1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận Lịch sử lưu trữ Việt Nam

24 8,9K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 483,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.Bảo quản tài liệu - Nhìn chung công tác lưu trữ của các triều đại trước Nguyễn chưa được chú trọng nhiều do ý thức bảo vệ tài liệu của nhân dân ta và chính quyền phongkiến còn nhiều hạ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LƯU TRỮ HỌC & QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG

-BÀI THẢO LUẬN NHÓM 1

Giảng viên: Th.S Phạm Thị Bích Hải

của công tác lưu trữ thời phong kiến để rút ra bài học kinh nghiệm

Hà Nội - 2013

Trang 2

A Công tác lưu trữ của các triều đại trước triều Nguyễn.

Công tác lưu trữ là công việc quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng

và hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước Ở nước ta, từ thời phong kiến, côngtác này được thông qua các triều đại để từng bước phát triển và dần dần có nề nếp,

kỷ cương Từ khâu tổ chức lưu trữ văn bản cho đến việc đào tạo và tuyển dụng cán

bộ làm công tác công văn, giấy tờ đều được quy định khá chặt chẽ và mang tínhkhoa học Tuy nhiên công tác lưu trữ ở nước ta thời trước Nguyễn chưa được quantâm và còn nhiều hạn chế

1 Công tác tổ chức, xây dựng các kho lưu trữ

Nghiên cứu trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam nhận thấy từtriều Lý thực tế chưa có cơ quan chuyên trách để bảo tồn, lưu trữ các văn thư, tàiliệu, thư tịch nhưng đã manh nha hình thành các nhà kho chuyên dụng chứa cáckinh sách

- Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: năm 1021 đời vua Lý Thái Tổ làm nhàBát giác chứa sách kinh Hai năm sau, 1023 mùa thu tháng 9 xuống chiếu chépkinh Tam Tạng để ở kho Đại Hưng Năm Thông Thuỵ thứ 3 (1036) đời vua LýThái Tông xuống chiếu chép kinh Đại tạng cất ở kho Trùng Hưng Triều Lý là triềuđại rất coi trọng Phật giáo, việc ghi chép, lưu trữ các sách kinh rất được triều đìnhquan tâm

 Việc xây dựng các nhà kho chứa sách kinh có thể coi là những cơ sở đầutiên hình thành nên công tác lưu trữ của thời kỳ phong kiến tự chủ ở Việt Nam

- Đến thời Trần đã xuất hiện các kho lưu trữ và thư viện sách Đặc biệt thời

kỳ này các kho lưu trữ và thư viện kiêm nhiệm cả việc biên soạn, in ấn sách vở

- Triều Lê, một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiếnViệt Nam, đã có những chế định luật pháp khá chặt chẽ đối với công tác công văngiấy tờ Quốc triều hình luật, trong 722 điều thì có đến mấy chục điều nói về côngtác này

+ Theo sử sách ghi chép lại, triều Lê còn có thư viện Bồng Lai là một thưviện rất lớn chứa rất nhiều sách vở quý Triều Tây Sơn cũng có thư viện Sùng

Trang 3

Chính được thành lập năm Quang Trung 4 (1791) tại Thanh Chương, Nghệ An do

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng cũng là một thư viện lớn vừa đểchứa sách vừa là nơi dịch chú các sách kinh điển chữ Hán

+ Sách Thiên Nam dư hạ tập, bộ sách mang tính chất hội yếu, ghi chép cácđiển chương chế độ thời kỳ đầu của nhà Lê được biên soạn dưới thời vua Lê ThánhTông cũng có những quy định rất rõ ràng về các việc như cấm đệ trình văn bản trái

lệ, cấm tâu trình vượt cấp, quy định về việc chuyển phát công văn…

Sách Thiên Nam dư hạ tập

=> Tóm lại, công tác tổ chức, xây dựng các kho lưu trữ thời kì này cònmanh nha, sơ sài, mới chỉ xuất hiện 1 số cơ quan đảm nhận công việc quản lý giấy

tờ, sổ sách Tuy nhiên, đến thời Lê công tác này cũng đã được chú trọng và quantâm hơn bằng việc ra chế định về luật pháp về văn thư lưu trữ, còn sơ sài, đơn giảnnhưng đã bước đầu đánh dấu sự hình thành những nghiệp vụ chuyên môn của côngtác này dưới thời phong kiến

2.Bảo quản tài liệu

- Nhìn chung công tác lưu trữ của các triều đại trước Nguyễn chưa được chú

trọng nhiều do ý thức bảo vệ tài liệu của nhân dân ta và chính quyền phongkiến còn nhiều hạn chế Việc lưu giữ tài liệu chưa được coi trọng, khôngđược tổ chức khoa học: Tài liệu mới chỉ được xếp, bó và để một cách vô trật

tự trên các giá hay chứa trong các nhà kho đóng kín, không được bảo quảncận thận, ẩm thấp mối mọt đã tàn phá tài liệu

Trang 4

- Nguyên nhân: Số lượng tài liệu lưu trữ thời phong kiến trước Nguyễnhiện nay không còn nhiều không chỉ do các triều đại phong kiến không cóbiện pháp quản lý tốt tài liệu mà do nhiều nguyên nhân khách quan tác động:như chiến tranh , khí hậu,…

Theo tài liệu để lại thì muộn nhất dưới thời Hậu Lê đã có chủ trương bảomật và lưu trữ tài liệu, sổ sách hình thành trong hoạt động quản lý nhà nước

- Ý thức về giá trị của tài liệu:

Một số triều đại đã có ban hành văn bản có liên quan tới việc bảo quản, bảomật tài liệu

VD: Đại Việt Sử Kí toàn thư ghi lại: Tháng 12 năm Tân Tỵ (1461) vua LêThánh Tông đã gửi thông cáo cho các phủ, huyện, châu trong cả nước “Cấm cácthuộc lại không được quyền bóc trộm những điệp sở dán kín, không được chianhau cầm giữ mang về nhà hoặc cho người nhà truyền nhau sao chép…”

Đại Việt sử kí toàn thư

Hay trong Quốc Triều Hình luật (1483) có 2 điều:

 “Đối với sổ hộ khẩu nếu có sai lầm thì chức sắc, nha dịch phải sửachữa cho hoàn chỉnh Sau khi văn bản đã duyệt mà không biên chép thành sổ sáchcất vào tủ công, cứ để mất mát thì tùy theo việc nặng nhẹ mà định tội…”

Trang 5

 “ Nếu văn bản nào đã trình kí mà quan bản ty không cất vào tủ cônglại để ở nhà riêng lâu ngày không giao nộp đầy dủ tài liệu thì bị bãi chức…”

- Về quản lý tài liệu: Dưới thời Lê Thánh Tông chỉ mới hình thành một vănphòng gồm 4 cơ quan:

+ Hàn Lâm Viện: nơi khởi thảo các loại văn bản cho nhà vua, đóng góp ýcho nhà vua sáng tác thơ văn

+ Đông Các: Sửa chữa văn bản do Hàn Lâm Viện khởi thảo

+ Trung Thư Giám: trông coi thư viện của nhà vua

+ Hoàng Môn Tỉnh: Cơ quan lưu trữ con dấu của nhà vua

Dưới triều Lê văn bản, sổ sách được quản lý khá chặt chẽ, bước đầu đã có ýthức về lưu giữ sổ sách tài liệu Bước đầu hình thành các cơ quan chuyên trách vềvăn thư, giúp quản lý sổ sách,văn bản cho nhà vua Tuy nhiên, văn thư và lưu trữchưa có sự tách biệt, chưa thiết lập các kho lưu trữ hoặc có quan chuyên trách lưutrữ tài liệu, công tác lưu trữ còn hạn chế, nó chỉ là một phần việc rất nhỏ trongcông tác văn thư

3 Tình hình tổ chức sử dụng tài liệu

Hiện nay, chúng ta chưa tìm thấy một tài liệu nào nói một cách trực tiếp đếncông tác tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ thời phong kiến Nhưng một cách gián tiếpcho chúng ta biết từ triều Lê chính quyền phong kiến đã sử dụng tài liệu lưu trữvào nhiều mục đích khác nhau

Trước hết là phục vụ cho công tác quản lý ở trung ương và địa phương nhưquản lý ruộng đất, quản lý quan chức, tuyển quân, thu thuế, ban hành văn bản, xét

xử các vụ kiên tụng v.v Cụ thể dưới triều Lê đã có quy định cụ thể về việc lập sổ

hộ tịch, sổ duyệt tuyển, sổ địa bạ để phục vụ công tác tuyển quân, điều động nhânlực, thu thuế Theo quy định sổ hộ tịch cứ 3 năm đăng ký một lần, và 6 năm sau cómột cuộc tổng điều tra, đối với sổ duyệt tuyển cứ 6 năm triều đình lại cử người về

Trang 6

thẩm tra xét duyệt số nhân đinh v.v Ngoài những mục đích trên tài liệu lưu trữcòn được sử dụng làm nguồn tư liệu quí giá để biên soạn lịch sử dân tộc.

Tóm lại, qua những kiến thức về công tác lưu trữ các triều đại trước triềuNguyễn, chúng ta có thể tóm tắt những ưu, nhược điểm như sau:

* Ưu điểm:

- Đã có pháp chế quy định về một số nghiệp vụ và nguyên tắc trong công tác giấy

tờ, mặc dù còn sơ lược nhưng đã đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hộilúc bấy giờ

- Manh nha xuất hiện những nguyên tắc về bảo quản và sử dụng tài liệu, bước đầu

có ý thức về tài liệu lưu trữ

- Các vương triều đều không chủ trương giữ lại và bảo tồn lâu dài các loại văn bảnquản lý nhà nước, do không nhận thức được đây là nhưng thông tin phản ánh chânthực nhất hoạt động của triều đình, bộ máy chính quyền các cấp và xã hội đươngthời

B Công tác lưu trữ thời Nguyễn:

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tính từ năm GiaLong xác lập quyền thống trị (1802) cho đến khi ngai vàng của vị vua cuối cùng bị lật

đổ bởi cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 đã trải qua gần 15 thập kỷ Trong đó hơn nửathời gian tồn tại với tư cách là một nhà nước phong kiến độc lập (1802-1883) Kể từhiệp ước Hácmăng (25/8/1883) toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trở thành thuộc địa của

Trang 7

Pháp Vương triều nhà Nguyễn tuy vẫn được duy trì nhưng về thực chất chỉ là mộtchính quyền bù nhìn.

Như trên đã trình bày, nếu như các triều đại trước Nguyễn như Ngô - Đinh

- Tiền Lê - Lý - Trần - Hồ - Hậu Lê công tác lưu trữ chưa được tổ chức cụ thể,tài liệu bị thất lạc mất mát rất nhiều thì đến triều Nguyễn công tác lưu trữ đãđược quan tâm đúng mức hơn với nhiều biện pháp cụ thể về tổ chức bảo quản, quản lýtài liệu Nhờ vậy, hơn bất cứ triều đại phong kiến nào, triều Nguyễn đã để lại cho đờinay nhiều di sản văn tự quý báu

Công tác lưu trữ thời Nguyễn nổi bật với 4 triều đại: Gia Long (1802 –1819), Minh Mạng (1820 – 1840), Thiệu Trị (1840 – 1847), Tự Đức từ (1847 – 1883).Đây là giai đoạn mà đất nước ta về cơ bản là một quốc gia độc lập có chủ quyền.Đồng thời, đây cũng là giai đoạn triều Nguyễn xác lập quyền thống trị của mình trênphạm vi toàn quốc Vì thế các vị vua có điều kiện tập trung ban hành các chính sách

về quản lý điều hành đất nước

Nghiên cứu công tác lưu trữ triều Nguyễn trong giai đoạn này cho chúng

ta thấy những đặc điểm riêng biệt của công tác lưu trữ triều Nguyễn khi chưa bịảnh hưởng bởi những tác động của chính quyền thực dân pháp Qua đó có cáinhìn khách quan khi đánh giá nhận thức, bước phát triển của lưu trữ Việt namtrong thời kỳ phòng kiến

1 Tổ chức lưu trữ.

a Tổ chức lưu trữ ở TW

* Văn phòng nhà Vua:- Thời kỳ đầu, dưới thời vua Gia Long, để giải

quyết các công việc văn phòng trong triều, nhà vua đặt ra bốn cơ quan, đó là:Thị Thư viện, Thị Hàn viện và Nội Hàn viện, Thượng Bảo Khanh Các thưtịch không ghi chép cụ thể nhiệm vụ của từng cơ quan này, nhưng dựa vàotên gọi của chúng, một số học giả cho rằng:

Thị Thư viện, Thị Hàn viện là hai cơ quan giúp việc soạn thảo, chuyểnđạt và lưu giữ các văn bản của nhà vua;

Nội Hàn viện lưu giữ thư từ chế cáo của nhà vua;

Thượng bảo khanh là cơ quan có nhiệm vụ lưu giữ con dấu

Trang 8

Dưới thời Minh Mạng (1820) những cơ quan trên được đổi thành Văn thưphòng Năm 1829 Văn thư phòng được đổi thành Nội các

- Nội các có nhiệm vụ :

+ Thu nhận tấu, sớ của các bộ, nha môn, trấn thành để tấu trình lênVua, soạn thảo sao lục, chuyển đạt chiếu dụ và các văn bản khác của nhà vuaban hành hoặc phê duyệt

+ Lưu giữ văn bản và các sáng tác của nhà vua bao gồm các văn thư vềngoại giao, bản đồ, châu bản, sổ sách, các sáng tác thi ca

+ Ghi chép mọi chi tiết khi Vua ngự chào hoặc rời kinh đô tuần hành, tấunghị chương sớ cho các quan tâu lên

+ Giữ và đóng dấu vào văn bản do vua ban hành hoặc phê duyệt

- Tổ chức của Nội các lúc đầu được chia làm 4 tào: Tào Thượng bảo, Tào

Ký chú, Tào Đồ thư và Tào Biểu bạ Nhiệm vụ của các tào như sau:

+ Tào Thượng bảo: (thượng có nghĩa là gữi gìn, chăm sóc) (năm 1844 được

đổi thành Sở Thượng bảo) có nhiệm vụ lưu giữ các loại bảo tỷ (dấu của nhà Vua).Theo thống kê riêng nhà vua có tới 14 loại dấu được gọi là ngọc tỷ, mỗi loại dấu lại

có chức năng riêng Ví dụ dấu Sắc mệnh chi bửu được dùng để đóng vào các loại vănbản như sắc, chỉ dụ ban cho các quan cấp dưới, đóng vào sắc phong thần hoặc phongtặng các danh hiệu khác Khi các chương, sớ được Vua phê thì cơ quan này có nhiệm

vụ sao chép lại gửi cho các cơ quan có liên quan giải quyết còn bản chính giao lại choTào Biểu bạ lưu giữ Sau khi Tào Thượng bảo được đổi thành Sở Thượng bảo thì cơquan này có thêm chức năng: vào cuối tháng phải tổ chức kiểm tra lại các bản giáp đểgiao nộp cho Tào Biểu bạ

+Tào Ký chú (nghĩa là ghi nhớ) (năm 1836 Minh Mệnh đổi thành Tào

Thừa vụ, và năm 1844 đổi thành Sở Ty luận) có nhiệm vụ ghi chép mọi chitiết khi vua nghự trào (vua thiết triều) hoặc tuần du, trình các chương sớ dobách quân tâu lên Ngoài ra còn có chức năng chuẩn bị giấy bút cho nhà vua

và theo dõi học tập của các hoàng tử Sau khi được đổi thành Sở Ty luân cơquan này có nhiệm vụ coi giữ các phiếu thảo văn bản của lục bộ và Nội các

+ Tào Đồ Thư (sưu tầm thư tịch) ( cũng năm 1836 Minh mệnh đổi Sở Bí

thư) làm nhiệm vụ ghi chép thơ văn của nhà vua, coi giữ sách công, công văn bang

Trang 9

giao với các nước Ngoài ra cơ quan này còn có nhiệm vụ đảm bảo chất lượng và

độ bền của các văn bản này

+ Tào Biểu bạ (năm 1844 được đổi thành Sở Bản chương) có nhiệm vụ lưutrữ các châu bản và phó bản tất cả các chương sớ, sổ sách của các cơ quan trungương và địa phương đã từng gửi đến văn phòng của nhà vua Sau đó có tráchnhiệm đóng thành từng tập, soạn thêm trích yếu để làm đăng án Như vậy, lần đầutiên trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam đã hình thành một đơn vị chuyêntrách về lưu trữ tài liệu, dù đó chỉ mới là cơ cấu thuộc Nội các Tuy nhiên, TàoBiểu bạ không phải là đơn vị tổ chức duy nhất bảo quản tài liệu hình thành ở Nộicác Một bộ phận tài liệu như các văn bản về quan hệ với nhà Thanh, thơ văn củanhà Vua, bản đồ lại được lưu trữ ở Sở Bí thư

Trong đó Sở Bản chương lại được chia thành 3 chương là: Lại Hộchương, Lễ Binh chương và Hình Công chương

Đây là cơ quan sau này được coi là lưu trữ chính thức của nhà Vua, tổ chứcthành 3 bộ phận phù hợp với 6 bộ với những nhiệm vụ

+ Lại hộ chương: Là nơi bảo quản các sớ sách gồm cả bản chính, bản saocủa Bộ lại, Bộ hộ và các sổ sách của các địa phương liên quan đến hai Bộ này.Ngoài ra còn lưu giữ tài liệu của Viện Cơ mật, Viện Đô sát, Thi vệ sứ, Ty thôngchính và một số nha môn khác

+ Lễ Binh chương: Là nơi bảo quản các sổ sách của Bộ lễ, Bộ binh và sổsách của các địa phương thuộc trách nhiệm giải quyết của hai Bộ này Ngoài ra cònlưu giữ tài liệu của Nội vụ phủ, Tôn nhân phủ, Viện hàn lâm, Khâm thiên giám,Quốc tử giám và một số Nha môn khác

+ Hình công chương: Lưu giữ sổ sách của Bộ hình, Bộ công và sổ sách củacác trấn, thành có liên quan đến 2 Bộ này Ngoài ra còn bảo quản sổ sách của Sở

Vũ khố, Sở Nội tạo, Ty Tam pháp, Sở Mộc thương

Việc tổ chức bảo quản tài liệu theo 3 chương như trên, cho thấy trong tổchức lưu trữ đã có sự phân loại nhất định Sự phân loại này thể hiện ý thức côngtác tổ chức tài liệu của triều Nguyễn nhằm phát huy giá trị của tài liệu cũng nhưthuận lợi cho việc bảo quản, tra tìm

Trang 10

Về tổ chức biên chế Sở Bổn chương được ấn định là 10 người gồm các chứcdanh: Thừa chỉ (đứng đầu cơ quan), tu soạn, biên tu, kiểm thảo địển bạ, đãi chiếu.Trong đó chuyên về công tác lưu trữ ở mỗi chương có một điểm bạ và một đãichiếu Hai người này có nhiệm vụ thu nhận tài liệu, phân loại và đóng thành từngtập Điều đáng chú ý ở giai đoạn này tài liệu lưu trữ của Nội các được phân loại vàlập hồ sơ theo môt số đặc trưng nhất định, như theo thể loại văn bản, vấn đề, thờigian hình thành tài liệu ngoài ra người lập còn phải tóm tắt nội dung các văn bảntrong từng tâp hồ sơ, trình lên quan phụ trách của Sở xem xét ký tên sau đó mới đem

đi bảo quản

Với cơ cấu tổ chức Nội các như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử phongkiến Việt Nam đã có một cơ quan chuyên trách về lưu trữ tài liêụ

* Lưu trữ của các Bộ và các cơ quan khác

Ở lục bộ và các cơ quan trung ương khác, qua nhiều lần cải cách về tổ chức

bộ máy vẫn không thấy các vị Hoàng đế triều Nguyễn chủ trương thành lập lưu trữchuyên trách như ở Nội các Tuy nhiên, theo một số thư tịch, chính quyền phongkiến triều Nguyễn đã có khá nhiều quy định lưu giữ từng loại hình tài liệu phục vụcho hoạt động quản lý nhà nước về nhiều mặt ở các bộ như: Quản lý quan lại, nhânkhẩu, ruộng đất, thu thuế, tuyển quân, xử án, kiểm tra thanh tra tài chính, quản lýcán bộ Sử dụng các tài liệu phục vụ cho hoạt động quản lý trên các lĩnh vực nàykhông chỉ đến thời Nguyễn mới có mà nó đã được áp dụng từ thời Lý Nhưng chỉđến thời Nguyễn các quy định cụ thể, chặt chẽ và rõ ràng hơn Cụ thể trong lĩnhvực quản lý quan lại Minh Mạng đã định lệ làm sách lý lịch để có căn cứ xét khenthưởng hoặc kỷ luật, điều động và bổ nhiệm đội ngũ quan lại Mỗi người phải làm

ba bản, gọi là bản giáp, bản ất và bản bính nộp cho Bộ Lại Bộ Lại cùng với bộBinh cử nhân viên khảo duyệt kỹ càng và quan lãnh đạo của hai bộ lần lượt ký tênđóng dấu vào bản giáp, sau đó chuyển lên đóng dấu Quốc bảo và được lưu gữi tại

bộ Lại Còn với bản ất và bản bính thì chỉ có chữ ký của các chuyên viên nhưngcũng phải có dấu của 2 bộ Bản ất được chuyển sang bộ Binh, còn bản bính thìđược đưa về lưu trữ tại cơ quan mà quan chức đó làm việc Đối với công tác nhânkhẩu, nếu ở triều Lý - Trần chỉ sử dụng sổ hộ tịch thì đến triều Nguyễn còn thêm

cả sổ đinh Sổ đinh kê biên những người phải đóng thuế đinh và được chia ruộng

Trang 11

Thông qua sổ đinh nhà nước nắm được số lượng dân đinh, số thuế mà các làng vàcác gia đình phải nộp đồng thời còn giúp cho việc theo dõi sự di chuyển dân cư đểtuyển mộ phu phen, bắt lính Ngoài những lĩnh vực quản lý trên triều Nguyễn cònquy định chế độ lưu giữ tài liệu về tài chính, ruộng đất, tài liệu về nghiệm thu cáccông trình xây dựng Cụ thể đối với sổ chi tiêu – tức là sổ sách về tài chính năm

1824 Minh Mạng đã từng quy định bộ Hộ phải làm thành hai bản, bản chính bộ Hộgửi, bản phụ lưu ở Văn thư phòng Đối với các tài liệu nghiệm thu các công trìnhxây dựng thì bộ Công, bộ Hộ sau khi kiểm tra hoàn tất thủ tục giấy tờ thì tài liệuđược lưu gữi ở cả hai bộ Nhận thức được vị trí đặc biệt quan trọng của tài liệu lưutrữ đối với quản lý đất nước nhiều vị Vua, đặc biệt là Minh Mạng và Thiệu Trị đãtừng đề ra nhiều chủ trương và biện pháp để lưu trữ tài liệu của các cơ quan này.Chính vì vậy hiện nay chúng ta còn có được những tài liệu, quí giá này làm tư liệunghiên cứu nhiều lĩnh vực hoạt động quản lý xã hội của triều Nguyễn Cụ thể nhưqua các sổ địa bạ, sổ thuế, sổ hộ khẩu và các chính sách kinh tế được ban hành dướihình thức chiếu, chỉ, dụ, lệnh mà các nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay đã tình hiểuđược chế độ ruộng đất ở Việt nam nửa đầu thết kỷ XIX

b Lưu trữ địa phương:

Dưới triều Minh Mạng đã quy định ở địa phương hàng tháng các quan lạiphải có bổn phận thu nhận tài liệu đóng sổ, đóng dấu để làm hồ sơ để đến khi có sựthay đổi quan lại phải bàn giao công việc được dễ dàng nhanh chóng và làm căn cứ

để xác định trách nhiệm quyền hạn quản lý

2 Xây dựng các kho lưu trữ thư viện

+ Quốc sử quán: Được thành lập năm Minh Mạng thứ 2 (1821) có nhiệm vụ

là biên soạn các bộ quốc sử Nơi đây, tập trung các nhà nho học uyên thâm chuyênbiện thảo các bộ sách sử Cơ sở tư liệu chủ yếu được sử dụng để biên soạn các bộ sử

là các văn bản hành chính hình thành trong hoạt động của nhà vua và các cơ quannhư chỉ, dụ, sớ, sách, các văn bản giấy tờ các bộ, Nha,Trấn thành Dưới thời MinhMạng đã đề ra quy định: chỉ dụ của Hoàng Đế, sớ sách của các Nha môn trấn thành

Trang 12

sau khi được vua phê duyệt phải đóng dấu Quốc bảo sau đó sao lục và chuyển choQuốc Sử Quán một bản để làm căn cứ biên soạn quốc sử.

Các bộ sách sau khi biên soạn xong và được phê duyệt thì giao cho thợ khắclên các tấm gỗ (mộc bản) để in thành sách (những mộc bản này được làm bằng gỗcây thị, là thứ gỗ vừa cứng vừa dẻo để khỏi sứt, mẻ, trong khi khắc chữ và không

bị mối, mọt) Sau khi sách in xong, các mộc bản được đem bảo quản cẩn thận ởTàng bản đường được xây dựng trong Quốc Sử Quán

Trong nhiều năm tồn tại Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã để lại cho hậu thếhàng chục bộ sách đồ sộ có giá trị như Đại Nam thực lục chính biên, Đại Namthống nhất trí, Đại Nam Hội điển sử lệ v.v

Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

Quốc Sử Quán cũng trở thành một cơ quan lưu trữ nhiều tài liệu quý giá củachính quyền trung ương triều Nguyễn Trong đó chủ yếu là các tập bản chính, bảnsao châu bản và mộc bản Một bộ phận châu bản còn giữ được đến ngày nay vốnđược bảo quản ở nơi đây Khối tài liệu mộc bản, một loại hình tài liệu lưu trữ đặcbiệt, hiếm thấy ở các nước khác Tuy bị mất mát hư hỏng một phần bởi phải dichuyển nhiều lần và do chiến tranh cùng sự chú ý không đầy đủ của con ngườinhưng vẫn còn trên 20.000 tấm lưu trữ đến ngày nay Trong đó có cả những tênsách không còn tồn tại

+ Tàng thư lâu: Một dạng kho lưu trữ Quốc gia của triều Nguyễn Tàng ThưLâu có nghĩa là toà lầu chứa sách, được xây dựng năm 1825 dưới thời vua MinhMạng Đó là một toà nhà 2 tầng được xây dựng giữa một hồ nước gọi là hồ Hải

Ngày đăng: 22/05/2014, 01:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w