;

- Hệ thống đường chuyên dùng với tổng chiều dài 2.028,3 km, tỷ lệ nhựa-cứng hóa đạt 40,1%

- Hệ thống đường xã với tổng chiều dài 3.283,0 km, tỷ lệ nhựa-cứng hóa đạt 15,1%

Stt Chỉ tiêu Số tuyến

Kết cấu mặt đường Tỷ lệ nhựa hóa Nhựa BTXM CPSĐ, Đất

Bảng 10: Tổng hợp hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bình Dương

*** Tình hình tai nạn giao thông

Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm và chỉ đạo mạnh mẽ từ các cấp, các ngành, đặc biệt là Ban An toàn Giao thông tỉnh, tình hình tai nạn giao thông (TNGT) tại tỉnh Bình đã có những chuyển biến tích cực.

Dương đã có những chuyển biến tích cực ban đầu, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh Bình Dương, tình hình vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.

- Năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã xảy ra 3204 vụ tai nạn giao thông Trong đó, tai nạn giao thông từ nghiêm trọng trở lên là 319 vụ trong

- Năm 2014 xảy ra 2.736 vụ tai nạn giao thông, trong đó, tai nạn giao thông từ nghiêm trọng trở lên 311 vụ

Năm 2015, Việt Nam ghi nhận 2.203 vụ tai nạn giao thông, trong đó có 308 vụ nghiêm trọng Các vụ tai nạn chủ yếu xảy ra trên các tuyến Quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện Thống kê cho thấy độ tuổi gây ra tai nạn giao thông có sự phân bố rõ ràng.

Số vụ tai nạn giao thông từ nghiệm trọng trở lên được thống kê qua các năm như sau:

Bảng 11 Số vụ tai nạn giao thông phân theo độ tuổi từ năm 2013 -2015

1 – % Số vụ tai nạn trung bình 3 năm 2013, 2014, 2015 đối với độ tuổi dưới 27 tuổi

Trong ba năm 2013, 2014 và 2015, tỷ lệ vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng trở lên chiếm 2% Nguyên nhân của các vụ tai nạn giao thông này được phân tích và xác định rõ ràng.

Đánh giá hậu quả do tai nạn giao thông

2.2.1.Thiệt hại về nhân mạng Ở Việt Nam, TNGT đã gây ra những mất mát về con người không gì có thể bù đắp được Con cái mất bố mẹ, bố mẹ mất con, gia đình, họ hàng, bạn bè mất đi người thân thương của mình, số liệu thống kê của UBATGTQG cho thấy chỉ 6 tháng đầu năm 2016 có hơn 4,311 và 7,223 người bị thương vì TNGT Rất nhiều gia đình chịu những tổn thất về vật chất và tinh thần do TNGT để lại đồng thời những người gây TN và người gánh hậu quả TN sẽ phải chịu những dằn vặt tinh thần suốt cuộc đời

Tỷ lệ TNGTĐB trên 100.000 dân cả nước:

Hình 19: Số người chết do TNGT trong 10 tháng đầu năm 2013

[Nguồn: trang thông tin tổng cục cảnh sát.]

Hình 20: So sánh số người chết do TNGT năm 2013 với năm 2012

[Nguồn : trang thông tin tổng cục cảnh sát.]

Tỷ lệ người chết và bị thương/10.000 vụ TNGTĐB trong cả nước:

Hình 21: Biểu đồ so sánh về số người chết và bị thương trong 10,000 vụ

[Nguồn: Cuốn sách chuyên đề “GTVT, phát triển bền vững và hội nhập” của

Viện Khoa học và Công nghệ GTVT]

Theo nghiên cứu toàn cầu, Việt Nam hiện đứng trong số các quốc gia có tỷ lệ người chết và bị thương cao do tai nạn giao thông Cụ thể, trung bình cứ 10,000 vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ở Mỹ, Kenya và Việt Nam, số lượng người thiệt mạng và bị thương tại Việt Nam vẫn ở mức đáng lo ngại.

Mỹ là 66 người, ở Kenya là 1,786 người và ở Việt Nam là 3,181người

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, từ 16/11/2012 đến 15/11/2013, cả nước ghi nhận 31,3 nghìn vụ tai nạn giao thông, dẫn đến 9,9 nghìn người tử vong và 32,2 nghìn người bị thương.

So với năm 2012, tai nạn giao thông đã giảm 13.8%, trong khi số người chết tăng nhẹ 0.1% và số người bị thương giảm 15.5% Cụ thể, tai nạn giao thông đường bộ ghi nhận 30,900 vụ, dẫn đến 9,600 người tử vong và 31,900 người bị thương.

2.2.2 Thiệt hại về kinh tế (vật chất)

Ngoài khía cạnh nhân đạo, tai nạn giao thông (TNGT) còn gây ra những tác động nghiêm trọng đến xã hội và kinh tế Những cái chết và thương tích nặng nề do TNGT dẫn đến sự lãng phí lớn về nguồn lực quốc gia.

Tổn thất kinh tế hàng năm do tai nạn giao thông ở Đông Nam Á lên tới 15 tỉ USD, chiếm 2.2% GDP khu vực Ông Charles Melhuish từ ADB nhấn mạnh rằng tổn thất này ảnh hưởng đến phát triển bền vững và cần có chiến lược cải thiện an toàn giao thông Indonesia là nước ASEAN chịu thiệt hại nặng nhất với 6.03 tỉ USD vào năm 2003, tương đương 2.91% GDP.

Bảng 14: Thiệt hại kinh tế hàng năm do TNGT đường bộ

STT Nước USD (triệu) GDP hàng năm %

[Nguồn: Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông tại Việt Nam

Do Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA thực hiện.]

Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng số năm làm việc bị mất do tai nạn giao thông (TNGT) cao hơn so với các nguyên nhân khác dẫn đến tử vong sớm Khoảng 70% "năm cuộc đời" bị mất do TNGT đường bộ là những năm làm việc, khiến các nước đang phát triển mất đi nguồn nhân lực năng suất và kinh tế So với các chi phí do tử vong sớm ở các nước này, tình trạng tử vong do TNGT đường bộ đang gia tăng Những thiệt hại kinh tế này thường trở thành gánh nặng lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi cần nhập khẩu thiết bị y tế và phụ tùng cho phương tiện.

Tổn thất do tai nạn giao thông đường bộ thường bị xem nhẹ ở các nước nghèo với tốc độ cơ giới hóa chậm, nhưng lại gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển có tốc độ cơ giới hóa cao và nhận thức về an toàn giao thông còn thấp.

Theo ESCAP, các phí tổn do TNGTĐB thường được biểu hiện bằng một lượng xấp xỉ phần trăm GDP theo quan hệ sau:

Tổn thất (% của GDP) = 0.0297*EXP(-8*10^(-5)*GDP bình quân đầu người)

Bảng 15: Ước tính sơ bộ về thiệt hại do TNGTĐB gây ra tại Việt Nam theo công thức ESCAP

Năm GDP bình quân đầu người

GDP bình quân đầu người theo số liệu chính thức của Tổng cục thống kê

2020 1818 - 1940 2.54 - 2.57 GDP đầu người do nhóm nghiên cứu

[Nguồn: Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông tại Việt Nam- Do Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA thực hiện.]

Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), Việt Nam cần 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm, tương đương 2.6% GDP, để khắc phục hậu quả của tai nạn giao thông (TNGT) Báo cáo của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia cho thấy nước ta chịu tổn thất 50,000 tỷ đồng hàng năm do TNGT, tương đương 30% ngân sách chi cho giáo dục, 60% tiền xuất khẩu lúa gạo, và ảnh hưởng đến 1.5 triệu người không có thu nhập trong một năm.

Theo nghiên cứu của Viện chiến lược giao thông (TDSI, 2006), chi phí tai nạn giao thông tại Việt Nam đã được xác định với những con số thiệt hại đáng kể liên quan đến người tham gia giao thông, như thể hiện trong bảng dưới đây.

Bảng 16: Thiệt hại cho một người liên quan đến TNGT

Phân loại chấn thương Thiệt hại cho một người

Chấn thương không phân loại 218 460 000 11 504

[Nguồn: Sách an toàn giao thông đường ô tô – Nhà xuất bản Xây Dựng]

Theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, GDP dự kiến tăng 8% hàng năm trong khi dân số chỉ tăng 1.18% giai đoạn 2011-2020, dẫn đến GDP bình quân đầu người tăng 6.74% Tỷ lệ tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) ước tính tăng 8-10% mỗi năm đến năm 2020, nếu không có các biện pháp an toàn giao thông cần thiết Mặc dù tỷ lệ này cao hơn mức tăng GDP, thiệt hại kinh tế dự kiến vẫn ở mức 2.89% Thiệt hại này có xu hướng gia tăng, từ 3.8 tỷ USD vào năm 2015 lên 5.6 tỷ USD vào năm 2020.

Hình 22: Ước tính thiệt hại kinh tế do TNGTĐB đến năm 2020

[Nguồn : Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông tại Việt Nam- Do Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA thực hiện]

Bảng 17: Ước tính thiệt hại kinh tế do TNGTĐB đến năm 2020

Năm GDP (tỷ đồng) Thiệt hại (tỷ đồng) Thiệt hại (tỷ USD)

[Nguồn: Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông tại Việt Nam-Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA thực hiện.]

2.2.3 TNGT là nỗi kinh hoàng của mọi người, gây chấn động tâm lý và tinh thần, ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người và toàn xã hội

Trong những năm qua, tai nạn giao thông (TNGT) tại Việt Nam đã gia tăng đột biến, gây ra tâm lý hoang mang và lo lắng cho người tham gia giao thông Theo thống kê của Ủy ban ATGTQG, năm 2013 ghi nhận 29.385 vụ TNGT, dẫn đến 9.369 người chết và 29.500 người bị thương Đặc biệt, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, đã xảy ra 8.743 vụ TNGT, làm chết 4.311 người và 7.223 người bị thương, tạo nên nỗi bức xúc lớn trong xã hội.

TNGT được coi là một trong những thảm họa lớn nhất đe dọa đến sinh mạng và sức khỏe con người, với 70% số vụ tử vong là thanh niên, trụ cột gia đình Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị nhằm giảm thiểu TNGT, nhưng nỗi đau vẫn còn ám ảnh những người ở lại Hậu quả của TNGT không chỉ là mất mát về người mà còn để lại di chứng nặng nề cho những người sống sót, như chấn thương sọ não, liệt chân tay, và các vấn đề tâm thần Theo thống kê, 92% số vụ TNGT do con người gây ra, cho thấy ý thức tham gia giao thông là nguyên nhân chính Việc tuân thủ luật lệ giao thông không chỉ bảo vệ bản thân mà còn thể hiện sự văn minh của xã hội và hạnh phúc của mỗi gia đình.

2.3 Phân tích nguyên nhân gây tai nạn giao thông của các vị trí có nguy cơ tiềm ẩn TNGT tiêu biểu

2.3.1 Phân tích tai nạn giao thông tại một số vị trí có nguy cơ tiềm ẩn TNGT tiêu biểu

- Mạng lưới đường bộ trên địa bàn thị xã Tân Uyên với tổng chiều dài 3.548,518 km, trong đó:

+ 04 tuyến đường tỉnh ĐT có tổng chiều dài 376 km do Sở GTVT đại diện UBND tỉnh Bình Dương quản lý

+ 21 tuyến đường huyện ĐH do phòng Quản lý đô thị đại diện UBND thị xã Tân Uyên quản lý, có tổng chiều dài 685,718 km

+ 500 tuyến đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng dài 2.486,8 km phân cấp về cho UBND xã – phường trực tiếp quản lý

- Theo Phòng cảnh sát giao thông Công an thị xã Tân Uyên, trên 02 tuyến đường ĐT747 (ĐT747A và ĐT747B) có 04 vị trí có nguy cơ tiềm ẩn TNGT

Vị trí thứ 01: phía trước Cụm Cảng Thạnh Phước trên đường ĐT747A

 Địa điểm, vị trí địa lý:

- Tên vị trí : có nguy cơ tiềm ẩn TNGT thứ 01

- Vị trí địa lý: Thuộc phường Thạnh Phước – thị xã Tân Uyên - Tỉnh Bình Dương

Hình 23: Vị trí số 01 (phía trước Cụm Cảng Thạnh Phước)

Tại ngã tư với bán kính nhỏ Rm, điểm này được kết nối từ đường nhánh ra đường ĐT747 Khu vực xung quanh có mật độ dân cư cao, với nhiều nhà máy và xí nghiệp tập trung hai bên đường Đặc biệt, độ cao của đường nhánh so với đường ĐT747 tương đối dốc, với đường nhánh nằm ở vị trí cao hơn.

Khu vực bên trong đường nhánh tập trung nhiều nhà máy và xí nghiệp, đặc biệt là các nhà máy gạch, với lưu lượng xe tham gia giao thông lớn khoảng 10,000 xe/ngày đêm Tại đây, đối tượng tham gia giao thông rất đa dạng, bao gồm xe tải, xe container, ô tô và xe mô tô, trong đó xe thô sơ và xe gắn máy cũng chiếm tỷ lệ cao.

Bảng 18: Lưu lượng xe tại điểm số 01

STT Loại xe Lưu lượng xe

Tổng lưu lượng xe (xe/ngày đêm)

3 Xe tải hạng trung (2 trục-6 bánh) 2,289

4 Xe tải hạng nặng (3 trục) 1,890

5 Xe tải hạng nặng (trên 4 trục) 2,240

6 Xe khách nhỏ ( dưới 25 chỗ) 979

8 Máy kéo, công nông 0 Xe thô sơ, xe máy, máy kéo

- Hệ thống biển báo cũ còn tốt, tuy vẫn còn thiếu

- Hệ thống sơn đường được bố trí đầy đủ nhưng đã bị mờ và mòn không phát huy hết tác dụng

- Đã bố trí đèn cảnh báo nguy hiểm (đèn chớp vàng)

- Giao lộ ngã tư bị hạn chế tầm nhìn

- Mặt đường bê tông nhựa còn khá tốt

Phân tích nguyên nhân gây tai nạn giao thông của các điểm đen, điểm tiềm ẩn

ATGT TRÊN TUYẾN NGHIÊN CỨU

3.1 Giải pháp hạn chế TNGT của một số nước trong khu vực và một số quốc gia đang phát triển

3.1.1 Giải pháp hạn chế TNGT ở một số quốc gia phát triển

3.1.1.1 Hệ thống an toàn lắp đặt trên các phương tiện giao thông

Nâng cao chất lượng an toàn phương tiện là chiến lược quan trọng để giảm thiểu tai nạn giao thông cả trong nước và quốc tế, hướng tới một hệ thống giao thông đường bộ an toàn hơn An toàn phương tiện không chỉ bảo vệ mọi người tham gia giao thông mà còn triển khai các biện pháp phòng ngừa tai nạn và giảm thiểu thương vong khi xảy ra sự cố.

Hệ thống an toàn chủ động đã thu hút nhiều sự chú ý trong những năm gần đây, với mục tiêu ngăn chặn tai nạn và giảm nguy cơ va chạm cũng như lật xe Các thiết bị này hoạt động trước khi tai nạn xảy ra và can thiệp vào quá trình điều khiển xe Một số thiết bị tiêu biểu bao gồm hệ thống chống bó cứng phanh (ABS), phân bố lực phanh điện tử (EBD), cân bằng điện tử (ESP), hệ thống thích ứng tốc độ thông minh (ISA), và hệ thống điều khiển hành trình chủ động (ACC).

Hệ thống an toàn bị động chỉ hoạt động khi xảy ra xung đột và va chạm, như túi khí và dây đai an toàn Do đó, hệ thống này giúp giảm mức độ chấn thương nhưng không ngăn chặn được tai nạn xảy ra.

Khoá rượu (alcolocks) là thiết bị lắp trên ô tô, yêu cầu người lái thực hiện kiểm tra hơi thở trước khi khởi động xe Nếu không thực hiện kiểm tra, thiết bị sẽ khóa hệ thống đánh lửa Tại Pháp, từ năm 2004, một dự án thí điểm đã được triển khai, cho phép người vi phạm nồng độ cồn từ 0,8-1,6 mg/ml tham gia chương trình khóa rượu thay vì bị xử phạt.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TNGT VÀ NÂNG CAO

Ngày đăng: 31/05/2023, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Lê Văn Bách, “Thiết kế yếu tố hình học đường ô tô” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế yếu tố hình học đường ô tô
Tác giả: TS. Lê Văn Bách
2. Bộ môn Đường ô tô (1/2011), “Bài giảng Cao học ATGT đường ô tô”, Đại học giao thông vận tải Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Cao học ATGT đường ô tô
3. Bộ giao thông vận tải, Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ngày 20 tháng 07 năm 2012:“quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm trên đường bộ đang khai thác” Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm trên đường bộ đang khai thác
Tác giả: Bộ giao thông vận tải
Năm: 2012
4. Bộ giao thông vận tải (2012), Dự thảo thông tư quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm thường xảy ra tai nạn giao thông trên đường bộ đang khai thác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo thông tư quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm thường xảy ra tai nạn giao thông trên đường bộ đang khai thác
Tác giả: Bộ giao thông vận tải
Năm: 2012
5. PGS.TS Bùi Xuân Cậy, ThS Nguyễn Quang Phúc (11-2006), “Thiết kế yếu tố hình học đường ô tô” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế yếu tố hình học đường ô tô
6. PGS.TS Bùi Xuân Cậy (chủ biên), TS.Mai Hải Đăng, TS.Đỗ Quốc Cường (2012), “Quy hoạch, kỹ thuật và tổ chức giao thông”, Nhà xuất bản giao thông vận tải Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch, kỹ thuật và tổ chức giao thông
Tác giả: PGS.TS Bùi Xuân Cậy, TS.Mai Hải Đăng, TS.Đỗ Quốc Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản giao thông vận tải Hà Nội
Năm: 2012
9. Th.s Nguyễn Quang Phúc (2007), “Chuyên đề đường – TNGT và ảnh hưởng của các yếu tố hình học đường đến ATGT”, Đại học GTVT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đường – TNGT và ảnh hưởng của các yếu tố hình học đường đến ATGT
Tác giả: Th.s Nguyễn Quang Phúc
Nhà XB: Đại học GTVT
Năm: 2007
10. Nguyễn Trung (2013), “ Nghiên cứu một số giải pháp để tăng cường đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp để tăng cường đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Trung
Năm: 2013
7. Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản Văn phòng tại Việt Nam (JICA), 3/2009, Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ tại nước CHXHCN Việt Nam đến năm 2020 Khác
11. Tiêu chuẩn thiết kế Đường ô tô TCVN 4054 – 05 Khác
12. Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị TCVN 104 – 2007 Khác
13. Tiêu chuẩn thiết kế đường cao tốc TCVN 5729-2012 Khác
14. Tham khảo các hình ảnh, bài báo trên mạng internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w